Monday, 7 December 2015

“Vết lăn vết lăn trầm”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 3 Mùa Vọng năm C 13/12/2015

“Vết lăn vết lăn trầm”,
Hằn trên phiến đá nâu thêm ưu phiền
Như có lần chim muông hằn dấu chân
Người đi phiêu du từ đó chưa thấy về quê nhà
Rộng đôi cánh tay chờ mong
Người chợt nhớ mình như đá.”
(Trịnh Công Sơn – Vế Lăn Trầm)
(Galát 3: 10-14)
            Hát bài “Vết lăn tầm”, mà lại hát lên ca-từ đầy khó hiểu như câu “hằn trên phiến đá nâu, thêm ưu-phiền”, thì thật là: hết biết! Hết, không còn biết, cả khi bạn và tôi, ta cứ hỏi: phải chăng   phiến đá ấy là cả một đời người sống ở nhà Đạo, nay rối bời nhiều lời chúc lành/dữ?
            Hỏi, là hỏi thế chứ bần đạo đây đã có câu trả lời dù câu ấy không mấy phù hợp với thể-loại thơ/nhạc của những “vết lăn trầm” đầy rêu phong những ưu-phiền như câu hát tiếp:

            “Đá lăn vết lăn buồn.
Từ hoang xưa dấu thân anh dã cầm.
Ôi vết hằn ghi trên cồn đá hoang.
Chờ ta da du một chuyến.
Ôi môi hồng xin đừng kể lại tích xưa buồn hơn.
Đợi chờ năm làm gió qua truông thiên đàng”.
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Nghệ-sĩ viết nhạc hôm nay, sao cứ hát những câu như “truông thiên-đường”, “cồn đá hoang” đầy kể lể những “tích xưa buồn” che giấu “thân đau rã mòn…” rồi lại hát:

“Thôi ngủ yên đi con
ngủ đời yên đi con
Che dấu thân đau rã mòn
Ngủ đời yên đi con
như vết thương đau ngủ buồn
Như trùng dương đêm mắt thâm
còn nghe ngóng.

Đá lăn vết lăn trầm
Từ cơn đau ấy lưu thân mỏi mòn
Ôm mắt thầm van xin lời thánh đêm
Bài ca dao trên cồn đá
Trên ngai vàng quê nhà
Một thời ngủ yên tuổi xanh
Rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình ...”
(Trịnh Công Sơn- bđd)

Chao ôi, toàn là những “vết lăn (rất) trầm” với “cơn đau lúc thân mỏi mòn” “ôm mắt thầm van xin lời thánh đêm”. Thế nhưng, cả khi mình lại vẫn quyết hát thêm đôi giòng chảy đầy ca-từ buồn bã đến độ “chợt thấy hoang-vu quanh mình”, như sau:

 Tôi đã đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt của mọi người , cuộc sống của tôi có lẽ là một mẫu mực của sự thành công. Có lẽ ai cũng nghĩ tôi là một người hạnh phúc!
Tuy nhiên, ngoài công việc ra, tôi chẳng có nhiều niềm vui. Cuối cùng, sự giàu sang chỉ là một thực tế mà tôi phải làm quen với nó và nó cuốn tôi vào dòng chảy của nó, thật đáng buồn khi mình làm nô lệ cho nó!
Tại thời điểm này, nằm trên giường bệnh và nhìn lại toàn bộ cuộc đời, tôi nhận ra rằng tất cả sự công nhận của xã hội và sự giàu sang mà tôi có được đã làm tôi mất đi rất nhiều năm tháng của tuổi trẻ và nó đang dần trở nên vô nghĩa khi tôi đang đối mặt với cái chết sắp cận kề.
Trong bóng tối, tôi nhìn vào ánh sáng màu xanh lá cây từ các máy hỗ trợ cho sự sống và nghe những âm thanh rào rào của hệ thống tiếp oxy đang chạy, tôi có thể cảm thấy hơi thở của thần chết đang về gần hơn ...
Bây giờ tôi mới nhận ra rằng, khi chúng ta đã có một công việc, đã tích lũy đuợc một giá trị tài sản nào đó thì chúng ta nên theo đuổi những vấn đề khác mà không liên quan đến tiền bạc ...
Nên làm cái gì đó quan trọng hơn: Có lẽ là gia đình, duy trì các mối quan hệ trong cuộc sống, bạn bè, có thể là nghệ thuật, hoặc là tiếp tục theo đuổi một ước mơ nào đó từ ngày còn trẻ ta chưa thực hiện được ...
Không ngừng theo đuổi để làm giàu sẽ biến cuộc đời bạn thành 1 vòng xoáy hỗn độn, giống như tôi.
Chúa đã cho chúng ta các giác quan để cho chúng ta cảm nhận được tình yêu trong trái tim của tất cả mọi người, không nên ảo tưởng rằng tiền bạc sẽ đem lại điều đó.
Bây giờ tôi thật xót xa khi nhận ra rằng thú vui làm giàu đã chiến thắng  tôi, nhưng giờ đây những gì tôi đạt được chẳng thể mang  được nó xuống mồ.
Những gì tôi có thể mang lại chỉ là những kỷ niệm đọng lại bởi tình yêu. Cho nên đến giờ phút này tôi chỉ khuyên bạn một điều là sự giàu có không mang lại đầy đủ hạnh phúc cho con người, chỉ có tình yêu mới  đem lại hạnh phúc, nó  sẽ theo bạn, đi cùng bạn, cho bạn sức mạnh và ánh sáng để vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống và đem lại hạnh phúc thực sự cho bạn.
Cuộc sống có giới hạn, nhưng tình yêu thì không vô hạn và chính nó sẽ tạo cho bạn niềm tin và sức manh để vượt qua vạn dặm, đưa bạn đi đến nơi bạn muốn, giúp bạn vươn tới mọi độ cao. Đó là tất cả những gì có trong trái tim của bạn và trong tay của bạn.
Giường đắt nhất trên thế giới là gì? - Đó là "GIƯỜNG BỆNH" ... Bạn có thể sử dụng một người lái xe cho bạn, ai đó giúp bạn cùng kiếm tiền , nhưng bạn không thể có một người nào đó chịu bệnh tật giúp cho bạn được.
Vật chất bị mất đi có thể  làm lại được. Nhưng có một điều mà không bao giờ bạn có thể làm lại được khi nó bị mất đi -đó là "CUỘC ĐỜI BẠN".
Khi một người đi vào phòng mổ, anh ta sẽ nhận ra rằng có một cuốn sách mà anh ta vẫn chưa hoàn thành việc đọc -"CUỐN SÁCH SỨC KHỎE" mà cuộc sống đã ban cho.
Cho dù trong từng giai đoạn của cuộc đời chúng ta có những lúc rất huy hoàng, nhưng với sự tàn phá của thời gian, chúng ta sẽ phải đối mặt với những ngày đi xuống.
Hãy trân trọng tình yêu cho gia đình bạn, tình yêu dành cho người bạn đời, con cái của bạn, tình yêu cho bạn bè ...Hãy đối xử tốt với mình. Trân trọng người khác.” (Nguyễn Hoàng Hải dịch)

