Saturday, 14 November 2015

“Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,”




Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 34 thường niên Lễ Kitô Vua năm B 15/11/2015

“Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,”
Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo
Nhẹ gót thắm vào mãi đáy tim tôi
Từ đó nhớ khôn nguôi và chiều chiều thấy đơn côi.”
(Tuấn Khanh – Từ Đó Khôn Nguôi)
(1 Timôthê 5: 13-16)
            Lại vẫn bảo: nếu hiểu tự-vựng “Em” khác hẳn ý của người viết nhạc, thì bạn và tôi, ta sẽ thấy khác và rõ hơn. Khác và rõ, là những gì “thắm vào mãi đáy tim tôi” “chiều chiều thấy đơn côi” cứ là thế.
            Viết giòng này, bần đạo đây thấy rõ là việc: dùng tự-vựng “Em” thay cho cụm-từ “Tin Vui”/“Tin Mừng” hoặc Phúc Ấm/Lời của Đấng Tối Cao, vv.. có lẽ sẽ có bạn không đồng ý cho lắm hoặc sẽ phản-đối liên-hồi chuyện như trên.
            Thế nhưng, với vị Tổng Giám Mục họ Spong tên John ở Mỹ, thì ý-nghĩ này, cũng có cái hay nhưng lại khác. Hay và khác, như câu nhạc ở bên dưới vẫn tiếp-tục hát tiếng “yêu Em”, là những xưng hô mà đôi lúc bạn và tôi, ta cứ hát hoài hát mãi những lời ca như sau:

“Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi,
Nhưng hồn tôi tựa trời giông đang nổi gió.
Tình nghệ sĩ là thắm cánh môi tươi,
Là gió cuốn mây trôi là thì thầm nói "yêu em".
(Tuấn Khanh – bđd)

Với Đức Tổng thuộc Giáo-hội “đàng ngoài” bên Anh Giáo, hoặc “đàng trong” bên Công giáo, thì việc trở về với giòng chảy “Lời Chúa” có nhận-định như sau:

“Tác-giả Paul Tillich có lần nói: “Kinh thánh là chủ-đề để ta diễn-nghĩa rồi chuyển-tải mà không một học-thuyết cũng như ngôn-sứ, linh-mục hoặc quyền-lực nào dám yêu cầu cấm vận không cho ai được tiếp-cận với Sách này hết! Đối với tôi, Sách thánh là Sách rất thâm-sâu/huyền-nhiệm chứa-đựng một thứ quyền-uy/sức mạnh rất lạ kỳ.

Đã từ lâu, Sách này thuộc loại bán chạy nhất mỗi năm, kể từ ngày phát-hành đầu tiên. Không lạ gì, khi mọi người đều nhớ lại lúc nhà xuất bản Gutenberg làm cuộc cách-mạng đầu tiên ra mắt với thế-giới về in ấn, thì chính Sách thánh lại là ấn-phẩm đầu có được bản kẽm, mới sáng-chế.

Thế-giới hôm nay, hoạ-hoằn lắm mới thấy có văn-chương/ngôn-ngữ hoặc thổ-ngữ nào không đem Sách này ra mà dịch-thuật cho con dân mình đọc. Truyện kể, lời lẽ và các câu văn trong Sách thánh lâu nay đã thẩm-nhập vào các nền văn-minh/văn-hoá khắp trần-gian, thậm chí còn thẩm-thấu đến tận đáy sâu của tiềm-thức của nhiều người.

Ản-hưởng của Sách thánh cón đánh động nhiều vào các ngành nghệ-thuật văn-hoá của nhiều nước, đặc-biệt là nghệ-thuật phim-ảnh, còn gọi là “Nghệ-thuật thứ 7”, ở Âu Mỹ. Cụ-thể hơn, rất nhiều phim-bộ từng sử-dụng nội-dung hoặc truyện kể lấy từ Sách thánh làm đầu đề hoặc cốt truyện cũng như chủ-đề để mọi người suy nghĩ.

Đặc-biệt như các bộ phim nổi tiếng thế giới, trong đó có phim “Hoa Huệ Ngoài Đồng” (rút từ trình-thuật Mát-thêu đoạn 6 câu 28), một bộ phim được sản-xuất vào năm 1968 đã giúp cho tài-tử Sidney Poitier đoạt giải Oscar về Tài-tử hay nhất. Phim “Thừa-Hưởng Từ Gió” rút từ sách Châm ngôn đoạn 11 câu 29) là bộ phim cổ-điển nói về cuộc kiện-tụng giữa Bang Tennessee chống lại John Thomas Scopes xảy ra vào năm 1925. Phim này do Spencer Tracy đóng vai Clarence Darrow và Frederic March thủ vai William Jenning Bryan.

Và, bộ phim mang tự-đề là “Lờ mờ Trong Gương” (rút từ thư thứ nhất Côrinthô đoạn 13 câu 12), một tuyệt-phẩm tạo tên tuổi cho đạo-diễn Ingmar Bergman… Rồi cứ thế, lại có các phim nổi tiếng rút từ truyện Cựu-Ước như: 10 điều Giáo-lệnh, Samson và Đalilah, Đavít và Bétsêđa, Barabbas, và mới đây nhất là bộ phim kể tryện Thương Khó Đức Giêsu do Mel Gibson thực hiện…

Lời lẽ cũng như tư-tưởng của Sách Thánh xưa nay từng giúp phong-phú-hoá các bài diễn-văn hoặc giảng-thuyết của nhiều đấng bậc vị-vọng. Có vị còn trích-dẫn cốt truyện hoặc câu nói của nhiều nhân-vật trong Sách thánh để diễn-giải mọi hành-xử khác nhau như dấu chỉ của sự an-bình, tự tại. Chí ít, còn gạn lọc và tẩy sạch nền văn-hoá của nhiều nước trong quá-trình hơn 2 ngàn năm nay.

Ngay cả lịch-sử thế-giới ở Phương Tây vốn đa-dạng là thế, Sách Thánh vẫn để lại nhiều dấu vết của niềm đau, nỗi sợ và những vết đọng đầy những máu hoặc chết chóc; tức: những gì mà mọi người bình-thường không thể nào phản-bác, chối bỏ. Yếu-tố này, lại thường cho phép con người đi vào hệ-thống ý-thức thật rõ nét. Lời ở Sách thánh được nhiều người sử-dụng không chỉ với mục-đích giết-chóc ai khác, mà còn để biện-minh cho hành-tung chém giết lẫn nhau, nữa.

