Saturday, 7 February 2015

“Mai! Anh đã quen em một ngày,”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 6 thường niên năm B 15/2/2015

“Mai! Anh đã quen em một ngày,”
“Anh đã yêu em một ngày
Một tình yêu quá không may ..”
(Quốc Dũng – Mai)
(Ga 11: 4)
            Đành rằng, khi viết lên ca-từ này, tác giả Quốc Dũng nói nhiều về bạn tình và tình bạn của mình với ca sĩ Phương Mai, cũng là thế.
Nhưng, (lại chữ nhưng với chữ không gì nữa đây!), nếu hiểu theo ý của nhạc sĩ Từ Công Phụng, thì “Mai” ở đây có thể là bất cứ ai, bất cứ người nào, cũng được.
            Hôm nay, bầy tôi đây dám gọi bạn hiền linh-mục tên là Mai Đào Hiền, cựu tu-sinh “Giáo Hoàng Học Viện” năm nào, đã về với Chúa có tình người hôm 04/2/2015 đúng vào lúc thúc giục bạn và tôi ta nghĩ về ngày “Mai” tuy xa xôi nhưng rất gần với đời người, hôm nay.
            Hôm nay nữa, bần đạo đây lại thấy bài hát trên đầy ý-nghĩa, nên cứ tiếp tục hát:

            “Mai! Anh nhớ môi em miệng cười,
Anh nhớ môi em ngọt lời.
Dù lời yêu thương chưa nói.
Mai! Anh đã yêu em thật rồi.
Anh đã yêu em thật nhiều.
Một tình yêu quá cô lieu.
Mai! Em đã cho anh hẹn hò.
Nhưng đã cho anh đợi chờ.
Để rồi không đến bao giờ”…
(Quốc Dũng – bđd)  

Thú thật với bạn đọc và các bạn chả-bao-giờ-đọc bài của bần đạo, rằng thì là: kể cũng lạ, đời mình và đời người có những chữ và những lời đầy ý-nghĩa, chứ không chỉ có một chữ/một nghĩa như tên gọi hoặc tên họ của ai đó, cũng rất “Mai”.
Cũng lại thú thật với bạn đang đọc ở đây, rằng: nghĩ về chữ “Mai” không chỉ là nghĩ về thời-gian, nơi chốn nhưng là với người mà mình đang đi tới. Mai, có thể là tên người. Cũng có thể, là thời-gian ở “thì” tương lai chứ không phải “thì” hiện-tại.
Cũng có thể, là: tình-trạng sao đó của con người trong tương-lai và cả hiện tại, cũng đều thế. Nói tóm lại, “Mai” sẽ là tất cả và có thể sẽ không là gì cả. Có là gì, cũng tùy lập-trường và thế-đứng hoặc tầm-nhìn của người nói và/hoặc người viết, mà thôi.
Thế nhưng, nếu hiểu “khổ đau”, “âu sầu” hoặc “sự chết vào mai ngày”, theo nghĩa thần-học trong Đạo thì: có thể , ta cũng nên hiểu theo ý thày dạy của bần đạo, là Lm Kevin O’Shea, CSsR ở Úc như sau:

“Khoa-học, lại cũng đòi tất cả những ai có trọng-trách giáo-huấn bản-thân con người mình, hãy đặt nặng mọi sự lên yếu-tố đặc-trưng tương-quan cảm-xúc nơi con “người” và chuyên-chở ý-nghĩa đã và vẫn tiến-hoá, rất như thế. 

Nay ta hãy hướng về vũ-trụ vạn-vật chưa hoàn-tất. Thật ra thì, chả có gì gọi là khởi-đầu trọn-hảo, hết. Cũng chẳng có cái-gọi-là vườn Địa-đàng thời khởi-nguyên, nào hết. Xưa nay, chưa từng có tình-trạng vẹn toàn nguyên-thủy của vũ-trụ, hết. Nhưng, tương-lai vẫn mở rộng ra cho mọi sự.

Mọi người được mời gọi hãy dấn bước vào thể-thức hiện-hữu vẫn tiến-hoá, trổi vực. Vẫn có tương-lai-mai-ngày chưa từng xảy đến, vào thời trước. Ý của Chúa, là tập-hợp tạo-dựng ngày một mật-thiết hơn. Thiên-Chúa đích-thực là Đấng tốt-lành quyền-uy, Ngài không có chọn-lựa nào khác, ngoài việc thiết-dựng và tạo nên vũ-trụ vẫn tiến-hoá, chưa hoàn-tất. 
 
Tiến-hoá, là sự việc phù-hợp với niềm nhung nhớ. Vẫn có thứ gì đó, như thể-loại luyến-lưu nơi giấc mơ tái-lập sự trọn-hảo trong quá-trình hình-dung nên sự việc. Vẫn còn đó thứ gì như: nỗi ám-ảnh về một quá-khứ đầy lý-tưởng.

Ta vẫn cần diễn-giải theo cung-cách khác hẳn về khổ-đau, âu sầu và nỗi chết. Đau-khổ nhiều nhất và lớn nhất, lại chẳng liên-quan gì đến những lỗi cùng tội. Phần lớn thứ đó, đều là nỗi bi-ai, vô tội.

Ta cần diễn-tiến từ ý-niệm về phạt-vạ hoặc trừng-trị, để đến với ý-niệm quà-tặng, khi nói đến khổ-đau, âu sầu, buồn bã. Đau-khổ, vẫn có đó không để giúp ta thích-ứng với hoàn-cảnh rày xảy đến. Đau-khổ, đến từ một chuyển-động nào đó tiếp-cận với chuyển-động khác, vẫn cứ thế. Nó đến, từ một nơi không ai trông ngóng hoặc đợi chờ, và cũng chẳng ai muốn tuỳ nghi thích-ứng với nó, hết.

Đau-khổ, lâu nay được nối-kết với con người mà thôi, cốt là để trách-cứ họ về khổ-đau như thế và cũng để đặt Chúa ra ngoài mọi trách-nhiệm của người từng tặng-trao điều gì. Nói gì thì nói, mọi loài thú đều biết khổ biết đau. Loài vật có tri-giác, do đó chúng biết thế nào là khổ-đau, và phúc hạnh.

