Saturday, 13 September 2014

“Cơn mưa phùn, bay qua thành phố nhỏ”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 24 mùa Thường niên năm A 14-9-2014

“Cơn mưa phùn, bay qua thành phố nhỏ”
Hàng cây dật dờ, rụng hoa tàn úa
Buồn chìm vào mắt đen, người con gái hát một mình
Bài hát, buồn như cuộc tình”.
(Đức Huy – Cơn Mưa Phùn)

(Lc 24: 32)
            Có nhiều lần, người đọc lại cứ viết thư về hỏi bần đạo, những câu như: “Sao anh chỉ mỗi trích-dẫn và cho nghe các bản nhạc buồn, làm day dứt tâm hồn người đọc đến thế?” Nghe hỏi, “tác thiệt” (chứ không phải “tác giả”) là bầy tôi đây, chả biết trả lời sao cho phải phép. Chỉ biết ba lăng nhăng nói theo kiểu “Ba bụi” rằng: “Đã là mưa phùn, thì làm sao vui cho được!”
Thôi thì, xin hẹn với bạn đọc, sẽ có ngày bần đạo bầy tôi cũng chiều ý các bạn rất không “độc” (nhưng vẫn gọi là “độc-giả”) bằng thơ văn/âm nhạc khá vui vui, cho khoẻ lòng người đi Đạo. Nhưng, từ nay đến ngày ấy, vẫn xin bà con ta nghe tiếp đoạn nhạc rất “bình bình” như sau:

“Một sớm mai thức dậy.
Tình yêu rời chăn gối.
bay theo những cơn mưa phùn.
Làm cánh chim bé nhỏ.
Chiều nay nhiều mây xám.
Bay theo những cơn mưa phùn, lạnh lùng”.
(Đức Huy – bđd)

Vâng. Quả là, nhạc của tác giả Đức Huy có nhiều bài vui cũng “hết biết”. Nhưng kiếm được những bài như thế, cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Hệt như khi: nói đến chuyện đạo, mà toàn kể chuyện “buồn như con chuồn chuồn bay trong mưa”, thật hết ý.
Thôi thì, (lại cũng thôi rồi thì, và hết thì rồi lại thôi), vâng! Thôi thì thôi bạn đọc từng nghe bầy tôi đây xin hai chữ “đại xá” để còn tìm đề-tài mà “múa bút” cho vui một đời người. Xin rồi, nay lại ới gọi: hỡi bạn và tôi, ta hãy về với đề-tài chủ-lực  vừa đặt, để còn phiếm. Vậy thì, trước hết, xin phiếm đôi ba chuyện rất “không buồn” bằng truyện kể nhỏ ở xứ Đạo nọ, rất ư là “cơn mưa phùn” rơi lộp bộp như sau:

“Linh mục trọng tuổi nọ ở trời Tây được bổ về xứ đạo khá ư là “hết biết” (!). Mỗi khi ngồi tòa, linh mục mình nghe tín-hữu xưng thú quá nhiều tội ngoại-tình đến phát khùng, bèn nghĩ bụng: “Sao con chiên xứ đạo mình bê bối thế?” Và rồi, trong một buổi giảng ở nhà thờ, cha/cố nhà mình bèn nhắc mọi người, rằng: "Kể từ nay, nếu tôi còn nghe anh chị em xưng tội ngoại-tình nhiều đến thế, tôi thề sẽ bỏ giáo-xứ đây về lại bổn dòng của tôi, đấy!".

Ban hành-giáo nghe thế, bèn triệu-tập buổi họp “khẩn” hầu tìm biện-pháp giải-quyết. Cuối cùng, tất cả đồng ý là: hễ ai xưng tội ấy ấy thì cứ nói là: con bị “té”, đại khái như sau: "Thưa cha, trong thời gian qua, con bị té .. những 4 lần, vv… và vv…”

Thời gian trôi mau, Linh Mục trọng tuổi ở trên, chẳng còn dịp để phải nghe tội "ngoại tình" nào hết, nên cả xứ đều vui vẻ, ai đi đâu thì cứ đi, ai té nhào chỗ nào thì cứ...té. Thế rồi một ngày nọ, Linh Mục trọng tuổi qua đời, một linh mục trẻ khác được bổ về thay thế để coi xứ. Một hôm, linh mục trẻ hỏi ông chủ tịch Hội Đồng Giáo Xứ một câu cũng khá khó: “Này ông chủ tịch, xứ ta đường xá thế nào, mà sao giáo dân mình cứ bị té ngã hoài vậy ông?” Ông chủ tịch không tài nào nín cười được, định bụng nói hết sự thật cho cha/cố nghe, nhưng thấy ngại. Chợt thấy ông chủ tịch cứ cười trừ chẳng trả lời gì, linh mục trẻ bực mình hỏi: “Ông cười gì thế?” Tuần rồi, vợ ông xưng là bà ấy bị té đến mấy lần đấy!” (trích truyện cười trên mạng, rất ác ý ở Phương Tây).


Và, viết về “cơn mưa phùn” mà lại thêm truyện kể về “té ngã” đến là thế, cũng hết biết. Và, chắc chắn là truyện kể ở trên chỉ xảy ra ở trời Tây chứ không là chuyện của người Việt mình.Thôi thì, xin bạn đọc và cả các bạn-không-đọc bỏ qua cho câu chuyện tiếu-lâm chay/mặn, để rồi còn đi vào vấn-đề tuy khô-khan, nhưng không té ngã. Vấn-đề hôm nay ta bàn là…, nhưng trước khi bàn-bạc, đề nghị thêm lần nữa, ta hát bài “Cơn Mưa Phùn” của Đức Huy thêm nữa, với những câu, như:

Cơn mưa phùn, bay qua thành phố nhỏ.
Đèn đêm lặng lờ, gục trên đường phố.
Một ngày, buồn đã qua.
Người con gái khóc một mình.
Đời úa tàn theo cuộc tình.
Buồn, chìm vào mắt đen.
Người con gái, hát một mình.
Bài hát, buồn như cuộc tình”.
(Đức Huy -  bđd)