Và, Sách Thánh vẫn không ngừng được cả những người từng cho rằng mình có niềm tin vào Lời của Chúa để o ép người khác, mà theo các kẻ tin này, thì họ là những người được định-nghĩa rất “trân-trọng” ở các trang giấy như đấng bậc linh-thiêng, thần-thánh…

Nhưng, cuối cùng thì cũng có người đặt ra những thắc mắc, hỏi rằng: làm sao một cuốn Sách nổi tiếng là “thánh-thiện” được rất nhiều người ở trời Tây trân-quý đến như thế lại có thể là nguồn-gốc của rất nhiều chuyện tàn-ác, xấu-xa, được? Làm sao con người lại có thể sử-dụng Sách này để quay lòng vòng rồi đưa vào một kết-đoạn nào đó? Làm sao Sách Thánh như thế, một lần nữa, lại được coi như nguồn-gốc cuối cùng của sự sống? Hoặc, phải chăng cũng quá trễ, và Sách Thánh lại trở nên mờ-nhoè, lấm tâm nhiều vết nhơ, vết máu?” (X. TGm John S Spong, The Sins of Scripture, HarperCollinsPublisher 2005 tr ix-xvi) 

Nhận-định của Đức “Tổng” thuộc Đạo Chúa ở Mỹ, thì như thế. Ca-từ nghệ-sĩ lại như sau:

“Một đời chờ mong nhau em ơi!
Tìm nhau cuối trời, gặp nhau giữa đời.
Này em! Hỡi em người yêu dấu.
Môi hồng tươi thắm biết đâu!
"Dành tặng mình anh"
(Tuấn Khanh – bđd)

Và, cứ thế bạn hoặc tôi, ta lại sẽ hát hoài/hát mãi những lời nối tiếp ở bài ca trên như sau:

“Có nhiều khi lòng quạnh vắng tựa mùa Đông.
Nhưng ngờ đâu một mùa Xuân đang triền tới.
Hồn chới với tình ngỡ đã chia phôi.
Chợt bỗng ngát lên ngôi và đường đời bước chung đôi.”
(Tuấn Khanh – bđd)

Với nhà Đạo, hỏi rằng: có tiếng hát nào như thế không? Thì, có lẽ sẽ có vị cho rằng: trả lời câu này không quan-trọng bằng đặt câu hỏi: hát bằng tiếng/giọng trổi-trang cả những điều thiên-hạ từng nghe và từng hát mãi. Duy có điều, là: nhiều vị vẫn không dám nói hoặc cãi lại chỉ vì lý-do nào đó, như lập-trường của đấng bậc khác, nói về Kinh Sách rất như sau:

“Nhà văn Leon Tolstoy bắt đầu học hỏi Kinh Thánh là từ năm 1879. Lúc đầu, ông nghĩ rằng làm thế chỉ để rọi sáng tâm-thân mình, thôi. Về sau, ông lại triển-khai tâm-tình mình tìm gặp vào những tháng ngày sau khi có dự-định án dịch lại cả 4 sách Tin Mừng và tổng-hợp vào chung một truyện kể, thôi. Công việc này khiến ông mất đến ba năm, nhưng đã biến-đổi con người ông rất nhiều. Về sau, ông gọi đó là “thời tập-trung cô-đọng” và là thời-khắc ông chú-tâm vào các nỗ-lực say mê chuyện tâm-linh, thần-hồn. Nếu sử-dụng ngôn-từ của Sofia Andreyevna, là vợ hiền yêu quí của ông, thì: đây là lúc khiến cho Tolstoy trầm-tĩnh, tập-trung im ắng hơn bao giờ hết.

Mục-đích của Tolstoy khi ông điều-nghiên Tin Mừng của Đạo Chúa là cốt tìm gặp lại giáo-huấn thanh-khiết hữu-dụng của Đức Kitô, hầu giải-phóng nó khỏi lớp rỉ sét ở ngôn-từ nghi-thức với Kinh sách, để rồi bỏ đi phần tín-lý đầy giáo-điều và tính siêu-nhiên mà Giáo-hội gán-ghép vào đó. Để minh-hoạ phương-án rất riêng-tây này, bạn hiền Ivakin của ông nhớ đến lời lẽ ông từng bảo: “Việc Đức Kitô sống lại đã có ý-nghĩa gì đối với tôi không? Nếu Ngài sống lại thật, thì Thiên-Chúa sẽ chúc phúc Ngài. Vấn-đề quan-trọng với tôi, là: Tôi sẽ làm gì đây? Tôi phải sống thế nào chứ?”

Dự-án do ông tạo cho chính mình, thật ra là đường-hướng triển-khải tâm-linh của chính ông. Điều đó, xem ra đã củng-cố kết-tinh với một thắng-lợi ông cảm nhận được khi tìm cách phiên-dịch 10 câu đầu trong Tin Mừng của tác-giả Gioan, qua đó ông thấy gần-gũi thiết-thân với câu nói ở “Lời Tựa” khi tác-giả viết: “Lúc Khởi-đầu đã có Lời” và câu tiếp theo lại nhấn mạnh rằng: “Mọi sự đã nhờ Ngài mà thành sự và không có Ngài thì không gì thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là Sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân-loại.”(Ga 1: 1, 3-4)

Và, tác-giả Leon Tolstoy thấy việc ông sử-dụng “kiến-thức về sự sống” là do “Lời”, được xác-chứng theo triết-lý và khởi-đầu này, đã làm cho dự-án của ông nên tiêu-biểu. Ông đã quảng-diễn ngôn-ngữ ấy, gột bỏ đi một số ngôn-từ khỏi những điều mà Giáo-hội ta xưa nay hàm-ẩn, cốt để bộc-lộ một bản văn thích-hợp với sự-thật linh-đạo cho sâu-sắc hơn và ông thấy mình phát-hiện được điều này trong quá-trình học-hỏi Tin Mừng, cho riêng mình.

Đặc-biệt hơn, ông lại diễn-ý các truyện kể Kinh thánh nói về việc Đức Giêsu từng làm nhiều sự lạ lùng. Với tác-giả Leon Tolstoy, việc nhân rộng cá và bánh trở-thành bài học sẻ-san mọi thứ cho cộng-đoàn; bởi những người theo chân Đức Giêsu đều học được cung-cách “cho đi” thức ăn, của cải và tiền bạc mình kiếm được.

