Saturday, 22 April 2017

“Quê em miền thuỳ dương”



Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 3 Phục Sinh năm A 30/4/2017

“Quê em miền thuỳ dương”
Lúa ngọt ngào hoa mới
Gió mang mùa Xuân tới
Hôn liếp dừa lên hương
Hương thơm tràn muôn lối.”
(Hoàng Trọng – Mộng Ban Đầu)

(Thư thứ nhất Phêrô 2: 11-17)

Nói về “Mộng Ban Đầu”, mà lại tả quê em với quê anh, nghe chẳng thấy gì là mộng mơ/mơ mộng thời đầu hết. “Gió mang mùa xuân tới”, “Hương thơm tràn muôn lối”, ôi! đã chắc gì được như thế? Thôi thì, nay lại xin mời bạn và nời tôi, ta nghe thêm câu hát tiếp, để rồi sẽ biết:

“Quê em dậy bình minh
Nắng đẹp lòng thôn xóm
Quán tranh hiền vui đón
Bên bát nước chè xanh
Chan chứa mộng yên lành.
Nhớ về thăm em nhé!
Đừng than nỗi đường xa
Đây tiếng hát câu hò
Đang canh cánh mong chờ
Anh nhớ về anh nhé!

Hôm qua buồn nhìn đâu
Thoáng mẹ già nom thấy
Hỏi con chờ ai đấy?
Em níu lấy cành dâu
Che dấu mộng ban đầu.”
(Hoàng Trọng – bđd)

Mỗi lần nghe hát nhạc của Hoàng Trọng, là y như rằng sẽ có nhiều bạn giống như tôi, cứ như muốn ra sàn nhảy lả lướt đôi điệu “tango”, cho đỡ nhớ. Thôi thì, để rồi bạn và tôi, ta đề-cập chuyện này trong chốc lát. Nay, ta bàn và bạc xem “quê tôi” và “quê bạn” có còn những điều như thế, nữa hay không?

Nay, ta thử bước vào nhà Đạo, xem người đi Đạo mình có còn làm những cử chỉ như thủ-thuật/phù-phép xưa như trái đất, mà chẳng biết đến ý-nghĩa và dụng đích của nó. Hãy cứ nghe người đi Đạo hỏi đấng bậc vị vọng những chuyện mình thường làm, nhưng không hiểu ý-nghĩa của nó làm sao hết:

“Thưa Cha,
Con có đứa con gái nhỏ mới đây có hỏi: sao mẹ và những người đi nhà thờ hay vảy vảy thứ nước đừng trong bồn đá khi bước vào nhà thờ, hoài vậy? Con đây, không biết trả lời sao cho đúng cách, nên mạo muội viết ra đây xin cha giúp con giải-quyết. Con cảm ơn cha rất nhiều.”

Và cứ thế, mỗi lần đấng bậc được hỏi những câu về luật-lệ trong đạo hoặc về giáo-lý/phụng vụ hoặc những thứ như là tín/lý/giáo-điều đều thích-chí ghi ngay câu trả lời dài ở bên dưới, mà rằng:

“Tự làm phép lên người mình bằng cách cứ “vẩy vẩy nước thánh” vào trán và mồm miệng, là có nhiều mục-đích và ý-nghĩa rất phải lẽ lắm đấy, thưa chị. Trước nhất, là việc ta hãy trở về thời Cựu Ước khi đó mọi người đều dấn thân vào với chuyện thờ phụng Thiên Chúa theo cung cách khác nhau, chẳng hạn chuyện rửa ráy chính mình bằng nước để được thanh-sạch cho sinh-hoạt thiêng-liêng trong đạo.

Ta thấy sự việc này rõ ràng được mô-tả trong sách Xuất Hành, qua đó Thiên-Chúa ra lệnh cho tổ-phụ Môsê những điều như sau: “Ngươi sẽ làm một cái vạc đồng có đế cũng bằng đồng dùng vào việc tẩy rửa; ngươi sẽ đặt cái vạc đó giữa Lều Hội Ngộ và bàn thờ. Ngươi sẽ đổ nước vào đó; Aharon và các con ông sẽ dùng nước đó mà tẩy rửa tay chân.

Khi vào Lều Hội Ngộ, họ sẽ lấy nước đó mà tẩy rửa để khỏi phải chết; hoặc khi tiến đến bàn thờ để hành lễ, để đốt của lễ hoả-tế mà dâng Đức Chúa, thì cũng vậy.” Vạc đồng có đế, thật cũng giống như bồn nước thánh ở mọi nhà thờ. Nó được đặt trước bàn cúng tế cũng giống như việc đặt bồn nước thánh ngang cửa vào nhà thờ vậy. 