“Bài hát, buồn như cuộc tình”? Chao ôi, có thật như thế không đấy? Có hay không, thì ai mà biết được! Thôi, điều đó cũng chẳng thành vấn-đề. Vấn-đề chỉ thành, khi bạn và tôi, ta đọc tiếp những giòng viết, có điều cần bàn là: nhận-định của nữ-phụ nọ cũng khá lạ, như sau:

“Tôi rất ghét phải làm mẹ, đến ghê hồn. Nếu quý vị chưa từng nuôi con nít, thì tôi đề-nghị quý vị hãy suy cho kỹ, rồi mới tính. Mấy cái quảng-cáo trên truyền-hình, chỉ gạt gẫm bà con mình, thôi. Mọi sự không êm ả như chuyện thần-tiên ta vẫn kể cho con nít trước khi đi ngủ đâu! Mấy đứa con của tôi thuộc lứa tuổi từ chập-chững biết đi đến tuổi đi nhà trẻ. Ấy thế, mà chúng cứ cãi vã rồi đánh nhau, la hét um sùm hết đòi cái này lại bỏ cái kia cứ suốt ngày, chịu không nổi. Tôi thì đành nói câu: “bó tay chấm cơm” thôi. Hết chịu nổi rồi. Chắc trên đời này, chẳng ai dám “bật mí” kể cho quý vị nghe/biết về chuyện làm mẹ nó khủng-khiếp biết chừng nào, đâu nhỉ! Vâng, không ai rỗi hơi đâu. Phần tôi, thì qúa sức rồi: đêm đã không ngủ được chút nào, mọi giây thần-kinh trong đầu lúc nào cũng bị bắn phá vì những trận la hét hoặc khóc thét, rồi cãi cọ khiến người làm mẹ như tôi cứ phải giảng-giải rồi xoa dịu hoặc làm mọi cách để “mặt trận miền Tây còn yên tĩnh”, những là 24 tiếng suốt 7 ngày tròn. Thú thật là giờ giấc lao-động buộc mọi bà mẹ phải bỏ ra để trở-thành vợ hiền, người mẹ lý-tưởng cũng rất bất nhân, đấy quý vị ạ!” (trích dẫn từ một phát-biểu rất tương-phản ở đâu đó)

Sự thật trên đời làm người mẹ, có khủng khiếp như thế không? Có con nhỏ, phải chăng là việc tồi-tệ nhất trên đời sao? Phải chăng bắt các bà mẹ làm tôi mọi cho con cái, như vừa kể có cướp đi tự-do của mỗi người không? Không đâu. Làm mẹ, là một trong những việc tốt đẹp nhất chưa từng xảy đến với phụ nữ.

Lấy trường-hợp bà mẹ Lupita của tôi, là người phụ nữ hiền-hậu, xinh đẹp lạ có duyên thế mà bà cũng có đến 11 đứa trai và 5 con gái, ở lớp tuổi từ 28 xuống 8, vậy mà bà chưa một lần hối hận vì làm mẹ. Có thể, tôi là con gái “rượu” của bà, nên đã thiên-vị chăng. Nhưng, tôi vẫn tin là: mỗi lần sinh con đẻ cái như thế, mẹ tôi càng đẹp ra, và càng hấp-dẫn và bà càng mở lòng từ-tâm đối với từng đứa con của bà theo cách đặc-biệt của người mẹ. Mẹ tôi nay đã quá tuổi mang-nặng-đẻ-đau rồi, nhưng nếu còn khả-năng, bà vẫn chịu sinh thêm như thường. Đến nỗi, cả mẹ tôi lẫn bố tôi đã từng hơn một lần có ý-định nuôi con nuôi, nữa đấy! (xem thêm Maria Irizar, More than enough love to go around, MercatorNet, 25/6/2013)

Đúng như đầu đề bài viết đã nói lên hết ý-tứ của người diễn-tả những ý và những từ, ở trong đó. Quả thật, các ý/từ của mọi người có diễn-lộ ra bên ngoài, cũng đều tùy thuộc thứ tình thương-yêu mình đặt vào mỗi người, mỗi câu chuyện, ở đời.
Hệt như, trong mọi tư-duy về Đạo, người đi Đạo đều liên-tưởng đến tình thương yêu luôn xuất hiện ở mỗi sự việc, từ những suy-tư, học hỏi cho đến hành-xử hoặc công việc lao-động mình thể-hiện. Chẳng thế mà, khi trở về với Lời Chúa và lời Kinh ta đọc, sao bạn và tôi, ta vẫn thấy lảng vảng trong đầu mình, ý/tứ của Lời Chúa nơi câu nói được thánh-sử Luca ghi như sau:

“Họ mới bảo nhau:
‘Dọc đường, khi Người nói chuyện
và giải thích Kinh Thánh
cho chúng ta,
lòng chúng ta đã chẳng
bừng cháy lên sao?"    
(Lc 24: 32)             
  
            Quả, thật rất đúng. Đúng, như nhận-định của thánh-sử viết Tin Mừng: lòng người bừng cháy khi nghĩ và nói những điều tốt đẹp từ Tin Mừng Lời Chúa. Chính các thánh-sử cũng đã nhiều lần khẳng-định: “Thiên Chúa là Tình-Yêu.”
Nên, khi nghĩ và làm những điều tốt đẹp trên đời, ta đều có động-lực do Tình-Yêu thúc-đẩy. Không tình-yêu, chẳng ai làm được điều gì nên chuyện. Tệ hơn nữa, khi chỉ có tình-yêu một chiều, người người cũng sẽ rơi vào trạng-huống như thi-nhân họ Trịnh từng viết cho người mình yêu, đôi giòng sau đây:

“Anh nhớ lại đời mình.Anh đã nổi trôi qua bao nhiêu vùng, bao nhiêu miền đất khác nhau. Làm sao quên được nỗi bàng hoàng đong đưa mình trên từng sợi mưa xám bạc, qua bao nhiêu miền đồi núi khác nhau. Anh làm chứng nhân trên từng phần đất mới của mây, mưa, nắng gió. Ôi làm sao không buồn hở Ánh, hở em. Bao nhiêu nguyên-liệu thời-gian không gian đó đã chất-chứa trong anh làm thành một tiếng hát ngút ngàn ca tụng vực thẳm huy hoàng của khốn cùng. Mà số phần thì càng hẩm hiu và sự khắc nghiệt càng đẩy xa mình đi vào những vùng heo hút…” (xem thêm Trịnh Công Sơn, Thư Tình Gửi Một Người, nxb Trẻ, 2012 tr. 53-54)

À thì ra, “cơn mưa phùn” cuộc đời cũng đã rơi trên người người những “hạt” buồn, như lời thơ mang nhiều ý-tứ, vẫn cứ hát:

Cơn mưa phùn,
bay qua thành phố nhỏ.
Đèn đêm lặng lờ,
gục trên đường phố.
Một ngày, buồn đã qua.
Người con gái khóc một mình”.
(Đức Huy – bđd)

Khóc nhiều ở đây, thật ra không là “người con gái khóc một mình”, mà chính là những ai/những người con trai cùng con gái, cứ nhớ lại “một ngày buồn đã qua..” trong cuộc đời mình.
Khóc nhiều ở đây, không chỉ mỗi “người con gái khóc một mình” mà thôi. Nhưng còn là những ai và những người không thể hiện được tình thương-yêu với người khác.
Khóc nhiều ở đây, còn là khóc cho người và cho mình, như bậc thày nhà giáo ở trơi Tây nước Úc, cũng từng có những cảm-nghiệm khi viết thư gửi một người nổi tiếng mà ông tách riêng tên của người ấy thành Tiến sĩ Go Ogle, tức người có tên rất quen trên mạng Google, như sau:

“Tiến sĩ Go Ogle thân mến,
Thật cũng là điều hay và rất tốt để ta gặp nhau qua tách cà-phê đậm đà, và cũng không cần liệt kê nguyên danh-sách gồm 1400 tiệm cà-phê phục vụ cho 250 nhãn-hiệu khác nhau với giá cả rất khác biệt chỉ để ta có được cuộc chuyện trò, thế này đây.    
Với lòng trân trọng sẵn có, tôi chưa từng thấy ai lại quá vất vả với những chuyện nhỏ như ông từng làm. Khi tôi dùng hình-dung-tự “vất vả” để diễn-tả về ông, thì xin ông cũng đừng nên quay về lại danh sách 895 địa điểm thể-dục/thể-thao địa phương. Trong khi chúng tôi ở nơi này, thấy có đến 470 tiệm giặt ủi có đăng ký đàng-hoàng, thành thử, ta cũng không nên gọi đó là “chuyện nhỏ” nào đó dù rất thực, hầu hồi-đáp cho đúng mức.
Tôi thật lòng cảm kích khi thấy ông tạo nhiều điều lợi  giúp thêm hiểu biết cho nhiều người.  Tên gọi khá lạ của ông đến từ cách sao đó mà người sử dụng đi và đến với " Ogle", để rồi quay trở lại với ông về những dữ kiện và phần lớn là những câu theo kiểu đố vui để học. Chẳng hạn như: khi cần câu trả lời với câu hỏi: " đâu là / tên thủ đô của nước Uzbekistan?"  Hoặc " hàm răng nào lớn nhất thế giới?" Đặc biệt hơn cả là, là khi cả triệu người trên thế giới cứ trông chờ nơi ông để thấy được diện mạo của công-nương Kate Middleton, chắc ông cũng tự hỏi là:" sao mà thiên hạ lại cứ bận tâm những chuyện 'lá cải' như thế nhỉ? "
Mỗi ngày,ông phải giải-đáp có đến cả tỷ câu hỏi, nhiều hơn cả các thày giáo tiêu-biểu nhất trong trường lớp, nữa. Xem ra, cả thế-giới từng muốn biết về Lady Gaga và nghệ-sĩ Liz Hurley, và Tom Cruise, nữa đấy. Ông lại có được con số cũng gần đúng, khi có người hỏi về số người chết mỗi ngày vì chứng suy-dinh-dưỡng. Lâu nay, ông từng tỏ cho tôi biết là ông thường tự tạo ra câu giải-đáp, rất như thế. Ông trở thành người danh tiếng đến độ mọi người đều chấp-nhận những gì ông nói ra.
Quan-hệ tôi có với ông, thưa Tiến sĩ Go Ogle, đặt căn-bản trên sự-kiện là: nếu ông hỏi tôi và mọi người những câu hỏi nào đi nữa, thì bình thường ra, bao giờ tôi cũng đáp lại là: “Tôi cũng chẳng biết nữa!” Ông thấy chuyện này ra như làm khó và khiêu khích ông, nữa. Vì, ảnh-hình và lòng tự-trọng do chính ông tao ra luôn đến từ sự việc cho thấy: ông là người hiểu biết cũng khá nhiều điều. Có điều là: ông chẳng bao giờ biết được mẹ cha của ông là ai, bởi: việc ông sinh ra là do kết-quả từ một gặp gỡ giữa viên-chức chuyên lo về tiếp-thị và một loạt những bài tính algôrít, rất đặc-thù. Ông có thể kể ra cả ngàn người từng nói câu: “Tôi cũng chẳng biết nữa!”, nhưng tự chính ông, ông không thể nói câu ấy ra ngoài miệng, được.
Ông làm tôi nhớ chuyện một người lang-thang ngoài phố chợ vì không nhà ở, mà tôi từng bỏ ra nguyên buổi sáng với anh ta. Anh giải-thích cho tôi hiểu từng chi tiết về sự đau-khổ mà cả trăm người từng chấp-nhận chịu dồn cục trên chiếc máy bay airbus A380, cũng như các khó khăn mà nền kinh-tế hiện-đại đang gặp phải, và về mẫu mã tạo cho chiếc nệm có lò-xo ở trong. Anh kể cho tôi biết hết mọi chuyện, nhưng chỉ thiếu một điều là anh chẳng có bạn bè gì hết. Và, anh cũng chẳng nhớ rằng mình đã bỏ chiếc mũ trùm đầu và chiếc áo khoác ngoài của mình ở đâu hết.
Tôi hiểu ra là: những chuyện tương-tự lại cũng đến với ông. Cuộc sống vào thời này ai cũng phải giáp mặt với các ám-ảnh cùng nỗi ưu-tư do thế-giới ngày nay mang lại, đến độ nó ngày càng trở nên giống như quả bóng bằng len cứ rối tung, không cuộn lại được. Hãy thử nghĩ một người như Mark Twain kia lại cũng là người được hỏi những câu vặn vẹo, thì khi đó ông ta chắc cũng đã nói: “Tôi có được nỗi vui mừng là có khả-năng trả lời rất nhanh chóng một câu, là: Tôi không biết!”
Giáng Sinh, là mùa lễ đặc-biệt căng-thẳng đối với ông, không chỉ vì đó là thời-gian rối bời nhất với mọi người, mà còn vì Ông Già Tuyết ngày một già-khụ, nên đã giao-phó mọi công việc nặng-nhọc của lão cho ông, thôi. Riêng ông, ông vẫn được mọi người trông đợi những chuyện mà chỉ có trời mới biết kiếm đâu ra thật nhiều quà cáp –từ đồ chơi cho đến giấy vệ-sinh cho bọn nhỏ-  rồi còn phải so-đo giá cả, và đảm-bảo là hàng giao tận tay, tại nhà, rất đúng hẹn. Quả là, một việc gây nhức đầu đến khiếp sợ. Trong khi đó, chả có ai buồn nghĩ đến việc tặng cho tiến sĩ Go Ogle bánh ngọt, bánh kẹp hay bánh gì đó, dù to dù nhỏ. Ông Già Tuyết khi ấy chỉ tìm chỗ mát dưới lùm cây mà sắp xếp quà cáp cho bọn nhỏ, thôi. Và khi ấy, ông đây thường chỉ nhận được nhiều lắm là quả táo xanh kiểu Mac Kintosh, là cùng.
Đúng đấy. Giáng Sinh có thể cũng là cánh cửa mở ra chân trời mới/thế giới mới nào đó, thật tốt tươi. Điều này xảy đến là vì khi Hài Nhi Giêsu sinh ra lại là lúc thiên-hạ đem nhiều câu hỏi đến độ không có con toán “algôrít” nào có khả-năng giải-đáp cách trọn vẹn được. Một số câu hỏi thì chỉ có trong Sách Phúc Âm, thôi. Nhưng, sao sự việc trên đời lại xoay chuyển đến độ thế? Sao tôi được trân trọng đến như thế? Hài Nhi đây, khi ấy, sẽ ra sao? Và đâu rồi, Hài Nhi Vua dân Do-thái ở nơi đâu? Và, một câu hỏi sâu sát hơn đến với ta, là: khi, giống như Đức Maria, sự việc trên có khiến ta trầm-tư suy-nghĩ tận tâm-can hơn màn hình vi tính? Và, câu hỏi khác nữa, là: sao Hài Nhi đây từng sinh-hạ trong cảnh nghèo khó, lại trở-thành chìa khoá mở ngỏ mọi hiểu biết về con người? Sao Chúa lại gỡ bỏ cả một thế-giới rối bời như thế bằng việc sử-dụng những người chỉ biết chạy đến với nhau và với Ngài, để có được câu giải-đáp?
Đó, chỉ là đôi câu xin gửi đến ông với lòng trân-trọng.
Michael McGirr
(xem Michael McGirr, A Letter to Dr Go Ogle, Australian Catholics Chrsitmas 2012, tr.12)