Và, truyện kể về người mù được sáng mắt, là ẩn-dụ nhẹ trong đó việc tái-tạo thị-kiến phải hiểu như một thứ “soi sáng tâm-linh”. Và, việc Đức Giêsu chịu cám dỗ thời mới sớm ở hoang-địa mang ý-nghĩa đối-thoại với chính Ngài, kiểu Socrates…” (X. Leon Tolstoy, The Life of Jesus: The Gospel in Brief, Harper Perennial 2011 tr. viii-ix)

Tìm gặp sự thật ở dụ-ngôn/truyện kể hoặc nơi lời nói cũng như hành-xử của Đức Giêsu, là tìm và gặp bài học vô giá được tác-giả Leon Tolstoy khẳng-định khi ông nói về ẩn-dụ hoặc các sự lạ theo nghĩa bóng chứ không theo nghĩa đen tuyền, u-ám. Thế nên, từ đó ta có quyết-tâm sống Đạo ở đời. Tìm và gặp tư-tưởng làm nền, nơi thi-ca/văn-nghệ mà nghệ-sĩ xưa từng sáng-tác:

“Một đời chờ mong nhau em ơi.
Tìm nhau cuối trời, gặp nhau giữa đời.
Này em! Hỡi em người yêu dấu.
Môi hồng tươi thắm biết đâu!
"Dành tặng mình anh."

Có nhiều khi lòng quạnh vắng tựa mùa Đông.
Nhưng ngờ đâu một mùa Xuân đang triền tới.
Hồn chới với tình ngỡ đã chia phôi.
Chợt bỗng ngát lên ngôi
và đường đời bước chung đôi.”
(Tuấn Khanh – bđd)

Cuối cùng thì, “Đường đời bước chung đôi” còn là ý/lời ở mọi nơi, mọi thời, người người đều muốn sống. Diễn-tả ý-tưởng này bằng thơ-văn/nhận-định và cuộc chuyện trò giữa thày/trò còn như câu truyện kể nhè nhẹ ở bên dưới:

“Truyện rằng:
Một bữa nọ, hai thầy trò cao tăng ngồi nói chuyện với nhau:
Đệ tử: Thưa thầy, đạo Phật khuyên người ta buông bỏ mọi thứ đúng không?
Sư phụ: Không đúng!
Đệ tử: Rõ ràng có câu “buông bỏ tất cả” đấy thôi?
Sư phụ: “Buông bỏ tất cả” để làm gì?
Đệ tử: Đúng thế, đệ tử cũng thấy rất nghi ngờ! Đệ tử thấy Phật giáo luôn nhìn vấn đề tiêu cực. Nhiều người hỏi đệ tử: “Nếu mọi sự đều buông bỏ thì lấy đâu ra tiền? Quần áo? Mọi người đều không làm việc thì thế giới này sao có thể tồn tại?”
Sư phụ: Mọi sự buông bỏ thì dẫn đến sụp đổ, cái gì cũng không buông bỏ thì cũng dẫn đến sụp đổ.
Đệ tử: Như vậy phải làm thế nào?
Sư phụ: Thay thế và hoán đổi!
Đệ tử: Nhờ thầy chỉ rõ cho con!
Sư phụ: Con có thể kêu một người ăn mày cam tâm cho con số tiền đang nắm chặt trong tay họ không?
Đệ tử: Không thể được.
Sư phụ: Con có thể dùng hòn sỏi đổi lấy số tiền trong tay người ăn mày không?
Đệ tử: Con nghĩ không được.
Sư phụ: Tại sao?
Đệ tử: Vì tiền đáng giá hơn.
Sư phụ: Vậy nếu dùng vàng để đổi thì sao?
Đệ tử: Vậy thì được.
Sư phụ: Tại sao?
Đệ tử: Vì vàng đáng giá hơn.
Sư phụ: Vì thế, cách buông bỏ đơn giản nhất chính là hoán đổi. Nguyên nhân khiến người ta không buông bỏ là vì không giành được thứ tốt hơn. Dùng thức ăn chay thay cho thức ăn mặn, con sẽ buông bỏ được con dao mổ; dùng bố thí thay cho giành giật, con sẽ buông bỏ được lòng tham; dùng tín ngưỡng thay cho hư vô, con sẽ buông bỏ được nỗi trống rỗng; dùng trí tuệ thay cho ngu dốt, con sẽ buông bỏ được cố chấp; dùng chính niệm thay cho tạp niệm, con sẽ buông bỏ được ngông cuồng; dùng nhẫn nại thay cho báo thù, con sẽ buông bỏ được giận dữ; dùng yêu thương thay cho tham lam, con sẽ buông bỏ được đau tim. Tu hành không phải là buông bỏ, mà là để hiểu lẽ hoán đổi.” (Theo SecretChina Tinh Vệ biên dịch)

            Theo dõi truyện kể nhẹ đầy nhận-thức sâu-xa rồi, tưởng cũng nên ghi thêm đôi lời khuyên-răn vàng ngọc từ bậc thánh-hiền, sau đây:

“Hãy chuyên-cần đọc Sách Thánh
trong các buổi họp,
chuyên-cần khuyên-nhủ và dạy dỗ.
Đừng thờ ơ với đặc-sủng đang có nơi anh,
đặc-sủng Thiên Chúa đã ban cho anh
nhờ lời ngôn sứ,
khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh.
Anh hãy tha thiết với những điều đó,
chuyên chú vào đó,
để mọi người nhận thấy những tiến bộ của anh.
Anh hãy thận trọng trong cách ăn, nết ở
và trong lời giảng dạy.
Hãy kiên trì trong việc đó.
Vì làm như vậy,
anh sẽ cứu được chính mình,
lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy.”
            (1 Timôthê 5: 13-16)

Tiếp-cận Lời Vàng đều-đặn, bạn và tôi cũng sẽ gặp toàn chuyện vui, trong đời. Rồi từ đó, sống Đạo cách đích-thực qua ẩn-dụ ghi ở Kinh Sách. Dù, mặt ngoài cuộc đời, người người đều đã và đang tiếp-cận với thực-tế ngang qua mọi chuyện.
Chuyện gì thì chuyện, dù tốt/xấu, hay ho hoặc đáng chán, cũng là thực-tế đời người có buồn/vui lẫn lộn.
Kể gì thì kể, tưởng cũng nên kể thêm một truyện kể ngăn ngắn để kết thúc buổi luận/phiếm đường dài “hôm nay” bằng đôi giòng kể ngắn như sau:

Có một người nông dân muốn mua đất, ông ta nghe nói một người ở vùng khác có đất muốn bán, liền quyết định đến đó hỏi thăm. Người bán đất nói với ông ta rằng: “Chỉ cần giao một nghìn lạng bạc, ta sẽ cho ông thời gian một ngày, bắt đầu tính từ lúc mặt trời mọc, đến khi mặt trời lặn xuống núi, ông có thể dùng bước chân khoanh tròn được bao nhiêu đất, thì số đất đó sẽ chính là của ông, nhưng nếu ông không trở về nơi khởi điểm, thì ngay cả một tấc đất ông cũng sẽ không có được”.