Thói quen này vẫn được duy-trì vào thời Hội-thái tiên-khởi, nơi đó luôn có bồn nước đặt ngay cửa vào đền thánh như thế mọi người có thể rửa tay cho sạch trước khi bước vào. Vào thế kỷ đầu, các nhà thờ đều có đặt một chậu thông bằng đồng cao 4 thước, đặt cạnh Pantheon ở Rôma.

Và về sau, quan-chức trong Giáo-hội đã dời về sân sau của Vương Cung Thánh Đường đầu tiên kính thánh Phêrô. Nay chậu đồng được đặt tại nơi gọi là “Cortile della Pigna”, tức sân sau chậu đồng ở viện Bảo tàng Vatican…

Vào các thế kỷ kế tiếp, việc sử-dụng nước không chỉ để rửa ráy bên ngoài mà thôi, nhưng còn để thanh-tẩy đầu óc và tâm can nữa. Đến thế-kỷ thứ 9, Đức Lêô IV (847-855) ra lệnh cho các linh-mục rảy nước thánh ban phúc lành và thanh tẩy mọi người vào trước giờ lễ, một thủ-tục gọi là rẩy nước thánh được giữ đến ngày gần đây.

Đến thế kỷ thứ 16, thánh Carôlô Bôrômêô, Giám mục thành Milan đưa ra thông-lệ thiết-lập bồn nước thánh bằng cẩm thạch hoặc đá chắc không rạn nứt đặt nơi cột nhà thờ, bên trong nhà thờ phía tay phải những người bước vào nhà thờ để ta rẩy nước thánh ban phép lành cho chính mình để thanh tẩy đầu óc lẫn tâm-can cốt nhắc nhở ta về ơn rửa tội.

Và, cũng nhắc nhớ ta lập lại quyết-tâm khi chịu thanh-tẩy. Và, mỗi khi rảy nước lên mình, ta làm dấu thánh giá bằng nước thánh để nhắc nhở mình về Thập Giá Đức Kitô từng lĩnh nận để cứu-rỗi nhân-loại và tưởng nhớ thánh-giá ta chịu trong hiệp-thông với Ngài.

Cuối cùng, khi làm dấu thánh giá đọc lời Nhân Danh Cha Và Con Và Thánh Thần, ta tự nhắc nhở chính mình về Chúa Ba Ngôi là nền-tảng sự thật niềm tin ta vẫn có. Xem như thế, thì: việc dung nước thánh rẩy lên mình và làm dấu thánh không chỉ có gốc nguồn từ thói quen của người xưa nhưng còn mang ý-nghĩa rất phong-phú, khi hành Đạo.” (X. Lm John Flader, From fountains to fonts: the evolution of Holy Water blessing, The Catholic Weekly 23/4/2017 tr. 21)

Xem thế thì, cũng là một công đôi việc, để trả lời thắc-mắc của người chị nào đó hỏi han những thói quen áp-dụng tại nhà thờ, thì đấng bậc nhà mình lại cũng có dịp giảng thêm một bài về lịch-sử giữ Đạo của người xưa.

Về thói quen hay tập-tục của người xưa, ta vẫn quen dung mãi đến thời Công Đồng Vatican 2 năm 1964, là những thói quen dọi lại từ tập-tục ngoài Đạo, ở Babylon. Thiển nghĩ cũng chẳng cần tranh cãi về lịch-sử Đạo Chúa hoặc thói quen có từ “dân ngoại”, cũng nên nhìn lại quá-khứ để có thêm một chút sử-tính, rất không thừa.

Nói xa nói gần chẳng qua nói thật khi ai đó biểu đồng tinh với người viết chuyện dã-sử rất như sau:

“Vào thời xưa cũ, Đạo Chúa đã phải giáp mặt đụng trận với ngoại-giáo Babylon theo nhiều hình thức khác nhau trong khi chung sống thời Đế quốc La Mã kéo khá dài. Tín-hữu Đức Kitô thời tiên-khởi từng chối-bỏ rằng mình chẳng có gì chung-đụng hoặc có cùng niềm tin hoặc lề thói cũ/mới, chút nào hết.

Từ đó mới xảy ra nhiều cuộc bách-hại rất phi-lý. Rất nhiều vị từng bị kết tội cách sai quấy, bị ném cho cọp beo ăn thịt, hoặc bị thiêu đốt cho đến chết và nhiều hình-thức tra-tấn khác rất dã man.