Viết thư như thế, mà lại gửi cho tiến sĩ GoOgle, khác nào người viết đã trút “Cơn Mưa Phùn” đầy hỏi-han lên đầu ông, cho tươi mát? “Mưa Phùn” đây, giống thứ “nước thánh” dội lên đầu đấng bậc vị vọng cứ tưởng là thánh-nhân/hiền-lành rất đáng mến, nhưng chả bao giờ được phong cả.
“Cơn Mưa Phùn” đầy thánh-hoá (tức: thánh quá đọc kiểu Nam-kỳ) thì cũng nên phong cho Ts Google, là người mà bần-đạo được nghe biết câu chuyện đối-thoại qua/lại giữa Gm Nguyễn Văn Long ở Melbourne, Úc Châu với thành-viên An-phong Sydney hôm ấy. Hôm ấy, là ngày Giám-mục mình phong linh-mục cho 5 phó tế Dòng Chúa Cứu Thế (chứ không phong thánh), lại đã hỏi: “Là người viết nhiều như anh, có điều gì mới mẻ không thế?”
Nghe hỏi, thành-viên nọ bèn nhớ về chuyện “Cơn Mưa Phùn” ơn-huệ, đã nhanh chóng trả lời: “Dạ có đấy, thưa Đức cha! Lâu nay, Giáo Hội “lạm-phát” phong-thánh cho nhiều đấng, mà dân con mình cầu mãi vẫn chẳng được gì; bèn chạy đến với thánh (?) Google để nhờ vả và hỏi han, ngay giữa đêm, đã được lập tức trả lời, rất mãn nguyện. Vậy, sao ta không phong thánh cho Google nhỉ? Thánh-nhân là gì, nếu không là đấng làm mọi người toại nguyện, khi có việc đến kêu hoặc cầu?...”
Nghe hỏi, Gm Nguyễn Văn Long thuộc Giáo-phận Melbourne, Úc chỉ cười vui vẻ, như thể bảo: “Có lý đấy chứ, hỡi nhà văn/nhà báo An Phong mình!”
Trả lời thế, há nào bảo: “Cơn mưa phùn” đời người cũng đem theo nhiều huệ-lộc từ đâu đó, mà người nhận biết được người ban tặng ngay tức thời. Người ban tặng “Cơn Mưa Phùn” nào cũng thế, có khi chỉ là người bình thường, như bà mẹ chân-phương, hiền-từ vẫn muốn con mình được nhiều “Cơn mưa ân-huệ từ chốn cao tít nhiều mây tầng vần vũ, rất thiên nhiên.
“Cơn mưa phùn” chốn hiền-từ, cũng có thể là cơn mưa lất phất, rất hiền hoà, như tình-tự của ai đó gửi gắm trong truyện kể ở đời người, như sau:

“Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường Đại Học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường ĐH này, thì những trường ĐH như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ…”.
Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân thập thễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những bột mì này có được nhờ mẹ đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm, chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân.
Bưng bát mì, tôi đã khóc. Tôi buông đũa quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao của mẹ, nước mắt rơi xuống đất… Nhà tôi ở Thiên Tân, làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, tôi có một người mẹ tốt nhất thế gian tên là Lý Diệm Hà.
Nhà tôi vô cùng nghèo khó. Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi, tôi bốn tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại, những món nợ trong nhà lớn dần theo năm. Khi bảy tuổi, tôi được đi học, học phí là mẹ vay người khác.
Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì bạn bè vứt đi, dùng dây buộc nó lên một cái que rồi viết tiếp, hoặc dùng một cái dây chun xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó, mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc đi vay vài hào của hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi.
Nhưng cũng có những khi mẹ vui vẻ, là khi bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm. Dưới sự khích lệ của mẹ, tôi càng học càng thấy ham thích. Tôi thực sự không hiểu trên đời còn có gì vui sướng hơn được học hành.
Chưa đi học lớp một tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm; khi học Tiểu học tôi đã tự học để nắm vững Toán Lý Hoá của bậc Trung học Phổ thông; Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc Trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu.
Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà. Nào ngờ, khi tôi báo tin vui cho cả nhà, mặt bố mẹ chất chứa toàn những đau khổ; bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang gần kề cái chết, nhà tôi đã mắc nợ tới hơn mười nghìn Nhân dân tệ rồi. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt như mưa suốt một ngày.
Đến tối, tôi nghe thấy ở ngoài nhà có tiếng ồn ào. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng ba tôi không chịu. Tiếng ồn ào làm ông nội nghe thấy, ông đang bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ an táng ông nội, nhà tôi lại mắc thêm vài nghìn tệ tiền nợ nữa. Tôi không còn dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất “Giấy báo nhập học” thật kỹ vào vỏ gối, hàng ngày tôi ra đồng làm việc cùng mẹ.
Sau hai hôm, tôi và ba tôi cùng lúc phát hiện ra: con lừa con biến mất rồi. Ba tôi sắt mặt lại, hỏi mẹ tôi: “Bà bán con lừa con rồi à? Bà bị thần kinh à? Sau này lấy gì kéo, lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?”
Hôm đó mẹ tôi khóc, mẹ tôi dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để gào lại ba tôi: “Con cái mình đòi đi học thì có gì sai? Nó thi lên được trường số 1 của thành phố nó là đứa duy nhất của cả huyện này đấy, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho nó đi học…”
Cầm sáu trăm tệ mẹ vừa bán lừa, tôi thật sự chỉ muốn quỳ xuống dập đầu trước mẹ. Tôi đã thích được học quá rồi, mà còn học tiếp, thì mẹ sẽ khổ sở bao nhiêu, vất vả bươn chải thêm bao nhiêu?
Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy mặt ba tôi vàng như sáp, gầy da bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ bình thản bảo: “Có gì đâu, bị cảm, sắp khỏi rồi”. Ai ngờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của ba, thì thấy đó là thuốc ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển.
Tôi kéo mẹ ra ngoài nhà, khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào, mẹ bảo, từ sau khi tôi đi học, ba bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên. Mẹ vay sáu nghìn tệ đưa ba lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là u nhu ruột bowel polyps, bác sĩ yêu cầu ba phải mổ gấp. Mẹ chuẩn bị đi vay tiền tiếp, nhưng ba kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa!
Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp nguyên thuỷ và bi tráng nhất để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to.
Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối quỳ còn chảy máu, đi đường cứ cà nhắc… Không đợi hàng xóm kể hết, tôi chạy như bay về nhà, khóc to gọi mẹ: “Mẹ, mẹ, con không thể đi học nữa đâu”. Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường.
Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ 60 đến 80 tệ (tương đương 120-160.000 VND), thật thảm hại nếu so với những người bạn học khác mỗi tháng có 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng đồng, có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm vài đôi chục. Mà cha tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa.
Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì tôm với giá bán buôn. Rồi mỗi cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ ra một xưởng in ngoài thị trấn cách nhà 6km để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. (Cắt tóc nam rẻ nhất Thiên Tân cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn).
Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi, chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra, chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài. Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng, khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (alkali – chất kiềm, dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa) là xong. Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ, làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào.
Hồi mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi ù cạc. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh thế nào, ai ngờ mẹ chỉ cười bảo: “Mẹ chỉ biết con là đứa trẻ con khổ cực nhất, mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa.”
Tôi hơi bị nói lắp, có người bảo, học tiếng Anh đầu tiên cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy tôi thường kiếm một hòn sỏi ngậm vào miệng mình, rồi gắng đọc tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi tôi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng để kiên trì.
Nửa năm trôi qua, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn đi, lưỡi tôi cũng đã nhẵn, tiếng Anh đã thành người giỏi thứ 3 của lớp. Tôi vô cùng cảm ơn mẹ, lời mẹ khích lệ tôi vượt qua khó khăn lớn trong học tập. Lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic toàn Trung quốc môn Vật lý.
“Đoạt lấy chiếc Cup giải Nhất toàn Trung quốc tặng mẹ, rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới!” Tôi không ngăn được nỗi khao khát trong lòng, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Kết quả, tôi chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, không ăn không uống.
Dù tôi là người đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân đi thi, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng! Tôi về trường, các thầy ngồi phân tích nguyên nhân thất bại cho tôi thấy: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, những mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng. Nếu giờ tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định tôi thắng.
Tôi cuối cùng đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia, cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế.
Nộp xong phí báo danh, tôi gói những sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ lại, chuẩn bị lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo thải của người khác cho, những thứ áo quần màu sắc chả đâu vào đâu, kích cỡ khác nhau, bèn mở tủ áo của tôi ra, chỉ vào những áo trấn thủ vá, những áo bông tay đã phải nối hai lần, vạt đã phải chắp ba phân, hỏi tôi: “Kim Bằng, đây là tất cả quần áo của em ư?”
Tôi chả biết nói sao, vội đáp: “Thầy ơi, em không sợ người khác chê cười! Mẹ em thường bảo, Phúc Hữu Thi Thư Khí Tự Hoa – trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa, em mặc những thứ đồ này đi Mỹ gặp tổng thống Clintơn em cũng chẳng thấy ngượng.” Olympic Toán học Thế giới lần thứ 38 chính thức khai mạc.
Chúng tôi thi liên tục suốt năm tiếng rưỡi, từ 8 giờ 30 phút sáng tới 2h chiều. Ngày hôm sau công bố kết quả, đầu tiên công bố Huy chương Đồng, tôi không muốn nghe thấy tên mình; Sau đó công bố Huy chương Bạc, cuối cùng, công bố Huy chương Vàng, người đầu tiên, người thứ hai, người thứ ba là tôi.
Tôi khóc lên vì sung sướng, trong lòng tự nói: “Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!” Tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học ngay chiều hôm đó đã được Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa. Ngày 1/8, chúng tôi vinh quang trở về, lễ đón long trọng được Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học TQ tổ chức. Khi đó, tôi muốn về nhà, tôi muốn sớm gặp mẹ, tôi muốn chính tay tôi đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ…
Hơn mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã đội trời đêm về đến nhà. Người mở cửa là ba tôi, nhưng người một tay ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ tôi. Dưới trời sao vằng vặc, mẹ tôi ôm tôi rất chặt…
Tôi lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, khóc một cách nhẹ nhõm và sung sướng. Trường Trung học số Một của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng với các quan chức Cục giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu. Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này:
“Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ một người, là người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình thường, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã khích lệ tôi cả đời. Năm tôi học lớp 10, tôi muốn mua cuốn sách “Đại từ điển Anh-Trung” để học tiếng Anh, mẹ tôi không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi.
Sau bữa cơm sáng, mẹ tôi mượn một chiếc xe cải tiến, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn bốn mươi km bán rau. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ, lúc đó bụng đói cồn cào, chỉ mong có ai tới mua cho cả xe rau ngay. Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau đáng lẽ 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ.
Có tiền rồi tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo nên đi mua sách trước, đó là việc chính của ngày hôm nay. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 18 tệ 2 hào 5 xu, mua sách rồi còn lại 1 tệ 7 hào 5 xu. Nhưng mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ kia còn phải cất đi để dành cho tôi làm học phí. Tuy ăn hết hai cái bánh nướng, nhưng đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mắt chóng mặt, lúc này tôi mới nhớ ra tôi đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa.
Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ.”
Khi mẹ nói thế mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn ra con đường đất xa xôi, cứ như thể con đường đất đó có thể thông tới tận Thiên Tân, đi thẳng tới Bắc Kinh. Tôi nghe mẹ bảo thế, tôi không thấy đói nữa, chân tôi không mỏi nữa.. Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của đời tôi.”
Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt đã ướt đẫm, tôi quay về phía người mẹ tóc hoa râm của tôi, cúi người xuống kính cẩn…” TS Thiên Tân ghi (Võ Ngọc Khôi sưu tầm)