            Thoạt nghe những lời tự sự kể thế rồi, nghệ-nhân đây lại còn nhủ-khuyên tôi/khuyên bạn hãy thế này/thế nọ, khiến bần đạo nhớ lại lời “trần tình” của lớp người trẻ ở “miệt dưới” xứ Úc Đại Lợi cũng có “vết lăn trầm” nhận-định về cái-gọi-là “ơn lành đầy phúc-hạnh” do Đấng Bề Trên ban cho. Hẳn nhiên, ta cũng nên cân/đo phúc lành ấy; để rồi, lại sẽ thấy: mọi chúc lành từ Chúa gửi đến đều có giá-trị với cá-nhân người nhận ơn.
            Dông dài lời ở trên, là để thuật lại những gì gần đây bần đạo vừa nhận ra tâm-tình đạo-hạnh của nhóm người trẻ nọ ở Sydney đã tỏ-lộ trong một lần gặp mặt rất ngắn, vào cuối tuần.
Tình thực mà nói: ở Sydney ngàn năm văn vật, lại vẫn thấy người Úc tuy ít muốn đến nhà thờ/nhà thánh để làm gì nhưng vẫn tỏ-bày đặc-trưng đạo-hạnh trong cuộc sống. Quả là, nhiều lúc “không đi nhà thờ” không có nghĩa: chẳng còn tin vào Chúa/Mẹ, nhưng các người em bé bỏng ở Úc đây vẫn suy-tư chuyện đạo-hạnh, tốt lành rất “phúc thay!”
Có lần, một số bạn trẻ người Úc tự kiểm, thấy mình không làm gì đáng trách dù ít khi bỏ giờ ra mà bàn-bạc về bất cứ đề-tài nào về Đạo. Nhưng, mỗi lần gặp nhau ở đâu đó, nơi trường lớp hoặc hội-đường nhiều loại, họ vẫn bảo nhau tìm về nhận-định của đấng bậc cao siêu nhà Đạo.     
Và, người trẻ hôm ấy, đã nghe theo lời đề-nghị của bạn-bè bèn cân đong đo đếm “ơn lành phúc hạnh” qua giòng chảy suy-tư theo kiểu rất lạ sau đây:

“Tôi hay đòi hỏi quá nhiều thứ, nhiều sự.
Cả khi soi gương, thấy hình-hài mình sao đó bèn nói rất đẹp!
Và đôi lúc cũng tỏ cho mọi người biết tình thương mình cần có.
Nhưng, khi dừng chân đứng lại chừng đôi phút
Mình lại cũng đã nhận ra, đó là:
tất cả đồ-đạc chất trong tủ
vẫn còn dư đủ để mình sống rất khá.
Từ quần áo, cả đến thức ăn đặt ở trên bàn
Tôi đây đều nhận-lãnh từ ai đó
Nhưng, tôi chỉ chú-trọng đến nhãn-hiệu và hãng sản-xuất thôi
Mà mình vẫn cứ đòi hỏi như thế, thật quá sức.
Có lẽ, nếu so-sánh mình với chán vạn người khác
Họ còn thua xa hèn kém hơn mình biết bao.
Thế rồi, bỗng dưng tôi tự hỏi lòng mình:
Sao mình vẫn cứ tuyệt vọng, đến là như thế?
Dù có đủ mọi thứ ở trên đời này,
Giàu sang, phú quý, tiền của khá dồi dào
Trong lúc người chung quanh lại không được như thế?
Bất chợt, tôi nắm chặt bàn tay và co những ngón cong vòng
để làm công việc mà nhiều người gọi đó là nhón bắt,
nhưng vẫn không là những thứ mình tìm, mình thích.
Và, những gì chính mình có thể làm ra
hoặc nếu làm được những điều tốt lành
thì chắc chắn rồi ra tôi cũng được chúc phúc.
Không cần biết hình dạng tôi nay thế nào
hoặc tôi đã sở-hữu được những gì?
mà là: đã cho người khác được nhiêu thứ?     
Giả như tôi cân đong phúc lành mình lĩnh-nhận
nhưng lại quên mất cuộc đời mình phải sống,  
hoặc giả tôi chỉ thích người đời luôn cảm tạ tôi
hơn chọn thái-độ sống rất phúc/hạnh,
rồi quên đi niềm tự-hào của bạn bè hoặc ai đó
thì xin gửi đến Chúa khi Ngài xét đoán bạn và tôi
khi ấy, tôi và bạn sẽ thấy cửa phúc-hạnh nay rộng mở…” 
(X. Roxanne Moussalem, From Attitude to Gratitude, Australian Catholics Xuân 2015, tr. 6)