Ta cần nhìn về phía con người đang trải dài cuộc sống, và tái định-hình nguồn-cội của chính mình. Con “người”, không trải dài đời mình vào quá-khứ, cũng chẳng thích-ứng/thích-nghi với hiện-tại, nhưng họ đang trải dài đời mình cho tương-lai-mai-ngày của họ.” (x. Lm Kevin O’Shea, CSsR “Ơn Cứu Chuộc Nơi Ngài Chan Chứa”, nxb Hồng Đức sẽ cho in)

Hiểu “khổ đau”, “sầu buồn” và “sự chết” -trong mai ngày- phải hiểu như Lời Vàng do bậc hiển thánh đã từng viết:

“Nghe vậy, Đức Giêsu bảo:
"Bệnh này không đến nỗi chết đâu,
nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa:
qua bệnh này,
Con Thiên Chúa được tôn vinh."
(Ga 11: 4)

Nghe Chúa nói, có lẽ ta cũng nên hát tiếp những lời ca đầy ý-nghĩa, như sau:

“Chiều về nhạt nhòa trên khu phố mưa bay.
Lòng buồn thêm xót xa niềm cay.
Lời hẹn hò đầu tiên em đã quên đi,
Con đường rộng vắng như biệt ly ..”
(Quốc Dũng – bđd)

Hiểu chữ “Mai” hoặc tên “Mai” như thế rồi, ta sẽ hát tiếp:

“Mai! Anh đã xa em thật rồi.
Anh sẽ xa em trọn đời.
Dù lòng thương nhớ không nguôi.
Mai! Anh biết em trong một ngày.
Anh đã yêu trong một ngày.
Cho sầu đau đến bao ngày ...
Đời mình còn dài trong năm tháng chua cay.
Còn tìm đâu thấy những ngày vui.
Chuyện tình mình tựa như cơn gió trôi đi,
Riêng lòng anh xót xa biệt ly”…
(Quốc Dũng – bđd)

Lại thú thật với bạn và với tôi, rằng: mỗi khi nghe tin bạn bè/người thân của tôi và của bạn đi dần vào cõi chết, bần đạo đây dù niềm tin vào Chúa luôn cần sự vui tươi và vững vàng, nhưng vẫn thấy nao nao một “nghĩa” buồn nào đó, rất khôn nguôi.
Nghĩ thế nên, bần đạo lại xin về với “lời bàn” từ bậc thày trích-dẫn ở trên để kể tiếp:

“Nói đến đây, xin cho phép tôi được mượn câu chuyện của một người mà tôi từng gặp và nghe kể, để san-sẻ với anh em đây, hầu minh-hoạ cho việc ta đang bàn. Chuyện ở đây, do vị tuyên-úy lo về linh-đạo ở bệnh-viện nọ, kể về sự việc xảy ra tại bệnh viện này.

Hôm đó, có bà mẹ trẻ mang-thai-gần-đến-ngày-lâm-bồn/ở-cữ, được chuyển gấp đến phòng cấp-cứu, vì ca này rất khó sinh. Sự thể là, nửa đêm hôm ấy, tự dưng tim của thai-nhi đột nhiên ngừng đập; và thai-nhi đã chết trong bụng mẹ chẳng biết vì lý-do gì. Vị linh-mục, khi ấy, không biết làm sao để an-ủi bà mẹ trẻ này cho phải phép. Nhưng Rachel, tên người mẹ trẻ đáng thương kia, vẫn khóc hàng giờ vì con chị nay đã chết mà chẳng ai cứu-vớt được. Chị khước-từ mọi ủi-an, bất kể từ đâu đến vì có an-ủi cho nhiều, thì con chị cũng đã không còn nữa.

Sau một hồi lâu, chị thốt lên một câu, đại ý bảo rằng: “Tôi chỉ muốn nói một điều, là: tôi không thể nào hình-dung được, là: tôi đã làm gì để Chúa bắt tôi phải chịu đau-khổ như thế này!” Khi ấy, linh-mục kia nói: “Không! Không phải thế đâu! Chị đâu đã làm gì xấu đến thế!” Nhưng, chị tiếp-tục phân-trần: “Điều, con muốn nói là: lâu nay con chưa làm điều gì thất-đức cả, mà sao Chúa trừng-phạt con tệ đến thế?”

Thế rồi, vị linh-mục như nhận được ơn lành-thánh hiếm có, mới nói: “Phải chăng, đó là điều mà chị hằng tin-tưởng? Chị nói thế, phải chăng có ý bảo: chính Chúa đã giết con chị, để trừng-phạt? Chị đáp: “Không! Ý con không như thế. Nhưng, phải có lý-do gì đó Chúa mới bắt con phải chịu như thế này, chứ?”

Về lý do hoặc lý-lẽ, cũng chẳng có lý-sự nào xứng-hợp với Chúa, hết. Chỉ một lý-lẽ xuất từ sự đau-đớn/khốn-khổ mà người mẹ trẻ kia phải chịu, khiến chị nổi-giận và khóc-than, thôi. Một thứ lý-lẽ hoặc lý-sự nằm đằng sau mọi sự, mà chị vẫn giấu kín.

Và đây, điểm chính-yếu tôi muốn nói, là: anh em mình nên dừng lại trong phút chốc để suy-tư/bàn-bạc, xem sao. Lý-do hoặc lý-lẽ, do sự việc mà người mẹ trẻ kia lâu nay tìm cách chôn kín khổ-đau cùng cảm-xúc không đúng của chị. Đến đây, tôi lại xin phép được trở về với trình-thuật ta đọc ở Tin Mừng thánh Gioan mà, với tôi, cũng na-ná giống thế.

Đó là, truyện-kể về cái chết của Lazarô, nhất là câu: “Nếu Thày có ở đây, thì em con đã không chết!” Và, cảnh Maria khóc sướt-mướt, qua đó bản tiếng Anh thường dịch là: “Ngài thấy xốn xang trong lòng không ít, và đã động lòng trắc-ẩn”. Bản Hy-Lạp viết mạnh hơn, khi đề-cập đến ý-nghĩ bảo rằng: Đức Giêsu tỏ ra giận-dữ và Ngài nổi cơn thịnh-nộ trong lòng”. Cơn thịnh-nộ trong lòng ư? Vâng. Đúng thế! Ngay Đức Giêsu cũng xử-sự đến như thế. Ngài nổi giận đến mức cuồng-nộ trước khi Ngài đi vào cõi chết.

Bởi, Ngài đến với thế-gian, là để mang lại sự sống cho người khác. Bản thân Ngài, cũng đã chấp-nhận nỗi chết rất khổ-nhục. Và, Ngài cũng đã khóc rất nhiều. Ngài khóc bằng nước mắt của sự căm-phẫn, nổi giận. Ngài xúc-động quá mức cũng giống như Maria, Martha và nhiều người khác. Ngài biết khá nhiều và khá đủ về những thứ hoặc những sự thuộc loài người như những sự việc mà ta tìm không ra cách diễn-giải, để người có mặt hôm đó hiểu được lý-do hoặc lý-sự này khác.


Đức Giêsu đã để cho những người có mặt hôm đó chôn kín các xúc-cảm của họ và của Ngài, nơi mộ phần. Ngài đặt-để các thương-tổn cũng như buồn-đau của họ vào mộ phần cùng với Lazarô. Và, những người có mặt hôm ấy, cũng đã lăn hòn đá-tảng-lấp-mồ khá nặng mà họ thấy và “khoá-chặt” anh ở trong đó.