Đặt giả thiết cũng rất nhỏ, rằng: đời này, mà lại không có những “cơn mưa phùn” yêu thương như thế, thì sẽ thiếu vắng rất nhiều người hiền lành/tử-tế giống như thế. Mưa gì thì mưa, chắc chắn cũng mang lại cho người nhiều tươi mát, rất sướng vui.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn mong rằng mưa ân-huệ
sẽ đổ hoài và đổ mãi
xuống mọi người,
ở trong đời.

Saturday, 30 August 2014

“Thuở ấy có Em, anh yêu cuộc đời,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 23 mùa Thường niên năm A 07-9-2014

“Thuở ấy có Em, anh yêu cuộc đời,”
Yêu đôi môi hồng điểm nét son tươi.
Yêu đôi tay ngà làn má thắm, tóc xanh buông lả lơi,
nhớ em nhớ bao thuở ấy.”
(Huỳnh Anh – Thuở Ấy Có Em)
(1Cor 8: 9)
Nhớ “Em” bao thuở ấy, anh vẫn yêu cuộc đời. Môi hồng, nét son tươi. Chao ôi, là lời lẽ!
Thật ra thì, Em đấy/anh đây, bao giờ mà chả thế. “Em” là người mà không chỉ mỗi mình anh nhưng hết mọi người đều vẫn nhớ. Nhớ, cả lúc “Em” và anh ở bên nhau hoặc bên mọi người, như lời Đức Giáo Hoàng từng đề-cập khi ngài còn ở Seoul, nước Đại Hàn, như sau:

“Đời người, là hành trình rất dài! Hành-trình này, ta không thể đi một mình, nhưng cần đồng hành với anh chị em, trước nhan Chúa. Vì thế, tôi cảm ơn anh chị em vì cử chỉ đồng-hành ta có trước mặt Chúa. Đó, là điều mà Chúa đã yêu cầu tổ phụ Abraham khi xưa; và, chúng ta là anh chị em với nhau, chúng ta cũng hãy nhìn nhận nhau như anh chị em và đồng hành với nhau. Xin Chúa chúc lành cho chúng ta và xin anh em cũng hãy cầu nguyện cho tôi nữa.” (trích lời Đức Phanxicô giã-từ người dân Seoul hôm 18/8/2014 gặp trên báo điện).