            Xem thế thì, phúc hạnh hoặc lời chúc phúc sẽ là và luôn là: điều mình lĩnh-nhận một khi mình cho đi. Cho thật nhiều, cả những của cải vậtchất lẫn tinh-thần. Cho hết và cho hết. Rồi ra, ta và người sẽ thấy mìnhđầy phúc-hạnh để còn sống.
            Hãy cứ cho đi. Cho thật nhiều, những gì mình trân-trọng, để rồi sẽ nhận ra điều mà bậc thánh-nhân hiền-lành khi xưa từng tỏ-bày, thấy rất rõ:

            “Thật thế, những ai dựa vào những việc Luật dạy phải làm
thì đều chuốc lấy lời nguyền rủa,
vì Kinh Thánh viết: Đáng nguyền rủa thay
mọi kẻ không bền chí thi-hành tất cả những gì chép trong sách Luật!
Vả lại, không ai được nên công-chính trước mặt Chúa nhờ Lề Luật,
đó là điều hiển nhiên.
Vì người công-chính nhờ đức tin sẽ được sống.
Thế mà, Lề Luật không lệ thuộc đức tin,
nhưng ai thực-hành điều Luật dạy,
thì nhờ đó sẽ được sống.
Đức Kitô đã chuộc ta cho khỏi bị nguyền-rủa vì Lề Luật,
khi, vì chúng ta, chính Ngài đã trở nên đồ bị nguyền rủa,
vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay, kẻ bị treo trên cây gỗ!
Như thế là: nhờ Đức Giêsu Kitô,
dân ngoại cũng được hưởng phúc-lành dành cho ông Abram,
và nhờ đức tin, ta nhận được ơn Chúa hứa, tức là Thần Khí.”
(Thư Galát 3: 10-14)  

Xem thế thì, Thần-Khí Chúa là: ơn lành phúc-hạnh Chúa phú ban cho ta, và mọi người. Xem thế thì, cuộc đời người đầy những phúc hạnh, như nhiều người từng cảm-nghiệm trong đời mình.
Xem thế thì, người trẻ cũng như già, đều đã hiểu được điều đó, tức: những phúc hạnh mình nhận-lãnh là do Thần-Khí Chúa ở với ta.
Thế nghĩa là: không chỉ mỗi mình ta, chỉ mỗi người Công-giáo hoặc Chính-thống-giáo, Tin Lành mới là người hưởng “ơn mưa-móc” phúc-hạnh, vào mọi lúc. Mà, cả những người sống “ngoài luồng”, ngoài Đạo, đều được thế.
Bàn về phúc lành hoặc còn gọi là sự chúc-phúc, có thày tư-tế Do-thái nọ sống ở Sydney, lại đã bàn bạc về những mà đồng-đạo của ông từng tin-tưởng về “phúc lành của Chúa” và từ Chúa, như sau:

“Các tư tế bên Do-thái-giáo như chúng tôi đây không có thói quen ban phép lành hoặc chúc phúc cho ai hết. Đúng hơn, chúng tôi có thể nói: chỉ mỗi Thiên-Chúa là Đấng ban phúc lành hoặc chúc phúc cho mọi người, mà thôi. Tuy nhiên, Do-thái-giáo chúng tôi cũng có một câu kinh hoặc loại chúc lành bằng công-thức đọc lên như sau: ‘Chúng con ca ngợi Đức-Chúa vĩnh-hằng. Là, Khởi-Nguyên của vũ-trụ vạn-vật Đấng dựng nên thiên-nhiên cùng là Đấng tạo ánh sáng từ lửa cháy, Đấng từng mang cơm bánh lấy từ trái đất đến mọi loài và là Đấng tạo cây tráo từ vườn nho.’

Quả là, Đạo chúng tôi cũng có nói đến sự chúc phúc, nhưng chúng tôi không là người phú-ban mọi chúc lành cho người khác. Mà, chúng tôi nhận-biết có Đức Chúa trong cuộc sống của chúng tôi. Thay vì xin Đức Chúa can-thiệp, lời kinh Do-thái-giáo giúp nhận ra rằng chúng ta đều có trách-nhiệm về mọi công-việc của Đức Chúa.

Chúng tôi coi mình chỉ là công-cụ của Đức Chúa để Ngài thực-hiện mọi việc trong mọi người trên thế-giới. Nói thế theo nghĩa Ngài chữa-lành người ốm đau/tật bệnh, giải-phóng tù-nhân hoặc cứu-vớt người tỵ-nạn từ thuyền, công-việc chúng tôi làm là dùng chính-trị, truyền-thông báo chí tàu cứu-hộ hoặc làm mọi việc để biến thế-giới này trở nên tốt đẹp hơn, thôi. Nói chung thì, chúng tôi là bàn tay để Đức Chúa sử-dụng trong mọi việc…” (Xem Angelique Milevski, Asking God’s Blessing, Australian Catholics số Xuân 2015 tr. 16-17).