Và nỗi buồn-đau, có thể sẽ ở tình-thế rất “khoá-chặt”, suốt ngày này tháng nọ. Mọi thương-tổn, được chôn-kín sẽ không động đậy; nhưng, vẫn ở tình-trạng đó mãi sau này. Và rồi, có thể là: mọi người cũng sẽ quên đi những chuyện tương-tự. Có thể là như thế. Nhưng, mãi mãi ở trong đó, vẫn có các thương-tổn từng được chôn-kín, mãi về sau.
Liền sau đó, Đức Giêsu đứng dậy rồi nói: “Hãy lăn đá-tảng lấp mồ đi nơi khác!” Câu này như có nghĩa: “Hãy để mọi thứ như thế, ra bên ngoài chốn mở ngỏ. Bởi, sự thể không tệ như anh em nghĩ đâu. Anh em vẫn có thể đối đầu với nó được. Nhưng, đừng để cho niềm thương-nhớ bị “khoá chặt” trong mộ phần. Hãy để nó sống-động trong cuộc sống của anh em, để rồi cùng với anh em sẽ sống mãi, rất vững mạnh.  
Sự sống, lúc nào cũng lớn-lao hơn mọi thứ. Đừng “khoá-chặt” nỗi buồn-đau đằng sau hòn đá tảng lấp mồ. Nhưng, hãy mở rộng cửa lòng mình xuống tận phần đất ở bên dưới. Bởi, nơi đó nay đã khác. Và, ở đây nữa, các nhà thần-học hôm ấy cũng có mặt ở quanh đó nhưng vẫn đứng xa xa. Các ngài cố tìm cho ra lý lẽ và lý-sự của mọi việc nên vẫn hỏi những câu tương-tự như: sao lại như thế? Các ngài tuy có hỏi, nhưng lại tìm không ra thứ lý-lẽ nào cho phải phép, đúng ý mình.              

Một lần nữa, ta hãy mượn tiếp một truyện-kể khác cũng từ vị linh-mục tuyên-úy bệnh-viện nói trên. Hôm ấy, vị linh-mục nói ở trên, đã đi thăm cụ bà trọng tuổi nọ ở bệnh-viện; cụ đang gặp chuyện bực-bội cách bất-thường, nhưng không phải chuyện đớn-đau/bệnh-tật mà cụ đang mắc phải. Nhưng, là sự việc: cụ vừa nghe tin con trai cụ bị ám sát, nay đã chết. Linh-mục hôm ấy yêu cầu cụ kể cho ông nghe đôi chút về người con của cụ. Thế là, tự dưng cụ bật lên thành tiếng khóc nức-nở đến nửa tiếng đồng-hồ, khi cụ kể về thời thơ-ấu an-lành của người con, cùng bạn bè và công việc anh đang làm, nhưng phần chính là cụ rất tự-hào về người con mà cụ từng thương-yêu hết mực.

Khi cụ kết thúc câu truyện về người con trai ấy, thì linh-mục thấy mình chẳng làm được gì cho cụ, ấy thế mà cụ vẫn bảo: “Cảm ơn Cha. Chắc cha cũng biết là tôi không cần phải kể về chuyện ấy nhiều đến thế?” Cụ đã thực-sự chôn-vùi nỗi nhớ của cụ nơi mộ-phần rồi. Và, cụ cũng đã lăn hòn đá-tảng-lấp-mồ đi nơi khác. Và, ký ức của cụ không còn bị chôn-kín ở nơi nào nữa. Cụ cũng biến nỗi nhớ về người con của mình, để nó nên thành-phần cuộc sống của cụ, rất thật sự”. (x. Lm Kevin O’Shea, Ơn Cứu Chuộc Nơi Ngài Chan Chứa, chương 5, nxb Hồng Đức sẽ cho in)

Hiểu sự khác-biệt của hai bà mẹ về nỗi buồn đau mất con ở trên rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào truyện kể nhè nhẹ mà bạn đạo nọ vừa gửi để hỗ-trợ bần đạo, như sau:

Một Phật tử đến hỏi Ni sư Tenzin Palmo một câu hỏi rất thú vị:
-Đọc cuốn “Cave in the Snow”, con biết là Jetsuma đã suy nghĩ về cái chết từ khi còn rất bé, ở độ tuổi mà các con của con chỉ biết ăn ngủ, và chơi đùa mà thôi. Trong 12 năm ẩn-tu trên núi tuyết, Ni Sư nhiều lần đối-diện với hiểm-nguy. Có lần Ni Sư bị chôn sống nhiều ngày trong hang do trận bão tuyết nọ xảy ra và tưởng chừng không thể thoát khỏi lưỡi hái của Tử thần... Xin Ni Sư hoan-hỉ cho biết cảm-nghĩ của Ni Sư về Cái Chết.”
-Tôi may mắn sinh ra trong một gia-đình “lạ đời” ở Luân đôn! Cái chết không là điều cấm kỵ nhưng luôn được gia-đình bàn/cãi hàng ngày cách cởi mở. Trong khoảng đời ở trong hang trên núi tuyết, nhờ tu/tập mà tôi đã bình-tĩnh đối-phó mọi chuyện. Tôi bình-thản đón-nhận cái chết nếu nó xảy ra cho tôi vào thời-điểm ấy. Bây giờ, đôi khi tôi lại nghĩ: “A! Cái chết đến hả? Chắc là hứng-khởi lắm đây!

Cử-toạ cười ồ trước câu kết dí-dỏm, nửa đùa nửa thật của Ni Sư Tenzin Palmo.
Từ cuối phòng, cô trụ-trì mở lối cho một thính-giả đi lên phía trước Chánh điện. Anh trông tiều-tụy, da dẻ xám xanh và nét mặt lộ vẻ lo buồn. Anh chắp tay vái chào, ngồi xuống ngước nhìn Ni Sư, nghẹn ngào không nói nên lời. Cô trụ-trì đỡ lời:

-Anh bạn đây muốn xin ý-kiến Ni Sư về việc sửa soạn thế nào khi sắp lìa đời. Anh bị ung-thư phổi, đã qua giải-phãu, hóa-trị gần ba năm nay nhưng bệnh tình không thuyên-giảm, căn-bệnh nay đến thời kỳ cuối. Mạng sống của anh không còn bao lăm. Nay anh đến hỏi Ni Sư điều này cho biết, dù anh là người Công giáo.

Mọi người im lặng vì kinh-ngạc, chờ đợi ni sư trả lời. Ni sư xoay người đối diện với bệnh nhân với ánh mắt đầy thương-cảm, thế rồi Ni sư hỏi:
-Anh có muốn nói chuyện riêng với tôi không?”
Anh thưa:
-Dạ không cần. Tôi muốn Ni Sư trả lời cho trước mặt mọi người để ai cũng được lợi.