Là anh/là em, theo quan-niệm của Giáo-chủ Đạo Công Giáo là như thế. Là “Em”/là anh, đối với nghệ-sĩ ngoài đời sẽ là và vẫn là giòng chảy đầy tình-tiết, như sau:

            “Thuở ấy có em, anh chưa từng sầu.
Chưa đi âm thầm ngoài phố đêm thâu.
Chưa mang hoang lạnh ngoài bến vắng,
Hỡi Em! Em về đâu, cho đời mình luôn nhớ nhau?”
(Huỳnh Anh – bđd)

“Em về đâu, cho đời mình luôn nhớ nhau?” đây có thể cũng là câu hỏi của ai đó từng gửi đến hết mọi người, không chỉ người nhà Đạo hoặc nghệ sĩ ngoài đời thời nay, mà thôi.   
“Thưở ấy có Em, anh chưa từng sầu!” đây có thể là câu nói để đời, từ ngàn đời. Như ghi-nhận của đấng bậc nọ ở Úc, từng tưởng-tượng lời nhắn của thánh Phaolô xưa gửi người giáo-dân trẻ ở Úc qua giòng chảy thời thượng, như sau:

“Các bạn trẻ thân mến của tôi,    

Ý-nghĩ đầu-tiên khiến tôi nhớ đến các bạn, là tôi hy-vọng rằng niềm-tin của các bạn sẽ tiếp-tục lớn mạnh mãi. Thứ đến, một điều khác tôi vẫn tin, đó là: các bạn cũng sẽ tìm ra đường-lối thích-hợp để trở-thành dân con của Chúa như Tin Mừng từng đề-cập. Hầu như các bạn đều lớn mạnh trong yêu thương, nên vì thế các bạn sẽ làm cho thế-giới này trở-thành chốn sống tươi đẹp hơn, như Đức Giêsu từng làm từ trước đến bây giờ.

Bản thân tôi, vẫn phấn-khởi nhưng đôi lúc cũng hãi sợ, bởi thế giới mà các bạn sống hôm nay có quá nhiều thứ, rồi ra cũng sẽ thành hiện-thực. Và mọi thứ, cứ thế tiến về phía trước theo tốc-độ nhanh khủng-khiếp đến độ chúng sẽ trở-thành thách-thức với mọi người. Có thể, các bạn vốn quen như thế, nên vẫn thường cảm-kích. Thế-giới của chúng tôi thay đổi quá chậm chạp, lại còn khép kín nữa, nên mới khó.

Bản thân tôi, chỉ thấy mỗi can-thiệp độc-nhất xảy đến với tuổi đời của tôi, mà thôi. Là người sản-xuất và bán lều/bạt nhỏ mọn này, tôi thường sử-dụng cũng một đồ nghề và phương-án như thế suốt đời mình. Rồi từ đó, cứ tự hỏi: sao các bạn lại có thể sống nổi những đổi thay nhanh đến ngộp thở như thế? Và, sao các bạn lại định ra được những gì mình cần phải duy-trì và những gì đáng bỏ đi.

Chắc các bạn xem ra cũng không còn sử-dụng những thứ mà mọi người đã bỏ đi, cũng từ lâu. Tôi vẫn bảo: bọn tôi, đơn-giản cứ nghĩ mình cũng nên sử-dụng hết mọi thứ cho đến khi chúng trở nên tơi tả, không dùng được nữa, mới thôi.      

Một trong những thứ khiến tôi ngạc nhiên không ít, đó là: Đức Giêsu khi xưa đã không trở về lại như tôi kỳ-vọng và Hội-thánh bao giờ cũng lớn lao, ôm không hết. Vào thời của tôi, khi đó không có nhà lầu/cao ốc lớn để mọi người có thể tụ-tập nhau làm điều gì đó; nhưng chúng tôi cứ gặp đâu hay đó, phần lớn ở trong nhà hoặc tại các nơi công cộng như căn-hộ nhỏ ở cao ốc, tức: bất cứ đâu thấy tiện, là được.

Chúng tôi cũng chỉ là phong-trào giáo-dân sinh-hoạt rất thầm-lặng, thế nên tôi hơi ngỡ ngàng và cũng hân hạnh khi thấy các Vương-cung Thánh-đường cùng trường lớp, đại-học và bệnh-viện, cả đến hội Vincent de Paul bề-thế, vẫn có những bữa cơm ngon cùng cháo nóng do xe chạy quanh đem tới tận miệng người đang đói. Và rồi, cũng phải kể đến các hệ-thống phúc-lợi thiết-dựng sẵn cho mọi người, nữa chứ.  

Đó là những điều mà chúng tôi có nằm mơ cũng không thấy. Thế nên, chúng tôi luôn lo-ngại chuyện Đế-quốc La-Mã hùng hổ là thế, mà sao nhiều người vẫn không nhận ra chính họ mới là những người tạo nên rối rắm. Nay, thì đế-quốc với chính-quyền cũng đã cấp tiền cho nhiều người. Tháng ngày mình sống lúc trước, bọn tôi cứ bị coi là những người dị-đoan/mê-tín chứ nào trở-thành đạo-giáo chính-thức đâu. Làm sao thế-giới lại thay-đổi đến là thế.

Thế-giới đã bỏ tôi lại với bao thắc-mắc cứ tự hỏi: làm sao các bạn lại có thể sử-dụng ảnh-hưởng mình đang có để cải-thiện mọi sự và làm cho tầm-nhìn/thị-kiến của Đức Giêsu về thế-giới với thế-gian, ra như thế? Tôi từng tranh-luận với các giới có thẩm-quyền người La Mã cũng nhiều lần, nhưng rất thường thì tôi vẫn bị nghi-hoặc nên phải bảo-vệ quyền được trở-thành người tín-hữu Đức Kitô cho đúng nghĩa, còn các bạn đây lại có tiếng nói đầy quyền-uy mà tôi chưa từng nghĩ ra, ngay cả trong giấc mộng cũng không tưởng-tượng ra nổi. Tôi hy-vọng là các bạn sẽ sử-dụng nó một cách thật tốt đẹp.