Thế thì, không cần biết, ai nói hay làm đẹp hơn ai. Chỉ cần hỏi bạn và hỏi tôi đôi điều rằng: ta đã làm và từng làm được những gì cho người khác, hoặc cho thế-giời này, nên đẹp đẽ.
Không cần hỏi bất cứ ai, hoặc mọi người rằng: anh hoặc chị đã cho ai, cho những gì, để làm gì mà là cho cách “nhưng-không”, tức không cần biết người nhận là ai, ở đâu bao giờ chứ?
Không cần xin bạn hoặc tôi, cứ tiếp tục “ban phép lành” hoặc chúc phúc cho nhau, cho mọi người. Mà, chỉ cần khích-lệ mình/khích-lệ người đừng quên nhau, đừng quên giây phút phút đầy phúc-lành người khác tặng.
Người khác đây, có thể là người bạn trăm năm mình thương mến, nhưng đã quên. Cũng có thể, là ai đó, trong một lần giận hờn hoặc sao đó, như truyện-kể-để-minh-hoạ rằng: có những phúc hạnh mình đang có nhưng vẫn quên, như sau:

“Truyện rằng:
Ngày vợ anh đồng ý rời khỏi nhà. Công ty phải giải quyết một vài vấn đề, anh bảo cô đợi ở nhà,trưa về anh sẽ giúp cô chuyển nhà,chuyển đến căn hộ chung cư anh mua cho. Đồng nghĩa với việc cuộc hôn nhân kéo dài 20 năm sẽ kết thúc tại đây.
Buổi sáng ngồi trong phòng làm việc, anh bồn chồn,thấp thỏm. Đến trưa, anh vội vã về nhà. Căn nhà được dọn dẹp sạch sẽ, vợ anh đã đi mất rồi. Trên bàn đặt chiếc chìa khóa nhà anh mua cho cô , sổ tiết kiệm 500 triệu đồng và một bức thư cô viết cho anh.
Đây là bức thư đầu tiên mà cô viết cho anh:
“Em đi đây, em về nhà mẹ. Chăn em giặt phơi khô rồi đấy, cất ở ngăn cuối cùng bên trái tủ quần áo. Trời lạnh anh nhớ lấy ra đắp. Giày da tất cả em đều đánh xi rồi nhé, nếu anh không tự mình đánh được thì mang đến tiệm ông Tư đầu ngõ ấy. Sơ mi treo ở phía trên, vớ, thắt lưng ở trong ngăn kéo phía dưới tủ. Mua gạo nhớ mua gạo tám thơm của Thái Lan, anh nhớ vào siêu thị mua nhé, mua bên ngoài anh không thạo người ta bán hàng giả cho đấy. Dì Hai mỗi tuần đều đến dọn dẹp nhà cửa một lần, cuối tháng anh nhớ gửi tiền cho dì ấy. Còn nữa, đồ cũ cứ cho ông Tư đầu ngõ nhé, ông ấy gửi về quê cho bọn trẻ con,chắc chúng nó sẽ vui lắm.
Dạ dày anh không tốt, em đi rồi anh nhớ uống thuốc đều đặn. Thuốc em nhờ người ta mùa từ Quảng Bình, có lẽ cũng đủ dùng nửa năm. Anh ra ngoài thường quên mang theo chìa khóa nhà, em gửi một chùm ở chỗ bảo vệ, lần sau nếu quên thì đến đấy lấy nhé. Buổi sáng đi ra ngoài anh nhớ đóng cửa sổ, mưa tạt vào sẽ làm ướt nhà đấy. Canh cá lóc, là món mà anh thích, thì em để trong tủ lạnh. Anh về nhớ hâm lại rồi hãy ăn nhé.
Gửi anh,
người em yêu nhất ”

Những dòng chữ xiêu vẹo nhưng tại sao nó cứ như những viên đạn bắn vào trái tim anh, mỗi viên đều mang theo tấm chân tình xuyên thẳng vào ngực – đau nhói.
Anh từ từ đi vào nhà bếp. Mỗi đồ vật ở đây đều lưu giữ dấu tay, hơi thở của cô. Anh chợt nhớ về 20 năm trước, anh làm ở công trường xây dựng dầm mưa dãi nắng. Những ngày tháng bần hàn của cuộc đời đều có cô bên cạnh. Nhớ lại bát canh cá lóc nóng hổi đã sưởi ấm trái tim anh trong những ngày mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, nhớ lại giây phút anh đã từng hứa với lòng mình nhất định sẽ mang lại hạnh phúc suốt đời cho cô.
Anh quay người , nhanh chóng khởi động xe. Nửa tiếng sau, cuối cùng anh cũng tìm thấy cô đang đợi tàu trở về quê. Anh giận dữ nói: “Em muốn đi đâu? Anh làm việc mệt mỏi cả ngày, về đến nhà, đến cơm nóng cũng không có mà ăn. Em làm vợ như vậy à? Về nhà với anh ngay”
Anh trông rất hung dữ và thô lỗ. Đôi mắt cô ướt nhòe, cô đứng lên, ngoan ngoãn theosau anh đi về nhà. Giọt nước mắt xen lẫn niềm vui ……Cô không biết rằng, lúc này đi trước cô, anh đang dằn lòng cố kìm nén những giọt nước mắt …Suốt quãng đường từ nhà đến đây, anh thực sự rất sợ, sợ không tìm thấy cô, sợ từ đây sẽ mất cô mãi mãi.
Anh tự trách mình sao lại ngu ngốc đến vậy, hóa ra đánh mất cô ấy cũng giống như anh đánh gãy xương sườn của mình…Hai mươi năm đồng cam cộng khổ, hai người đã buộc chặt cuộc đời mình vào nhau, mãi mãi không thể tách rời.
Tại thời điểm sai lầm, địa điểm sai lầm, chỉ cần gặp được đúng người, tất thảy mọi thứ đều sẽ đúng. Giàu có thực sự không phải số tiền trong thẻ ngân hàng, mà là nụ cười hạnh phúc trên khuôn mặt bạn. Tiền nhiều hay ít không quan trọng,quan trọng là tìm được một người toàn tâm toàn ý yêu thương bạn.
Trên thế giới này , hạnh phúc nhất là 3 từ “ta yêu nhau”. Hiểu được bản thân mình muốn gì, thế giới mới có thể hiểu được bạn.”(truyện do ST sưu tầm)

Nghe kể rồi, giờ đây mời bạn và cũng mời tôi, ta cứ thế hát nhạc buồn của người viết có tên họ là Trịnh, vẫn cứ vui như chưa từng thấy “vết lăn trầm” cuộc đời mình, là thế. Nên, đã hát rằng:

Vết lăn vết lăn trầm,
Hằn trên phiến đá nâu thêm ưu phiền
Như có lần chim muông hằn dấu chân
Người đi phiêu du từ đó chưa thấy về quê nhà
Rộng đôi cánh tay chờ mong
Người chợt nhớ mình như đá.
Đá lăn vết lăn buồn.
Từ hoang xưa dấu thân anh dã cầm.
Ôi vết hằn ghi trên cồn đá hoang.
Chờ ta da du một chuyến.
Ôi môi hồng xin đừng kể lại tích xưa buồn hơn.
Đợi chờ năm làm gió qua truông thiên đàng”.
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Vâng. “Truông Thiên-Đàng” vẫn còn đó, nỗi buồn. Buồn, chỉ vì mình không nhìn ra nó, mà chỉ thấy những là “vết lăn trầm” rất cuộc đời. Mà thôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Cũng từng lăn theo
Vết lăn trầm cuộc đời
Rất nhiều ngày.    
  

Saturday, 28 November 2015

“Đời lạnh lùng trôi theo giòng nước mắt”,




Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 2 mùa Vọng Năm C 6/11/2015

“Đời lạnh lùng trôi theo giòng nước mắt”,
Với bao tiếng tơ xót thương người.
Vì cuôc tình đã chết một đêm nao
Lúc trăng hãy còn thơ ấu.”
(Phạm Duy – Tiếng Đàn Tôi)

(2Côrinthô 6: 13-15)

Tiếng đàn tôi, ư? Tiếng đàn đây, là đàn gì mà sao anh/chị lại hát những câu nghe thảm-thiết thế? Nào là: “đời lạnh lùng”, “giòng nước mắt”, rồi lại: “vì cuộc tình đã chết một đêm nào”. Ôi chao! Cuộc tình nào lại thảm-thiết đến như vậy?
Cũng may là, bậc anh bậc chị còn hát những ca-từ rất yêu đời, như sau:

            “Dù đời tàn trên cánh nhac chơi vơi.
Vẫn còn mong nhớ khúc yêu đời.
Lúc bao nhiêu tiếng cười.
Rộn ràng chảy về xuôi.”
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Chính là thế. Hễ có tiếng cười ở đâu đó rồi thì tình/huống/sự việc lại cũng “chảy về xuôi thôi.”
Vâng. Chuyện đời người, thường vẫn như vậy. Chuyện Đạo trong đời lại cũng không hẳn như thế đâu. Đây, nào bạn hãy cùng tôi, ta cứ xem xét cuộc đời người ở ngoài đời, được kể như thế nào để mình còn đi vào nhà Đạo mà tìm hiểu tiếp.
Chuyện đời người, cũng tựa như chuyện nhà văn nọ ở xứ Đài từng hồi tưởng về ngày thơ ấu, khi ông còn là học trò nhỏ, rất như sau:

“Nhà văn Đài Loan – Lâm Thanh Huyền hồi còn là học sinh cấp hai, học lực và hạnh kiểm của ông đều là xếp loại kém, còn nhớ ông có hai lần mắc lỗi nghiêm trọng và hai lần lỗi nhẹ, cho nên đã bị lưu ban, thậm chí còn bị đuổi ra khỏi ký túc xá của trường.

Rất nhiều thầy/cô đã không còn hi vọng gì vào ông, nhưng thầy giáo dạy văn Vương Vũ Thương lại không hề ghét bỏ ông, thường hay đưa ông về nhà ăn cơm, khi thầy bận việc phải nghỉ, còn bảo Lâm Thanh Huyền mang bài lên lớp cho các bạn.

Thầy giáo Vương nói với Lâm Thanh Huyền rằng:

“Thầy đã dạy học 50 năm, liếc mắt đã nhận thấy con là một học sinh có tài năng”.
Những lời nói này đã khiến cho Lâm Thanh Huyền vô cùng cảm động và bị chấn động sâu sắc trong lòng. Để không phụ lòng nỗi khổ tâm của thầy giáo, ông từ đó về sau nỗ lực cố gắng, quyết tâm làm một người có ích cho xã hội.

Quả nhiên, mấy năm sau, Lâm Thanh Huyền đã trở thành một phóng viên, trong một bài báo viết về tên tội phạm trộm cắp, ông cảm thấy tên trộm này có một tư duy rất tinh tế, thủ pháp gây án rất tinh vi tỉ mỉ, sau cùng không kìm được lòng mình ông đã viết ra rằng:

“Một tên trộm với tư duy tinh tường, thủ pháp khéo léo
và một tác phong đặc biệt như vậy,
 nếu hắn làm bất luận việc gì cũng sẽ thành công”.

Khi viết những câu này hẳn ông cũng không nghĩ rằng lại ảnh hưởng đến cuộc đời của một thanh niên. Hai mươi năm sau, tên trộm năm đó đã lột xác, hắn đã làm lại từ đầu, trở thành một vị chủ doanh nghiệp có chút tiếng tăm.

Trong một lần bất ngờ gặp Lâm Thanh Huyền, ông chủ doanh nghiệp này đã chân thành nói:

“Bài viết đặc biệt của Lâm tiên sinh ngày đó đã thắp lên điểm sáng trong cuộc đời tôi, nó khiến tôi nghĩ rằng, ngoài việc làm tên trộm ra, tôi còn có thể làm được việc đúng đắn”.

Người kể, hôm nay, lại dùng câu truyện cũng khá thường-tình, để rồi đi đến kết luận như thế này:

Khi đối mặt với một người đang lầm lỗi, đang bị những lời nói cay độc vây quanh, một câu nói chứa đựng sự quan tâm, yêu thương che chở và khích lệ sẽ tựa như một ngọn lửa bùng cháy… nó đem lại cho người ta sự ấm áp, và nhen nhóm lên trong sâu thẳm nội tâm người ta một ngọn lửa của sự tự tin và tự tôn. Nó khiến người ta được tái sinh mà cố gắng hăm hở, tích cực hướng lên.