Lại một tràng pháo tay nổi lên tán thưởng sự can-đảm và độ lượng của anh.
Hướng về anh, Ni sư Tenzin Palmo chậm rãi nói từng tiếng:
-Ai rồi cũng phải chết. Có những em bé chết từ thuở sơ sanh. Có kẻ chết trẻ, người chết già vì đủ mọi lý do: tai nạn, bịnh tật, già yếu... Ai cũng biết về cái chết nhưng cứ tưởng nó đến với người khác chứ chưa đến lượt mình... mãi đến lúc nó thình lình hiện ra trước mắt thì hoảng hốt, lo sợ, bấn loạn vì thiếu chuẩn bị. Chết vì bệnh, là may mắn hơn vì có thời gian sửa-soạn cho sự ra đi, sửa soạn lìa bỏ cuộc đời:
1/ Điều trước tiên nên làm, là: buông bỏ giận-hờn, oán-hận mà từ trước tới nay mình ôm ấp trong lòng. Mở lòng tha thứ hết mọi người. Buông xã hết.
2/ Hãy nói những lời yêu thương và biết ơn mình muốn nói nhưng chưa có dịp hoặc còn ngần ngại.
3/ Hãy để lại di chúc về tài sản, ước muốn của mình. Cần phân-minh, công-bằng để thân-nhân không tranh-giành, cãi cọ trong thời gian ta mới vừa lìa đời.
4/ Hướng tâm, nghĩ tưởng về Chúa Mẹ nếu là người Công giáo, về Phật nếu là Phật tử. Nếu không tín ngưỡng, hãy hướng về Ánh Sáng.
5/ Thân-nhân không nên than khóc níu kéo: “Đừng đi, đừng bỏ em, đừng bỏ con...” vì sẽ tạo quyến-luyến, khó-khăn cho người sắp ra đi. Điều nên làm, là: hãy nhắc-nhở kẻ hấp-hối nhớ những điều thiện/lành. Dù người ấy như đang hôn mê, không nói năng được, nhưng thân-nhân vẫn luôn nhắc-nhở, cầu nguyện vì tận phần thâm sâu, họ vẫn biết.
6/ Nếu thân-thể bị đau-đớn thì hãy dùng thuốc giảm đau. Người tu-tập cao có thể chịu đựng vì quán chiếu của cơn đau. Nhưng với người bình thường, đau-đớn quá sức sẽ làm họ bấn loạn. Hơn nữa, thuốc giảm đau không gây ảnh-hưởng đến thần-thức sau khi chết.
7/ Một điều cần nhắc nữa, là: khi ra đi, người chết thường thấy hình ảnh ông bà, cha mẹ hay người quá cố hiện ra, vẫy gọi mình. Đừng đi theo họ, mà chỉ hướng đến Chúa, Phật hay Ánh Sáng, là con đường hướng thượng.”(Hiền Thuận viết theo ý Cư sĩ Minh Mẫn)

Hiểu được như trên về sự chết và nỗi khổ đau về cái chết của người thân thuộc nhữ vừa kể, nay xin bạn và tôi, ta cứ đầu cao/mắt sáng hát lên lời ca rất “tình” để kết thúc chuyện phiếm rất “loạn” ở đây, rằng:

“Mai! Anh đã yêu em thật rồi
Anh đã yêu em thật nhiều
Một tình yêu quá cô liêu ..
Mai! Em đã cho anh hẹn hò
Nhưng đã cho anh đợi chờ
Để rồi không đến bao giờ ..”
(Quốc Dũng – bđd)  

Thật ra, có diễn-nghĩa thế nào đi nữa, thì “Mai” vẫn là Mai, tức: cái ngày-sau-hôm-nay chứ không phải hiện tại, đâu bạn ạ. Thật ra, có nói và hát thế nào đi nữa về cái “ngày-sau-hôm-nay đến bất ngờ với mọi người”, thì bạn và tôi, ta vẫn công nhận rằng: dù gì đi nữa, có buồn sầu/khổ đau hoặc chết chóc ngay hôm nay hoặc ngày nào đi nữa, tất cả vẫn là “ân-huệ” cho mình, và cho người.
Và, hỡi bạn và tôi, ta hãy nhớ đến những kỷ-niệm vui với người đã khuất, hơn là cứ buồn sầu, khổ đau, hoặc trách móc bất cứ ai, mãi nhé.

Trần Ngọc Mười Hai
Chợt có một chút suy tư
nhân cái chết của một bạn linh mục
mình quen biết cũng khá nhiều
dù chưa một lần tiếp xúc trực tiếp.    

Saturday, 31 January 2015

“Một giòng xanh xanh, một giòng tràn mông mênh”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 5 thường niên năm B 08/02/2015

“Một giòng xanh xanh,
một giòng tràn mông mênh”,
“Một giòng nồng ý biếc, một giòng sầu mấy kiếp
Một giòng trời xao xuyến, một giòng tình thương mến
Một giòng còn quyến luyến, một giòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền.”
(Nhạc Ngoại-quốc: Johann Strauss – Blue Danube
Lời Việt: Phạm Duy Giòng sông xanh)
(Lc 2: 41-43)

            Thật rất đúng. “Giòng tràn mông mênh” đây, là nỗi niềm nhung nhớ “quay về miền đời, lúc mơ huyền”. Giòng nhung nhớ hôm ấy, là “giòng trời xao-xuyến”, đầy “quyến luyến”, với “tình thương mến”, quyện vào nỗi “sầu mấy kiếp” rất xanh lơ, mơ huyền, “nồng ý biếc”.
            Giòng ở đây, còn là giòng nhạc trọn vẹn rất “xanh xanh” được bạn trẻ Anthony Trần đã có những lời tâm tình ở buổi “Hát Cho Nhau” hôm mồng 15 tháng 11 năm 2014 tại Sydney, bằng đôi giòng như sau:

Bài Giòng Sông Xanh, lời Việt, là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt, mang theo nhiều kỷ niệm gắn bó với bài hát suốt nhiều năm dài. Những tháng ngày về sau, ta nghe bài này rất nhiều lần, nhưng chỉ là bài tóm gọn, do ca sĩ Thái Thanh hát trên đĩa nhựa, trong 3 phút. 