Nhưng, kịp đến khi hoàng đế La Mã trở về lại với Đạo Chúa, nhiều thói-tục đã thay đổi đến tận gốc. Hoàng đế khi ấy ra lệnh chấm dứt mọi cuộc bách-hại hoặc hành hình trong đế-quốc của ông. Các Giám mục được tái-tạo quyền-hành và phục-hồi danh-dự. Giáo-hội Chúa bắt đầu được công-nhận uy-lực và quyền-bính trên khắp thế-giới.

Nhưng, để được thế, Giáo-hội cũng phải trả giá rất đắt. Một trong những thứ đắt giá ấy là phải nhượng-bộ ngoại-giáo, chấp-nhận nhiều thói-lệ và tập-tục làm của mình. Và từ đó, thay vì tách-biệt khỏi thế-gian, Giáo hội Chúa trở-thành một phần của hệ-thống thế-trần, nhiều chuyện lạ…” (Xem Ralph Woodrow, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow 1981 tr. 11-12)

Cứ mỗi lần nói về tập-tục nghi-lễ hoặc phụng-vụ trong Đạo, nhiều bạn đạo cứ bảo Đạo Chúa bắt chước đạo của họ, rất nhiều điều. Chẳng cần biết, xưa rày ai theo ai, Đạo nào nhượng-bộ tôn-giáo, chỉ biết rằng: muốn đi đến đại-kết tưởng cũng nên chấp-nhận đôi điều của nhau, và cho nhau.

Vậy nên, trước khi tiến đến giai-đoạn chung vui, chung sống hài-hoà như thế, tưởng cũng nên quay về với bà ca hôm trước những hát rằng:

“Hôm nay đợi chờ anh,
Hái một cánh hoa thắm.
Ghép bên lòng trong trắng.
Thơm ngát hồn thơ xanh.
Thay cho lời em nhắn.

Hương thanh bình dài lâu,
Lúa được mùa mưa nắng.
Gái trai làng vui sống.
Quang gánh nối lòng nhau.
Em thấy mộng ban đầu.

Nhớ về thăm em nhé!
Đừng than nỗi đường xa.
Đây tiếng hát câu hò.
Đang canh cánh mong chờ.
Anh nhớ về anh nhé!

Hôm qua buồn nhìn đâu.
Thoáng mẹ già nom thấy.
Hỏi con chờ ai đấy?
Em níu lấy cành dâu
Che giấu mộng ban đầu.”
(Hoàng Trọng – bđd)

Mộng ban đầu “về chung sống thân-thương/hài-hoà”, có gì đâu mà phải che với giấu? Có che và giấu, cũng chỉ nên giấu và che những rắc-rối xảy ra nhiều tháng ngày trong tranh-cãi ai đúng ai sai, rồi lại đi đến giết chóc, chém đầu người bị cho là “rồi rắm” chuyện đạo.

Để minh hoạ phần cho chuyện rắc rồi/cãi tranh trong đời người đi đạo ta đang bàn, có lẽ cũng nên thêm một truyện kể ngăn ngắn, có hơi lạ như sau:

“Có vị khách đi mua sữa bò vào buổi sang cuối tuần. Khi anh đi, thì gặp ngay người bán sữa đang có đó, ở ven đường. Anh tiến đến gần và hỏi giá sữa.
Người bán trả lời:
-Thư quí khách, 1 chai 3 đồng, 3 chai 10 đồng.
Khách mua, chẳng cần tranh cãii làm gì cho mất thì giờ, cứ cho tay vào túi rút ra 3 đồng bạc, và rồi anh làm thế đến 3 lần. Mua xong, anh đắc ý rồi cười lớn, nói với người bán sữa rằng:
-Đấy, ông coi: tôi chỉ mất có 9 đồng cũng đã mua được 3 chai sữa, chứ đâu phải bỏ ra 10 đồng như ông rao đâu!

Người bán sữa chẳng nói chẳng rằng, chỉ mỉm cười và chào người mua cho xong chuyện. Khi người mua đi rồi, người bán sữa bèn tự nhủ: Quả thật là hay! Từ ngày áp-dụng chiến thuật tính giá cả theo kiểu lạ này, chỉ một thoáng chốc là mình cũng bán được 3 chai sữa, thay vì chỉ có một như mọi ngày…”

Và, lời bàn của người kể, bao giờ cũng chí lý như sau:

“Câu truyện kể không chỉ đơn giản cho thấy một thủ-pháp, hay gọi là bùa phép cũng tuỳ người, đơn giản như thế cũng đạ đạt được chủ-đích để kích-thích người tiêu thụ. Điều đó cho thấy: cả người bán lẫn người mua đều có ý-tưởng sang-tạo hết…”

Áp-dụng ý-nghĩa truyện kể vào câu chuyện “rẩy nước thánh vào người”, ta cũng thấy chuyện gì cũng có nghĩa khác nhau. Khác, ở chỗ là: có người nhìn sự việc “chấm nước thánh rồi làm dấu mang nghĩa của một bái chào trước khi vào nhà thờ nhà thánh. Người khác lại nghĩ: đó giống như thể làm bùa phép để tự trấn an khi bắt đầu làm chuyện gì mà thôi.