Khi một người bị rơi vào cảnh tuyệt vọng, xung quanh mờ mịt không rõ phương hướng, một câu nói chỉ bảo, thăm hỏi an ủi và tán thưởng. Giống như một ngọn đèn soi đường, giúp cho họ từ trong bóng tối mà nhìn được ánh sáng của con đường phía trước, vì thế mà phá tan được màn đêm sương mù dày đặc mà bước ra thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn.

Kinh nghiệm của Lâm Thanh Huyền cho chúng ta biết:Một lời nói có thể trở thành ánh mặt trời sưởi ấm cuộc đời người khác,  có thể đem lại cho họ một cuộc đời ấm áp và rực sáng.” (trích truyện kể trên mạng, cứ kể hoài, kể mãi rất dài dài).

            Ấy đấy. Kinh-nghiệm của một người từng kể chuyện đời là thế đấy. Thế nhưng, với nghệ-sĩ ngoài đời là những vị ít khi kể về kinh-nghiệm của riêng mình hoặc ai khác, nhưng lại cứ nói về kinh-nghiệm sống của người nghệ-sĩ qua thi-ca/âm nhạc, đại để như sau:

“Mênh mông lả ơi, thuyền về tới bến mơ rồi.
Khoan khoan hò ơi dặt dìu trong tiếng đàn tôi.
Mêng mông lả ơi thuyền về bát ngát hương trời.
Khoan khoan hò ơi nhịp sầu xa vắng mà thôi!

Buồm về dội nắng trên khơi.
Bao nhiêu hoàng hôn đên cho yên vui người ơi!
Có tiếng hát theo đàn tôi.
Như ru như thương linh hồn đắm đuối.

Mêng mông lả ơi, thuyền chờ mong gió lên trời
Mang theo đàn tôi chảy về đậu bến ngày mai.”
(Phạm Duy – bđd)

Thi-ca/âm-nhạc và truyện kể, bao giờ cũng đặm thêm chút mắm muối, mặn nồng đầy “hư-cấu”. Bởi, nếu không, thì người người lại cứ vào giòng thơ hay âm-nhạc mà sống đời mộng-ảo khá lạ đời, thì hỏng hết.
Với nhà Đạo, cả Đạo Chúa lẫn đạo Phật, lại vẫn có những luận-điểm mà nhiều bậc vị vọng từng có kinh-nghiệm sống, lại nhận-định khác hẳn những người ngoài cuộc, hoặc cả đến người trong Đạo nhưng không sống theo tôn-chỉ của Đạo, nên mới lạ.
Còn nhớ, thoạt vào lúc khởi-đầu thiên-niên-kỷ thứ ba có thiền-sư đạo Bụt sống ở hải-ngoại nhưng nhận-định về cuộc sống Đạo/đời, giản-dị như sau:

Thử nhìn vào tổ chức Giáo-hội Phật-giáo hợp-pháp duy-nhất tại quê nhà mà người ta thường gọi bông đùa là Giáo-hội nhà nước. Nhìn vào đó, ta thấy những yếu-tố đã tạo ra nó, tích-cực và tiêu-cực. Trong số những yếu-tố ấy, ta thấy sự có mặt của Giáo-hội Việt nam Thống-nhất mà đại-diện phía chiều nổi đã tranh-đấu ráo-riết cho nên các thày trong Giáo-hội nhà nước mới được nhà nước cho phép dịch sách, in kinh…

Các thày bên phía Giáo-hội thống-nhất càng tranh-đấu, càng vào tù/ra khám chừng nào, thì các thày bên phía Giáo-hội nhà nước càng có thêm không-gian để làm việc chừng nấy. Vậy, là các thày bên Giáo-hội thống-nhất là những vị đã và đang yểm-trợ Giáo-hội nhà nước một cách tích-cực nhất.” (Thích Nhất Hạnh, trích “Kẻ Thù Ta..” tr.1)

Thiền-sư Thích Nhất Hạnh, nhiều lúc, cũng thấy “bực” vì cứ bị người đồng Đạo trách-móc điều tiêu-cực, ít thực-tế, nên lại đã thanh-minh bằng lời-lẽ sau đây:

Ba chục năm nay, có một số người trong nước cũng như ngoài nước cứ trách cứ tôi là quá thân với người “Cơ đốc” và người Cộng sản. Họ chỉ muốn tôi thân với người Phật tử và người chống Cộng mà thôi.

Tôi đã cố gắng nhắc cho họ nhớ là tôi chỉ có thể hành động trên cơ bản nhận thức: “kẻ thù ta không phải là con người” tôi muốn tất cả đều có cơ hội để sống và có quyền sống hạnh phúc-  nhưng không phải ai cũng đã chấp nhận được dễ dàng điều đó cho tôi” (Thích Nhất Hạnh - sđd , tr.2)

Hôm nay, nhớ lại giòng tư-tưởng của thiền-sư, bần-đạo đây thấy mình không nên bước vào cuộc tranh-cãi với một ai. Mà, chỉ muốn trưng ra ở đây, đôi lời dẫn-nhập cho một suy-tư về cuộc sống có đổi thay với nhân-sinh-quan/lập-trường khác biệt tùy vào giao-dịch với thực-tế ở đời.  
            Và hôm nay, thực-tế cuộc đời mà bần đạo bắt gặp, lại là giòng chảy thời-sự xảy ra ở Đạo Chúa, đã được giới truyền-thông đặt tên cho là “vụ wikileak 2”, tức: vụ trộm tài-liệu mật của Toà Thánh Vaticăng qua hai cuốn sách mới xuất-bản ở Ý.
            Đặc-biệt hơn, là phản-ứng của Đấng Chủ-quản chốn chóp bu nhà Đạo, tức Đức Phanxicô, đã có lời như sau:

“Anh chị em thân mến,

Tôi biết rằng nhiều người trong anh chị em đang hoang mang vì những tin vừa truyền đi trong những ngày qua liên quan đến các tài-liệu mật của Tòa Thánh bị lấy cắp.