Còn, bài “Giòng Sông Xanh” đầy đủ từng làm nên lịch sử nhạc Việt, chính là bài dự thi trong buổi tuyển lựa ca sĩ tổ chức tại Huế năm 1953 do Hà Thanh hát. Hôm hát dự thi, Hà Thanh được cả thành-phố Huế lắng nghe đến độ như ngừng thở khi cô hát trọn vẹn bài này, với đủ các nốt nhạc cao vút bay lên đến hơn một bát âm như được viết ở bản gốc do Johann Strauss viết...” (trích lời bình của người dẫn nhạc ở buổi Hát Cho Nhau 15/11/14)

                Quả là nhận-định về ‘giòng chảy âm-nhạc’ để mọi người thưởng ngoạn. Thêm vào đó, bài hát còn có lời lẽ đầy tình-tự óng-ả của một “ánh dương lên xôn xao”, bên “ven bờ sông sâu”, như sau: 

“Ánh dương lên xôn xao, hai ven bờ sông sâu.
Cười ròn tiếng người, đẹp lòng sớm mai.
Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui.
Thả ý thắm theo người chở gió về xuôi.
Hát vang lên cho vui, cô nàng ngồi bên tôi.
Đời là khúc nhạc, đời là tiếng thơ.
Nước sông reo như ru cuồn cuộn sóng trôi xa.
Là tiếng hát mơ hồ mời đón lòng ta.
(Lời Việt: Phạm Duy – bđd)

Vâng. Sống ở đời, người người vẫn cứ “hát vang lên cho vui”, “đời là khúc nhạc”, “tiếng thơ”, là “tiếng hát mơ hồ mời đón lòng ta, và mọi người”. Hát thế rồi, người người lại sẽ mời nhau “lên tàu mà đi” về chốn “giang hồ, nghìn hải lý”, Dù, đời mình/đời người có “lỡ tình duyên đâu đó, nơi kinh kỳ”, như câu ca đầy ý nghĩa ở bên dưới, những hát rằng:

“Sông về sông dào dạt ý
Hát tang bồng theo tầu mà đi
Ai giang hồ sau nghìn hải lý
Lỡ tình duyên nơi đâu đó ghé qua kinh kỳ.”
(Lời Việt: Phạm Duy – bđd)

‘Giòng đời’, có vàng ánh những tư-tưởng xôn xao, “tang bồng”, “dạt dào ý” lại được người nghe hát hôm ấy, chuyển thêm cho nhau một cảm-nhận tiếp diễn như sau:

“Xin đặc biệt gửi đến cô Ánh Linh lời cám ơn đã chịu khó nhận lời hát một bài thật khó mà it ai dám đảm nhận. Đó là bài Giòng Sông Xanh xanh. Càng khó hơn, khi phải hát đúng với bản gốc gồm đến 500 trường canh, dài trên 15 phút với tiết điệu “waltz” quay cuồng ở tốc độ 157 nhịp mỗi phút. Trong khi bản hiện-hành, bao gồm cả bản hát do cô Thái Thanh thu âm, chỉ dài trên 3 phút, mà thôi. Bản gốc được viết trên tông “Ré”, có những nốt la, si, do cao vút ngoài giòng kẻ, chỉ dành riêng cho các giọng “soprano” chất ngất mà thôi.

Từ khi cô Hà Thanh hát bản gốc này trong cuộc thi tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức năm 1953 lúc ấy cũng đã mấy chục năm rồi bây giờ mới có cô Ánh Linh hát lại. Nhờ đó giới thiệu cho người nghe một nhạc bản nguyên thủy chưa bị cắt, với đầy đủ lời ca theo đúng ý nguyện của nhạc sĩ Phạm Duy lúc còn sinh tiền khi tiếp tay đặt lời Việt.

Theo ý chủ quan của riêng em, thì phần bị cắt mới là phần hay nhất của bài nhạc. Vì, ở mấy phần đầu, con tàu chỉ mới rời bến chưa được bao lâu thì đã cặp bờ rồi. Ở các đoạn bị cắt bỏ, con tàu nọ đã đưa chúng ta đi ngang qua những vùng có phong cảnh đẹp vô ngần, có tiếng chim hót vờn quanh, có tuyết rơi lất phất trên mặt nước, có lời tình tự của ai đó trên boong tàu, với cả tiếng tàu hú hòa cùng với tiếng sóng khua rập rờn nữa. Chúng ta đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi tác giả Johann Strauss lặp đi lặp lại các phân đoạn mà không báo trước là phân đoạn nào sẽ được lập lại như thế. Có khi vừa hết đoạn 1 nhảy sang đoạn 5, rồi mới về lại đoạn 2. Cả bài như mời gọi chúng ta hãy gia-nhập trò chơi trốn/tìm với tác giả thật thú vị.

Đến đoạn solo của đàn sĩ là phân-đoạn rất dài gồm nhiều tiểu khúc khác nhau, lặp đi lặp lại vài câu hay nhất của các phân đoạn trước, nhưng lại cũng không cho biết trước là câu nào sẽ được bầu là câu hay nhất, đắc ý nhất. Đây cũng là lúc con tàu giương buồm ra khơi, giúp cho cô Ánh Linh được dịp nghỉ lấy hơi đôi chút sau khi thả hồn mình với con tàu, và sóng nước. Để cuối cùng, chuẩn bị cho chuyến cập bến ngắn ngủi với biết bao nhiêu là luyến thương, nhớ tiếc.

‘Giòng nhạc’ cổ điển quyến rũ người thưởng thức là như vậy, trong đó bao gồm cả loại nhạc “opera” mà, có thể, chúng ta chưa quen lắm. Hy vọng, chúng ta sẽ lại có nhiều cơ hội được nghe tiếp những bài ca khác dễ mến như thế.”
(trích điện thư vang vọng sau buổi hôm ấy)

Câu chuyện ‘Giòng Sông’ (rất) Xanh” áp dụng vào cuộc sống Đạo giữa đời, lại sẽ còn hơn thế nữa. Hơn thế, là bởi: đời người luôn có những “giòng kể” chợt nghe qua cứ tưởng bình thường, chẳng ý-nghĩa. Nhưng, suy cho kỹ, người đọc và người nghe sẽ thấy đôi điều rất đáng áp dụng một cách chung chung cho người mình, thế cũng được.  
Nói dông nói dài, không gì bằng nói thêm bằng truyện kể, như sau:

Truyện rằng:
Hôm ấy, có cuộc đối thoại thuộc loại “bỏ túi” giữa phóng viên/nhà báo và chủ quán cháo của người Hoa như sau:
Phóng viên (PV):
- Thưa ông trước khi bán cháo ông làm gì?
Chủ tiệm (CT):
- Ngộ bưng cháo cho cha ngộ bán.
- Vậy cửa hàng này có bao nhiêu năm?
- Không có năm, chỉ có đời. Mấy đời lận. Bà cố ngộ bán cháo. Ông nội ngộ bán cháo. Cha ngộ bán cháo. Ngộ bán cháo. Con trai ngộ…
- Trời ơi! Không có gì khác ư?
- Khác chớ, ngày trước có một cửa hàng ở Quảng Châu, bây giờ có hai cái ở Sài Gòn, ba cái ở Hoa Kỳ, bốn cái ở Úc.
- Người ta thành công thì sẽ cho con cái làm Giám đốc, còn ông?
- Ngộ có thành thì vẫn cho con làm chủ cửa hàng.
- Ông không muốn chúng đi học sao?
- Muốn nhiều, con ngộ một đứa có bằng Thạc sĩ kinh doanh cháo, đứa khác vừa bảo vệ luận án Tiến sĩ cơm.
- Ở trong bếp à?
- Ở Đại học Harvard, Mỹ.
- Học xong chúng nó về đâu? Thành ông gì?
- Về nhà này, thành người rửa bát cho “papa” chúng. 
- Ông gọi khách hàng là vua hay thượng đế, vậy?
- Gọi bằng gì cũng không quan trọng. Quan trọng là đối xử với nhau thế nào, thôi!
- Truyền thuyết kể rằng nhiều tỷ phú người Hoa đã đi lên từ một thùng đậu phụng rang, có đúng không?
- Không, những ngày đầu tiên làm sao có tới cả thùng, chỉ vài trăm hột thôi.
- Có tiến mà ông mặc bộ đồ vải thô thế này à?
- Dạ, người vô đây chủ yếu là người bình dân. Họ sẽ còn vô nếu thấy chủ tiệm cũng giống như họ.
- Lý do gì khiến người Hoa hay chọn kinh doanh ăn uống.
- Thưa, đơn giản vì kinh doanh đó phục vụ cái bụng con người. Nếu phục vụ cái đầu sẽ phát sinh nhiều rắc rối lắm.
- Ông bán cháo tim gan mà sao sáng ra nhà ông ăn toàn cháo trắng với củ cải muối?
- Dạ, nếu ngộ cứ ăn cao hơn khả năng của ngộ thì thế nào cũng tới lúc ngộ phải nhảy vào nồi cháo.
- Chắc là ông ít vay vốn ngân hàng?
- Nhà băng có tiền, nhưng không bao giờ có cách nấu cháo để mượn cả.
- Bây giờ tôi muốn ăn một tô, nhưng tôi chưa có tiền mai thanh toán được không, thưa ông?
- Dạ không phải là ngày mai mà 20 năm sau cũng được.
- Nhưng lúc ấy lãi suất thế nào?
- Dạ, lãi là ông luôn nghĩ tới hàng cháo này, đấy mới là lãi to.” (truyện kể do St sưu tầm)

Bần đạo đây, thấy tiếc là: phóng viên nọ đặt câu hỏi cho chủ quán câu gì đó, bảo rằng: “Bán cháo từ đời này tới đời nọ, ông có bao giờ nghĩ đến chuyện nhà thờ nhà thánh hay giữ Đạo gì không?” chắc câu trả lời cũng sẽ “ngộ-nghĩnh” lắm, chứ không chỉ mỗi “ngộ-ngộ/nị-nị” như trên.
Nói gì thì nói. Kể gì thì kể. Có lẽ bà con mình cũng nên kể những truyện bình dân ở huyện cho dễ thở là được. Nghĩ thế nên, bần đạo nay mời bạn/mời tôi, ta đi vào vấn-đề bức bách của cuộc đời nhiều sống Đạo như sau:

“Ngôn-ngữ mà người Công-giáo lâu nay vẫn sử-dụng, đã trở-thành thứ đá tảng chẹn họng con người thời nay cũng rất nhiều. Phần lớn các từ-vựng dùng trong Đạo, trên căn-bản, vẫn bị người ở trong cũng như ngoài Đạo hiểu rất sai lạc. Đại để như: hầu hết các cụm-từ lớn tướng như: Ơn cứu-độ, Chúa Cứu Chuộc, Sự Hy sinh, động-tác cứu rỗi, đúng thời buổi, Ăn-năn sám-hối, Lòng Chúa Xót thương, Đền bù tội lỗi, Tha thứ, Tái sinh, Quang Lâm, Thiên Chúa, Đức Giêsu, Kinh Thánh và các từ-ngữ khác như: Kinh Tin Kính, Lời Cầu của Chúa, Phụng vụ Lời, vv.. đều mang lại cho người theo Đạo nhiều nghĩa méo mó, sai lệch từ Thánh Kinh và các truyền-thống trong Đạo.

Hiểu sai ý-nghĩa từ-vựng, là do hai nguồn gốc chính tạo cung-cách khác lạ khiến cho người đi Đạo cứ phải nghe đi nghe lại mãi không ngừng. Nguồn gốc trước tiên, là do việc định danh ngôn-ngữ hiểu theo tâm-trạng người thời-đại gây phương-hại cho cả người đi Đạo cũng như ngoại Đạo. Nguyên-do thứ hai, là việc chú-thích dẫn-giải ngôn-từ của đạo-giáo theo cùng một mẫu-số chung mà tôi gọi là Thiên-Chúa-giáo của người tin vào “thiên-đàng và hoả-ngục”. Và rồi, người trong cuộc lại cứ theo đó để diễn-nghĩa mọi từ-vựng khác vẫn dùng trong Đạo.

Tín-hữu sống ở nước này và cả nơi khác, nay bị chia rẽ cách trầm-trọng do hiểu sai-chệch thứ ngôn-từ chung đụng. Thực tế, nay có khoảng phân nửa hoặc hơn các người Công-giáo ở Mỹ tin rằng ngôn-từ ở Kinh thánh vẫn được hiểu theo từng chữ, nghĩa đen trong khuôn-khổ của thứ thiên-đàng/hoả ngục cốt nhấn mạnh vào cuộc sống ở đời sau; vào việc đền tội có sự tha thứ mọi lỗi phạm; vào Đức Giêsu đã chết cho tội lỗi của con người và niềm tin tưởng như thế. Số người còn lại có khi chỉ phân nửa số người nói ở trên lại cứ bối rối với đủ mọi vấn-đề như thế. Có người lại cứ tiếp tục tiến về phía trước, hiểu đạo-lý theo nghĩa khác khẳn. Sự khác-biệt thật rõ rệt, khác đến độ người ngoài cuộc lại cứ tưởng có hai ba đạo dùng chung một Sách thánh, cả đến ngôn-ngữ cũng khác biệt.

Thành thử, công việc của chúng ta là: làm sao tạo lại được thứ ngôn-ngữ của đạo mà không làm mất đi sự phong-phú và khôn khéo của nó. Quả thật, bản thân tôi cũng từng có ý-định viết nguyên một cuốn sách có đầu đề, tương tự như: Hãy ra tay cứu vớt và tái tạo ngôn-từ trong Đạo… Thế nhưng, cụm từ ‘cứu-vớt và tái-tạo là thứ từ-vựng cần cứu-vớt hơn cả. Trong khi đó, người thời nay mỗi lần nói đến chuyện cứu-vớt hoặc cứu-chuộc lại liên-tưởng đến chuyện mình được Chúa chấp-nhận cái chết khổ hình để cứu-chuộc tội-lỗi của ta. Dù sao đi nữa, thì: ý-nghĩa cổ xưa của kinh-thánh Cựu-ước có tác-dụng hơn cả.