Suy-tư thêm về truyện kể và chuyện bàn luận, đời người cũng lắm thứ chuyện xảy ra, nếu ta xét nét từng chi tiết. Thành thử, hay nhất là: cứ đơn-giản mà suy-tư và sống Đạo, hà tất sẽ yên chuyện. Hay nhất, cũng nên về với lời khuyên của đấng bậc hiền-nhân, hiển-thánh vẫn từng dạy:

Anh em thân mến,
Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại,
để ngay cả khi họ vu khống,
coi anh em là người gian ác,
họ cũng thấy các việc lành anh em làm
mà tôn vinh Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm.

Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế do loài người đặt ra:
dù là vua, người nắm quyền tối cao, dù là quan, sứ giả của nhà vua
để trừng phạt kẻ làm điều ác
và khen thưởng người làm điều thiện,
vì ý muốn của Thiên Chúa
là anh em hãy làm điều thiện để bịt miệng những kẻ ngu xuẩn vô tri.
Anh em hãy hành động như những người tự do,
không phải như những người lấy sự tự do làm màn che sự gian ác,
nhưng như những tôi tớ của Thiên Chúa.
Hãy tôn trọng mọi người, hãy yêu thương anh em,
hãy kính sợ Thiên Chúa, hãy tôn trọng nhà vua.”
(Thư thứ nhất Phêrô 2: 11-17)

Nghe những lời khuyên răn như thế, tưởng cũng nên đi vào thực tế mà thực-hiện những điều vẫn xảy ra cho ta trong thực-tại. Thế đó, là những quyết tâm ta cần có trong những ngày sống chung và sống cùng bà con các nơi, dù họ có là dân ngoại hay dân đi Đạo Chúa, rất Nước Trời.

Trần Ngọc Mười
Và những quyết tâm
Tương tự như thế
Đến cuối đời.
  

Thursday, 13 April 2017

“Ô kìa, bầy chim bỗng tới líu lo, líu lo sau nhà”



Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 2 Phục Sinh năm A 23/4/2017

“Ô kìa, bầy chim bỗng tới líu lo, líu lo sau nhà”
Ô kìa, người yêu bỗng tới tự tình với ta
Ô kìa, Ô kìa kìa vươn hoa bỗng dưng kết hoa, kết hoa muôn màu
Trời xanh mây trắng xóa
Người yêu xinh quá khiến ta bỗng yêu đời.”
(Hoàng Thi Thơ – Ô kìa, đời bỗng líu lo)
(1 Côrinthô 1: 26-31)

Ơ hay! Sao anh lại cứ hát những lời “líu lo” hoặc lo toan đến líu cả lưỡi, nên mới thế. Ơ kìa! Líu lo với lo-toan đến độ líu lưỡi, đâu có gì mà phải hát lên như thế. Rồi anh còn hát líu lo, đến “vang rần”, “trời hồng trên má”, rất như sau:

“Ô kìa, đàn em bỗng tới hát ca,
hát ca vang rần
Ô kìa, bồ câu bỗng tới tự tình trước sân
Ô kìa, Ô kìa kìa dàn hoa mướp kia bướm ong,
bướm ong la đà
Người yêu duyên đáng quá
Trời hồng trên má khiến ta bỗng yêu đời
Ha! Xin cho ta vui, cơn vui như điên
Xin cho ta say cơn vui hôm nay
có bao giờ đâu
Dù trong phút giây đời ta biết say
Ha! Xin cho ta vui cơn vui đang lên
xin cho ta say cơn vui đang lay
có bao giờ đâu đời ta bỗng vui.”
(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Thôi thì, “có say cơn vui đang lay” hoặc “có bao giờ đâu đời ta bỗng vui”, vẫn là những nhận-định của nhiều người để rồi, tất cả mọi người sẽ cùng với người viết nhạc ca lên những lời cuối như sau:

“Ha ha ha, Ô kìa bầy ngan bỗng tới cắn yêu,
cắn yêu chân người
Ô kia người yêu bỗng khóc giận hờn với tôi
Ô kìa, Ô kìa kìa một đôi bướm say lướt bay,
lướt bay trên trời
Người yêu như bối rối,
lặng nhìn không nói khiến tôi bỗng yêu đời
Khiến đời bỗng thành vui.”
(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Đời bỗng thành vui”, đó chính là ý-nghĩa của câu hát vang trong đời, rất thảnh thơi. Đời có “bỗng thành vui” hay không, hãy cứ hỏi han nhiều người xem họ có ý-kiến phản hồi ra như thế nào. Hãy cứ hỏi xem các cụ nhà Đạo mình thấy được những ai “khiến đời bỗng thành vui”, như đấng bậc ở chốn chop bu nhà Đạo, như lời hỏi/đáp được trích dịch, ở bên dưới:

“Thưa Cha,

Trong 4 năm trời Đức Phanxicô đã thực-hiện vai-trò then chốt của ngài rất tốt đẹp. Nhưng, con đây lại nghe có nhiều người kể rất nhiều điều về ngài, như: ngài là vị Giáo hoàng vĩ-đại, thông thoáng, một vị rối đạo hoặc cả đến cuộc bầu bán năm ấy bầu ngài lên, cũng không đúng. Vậy thử hỏi, con đây nên nghĩ thế nào về Đức Giáo Hoàng nhà ta, và phải phản-ứng thế nào với những lời bình như thế? Xin cha giải-thích cho biết”.

Cha Đạo nhà mình hễ cứ nghe những lời thưa/gửi líu lo hỏi về những lời kết tội Đức Giáo chủ ra như thế, chắc chắn sẽ thấy ngứa tay quay tít mù, bèn lấy giấy bút trả lời ngay tức thời rằng:

“Vâng. Cả tôi nữa, cũng từng nghe những lời nhận-định như thế bèn hiểu là biết bao nhiêu người đi Đạo của ta cứ lẫn lộn nhiều điều về Đức đương kim Giáo hoàng Phanixô, Đạo mình. Vậy thì, ta nên ứng-xử cách nào đây?

Trước hết, ta không nên đặt những câu hỏi đầy ngờ-vực về tính hiệu-lực khi mật-viện hồng-y họp bàn để bầu cử ngài lên làm Giáo-Hoàng. Mọi việc ngang qua thủ-tục bầu bán hôm ấy đều được thực-thi rất đúng cách. Trong suốt thời-gian này, chẳng có ai thắc-mắc gì về tính hiệu-lực hết; bởi thế, ta cũng không nên làm thế vào lúc này. Thánh Thần Chúa đã tạo hứng khiến các vị hồng-y sáng-suốt đủ để Ngài ban cho ta một vị Giáo-hoàng mà Chúa muốn tặng ban.

Thứ hai là, cho đến hôm nay, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã làm biết bao nhiêu điều tốt đẹp cho toàn-thể Giáo-hội. Ngay từ đầu, ngài đã khiến mọi người trong/ngoài Hội-thánh mến chuộng, từ nụ cười nhẹ-nhàng cho đến cung-cách cởi-mở và lối sống giản-đơn. Ngài tự chọn cho mình chỗ ở để sống thường ngày tại Căn nhà mang tên Mácta ở Vatican, hơn là trú-ngụ tại căn-phòng to tát dành cho các Giáo-hoàng. Làm như thế, là để gần cận chúng-dân hơn.

Rõ ràng là, ngài có lòng thương mến cách đặc-biệt những người nghèo-khổ hoặc bị bỏ rơi bên lề xã-hội. Ngài kêu gọi tình người xót thương hơn là dính cứng với lề luật, và còn nhiều điều tốt đẹp này/khác nữa.        

Đức Phanxicô thực-sự nổi tiếng, không chỉ với người Công-giáo mà thôi, nhưng cả với người không theo Đạo Chúa, cũng hệt thế. Ngài là vị Giáo-hoàng đầu tiên mở tài-khoản Instagram vào tháng Ba năm 2016 và đã phá kỷ-lục từ trước đến giờ, với hơn một triệu người theo-dõi trong không đầy 12 tiếng đồng hồ. Tạp chí TIME đã chọn ngài là “Người Của Năm 2013” và nhiều nhà xuất bản khác lại cũng đưa hình ngài lên trang bìa sách/báo của họ nữa.

Đức Phanxicô đem đến cho ta nhiều tông-huấn đáng kể, để đời. Tông-thư đầu tiên do ngài viết có tên là “Lumen Fidei” (tức: “Ánh-sáng Đức Tin”) nói về đặc-trưng của niềm tin, được phát-hành vào tháng 6 năm 2013, tức: chỉ vài tháng rất ngắn sau khi ngài nhậm chức.