Vì thế, tôi muốn với anh chị em rằng: trước hết việc lấy cắp tài liệu này là tội phạm. Đó là hành-vi đáng trách, chẳng giúp ích gì. Chính tôi đã yêu cầu thực hiện cuộc khảo sát này, và cả tôi cũng như các cộng sự viên của tôi đều biết rõ nội dung tài liệu ấy, và các biện pháp được đề ra và chúng đã bắt đầu mang lại thành quả, nhận thấy rất rõ.

Do đó, tôi muốn khẳng-định lại một lần nữa, với anh chị em rằng: sự việc đau buồn này chắc chắn không ngăn cản tôi thực hiện những cải tổ đang tiến hành với cố vấn của tôi có sự hỗ-trợ của tất cả anh chị em. Đúng vậy, bằng vào hỗ trợ của toàn Giáo Hội, vì Giáo Hội được canh-tân bằng lời cầu và sự thánh thiện của mỗi tín hữu.

Vì thế, tôi cám ơn anh chị em và xin anh chị em tiếp tục cầu nguyện cho tôi và cho Giáo Hội, đừng để mình bị hoang mang, xáo trộn nhưng tiến bước trong niềm tín thác và hy vọng.” (X. Lm G. Trần Đức Anh, O.P dịch từ tin Vatican trên VietCatholic 08/11/2015)

Lâu lắm mới thấy Đức Phanxicô phát-biểu về chuyện “công-bình” và công-chính ở trên đời. Quả là, sống ở đời, nhiều lúc thấy có vị đã quên bẵng đi điều đó.
Bần đạo còn nhớ ở đâu đó, trong những ngày đầu năm 1975, đã thấy có hiện-tượng nhà chức-trách từng lôi kẻ cắp/ăn trộm ra hiện-trường đường phố có đông-đảo bà con chứng-giám mà chặt ngón tay hoặc bàn tay của thủ-phạm vừa mắc lỗi, để răn đe hoặc làm trò tuân-giữ luật-lệ thật khắc khe.
Ăn cắp/ăn trộm tài-sản vật-chất của người khác, thì bị thế. Thề còn, ăn trộm tài-sản trí-tuệ của một đạo-giáo có số người đi Đạo lên đến gần cả tỷ, thì ta chặt gì đây? Đức Giáo-chủ nhà mình có dám ra lệnh như thế không, đó mới là vấn-đề.
Nay, đưa ra câu hỏi gọn/nhẹ này cốt chỉ để đề-nghị với các bạn đang đọc những giòng phiếm-luận này, có chút thì giờ để ta cùng nhau suy tư/nghĩ-ngợi về hiện-tượng công-bình/chính-trực và lòng yêu-thương trong Đạo, hoặc ngoài đời.
Nhưng, trước khi đi vào chuyện đứng-đắn có chủ-đề, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào giòng chảy lời vàng có những lời lẽ rất “để đời”, như sau:

            “Thật thế,
làm sao sự công chính lại liên kết được với sự bất chính?
Làm sao ánh sáng lại dung hoà được với bóng tối?
Làm sao Đức Kitô lại hoà hợp được với Bêlia?
Làm sao người tin
lại chung phần được với người không tin?”
(2Côrinthô 6: 13-15)