Người nông dân đó nghĩ thầm: “Nếu như hôm nay ta vất vả một chút, đi nhiều đường hơn một chút, thì chẳng phải có thể đi được vòng rất lớn, theo đó sẽ có được một mảnh đất rất lớn hay sao? Làm ăn như vậy quả thật là rất có lợi!”. Thế là ông ta liền ký kết giao ước cùng người chủ đất đó.

Mặt trời vừa mới nhô lên, ông ta liền cất bước thật dài đi nhanh về phía trước; đến giữa trưa, bước chân của ông vẫn không dừng lại giây phút nào, cứ mãi đi về phía trước, trong lòng nghĩ: “Hãy ráng chịu đựng một hôm nay, sau này sẽ có thể hưởng thụ hồi báo của vất vả hôm nay mang đến rồi”.

Ông ta cứ thế tiếp tục đi về phía trước, đến khi mặt trời sắp lặn rồi mới chịu quay trở về, trong lòng vô cùng lo lắng, bởi vì nếu như không về kịp thì một tấc đất cũng chẳng có. Thế là ông ta vội vàng trở về theo đường tắt. Tuy nhiên, mặt trời sắp xuống núi, ông ta đành phải liều mạng mà chạy, cuối cùng chỉ còn thiếu vài bước thì đến vạch khởi điểm, nhưng sức lực đã cạn kiệt, ông ngã nhào xuống nơi đó.”

Và, người kể lại có thêm lời bàn, rất nhận-định, rằng:

Dục vọng của con người và ranh giới với hiện thực mãi mãi cũng không cách nào vượt qua được, bởi lòng tham là vô đáy. Con người mãi mãi không biết thỏa mãn, đây chính là khuyết điểm lớn nhất trong nhân cách.

Kể và bàn như thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hướng về phía trước hăng say hát nhạc Việt mình, dù đôi lúc thấy nó cũng lạ nhưng vẫn hát. Hát lên rằng:

Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,
Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo.
Nhẹ gót thắm vào mãi đáy tim tôi.
Từ đó nhớ khôn nguôi và chiều chiều thấy đơn côi.

Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi,
Nhưng hồn tôi tựa trời giông đang nổi gió.
Tình nghệ sĩ là thắm cánh môi tươi,
Là gió cuốn mây trôi là thì thầm nói "yêu em".
(Tuấn Khanh – Từ Đó Khôn Nguôi)

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn nghĩ rằng
Tiếng hát hay nhất đời
Là nói tiếng “Yêu Em”
Dù Em đây có là nhà Đạo
Hay trường đời.

Saturday, 7 November 2015

“Yêu Em như thưở nào,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 33 thường niên năm B 15/11/2015

Yêu Em như thưở nào,”
tình yêu còn biên đầy trang giấy
Yêu anh như thưở nào,
tình yêu còn đong đầy trang sách..”
(Nguyễn Trung Cang – Còn Yêu Em Mãi)
(Mt 2: 13-15)

            Có thể nói: nghe xong câu hát này, hẳn bạn và tôi sẽ lại ‘phán’ ngay một câu ‘xanh rờn’ rằng: sao nghê-sĩ hôm nay hát những lời ca nghe thiết-tha, đậm-đà tình-tiết, ‘thật như đếm’ đến là thế?
            Có thể bảo: các ca-từ trên chắc-chắn từng sưởi ấm nhiều con tim, dù đã bị nguội-lạnh cách mấy đi nữa. Phải thế không, hỡi bạn và hỡi tôi, là những người nghe nhiều và hát nhiều bài ca ướt-át, dịu êm đến như thế?
            Thôi thì, hôm nay xin phép dẫn-nhập dông dài hơi khác thường cũng chỉ để mời bạn và tôi, ta đi vào tình-huống có những kể-lể về tình-yêu, “đẹp như bài thơ” làm nền, rằng:

            Dù biết trái tim đã già,
mà những thiết tha chẳng nhòa.
Tình cũ vẫn nghe ấm nồng,
gọi tên nhau lúc cô đơn.
Để nghe sưởi ấm tâm hồn.
Em ơi đây tiếng đàn,
lời ca dệt ân tình năm tháng.
Câu ca hay khúc nhạc,
Tình yêu còn đong đầy khao khát.
Dù có cách xa mỏi mòn,
mà những dấu yêu mãi còn.
Sưởi ấm xác thân héo gầy,
Tình yêu như gió đem mây.
Gọi Mưa giăng kín khung trời.
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

            Thơ/nhạc làm nền, vẫn lan-man/tản-mạn rất nhiều điều, để rồi lại sẽ đưa người đọc vào chủ-đề lâu nay vẫn được bạn bè/người thân trao cho nhau một giòng chảy. Giòng chảy tư-tưởng ở thơ/văn cùng truyện kể, rất đáng nể. Một trong những truyện kể cho nhau nghe, là chuyện xảy ra vào thời buổi trước, cũng kỳ-diệu/diệu kỳ, như sau:

Một đêm khuya, lâu lắm rồi, tôi lang thang trên mạng và bất ngờ “tầm” được tấm ảnh anh chiến sĩ Việt Nam Cộng-Hoà quỳ cầu-nguyện giữa ngôi thánh-đường đổ-nát, hoang-tàn, và tôi đã chia-sẻ trên FaceBook.
Bất chợt cách đây vài ngày, tôi nhận được lời mời của một người hẹn gặp tại Buôn Mê Thuột, và tôi đã đến. Trong buổi gặp-gỡ, tôi thật ngỡ-ngàng đến sững-sờ: người hẹn gặp tôi, chính là anh chiến-sĩ trong ảnh “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, lúc đó anh mới ra trường, mang quân-hàm Thiếu úy thuộc đội đặc-nhiệm của Lữ đoàn Dù. Theo lời anh kể: Năm ấy, ngôi thánh-đường La Vang, Quảng Trị sau một trận cuồng-pháo của phía Bắc Việt, nhưng cây thánh giá và tượng Đức Mẹ không hề bị mảnh đạn pháo nào; và với niềm-tin vào Chúa, anh đã quỳ xuống… Lời cuối cùng khi chia tay, anh nói: “Anh đạo Phật nhưng anh tin Chúa” (trích tâm-tình trao cho nhau trên điện-thư gửi cho mọi người mới hôm nào)
            Vâng. Lang-thang trên mạng hoặc tản-mạn chuyện diệu-kỳ hay thần-kỳ, còn là kể về một thứ thần-học cũng rất kỳ-diệu, kỳ-bí hoặc lạ-kỳ tùy mỗi người, ở đâu đó.
            Vâng. Một trong những chuyện thần-kỳ mà bần đạo đây gặp được trong sách/vở hoặc ở truyền-thông/báo chí cũng lạ-kỳ, thật hết biết. Thế nhưng, để chuyện phiếm hôm nay thêm phần ướt-át, đầy thi-phú, xin mời bạn và tôi nghe thêm đoạn hát tiếp có ca-từ, như sau:

            Này em hỡi,
ta mơ ngày sẽ tới, khi tương phùng.
Em khóc cho niềm vui vì hạnh phúc.
Ngọt hay đắng, trong cuộc đời mưa nắng,
ta luôn cười trong giấc mơ
hạnh phúc xưa tuyệt vời.
Riêng ta nơi núi rừng,
về đêm càng nghe hồn băng giá,
câu ca hay khúc nhạc,
càng thêm sầu cho tình tan nát.
Dù biết cách xa với đời,
dù biết thủy chung chẳng rời,
mà vẫn xót xa tháng ngày,
chờ ta chi nữa em ơi,
còn đâu giây phút tuyệt vời.”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Vâng. Ý/lời ở nhạc-bản trên, những là: “Dấu yêu mãi còn sưởi ấm xác-thân héo gầy…” đều là những lời và ý góp lại hầu mô-tả một thứ tình-yêu lan rộng khắp bốn phương trời.
Vâng. Quả thật, vẫn có thứ “Tình yêu như gió đem mây“ giăng kín hết khung trời Đông/Tây kim/cổ từng tỏ-bày lòng người dành cho người mẹ dấu-yêu, ở đây đó.
Vâng. Đó, là Tình Mẫu-Tử được thể-hiện qua ảnh-hình và tình-tự về việc tôn-sùng/mến-mộ của người con thảo với mẹ hiền. Đó, là tình-tiết rất da-diết của nhiều người ở mọi thời vẫn dành cho mẹ hiền mình bằng lòng sùng-kính mến-mộ, qua ảnh-hình của “Mẹ và con” trên khắp thế-giới.
Nói xa/nói gần, không bằng nói thẳng/nói thật với bạn-bè đang đọc những giòng này, rằng: bần đạo đây vừa được anh bạn ở Sydney, tên là Nguyễn Văn Tạ, một cựu chủng-sinh Giáo-Hoàng Học-viện vào thập-niên 1960s, trao tặng cuốn “Babylon - Mystery Religion” do nhà Ralph Woodrow ấn-hành những hai lần; một: vào năm 1966 và lần kia, năm 1981.
Trong sách này, có bài sưu-tầm viết về việc tôn-sùng “Mẹ và Con” với nhiều chi-tiết văn-minh/lịch-sử của nhiều tập-tục, những bảo rằng:

“Chuyện con người xưa nay thờ-phụng/sùng-kính “Mẹ và Con” đã lan-truyền rộng trong chốn dân-gian ở Babylon thời cổ-đại. Và, sự việc này đã trở-thành nghi-tiết phụng-thờ được đưa vào nhiều tôn-giáo, ở các nơi.     

Ở Babylon thời cổ-đại, nhiều di-tích cổ-xưa từng trưng-bày Nữ-thần Seramis qua hình-ảnh “Mẹ bồng/ẵm người con của mình là thần Tammuz, trên tay. Vào thời mà người dân Babylon tản-mác khắp nơi trên thế-giới, họ cũng đem theo tục thờ/kính thần-linh “Mẹ và Con” này theo họ. Điều này cắt-nghĩa lý-do tại sao lại có quá nhiều nước thờ “Mẹ và con” nhiều như thế, dù theo hình-thức này hay cách khác. Trước cả lúc Đức Giêsu Cứu Thế hạ sinh với thế-gian này.

Ở một số quốc-gia có tập-tục phụng-thờ như thế, danh-xưng “Mẹ và con” được sử-dụng bằng tên gọi khác nhau, điều này hẳn mọi người còn nhớ truyện kể ở Cựu-ước nói về chuyện ngôn-ngữ dân-gian bị rối bời/đảo-lộn cũng xuất tự sự-thể gọi là truyện tháp Babel, ở Babylon. 

Từ đó, mỗi nơi, mỗi nước đặt tên nữ-thần-làm-mẹ theo kiểu cách khác nhau. Người Trung-Hoa gọi mẫu-thần của mình là “Shingmoo” (tức “Thánh Mẫu”. Người Đức có tục thờ Đức Nữ Đồng Trinh Hertha bồng ẵm con nhỏ trên tay bà. Người dân vùng Bắc Âu gọi bà là “Disa” cũng vẽ-tô hình-tượng ẵm con trên tay. Người Etruria gọi bà là “Nutria”; còn với người sắc-tộc Druid lại thờ Đức Nữ-trinh Virgo-Patitura là “Mẹ Thiên-Chúa”. Với Ấn-độ, bà được biết dưới tên gọi là “Indrani” cũng tượng-trưng bằng hình-ảnh ẳm/bế con trẻ. Với người Hy-Lạp, thì mẫu-thần của họ là thần “Aphodite” hoặc “Ceres”. Người Sumeria gọi bà là “Nana”. Người La Mã khi xưa lại cũng coi thần “Vệ-Nữ” hoặc “Fortuna” ẵm bế con mình là thần “Jupiter”, trên tay.