Tiếp theo đó, là Tông-thư “Evangelii Gaudium” (tức: “Niềm Vui Tin Mừng”) ban-hành vào dạo tháng 11 cùng một năm 2013, đã tạo lực đẩy lớn và chỉ-dẫn thiết-thực để loan-truyền Lời Chúa cách hữu-hiệu hơn cho thế-giới đặc-biệt ngang qua niềm vui cuộc đời ta đang sống. Loan-truyền Phúc Âm, là trọng-tâm cho sứ-vụ của Giáo-hội  -Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ Lục từng viết: Giáo-hội ta hiện-hữu là để truyền-bá Phúc Âm mà thôi.”

Đó là vai-trò sinh-tử của Giáo-hội ta vào lúc này; và Đức Phanxicô lại biến sự việc này thành chủ-đề trọng-yếu trong nhiệm-kỳ Giáo-hoàng của ngài. Cả Tông-thư thứ hai do ngài viết mang tên “Laudato Si” đặt nặng trọng-tâm lên môi-trường sống, tức căn nhà chung của chúng ta, cũng đã xuất-hiện vào tháng Sáu năm 2015.

Tông-thư ngài viết, được mọi người tuyên-dương cách rộng rãi, nói lên nhu-cầu của ta là những người có bổn-phận chăm-nom cho hành-tinh nhỏ bé do Chúa tặng ban cho con người. Vấn-đề này cũng quan-trọng không kém vào thời buổi này, nhưng vẫn có nhiều nhà bình-luận đã nắm bắt một số ý-kiến phát-biểu qua sự thể là: ta có thể tỏ ý bất-đồng quan-điểm với Đức Giáo Hoàng, cũng không sao.

Sự thật thì, trong bất kỳ trường-hợp nào, ta cũng đã bỏ qua giáo-huấn nòng-cốt, bất diệt là như thế. Một trong các mục-tiêu lớn nhất mà những người chỉ-trích Đức Phanxicô thường hay nhắm đến, là: Tông-thư “Amoris Laetitiae” vốn bàn về chuyện gia-đình, được ban-hành vào tháng Tư năm 2016 vừa qua…

Hỏi rằng: Đức Phanxicô có là vị Giáo-hoàng tự-do/ phóng-khoáng hay không? Thì, thiết tưởng, ta cũng không nên áp-đặt các cụm-từ chính-trị như thế với bất cứ vị Giáo hoàng nào cũng vậy. Đơn-giản là, đừng nên đánh giá ngài theo cung-cách chính-trị, rất không tốt. Bởi, nếu tự-do/phóng-khoáng là người biết lo cho người nghèo/khổ, đau yếu, bệnh-tật và cao-niên, tị-nạn, người sống ngoài lề xã-hội và môi-trường sống, thì đúng thế, Đức Giáo hoàng Phanxicô là người như thế, rất phóng-khoáng.

Thế nhưng, những gì có thể bảo-thủ hoặc theo truyền-thống hơn như ngài từng lặp đi lặp lại rất nhiều lần về ác-thần/sự dữ đang hiện hữu, về nhu-cầu cần xưng-thú lỗi tội, về lòng đạo-đức sốt sắng đến với thánh cả Giuse, với Đức Mẹ và Tiệc Thánh Thể, cũng như duy-trì giáo-huấn của Hội-thánh chủ-trương kế-hoạch-hoá sinh-sản, phá thai và sự việc không thể truyền-chức linh mục cho nữ-giới ?

Có điều chắc chắn phải nói ở đây, tức: Đức Phanxicô không hề là bè rối. Không có gì chứng-tỏ Ngài là như thế, đến bây giờ. Có thế nói, nhiều lúc rất nhiều người không hiểu rõ ý của ngài, nhưng tuyệt nhiên ngài không bao giờ là kẻ rối đạo hết.

Có điều tốt, là ta phải thực-hiện cho bằng được là lời ngài thường xuyên thúc-giục mọi người trong Đạo “Hãy cầu nguyện cho Cha”. Bởi, nếu có ai ưu-tư nhiều về đường-hướng mà Đức Phanxicô đang theo-đuổi vấn-đề nào đó cách đặc-biệt hoặc vui thích về những gì ngài đang làm, thì tốt hơn hết là ta cũng nên nguyện cầu cho ngài. Đó là cách hay nhất để giúp ngài, vào lúc này.” (Xem Lm John Flader, Question time: Four years with Pope Francis: A Pontificate filled with surprises, The Catholic Weekly 02/4/2017 tr. 20)

Nói cho cùng, thì: vấn đề được người hỏi đưa ra ở đây, đâu phải là những ngỡ-ngàng từ vị Giáo chủ nổi cộm, này đâu. Có lẽ, vì quá nổi cộm nhờ vai-trò làm chủ cả một nhóm/hội đông đến hàng tỷ người, thì Đức Ngài cũng không tài nào tránh được các nhận-xét có hơi quá đáng, và đôi lúc cũng hơi “quá lời”, mà thôi.        