Công-bình/chính-trực, bắt đầu bằng những ưu-tư/quan-ngại về các nhu-cầu và khát-vọng của con người. Và rồi, nỗi-niềm ưu-tư ấy diễn rộng để giúp ta biết đến nhu-cầu và khác-vọng của người khác cũng như toàn-thể xã-hội, theo tổng-thể.
            Tổng-thể hơn cả, là gia-đình ruột thịt của mỗi người trong đó các thành-viên lại đã yêu-thương lẫn nhau cách đậm sâu. Thế nhưng, thực-tế ở đời vẫn có trường-hợp: anh nọ, chị kia lại hợp ý, hợp khẩu-vị với người em nào đó trong gia-đình, hơn em khác. Nhất thứ, là gia-đình đông-đúc như ở Đạo Chúa.
Cả đến bậc mẹ/cha cũng thế. Nhiều lúc, lắm khi cha hoặc mẹ lại thích yêu riêng bé này/em nọ hơn ai khác; chỉ vì bé biết ý của mẹ/cha nên đã nghe lời, hoặc tuân lệnh răm-rắp.
Trong sống đời thực-tế, có nhiều thứ còn quan-trọng và đáng kể hơn chuyện công-bình/chính-trực. Công-bình và chính-trực, đặt căn-bản trên việc tôn-trọng kẻ khác, người khác. Nhưng, cũng không vì thế mà, để đổi lại, mình bắt-buộc người khác tôn-trọng mình.
Tôn-trọng người khác, không chỉ mỗi bậc ngang hàng tức: những ngươi có cùng một nhu-cầu và ham muốn giống nhau. Mà, cả đến bậc trên của mình, tức: những người mà mình cứ tưởng, là: có quyền và có lực trên mình và người ngang hàng mình, kể cả các giới-chức có quyền và lực trên cả hai, hoặc mọi người.
Về phía Đạo, có đạo-hữu lại cứ nghĩ rằng: Đấng Bề Trên là Thượng-Đế , Chúa Trời đôi lúc xử-sự cũng không được công-minh cho lắm. Nhất thứ, là về trường-hợp: tiền/của, sức khoẻ/bệnh tật hoặc tài-nguyên nhân/vật/lực.
Người đi Đạo luôn tin vào Đức Chúa là Đấng thương-yêu mỗi người trên đời cách say mê, nên đã phú-ban cho mọi người sự tự do để họ vui-hưởng cuộc đời hầu dựng-xây thế-giới/xã-hội cách đại-độ, để mọi người sống vui, sống mạnh, sống đạo-hạnh với Chúa và cho Chúa.
Thật ra thì, cuộc sống có nhau và với nhau, hoặc với Chúa là sống trong tương-quan chặt-chẽ với nhau. Những gì xấu-xa/tồi-tệ xảy ra với người này không phải là đã và sẽ không xảy đến với người khác. Thành thử, khi có ai phàn-nàn về chuyện xấu sao cứ xảy ra với người tồt lành mà không phải người khác?
Công-bình/chính-trực, phải được quan-niệm như thể trong tương-quan giữa ta với người khác. Ta như mắc nợ một số điều nơi người khác. Công-bình và chính-trực, chỉ có nghĩa là khi người khác và ta đều hành-xử rất ngang bằng/đồng đều, có tôn-trọng lẫn nhau.
Công-bình và chính-trực, thực-sự diễn ra cách rộng rãi hơn là giữa hai người thôi. Nhưng, giữa nhiều người, nhiều nhóm người trong cộng-đồng nhân-loại.
Công-bình, tuỳ-thuộc vào hệ-thống tôn-trọng và sự chính-trực với cả cộng-đồng xã-hội nữa. Nếu ta muốn có một xã-hội công-bình, thì chính mình phải sống sao cho công-bình trước đã. Và cứ thế, mỗi người và mọi người đều làm giống như thế, tự khắc toàn xã-hội cũng sẽ làm như thế.
Hơn nữa, công-bình sẽ không là yếu-tố độc-nhất trong đời người. Đời con người, có nhiều thứ và nhiều sự còn quan-trọng hơn. Trong đó, phải kể đến tình thương-yêu mở rộng ra cho mọi người và với mỗi người. Xã-hội nào có được sự yêu-thương rộng-lượng, tự khắc sẽ có công-bình/chính-trực.
Cuối cùng thì, có thể nói: trong cuộc đời người, cũng có những chuyện tuy không thiết-yếu như công-bình/chính-trực, trong đối xử vì đời là một chuỗi ngày rất muôn hình vạn dạng. Trong đó, có chuyện quan-yếu hoặc lý-tưởng khiến mọi người cần để ý.
Thế nhưng, đời người còn được điểm-tô bằng các sắc mầu khác-biệt để giúp người đời sống vui, sống mạnh sống thoải mái, rất dễ chịu. Trong số đó, có truyện kể để cười vui cho qua ngày đoạn tháng, thế thôi. Tựa như truyện kể nhẹ ở bên dưới:

“Truyện rằng:
Hai người bạn thân ở chung một phòng trong lúc rảnh-rỗi ngồi nói chuyện với nhau, như sau:
-Hôm qua, tao vừa rủ người em bé nhỏ đi chơi mà trong túi không có được đồng xu teng nào hết, thế có sợ không cơ chứ. Nhưng, tao vẫn quyết-định cứ rủ nó đi.

Người bạn kia, hứng chí vỗ vào đùi rồi bảo:
-Ông thật là can-đảm!
Chẳng mấy chốc, người này lại được kể tiếp câu chuyện hơi lạ, rằng:
-Cũng chẳng can-đảm gì đâu. Chả là, khi tới nơi, tao mới biết là trong túi quần mình mặc lại có một đống tiền, thế là hai đứa bọn tao tha hồ xài cho hết số tiền ấy, chẳng thắc mắc, bận-tâm gì hết.
-Thế đấy. Ông Trời thường vẫn không phụ lòng người tốt bụng, ấy mà.
-Chưa hết. Khi về đến nhà, mới phát-giác ra rằng: tao lỡ mặc nhầm quần của mày đấy. Thế có chết không?”

            Chẳng chết thằng Tây còn Đầm nào hết. Truyện kể ở trên chỉ là chuyện hư cấu thuộc loại “nghe qua rồi bỏ”, cho vui đời mà thôi. Nhưng, thực-tế cuộc đời người, nhiều lúc cũng thấy xảy ra đôi ba chuyện thuộc loại “tréo cẳng ngỗng”, mà người trong cuộc nhiều lúc chẳng thấy vui.
            Thôi thì, ta cứ coi đây là truyện hư-cấu chỉ để vui thoáng chốc. Vui rồi, nay xin bạn và tôi, ta về lại với nhạc-bản trích-dẫn ở trên để cùng hát chung đôi câu cho rộn rã, dù chỉ vài ba giây phút phù-du đọng lại trong đời mình. Vậy, bạn và tôi ta cứ hát, những lời rằng:

            “Dù đời tàn trên cánh nhac chơi vơi.
Vẫn còn mong nhớ khúc yêu đời.
Lúc bao nhiêu tiếng cười.
Rộn ràng chảy về xuôi.

Mênh mông lả ơi, thuyền về tới bến mơ rồi.
Khoan khoan hò ơi dặt dìu trong tiếng đàn tôi.
Mêng mông lả ơi thuyền về bát ngát hương trời.
Khoan khoan hò ơi nhịp sầu xa vắng mà thôi!

Buồm về dội nắng trên khơi.
Bao nhiêu hoàng hôn đên cho yên vui người ơi!
Có tiếng hát theo đàn tôi.
Như ru như thương linh hồn đắm đuối.

Mêng mông lả ơi, thuyền chờ mong gió lên trời.
Mang theo đàn tôi chảy về đậu bến ngày mai.”
(Phạm Duy – bđd)

Ngày mai hay hôm nay, ta cứ thế mà rộn ràng để con thuyền “chờ mong gió lên trời”, chẳng về bến mơ hay cõi mộng rất mai ngày, trọn kiếp người.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ mong và cứ chờ
Thuyền mình không lái
Chảy về bến mơ.