Ở Châu Á, mẫu-thần được biết dưới tên gọi là “Cybele” bế-ẵm con mình là “Deoius”. Có tác-giả từng viết về thần này rằng: “Không cần biết tên bà là gì, được thờ-phụng ở nơi nào, thần Cybele là vợ của Baal, tức Đức Nữ-vương Thiên-đàng Đồng-trinh sạch sẽ” sinh ra từ cây trái dù bà chưa từng thụ-thai với ai hết…” (X. Ralph Woodrow, Mother and Child Worship, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow Evangelist Association Inc. 1981, tr.13-14)

Lâu nay, ở giáo-xứ nhỏ nơi bần-đạo thường sinh-hoạt vào cuối tuần qua Tiệc Thánh, có cụ chánh-xứ tên là Terence Bell cứ yêu-cầu bà con tham-dự lễ hãy đọc kinh “Kính Mừng Maria” ngay sau kinh Tin Kính, để gọi là “tỏ lòng sùng-kính/mến mộ” Mẹ của Chúa, rất Maria.
Chẳng cần cãi-tranh xem yêu-cầu và hành-động của đấng bậc ở trên đúng hay sai? Có phù-hợp với luật Phụng-vụ không? Bởi, “luật chữ đỏ” vẫn bảo rằng: Khi cử-hành Tiệc Thánh-Thể, ta chỉ tôn-kính/phụng-thờ mỗi Đức Chúa, mà thôi. Còn, việc sùng-kính Đức Mẹ và các thánh, ta để sau thánh-lễ hẵng thực-hiện…
Không cần biện-luận xem thói quen hoặc phong-trào tỏ-bày lòng sùng-kính bức tượng “Mẹ và Con” có chính-đáng/thích-hợp hay không, mà chỉ cần ghi lại ở đây một vài ý-tưởng làm nền được nhiều đấng bậc bảo-ban/khuyến-dụ.
Dù không làm thế, chắc hẳn bạn và tôi, ta cũng nên ghi thêm đôi điều được tác-giả ở trên sưu-tầm và biện-giải bằng lời lẽ rất nhẹ, như sau:

“Khi con cháu/hậu duệ người Do-thái trở-thành những người “bội-giáo” (tức bỏ đạo gốc của chính họ) thì họ cũng để mất đi tính-chất thần-thiêng khi trước của mình để rồi lại cũng phụng-thờ như người ngoại-giáo lúc bấy giờ bằng tục-lệ thờ-kính “Mẫu thần” ngoại giáo như sách Thẩm Phán đoạn 2 câu 13 có ghi như sau: “Họ đã bỏ Giavê và phụng-thờ Baal và Astartê. Astartê, là tên gọi của nữ-thần coi sản-lực và ái-tình mà dân con Do-thái mọi người đều biết đến.

Thật cũng tội, khi mọi người đều nghĩ rằng: các vị thần khi trước được coi là Gia-vê Thiên-Chúa đích-thật cũng sẽ xuất tự thần này mà ra và họ đã bắt đầu thờ thần này cùng với mẫu-thần của người ngoại đạo. Các chương/đoạn trong sách Cựu-ước như sách Thẩm phán đoạn 10 câu 6; sách Samuel đoạn 7 câu 3 và 4, đoạn 12 câu 10 và sách Các Vua đoạn 11 câu 5, Sách Các Vua 2 đoạn 23 câu 13, đều dẫn-chứng. Một trong các danh-xưng được người thời trước công-nhận nữ-thần này là “Nữ-Vương Thiên-đàng” như sách Giêrêmia đoạn 44 câu 17-19 cũng có nói…

Vào thời xa xưa cổ-đại, các lãnh-đạo tôn-giáo thấy rằng nếu các ngài đưa được vào Đạo Chúa một số tập-tục thờ-kính “Mẹ và Con” của dân ngoại, thì số người theo Đạo mình cũng gia-tăng, cách đáng kể. Nhưng vần-đề đặt ra là: Thần-thánh nào có khả-năng thay thế các mẫu-thần của dân ngoại đây? Dĩ nhiên, chỉ mỗi Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu là đấng-bậc lành-thánh thích-hợp hơn cả cho việc này, thôi”...  (Xem thêm Ralph Woodrow, Mother and Child Worship, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow Evangelsit Association Inc. 1981, tr.16-20)
 
Trích-dẫn thế rồi, nay mời bạn và tôi dấn bước chân trần vào vùng trời truyện kể, để thưởng-ngoạn đôi giòng tư-tưởng của người đời từng có kinh-nghiệm về chuyện sủng-mộ chỉ mỗi con gái trong quan-hệ “mẹ-con”, như sau:

“Một người họ Lý, vì gia cảnh nghèo khó nên đến tuổi 35 mới lấy được người vợ là một phụ nữ góa chồng ở cùng làng; về sau sinh được một con trai, đặt tên là Sinh. Sinh, học-hành rất thông-minh, dù chỉ mới tốt-nghiệp trung học đã vượt xa các thanh niên khác trong làng. Anh được cán bộ đại đội đề cử cho dạy bậc tiểu học. Hai năm sau, anh lại được đề-cử đi học đại-học.

Người cha, không là: ngờ mình đã hơn ba mươi tuổi lại có được quý tử,và là người đầu tiên trong làng được học đại học. Nhiều người trong làng rất nể-phục ông, nên nói rằng:
-Sinh nó tốt nghiệp đại học xong, có công ăn việc làm ổn-định, tương-lai sẽ lập gia-đình ở thành-phố, rồi mai đây sẽ đưa ông bà lên thành-phố, khi ấy tha hồ hưởng phúc. Ở làng này, ông Lý là nhất đấy!

Hai vợ chồng nghe người ta nói lấy lòng mình như vậy, cũng vui mừng đến độ không nói nên lời. Sau khi anh Sinh tốt-nghiệp đại-học, anh được phân-bổ đến công tác tại cục Tài-chính của huyện. Nửa năm sau, anh quen một cô bạn gái, tên là Tú Anh, nhà ở nông-thôn, tốt-nghiệp đại-học xong, được về công tác tại cục Công Thương ở huyện. Một năm sau, hai người kết-hôn.

Một lần nọ, ông Lý lên thành phố tìm đến nhà con trai. Con dâu nhìn thấy cha chồng lần đầu tiên đến nhà, biết là có chuyện, bèn hỏi:
-Cha, hôm nay lần đầu cha đến nhà chúng con, nhất-định phải có việc. Việc gì vậy, Cha nói đi! Con và chồng con, nhất định sẽ giải quyết cho cha!
-Con đã hỏi, ta cũng không vòng vo. Gần đây trong nhà không có tiền, giờ lại đúng mùa cấy mạ, phải nhờ người khác làm giúp, mua phân hóa-học cũng phải có tiền mới mua được. Hôm nay cha đến, là cần mượn ít tiền mang về, giải quyết việc khẩn cấp.
-Cha chỉ cần sai người thân-tín đến, cần bao nhiêu chúng con sẽ gửi mang về, cha không cần phải đến tận đây thăm. Tiền này, con cần thương-lượng với nhà con một chút. Tú Anh đợi đến lúc chồng vừa về đến nhà, không đợi chồng chào hỏi cha, liền lôi chồng vào nói:
-Cha anh đến nhà, nên em không ra ngoài mua đồ ăn được. Trong nhà chỉ có rau, cha của anh cũng không phải khách quý, tiếp đãi tốt xấu thế nào, ông ấy già rồi không so đo gì đâu! Hôm nay ông ấy đến xin tiền về trả tiền phí tổn cấy mạ, anh nói xem bao nhiêu thì được?
-Em nghĩ mình cho bao nhiêu?
-50 đồng, cũng đủ rồi. Anh cho 50 đồng nhé! Có thiếu, rồi thì cha cũng nghĩ cách khác thôi.