Nổi cộm nhờ vai-trò làm chủ cả một Giáo-hội, đôi lúc cũng vì mọi người dưới trướng cứ quan niệm rằng: Đức Ngài vốn dĩ “vô ngộ” nên hễ cứ nói lên lời nào cũng thành sự thật cả. Lời ấy, không bao giờ sai, quấy.

Nay, nhân có những lời phẩm bình về Đức Giáo Chủ Phanxicô, tưởng cũng nên coi lại và suy-nghĩ thêm xem Đức Ngài có “vô ngộ” hay không? Dù, ngài có ngồi trên ghế bành Toà Thánh mà phán với đoán. Về điểm này, nay cũng nên tìm lại các chi-tiết được viết trong bản văn Công Đồng Vatican 1 năm 1870 từng bảo rằng:

“Đức Giám-mục Giáo-phận La Mã, khi ngài ngôi trên ghế tông-toà để phán-bảo điều gì, thì đó là lúc ngài sử-dụng quyền-hành của đấng chăn-dắt và dạy dỗ hết mọi tín-hữu Đức Kitô như một giáo-thuyết của niềm tin hoặc đạo-đức mà toàn-thể Giáo-hội sẽ theo đó mà thi-hành. Và, điều đó có sự giúp-đỡ của Thiên-Chúa đã hứa ban cho ngài ngang qua thánh Phêrô là người có đặc-tính bất khả ngộ và kết-quả là: các phán-quyết của Đức Giám-mục Giáo-phận La Mã không thể nào lật ngược được….”  (X. The Catholic Encyclopedia tập 7, chữ “Infallibility” tr. 976)

Đành rằng, đặc-trưng “bất khả ngộ” của Đức Giáo-chủ là “không thể lật ngược” được, nhưng trong lịch-sử Giáo hội Công-giáo, cũng thấy nhiều vị Giáo-hoàng đã bất đồng ý-kiến với nhau, đến độ các ngài không tin là những gì vị tiền-nhiệm mình đề-cập, là “vô ngộ” hết. Chẳng thế mà, Tự-điển bách khoa Công-giáo lại cũng viết thêm như sau:

“Vị Giáo hoàng kế-nhiệm Đức Formosus là Stêphanô VI (896-897) đã ra lệnh cho một thày dòng đi lấy thi-hài của vị Giáo-hoàng trước đó là Đức Formosus (891-896) từ sông Tiber, nước Ý đem về phục hồi chức-danh đấng kế-thừa ngai vàng thánh Phêrô. Ít năm sau, tại một buổi họp thượng đỉnh, vị Giáo hoàng này đã huỷ bỏ các quyết-định từng có vào thời tông-toà Stêphanô VI và tuyên-bố là mọi lệnh-truyền do Đức Formosus khi trước đã ban, đều có hiệu-lực…” (Xem thêm Ralph Woodrow, Are Popes Infallible?, Babylon Mystery Religion 1981, tr.100)     

Nói tóm lại, “vô ngộ” hoặc “bất khả ngộ” là đặc-trưng quyền-hành của các Đức Giáo-chủ. Nhưng, thông-thường thì, ngày nay, ít có vị nào lại sử-dụng quyền ấy, hoặc cho rằng mình nắm vững chân-lý, cả khi đề-cập đến tín-lý hay tín-điều nữa.
 
Nói cho cùng, có là nhân-vật nổi cộm hay nổi tiếng thế nào đi nữa, tưởng cũng nên đề-nghị bạn, đề-nghị tôi, ta trở về với trích-đoạn của bài hát với những lời như:

“Ô kìa, đàn em bỗng tới hát ca, hát ca vang rần
Ô kìa, bồ câu bỗng tới tự tình trước sân
Ô kìa, Ô kìa kìa dàn hoa mướp kia bướm ong,
bướm ong la đà
Người yêu duyên đáng quá
Trời hồng trên má khiến ta bỗng yêu đời
Ha! Xin cho ta vui, cơn vui như điên
Xin cho ta say cơn vui hôm nay
có bao giờ đâu
Dù trong phút giây đời ta biết say
Ha! Xin cho ta vui cơn vui đang lên
xin cho ta say cơn vui đang lay
có bao giờ đâu đời ta bỗng vui.”
(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Hát thế rồi, nay cũng nên đi vào vùng trời lời đấng thánh hiền ở nhà Đạo để có thêm một hỗ trợ về đạo giáo, rằng:

“Anh em thử nghĩ lại xem:
khi anh em được Chúa kêu gọi,
thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời,
đâu có mấy người quyền thế,
mấy người quý phái.
Song, những gì thế-gian cho là điên dại,
thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan,
và những gì thế gian cho là yếu kém,
thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh.”
những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có,
thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có,
hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người.
Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa
mà anh em được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu,
Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta,
sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa,
Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính,
đã thánh hoá và cứu chuộc anh em,
hợp như lời đã chép rằng:
Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa.
(1Corinthô 1: 26-31)

Nghe thế rồi, nay đề nghị bạn và tôi, ta lại sẽ đi vào vùng trời truyện kể có những điều để kể như sau:

“Chim Chiền Chiện làm tổ trên một cánh đồng lúa mì non. Ngày ngày trôi qua, khi những thân lúa đã vươn cao thì bầy chim con mới nở ngày nào, đã lớn nhanh như thổi. Rồi một ngày, khi lúa những ngọn lúa chín vàng đung đưa trong gió, Bác aNông Phu và những người con đi ra đồng.

Bác Nông Phu nói:
-Lúa này bây giờ gặt được rồi đây. Chúng ta phải kêu cả những người hàng xóm và bạn bè đến giúp cho chúng ta thu hoạch."

Bầy chim Chiền Chiện con trong tổ ngay sát đó nghe vậy hết sức sợ hãi, vì chúng biết rằng chúng sẽ gặp nguy lớn nếu không kịp dời tổ trước khi thợ gặt đến. Khi chim Chiền Chiện Mẹ kiếm ăn trở về, lũ chim con kể lại cho mẹ những gì chúng nghe được. Chiền Chiện mẹ nói:
-Đừng sợ, các con ạ. Nếu Bác Nông Phu bảo rằng ông ấy sẽ kêu hàng xóm và bạn bè của ông đến giúp, thì đám lúa này cũng còn một thời gian nữa mới gặt được.

Vài ngày sau, khi lúa đã quá chín và khi có gió lay động thân lúa, một loạt các hạt lúa rào rào rơi xuống đầu lũ Chiền Chiện con.

Bác Nông Phu bảo:
-Nếu không gặt gấp đám lúa này, chúng ta sẽ thất thoát đến cả nửa vụ mùa. Chúng ta không thể chờ đợi bạn bè được nữa. Ngày mai chúng ta sẽ bắt đầu tự gặt lấy.

Khi lũ Chiền Chiện con kể lại với mẹ những gì chúng nghe ngày hôm nay, nó bảo:
-Thế thì mình phải dọn tổ đi ngay. Khi người ta đã quyết định tự mình làm mà không trông nhờ vào ai khác nữa, thì chắc chắn là họ chẳng trì hoãn gì nữa đâu.

Cả nhà chim tíu tít lo bay tới bay lui dọn tổ đi ngay buổi trưa đó, và đến khi mặt trời mọc sáng hôm sau, lúc Bác Nông Phu và những người con ra đồng gặt lúa, họ chỉ gặp một cái tổ rỗng không. "

Và lời bàn của người kể những nói rằng:
“Trong cuộc sống, khi đã quyết định tự mình làm việc gì, đừng quá trông mong vào sự giúp đỡ người khác. Tự cứu mình là tốt nhất.” (truyện do St sưu tầm trên mạng vi-tính).

Kể và đọc những lời bàn như thế, cũng chỉ để bảo nhau và hát cho nhau những lời sau đây:

“Ô kìa, bầy chim bỗng tới líu lo,
líu lo sau nhà”
Ô kìa, người yêu bỗng tới tự tình với ta
Ô kìa, Ô kìa kìa vươn hoa bỗng dưng kết hoa,
kết hoa muôn màu
Trời xanh mây trắng xóa
Người yêu xinh quá khiến ta bỗng yêu đời.”
(Hoàng Thi Thơ – Bđd)

Và lời cuối hôm nay, vẫn là những lời dặn dò: hãy cùng nhau ca hát nhiều hơn là bình-phẩm về ai đó, thì tốt hơn. Bởi, dù có phẩm-bình hoặc chê trách cách nào đi nữa, ta cũng chẳng bao giờ xây dựng được việc gì, dù có gọi đó là “góp ý”, “để xây dựng” hay sao đó, cũng đều thế.

Trần Ngọc Mười Hai
Với đề nghị giản-đơn
là luôn hát những lời như:
Ô kìa, người yêu bỗng tới
tự tình với ta,
dù xa lạ hay quen biết.