Xem thế thì, cứu-chuộc là động-thái trả tự-do cho những người bị nô-lệ hoặc trói-buộc theo cách nào đó, từ việc bắt-giữ, trói cột, chứ không phải chuyện cứu khỏi mọi tội-lỗi, mà thôi đâu. Hiểu theo nghĩa này, có lẽ ta cần cứu-vớt ngôn-ngữ nhà Đạo trước nhất, làm sao để mình không còn bị ràng buộc vào chủ-thuyết tân-thời chuyên hiểu mọi việc theo nghĩa đen và cứu khỏi khung “thiên-đàng/hoả-ngục” của người Công giáo rất thời đại.

Thế nên, bằng các chương-đoạn không dài, hy vọng những gì viết ra ở đây sẽ chỉ cách cho độc-giả cách đọc sách sao cho có lợi, tức: không chỉ mỗi học-hỏi ý-nghĩa và cách phát-âm nhiều chữ viết, mà là làm sao biết nghe và hiểu được các ngôn-từ đặt ra. Đó, cũng là lý-do thúc-bách chúng tôi viết lên những giòng chữ bên dưới cốt để giúp mọi người biết đọ, nghe và tiêu-hoá tận bên trong mọi từ-vựng trong Đạo mà không cần có ý-niệm tiên-quyết để hiểu rõ sự việc đang diễn tiến. Nói cách khác, vấn-đề của người thời-đại là làm sao học cách đọc và nghe một lần nữa, thứ ngôn-ngữ của niềm tin hôm nay…” (xem Marcus J. Borg, Speaking Christian Why Christian Words Have Lost Their Power and How They Can Be Restored, HarperOne 1989 tr. 1-3)                               

Cảm-nghiệm cùng một ‘giòng chảy’ tư-tưởng theo kiểu Johann Strauss, nay mời bạn và mời tôi ta nghe thêm khúc nhạc đầy ắp những “reo vui”, để rồi sẽ “ngỡ mình vui trong ánh muôn sao Thiên Đàng”. Thiên đàng, nay là ‘giòng đời’ thân thương có người anh/người chị ở Nước Trời, mang nhiều cảm-nghiệm như tiếng hát ở bên dưới:

“Ôi, tóc em hoe như mây chiều rơi, rơi vàng lòng đời.
Ôi, mắt em xanh như đêm dài, để người quên kiếp mai.
Sông về, sông cười ròn tiếng
Yêu mối tình bên bờ thành Vienne
Đôi giang hồ quay về bờ bến
Ngỡ mình vui trong ánh sáng muôn sao Thiên Đàng.
Ngày ấy, có tiếng anh khoan hò thuyền về.
Ngày ấy, có dáng em soi dòng chiều hè.
Ngày ấy, có tiếng ta hát gọi tình về
Nước sông miên man trôi đi.
Ngày ấy, lúc đến với em một lời thề.
Ngày ấy, lúc nói với em một chuyện gì.
Ngày ấy, lúc vui cuộc sống nhịp tràn trề
Nước sông miên man trôi đi.”
(Lời Việt: Phạm Duy – bđd)

Cảm-nghiệm thân thương đầy “tình ý” như thế, lại cũng mời bạn/mời tôi, ta cứ để lòng mình trôi theo “giòng nước” mầu xanh, rồi sẽ bồng bềnh trôi như ‘giòng đời’ của mọi người. Trôi như thế, hẳn bạn và tôi, ta lại sẽ bắt gặp cả một ‘giòng người’ cuồn cuộn chảy theo hình-thức của một hành hương, tham quan, thưởng-lãm kinh-nghiệm đời, kể cũng lạ.
Có điều lạ, là: vừa qua, trong chuyến du-lịch thăm đất miền có tên gọi là “Tây Tạng”, bần đạo đây ra như bị cuốn hút vào những ‘giòng cuốn’ nào đó, khởi đầu là ‘giòng nước’ mầu xanh; rồi đến ‘giòng đời’ mầu hạt huyền; và nay lại là ‘giòng người’ đầy chuyện ‘hành hương’ chốn kinh thành đông người qua lại.
Có chuyện lạ, là: ‘giòng người’ hành hương, đi bộ ở Potola, tại thủ đô Lhasa xứ Tây Tạng mọi ngày, vẫn chẳng thấy ai trầm buồn, sầu đắng hoặc lắng đọng niềm ai oán nào hết. Ngược lại, người dân ở đây cứ hành hương đi bộ theo đường vòng Kora cứ đi là đi mãi không ngừng nghỉ. Họ đi, trong tâm trí tràn đầy ‘ánh dương xôn xao”, an vui, nguyện cầu rầm rì vào mọi buổi.
Hành hương hoặc hành trình có nguyện cầu, chỉ mỗi thế. Hành hương như thế, chỉ nguyện và cầu cho mọi người khác không chỉ gia đình mình được an vui, bền chí làm việc thiện với mọi người, cho mọi người.
Thế đó, là hành hương đi bộ kiểu Kora của người Tạng, xứ miền rất Tây. Còn, sự việc hành hương của người mình có giống vậy không? Tức là: phải đặt chân tới đúng tận nơi tận chốn đã xảy ra sự-kiện lịch sử, của một nhà tổ-chức các cuộc tham quan du-lịch như sau:  

“…Tôi đã gặp những chuyến hành hương Đất Thánh mà người hành hương không vào được trong Mộ Chúa, không được dâng lễ dưới chân Thánh Giá trên Núi Sọ. Tôi cũng gặp những người đến Bêlem phải xếp hàng cả tiếng đồng hồ, chỉ được vào vài giây kính viếng chỗ Chúa Giáng Sinh rồi phải ra ngay. Đến Mộ Chúa mà không đủ giờ xếp hàng vào. Lý-do: Các Tour ở hotel ngoài Thành Thánh. Nếu phải lấy xe búyt đến những nơi Đền Thánh này thì riêng chuyện kẹt xe sáng, chiều cũng mất biết bao thời gian. Đấy là lý-do vào đế Đền Thánh thì các Tour khác đã xếp hàng chờ rồi…   

Tôi chủ trương phải tìm cách ở trong Thành Thánh để có thể đi bộ được. Sáng sớm các Tour du lịch chưa bắt đầu thì mình đã ở trong Mộ Chúa. Khi các Tour phải về hotel vào ban chiều thì mình lại đi vào. Tất cả các chuyến đi từ trước đến nay, tôi đều đem được người hành hương vào Vườn Giệtsimany vào ban đêm để canh thức với Thánh Thể. Đây là kỷ-niệm tuyệt vời. Cảm-nghiệm này rất hiếm vì ít Tour nào thực-hiện được. Vì mục-đích của tôi là đi hành hươg để cầu nguyện ở những nơi thánh…” (x. nguyentamthuong.com, Đặc biệt của chuyến hành hương)