Tú Anh xào mấy món rau qua loa đãi cha chồng. Sau bữa ăn, Tú Anh móc 50 đồng đưa cho cha chồng, rồi nói:
-Đây là 50 đồng tiền trả phí tổn cấy mạ, như vậy cũng đủ rồi, phải không cha?
Ông Lý cầm tiền, không nói lời nào, rầu rĩ trở về nhà. Chỉ hai ngày sau, mẹ của Tú Anh tìm đến nhà. Tú Anh vừa thấy mẹ đến thăm liền ân-cần hỏi:
-Mẹ, có phải hôm nay mẹ cần tiền không?
Mẹ của cô gật đầu. Cô dặn mẹ ở nhà coi nhà, rồi cô vội-vàng đi mua thịt, cá và trứng gà…

Anh Sinh xong tan giờ tầm về đến nhà, lúc cô kéo cửa rồi nói với chồng:
-Mẹ em đến, anh hãy nhanh ra chào mẹ đi, đừng chậm trễ! Hôm nay mẹ cũng đến xin tiền đấy, anh nghĩ mình cho mẹ bao nhiêu là hợp hơn cả?
-Em định biếu mẹ bao nhiêu?
-Ít nhất cũng phải 500 đồng mới đủ! Vậy mình cho mẹ 500 đồng nhé!

Tú Anh cầm 500 đồng đưa mẹ. Mẹ cô vô cùng sung-sướng trở về nhà.
Tú Anh mang thai, cô đem tin vui này báo cho chồng biết, rồi hỏi chồng:
-Anh muốn em sinh trai hay gái?
-Tốt nhất nên sinh con gái.
-Con người anh thật lạ kỳ. Sao lại muốn em sinh con gái? con gái có gì tốt đâu chứ?

Anh Sinh không nói lời nào. Chẳng mấy chốc, Tú Anh đã mang thai được tám tháng; cô phải về nhà mẹ đẻ dưỡng thai, chờ ngày sinh. Lúc sắp đi, Sinh trịnh trọng nói với vợ:
-Nếu em sinh con gái, thì hãy kịp thời báo cho anh biết; còn nếu như sinh con trai, thì không cần báo, tốt nhất là đem cho người khác.
-Anh bị gì thế? Tại sao anh không thích con trai chứ?

Sinh không trả lời vợ đến một câu. Ít ngày sau, Sinh nhận được tin nhắn của mẹ vợ bảo rằng: Tú Anh đã sinh được một thiên-kim tiểu-thư. Nghe xong, Sinh sung sướng nhảy dựng lên. Anh liền đến đơn-vị xin nghỉ phép, thông-báo là vợ của mình sinh con gái và anh muốn đến nhà mẹ vợ thăm con gái mình. Ban lãnh đạo chúc mừng và đồng ý cho anh nghỉ phép.

Sinh mua 16 con gà, 300 cái trứng gà, và rất nhiều thuốc bổ, dùng cả gánh tiền mua đồ đạc, vô cùng vui vẻ đến nhà mẹ vợ. Sau khi vào nhà, đem mọi thứ đặt trên bàn cơm ở phòng bếp, không đợi uống tách nước trà do mẹ vợ đưa, anh liền chạy vào phòng. Anh bước đến giường vợ, không nói lời nào, liền xốc chăn đang đắp trên người vợ lên:
-Em cho anh xem xem nó là con gái, hay con trai!
-Bảo đảm anh sẽ vui.

Sinh ôm lấy con, đặt lên chăn, không thể chờ đợi thêm liền vạch quần áo con ra xem thì thấy không phải con gái, tức giận quát lớn:
-Các người sao lại lừa gạt tôi? Tú Anh, chẳng lẽ cô quên là tôi từng bảo: nếu sinh con trai, cô không cần báo cho tôi biết gì hết sao?

Sinh nói xong ra khỏi phòng, lấy đồ đạc để trên bàn cơm trong phòng bếp rồi đi, và nói:
-Đứa con này tôi không muốn, các ngươi thích ai thì cứ đem cho người đó.
Mẹ vợ thấy con rể giận dữ, liền giữ chặt tay con rể nói:
-Người ta sinh con trai thì đặc biệt vui mừng, còn con vì sao lại muốn đem cho người khác? Hôm nay nhất-định phải nói rõ vì sao mới ra khỏi nhà này được.
Sinh đứng lại, nói:
-Cha mẹ của con sinh con ra, vất vả nuôi con khôn lớn, cho con học hành, lên đại học, kết hôn, tốn biết bao nhiêu là của cải. Thế nhưng, con từ lúc làm việc đến nay, ngày lễ tết trở về lúc nào cũng hai bàn tay trắng, sinh nhật của con cha mẹ cũng không có được một chút quà mọn để cho. Từ khi con kết-hôn đến nay, cha con bất đắc dĩ mới đến thăm con mình một lần muốn xin một ít tiền trả công cấy mạ thì con gái yêu của mẹ chỉ cho ông có 50 đồng, 50 đồng này thì làm được gì chứ? Cha con cầm 50 đồng, ngậm nước mắt ra đi, đã nói một câu “Sinh con trai thì được ích gì?” Nghe câu đó xong, lòng của con đau như chảy máu. Mẹ nói đi! Vậy thì con cần con trai làm gì, cơ chứ?
-Sinh à, mẹ không biết con gái mẹ đối đãi với cha mẹ con không theo đạo hiếu, chỉ trách cha mẹ không biết dạy dỗ nó gia giáo. Con muốn đi, mẹ cũng không có mặt mũi nào giữ con lại, con hãy đem vợ con đi đi, đừng để nó ở lại nhà mẹ nữa.