Nói thế, tức đức thày-chuyên-tổ-chức-hành-hương đã gặp nhiều người tổ-chức và đích-thân hành-hương ở đây đó, có gặp nhau trong yêu thương, đỡ dần để nguyện cầu cho nhau như người “Tạng” đã và đang thực hiện ‘giòng người’ đi bộ bên nhau? Bởi hành hương, theo quan-niệm của người Tạng là để nguyện cầu cho nhau hoặc chỉ cười với nhau qua câu “Khasi đêlê” (“Hello!”) vui vẻ; rồi cùng nhau tiếp tục đi nhiều vòng Kora thương yêu hơn nữa theo kim đồng hồ quanh đền đài Potola yêu dấu của họ.
Nói như thế, thì có hành hương hay hành xác hành hình người mình ít nhiều gì đi nữa vẫn chỉ như tác-giả nọ từng minh-định cuộc đời mình và đời người như sau:

“Những điều tôi viết ra ở đây, là hỏi rằng: Trọng tâm của Đạo Chúa nằm ở đâu? Sống đời đi Đạo, ngày nay có nghĩa gì? Tôi sẽ tập trung trả lời cho các câu hỏi này, bằng cách đưa ra tầm nhìn ban đầu của Hội thánh thời tiên khởi và sau đó đi đến thị-kiến chung đang dâng lên nơi người có Đạo và đi Đạo… Cả hai, đã và đang thấy hiện hữu nơi cộng-đoàn hội thánh ở mạn Bắc Hoa Kỳ ngày hôm nay đang chia cách rất đậm nét. Chúng ta đang ở vào thời đại đầy những xung-khắc và đổi thay, trong Giáo hội.

Tôi viết theo tư-cách của một người đầy mê say và xác tín. Thứ xác tín vẫn bảo rằng: Đạo Chúa ngày nay vẫn tạo ý-nghĩa rất nhiều cho cuộc đời. Cả vào thời của tôi, niềm xác tín này vẫn hiện-diện và phát-triển. Khoảng chừng hai chục năm nay, từ ngày tôi mới ở tuổi “teen” đến năm tôi hơn ba mươi tuổi, Đạo Chúa không tạo nghĩa gì nhiều lắm đối với tôi. Phần lớn vì các lý-do tinh-thần nhiều hơn,  hình thức đi Đạo tôi học được từ thời nhỏ, đã cạn dần sự say mê thuyết-phục.  Nay có lúc, tôi đã xác tín rằng: muốn trở thành người Công-giáo đích-thực, sẽ không còn nhiều rào cản về tinh-thần hoặc trí-thức nữa. Nay ta đã có cái nhìn Đạo Chúa theo cách thức đầy thuyết phục gồm tóm nhiều ý-nghĩa của cuộc sống theo nghĩa rất rộng, thứ cung-cách nhìn thực-tại và cuộc sống của ta trong tương-quan với những gì có thực. Một cung cách nhìn biết Chúa, có tương-quan mật-thiết với Chúa để rồi sẽ còn thay đổi đời mình nhiều hơn nữa. Sự hy sinh mà Đạo Chúa đòi hỏi nơi chúng ta, cuối cùng sẽ là đòi hỏi sự hy-sinh nơi người trí-thức, rất hiểu biết…”   (x. Marcus J. Borg, The Heart of Chirstianity, Rediscovering a Life of Faith, HarperOne 2003, tr. xi-xv)          
  
Nói gì thì nói. Kể gì thì kể. Ở đây, bạn và tôi, ta vẫn nói và vẫn kể về đời người sống Đạo giữa đời, ở đó luôn có những cuộc lữ-hành trong đời mà người thời nay hay gọi là “hành hương, hành xác hoặc hành gì thì cũng thế.
Hành hương hay lữ lành, cũng là sinh-hoạt phù-hợp với thói quen và lập-trường sống của người đi Đạo và giữ Đạo thời của Chúa, từng đề-cập đến những điều như sau:
      
Hằng năm,
cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem
mừng lễ Vượt Qua.
Khi Người được mười hai tuổi,
cả gia đình cùng lên đền,
như người ta thường làm trong ngày lễ.”
(Lc 2: 41-42)

Đặc biệt hơn, Tân Ước lại nói rõ về việc này, theo kiểu mô tả rất Luca như:

“Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành,
nên sau một ngày đường,
mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc.
Không thấy con đâu,
hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm.”
(Lc 2: 44-45)

Nói gì thì nói. Kể gì thì kể. Nói và kể về các cuộc “lữ-hành” mà người đời nay gọi là “hành hương”, thường là tìm về Giêrusalem hoặc nơi nào đó còn giữ được tinh-thần của Tân Ước, rất thân thương. Hành hương thân thương, không là “lữ hành” về quê hương yêu dấu của Đức Giêsu mà thôi; nhưng còn là tìm về quê hương an bình của mọi người, nơi tâm hồn.
Ở “quê hương” thân thương đó, vẫn luôn có tình thân rất mến mộ mà người đời nay vẫn trân trọng. Tình thân thương mến mộ cuộc lữ hành mà bần đạo nay gặp được sau chuyến tham quan/thăm thú xứ miền xa xôi rất đất Tạng, là xứ miền chất ngất tình thân thương, mến mộ của người Tạng ở phía Tây, lâu nay chuyên chở tình-tự “hành hương Kora” thương mến rất khó quên.
Nói thế rồi, nay đề nghị bạn, đề nghị tôi, ta lại sẽ hiên ngang cất tiếng ca vang ý-lời mà nghệ sĩ họ Phạm từng trân trọng đặt lời Việt cho bản hát rất Sông Xanh, rằng:

“Một giòng xanh xanh,
một giòng tràn mông mênh,
Một giòng nồng ý biếc, một giòng sầu mấy kiếp
Một giòng trời xao xuyến, một giòng tình thương mến
Một giòng còn quyến luyến, một giòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền.”
(Lời Việt: Phạm Duy - bđd)

            Hát thế rồi, nay lại mời người đọc cứ thế mà tưởng nhớ đến những ‘giòng chảy’ xuất từ ‘giòng sông’ rất xanh, ngang qua ‘giòng đời’ cũng rất hanh thông và cuối cùng sẽ về với ‘giòng người’ hành hương/hương hành một hội ngộ, rất thân tình. Ở đời.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Cũng từng thân tình hành hương
            nguyện sẽ mãi mãi lữ hành
            qua giòng chảy thân tình,
cũng rất xanh.