Mẹ vợ buông tay anh con rể, bước vào phòng đứng trước giường con gái ruột của mình, rồi tốc chăn lên, giận-dữ  nói:
-Mày hãy ôm con mà ra khỏi cái nhà này cho rảnh mắt! Tao không có đứa con gái như vậy.
-Mẹ, con sai rồi, sau này con nhất định sẽ sửa đổi, nhất định hiếu kính cha mẹ chồng, mẹ cho con ở lại ít ngày còn trong tháng rồi con sẽ đi, con xin mẹ!

Sinh nghe hai người nói qua nói lại, biết rõ mục-đích mình đạt được, bèn buông đồ đạc xuống, bước vào nói:
-Mẹ đừng nóng giận, con gái đã nhận lỗi, mẹ hãy cho cô ấy một cơ-hội, để cô ấy ở lại. Hai mẹ con ăn uống, tất cả công-sức mẹ chăm-sóc giúp-đỡ, con sẽ tính-toán rõ-ràng không thiếu một đồng.
-Chỉ cần nó giữ lời nói, mẹ có thể để nó ở lại, tiền chăm-sóc mẹ không muốn.
Sinh ở lại chăm sóc vợ, mãi cho đến hết ngày nghỉ phép mới về đi làm.”
(Truyện kể do bạn bè gửi qua điện-thư, trên mạng)  

Và lời bàn của người kể, vẫn nói rằng:
“Cha mẹ cả đời nuôi ta khôn lớn, hy sinh cho ta rất nhiều. Khi ta khôn lớn, dần dà có suy nghĩ riêng của mình. Lúc này, ta không nên nghĩ ngợi lung tung, mà hãy nhớ thật kỹ những năm tháng công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Tuy nói hiếu thảo với cha mẹ cũng được ghi vào luật pháp, nhưng hiếu thuận với cha mẹ không cần phải để luật pháp quy định mới làm, mà là tự giác vì đó chính là đạo lý làm người.

Về phận làm dâu/rể, sự hiếu thảo/thuận-hoà với cha mẹ chồng/vợ cũng không kém phần quan trọng. Cha mẹ chồng, hay cha mẹ vợ cũng giống như cha mẹ của chính mình. Các vị cũng vất-vả nuôi con khôn lớn, về già cũng mong được nương tựa con cái. Nhờ cha mẹ chồng, mình mới có người chồng mẫu mực, thành đạt trong cuộc sống; nhờ cha mẹ vợ, mình mới có được người vợ nết na, chu đáo. Có thương yêu các vị ấy, mới là thương vợ, thương chồng, thương con của mình. Gieo nhân nào gặt quả ấy! Hãy nên gương tốt cho con cháu. Hãy thương yêu trọn vẹn những người có duyên có phận trong cuộc đời mình.
(Mai Mai dịch từ Buzzlife, Nguồn: tinh hoa)

Chuyện đời thì như thế. Còn, chuyện Đạo, được bậc thánh-hiền kể về “Mẹ và Đức Chúa Con” ở Tin Mừng, lại như sau:

Khi các nhà chiêm tinh đã ra về,
thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng:
"Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập,
và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại,
vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!"
Ông Giuse liền trỗi dậy,
và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập.
Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà.”
(Mt 2: 13-15)

Nói cho cùng, dù bạn hoặc tôi, ta có đồng ý với truyện kể trên hay không; hoặc, chuyện nhà Đạo chỉ chú ý đến con trai, thay vì con gái, cũng đều tùy. Tùy, lập-trường Tây/Tầu, Âu/Á hoặc tùy bạn/tùy tôi, ta đang đứng ở vị-thế nào để nhìn sự việc, ở đời mà thôi.
Nói cho cùng, thì: con trai hay con gái, không quan-trọng bằng các chuyện đời được kể về “Mẹ và con” được mọi người phụng-thờ, sủng-mộ.
Nói cho cùng, đời người ít ai tôn-sùng/sủng-mộ “Bố và con”, rồi còn đưa lên bàn thờ hoặc đền thánh mà thờ-kính, cho trọn lễ.
Nói cho cùng kỳ lý, thì: việc tôn-sùng/thờ-phụng “Mẹ và con”, dù người ấy là trai hay gái, vẫn là đề-tài đặt ra cho các nền văn-minh chuyên ưa-chuộng chuyện sùng-kính/sủng-mộ “Tình Mẫu Tử”, thôi.
Nói khác đi, tức nói theo cung-cách khác hẳn kiểu người đời, thì: nhà Đạo mình luôn khẳng-định: “Thiên-Chúa là Tình-Yêu”. Điều này rất đúng. Tuy nhiên, có nhiều điều nhìn qua thấy dễ hiểu nhưng rất khó nói, như chuyện: “Tình Mẫu-Tử”, với văn-minh/văn-hoá ở nhiều nơi/nhiều thời, qua đó người người vẫn “nhân-cách-hoá” tình Mẫu-tử của Chúa bằng ảnh-hình “Mẹ và Con”, hoặc “Mẹ và Đức Chúa Con”, rất linh-đạo.
Cũng từ đó, người người trong Đạo, lại đã quen dần với tập-tục sùng-kính/sủng-mộ Đức Maria rất “Mẹ và Con” theo cung-cách, ảnh-hình khác-biệt trong cuộc đời, của mọi người.
Nói cho cùng, cũng nên hợp giọng với nghệ-sĩ trẻ khi xưa từng diễn-tả tình-huống tương-tự bằng ca-từ rất khác lạ gửi đến người nghe, như sau:   

“Này em hỡi, ta mơ ngày sẽ tới,
khi tương phùng,
em khóc cho niềm vui vì hạnh phúc.
Ngọt hay đắng, trong cuộc đời mưa nắng,
ta luôn cười
trong giấc mơ hạnh phúc xưa tuyệt vời…”
(Ngyễn Trung Cang – bđd)

Vâng. Nói cho cùng, thì: ta cứ thế mà “cười trong giấc mơ”. Mơ những ngày sắp tới, để rồi có khóc cho niềm vui hạnh phúc; hoặc, có sướng vui với việc phụng-thờ/sủng-mộ “Mẹ và  Con” trong “cuộc đời mưa nắng”, hãy cứ “cười trong giấc mơ, hạnh phúc xưa tuyệt vời.”
Hạnh-phúc ấy, cũng tựa hồ mối phúc-hạnh giữa “Mẹ và con” rất tuyệt vời. Ở trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai
Dù gì đi nữa,
Mỗi khi ta phụng-thờ/sủng-mộ “Mẹ và Con”
Là lúc ta sướng vui tuyệt vời
Suốt một đời.