Thời tiên-khởi, chúng tôi có khác nhau thật đấy, nhưng vẫn cùng đứng chung trong cùng một phong-trào. Còn hôm nay, các bạn lại có quá nhiều đường-hướng khác nhau để trở-thành tín-hữu của Chúa, như: Công-giáo, Anh-giáo, Giáo-hội hiệp-nhất, Đạo binh Cứu-độ, Chính-thống, vv.. chắc điều đó cũng làm cho các bạn phân vân nhiều, như tôi. Tôi cam-đoan với các bạn rằng: tôi cũng gặp nhiều cảnh-tượng giống hệt như thế. Có điều là: tôi biết chắc rằng các bạn thấy được điều tốt của nhau và điều đó cho thấy là: dù có khác biệt, chúng ta đều cùng chung một gia đình. Đó, là gia-đình của những người cùng tin-yêu một Đức Chúa.

Trong những lúc nói chuyện với nhiều người, tôi thấy một số các rào-cản bị phá đổ nhờ có đối-thoại và hợp tác giữa các giáo-hội. Và, khi tín-hữu của Chúa thuộc các truyền-thống khác nhau trở-thành bạn-hữu hoặc lập gia-đình với nhau. Đó là điều rất tốt.

Phương-cách để các bạn gặp gỡ nhau bất cứ ở đâu hoặc lúc nào đã làm tôi ganh tị, thèm thuồng. Thời tôi sống, cũng phải mất rất nhiều tuần hoặc nhiều tháng ngày, mới có đuợc tin-tức từ cộng-đoàn sống rải rác, ở các nơi. Tìm cách hỗ-trợ hoặc gửi cho nhau ý-kiến, đôi lúc cũng chậm-chạp đến đau-lòng. Với tôi, nội mỗi chuyện gửi đến bà con đôi lời chào hỏi, nhắn nhủ hoặc liên-hệ với các giáo-hội ở Côrinthô, Galata hoặc Êphêsô cũng phải mất rất nhiều thời-gian hoặc năm tháng, có khi chẳng bao giờ đạt tới nữa. Nhiều lúc, tôi cứ phải rong-ruổi-đường-trường từ nơi này đi nơi khác, thật không dễ.

Đôi lúc, tôi cũng thoát được cảnh chìm tàu, cướp cạn và tù tội, có khi chỉ vì muốn gửi một thư tay hoặc sử-dụng kỹ-thuật nào khác, để liên-lạc với các cộng-đoàn, hầu khích-lệ họ hoặc đề-xuất đưa cho họ đôi ý-kiến phản-hồi mà họ từng hỏi mỗi khi cần, nếu không thì cứ phải dài cổ ra mà chờ thư hồi-đáp. Nay thì, các bạn có thể thăm hỏi nhau bằng điện-thoại hoặc chỉ lướt trên mạng-lưới-toàn-cầu, là xong.

Quả là, thế-giới các bạn sống rất là tuyệt vời. Tôi đây, chẳng thấy mình có thể giúp được gì cho ai, khi nhận ra là: những người cùng đi một chuyến xe buýt hoặc tàu lửa, chừng như không ai nói chuyện với ai, vì mọi người cứ mải đeo ống nghe hoặc đang bận rộn với mấy cái “iPads”, “iPods” và “tablets” nối-kết họ với toàn thế-giới. Các bạn có nghĩ rằng: đó là điều dị-kỳ khi mọi người có thể nối-kết với nhau bằng nhiều cách, nhưng lại không thể liên-kết phối-hợp với người đang ở trước mặt mình, không chứ? Các bạn đừng quá âu-lo, vì khi xưa chúng tôi cũng có biệt tài trong chuyện “phớt lờ” nhau, đặc biệt là những người không cùng giai-cấp, không nói cùng một thứ tiếng hoặc không cùng một nghề với nhau.

Một trong những sự-kiện đánh động tôi nhất về thế-giới của các bạn, là: mỗi người đều có quyền bầu/bán và có tiếng nói để mọi chuyện được trở-thành đạo-luật cho mọi người. Có người còn nói với tôi, là: ngay cả khi các bạn không đi bầu, lại cũng bị phạt vạ, mất tiền toi. Thế giới hồi tôi sống với đế-quốc La Mã, rất nhiều người từng là nô-lệ; và phần đông những người được trả tự-do lại ít có được quyền ăn quyền nói nếu họ sống ở thị-thành.

Cộng-đoàn Hội thánh của chúng tôi, khi xưa vẫn quí-trọng thành-viên mình bởi: tất cả đều là thành-phần cộng-đoàn, trong đó họ có thể chung sống với nhau, dù là nô-lệ hoặc tự-do, dù nam hay nữ, Do-thái hay Hy-Lạp, cũng vẫn được. Chúng tôi vẫn hiệp-thông đoàn-kết với nhau trong lòng tin; mỗi người đều có phẩm-cách rất đáng quí vì tất cả đều là con cái Chúa và chúng tôi đối xứ với nhau như người anh em, chị em hoặc út ít của Đức Chúa.

Có lần, tôi để mắt quan-sát xem ngôn-ngữ các bạn sử-dụng trong Hội-thánh và tôi rất đỗi ngạc-nhiên khi thấy phần lớn ngôn-từ mà tôi sử-dụng hồi thời tôi sống để diễn-tả sự khác-biệt mà Đức Giêsu muốn lập, tức các từ-ngữ như: ơn cứu-chuộc, cứu-rỗi, hoá-giải đều là ngôn-từ mà hiện giờ các bạn vẫn đang sử-dụng, không gì khác. Trong khi tôi được tâng-bốc lên chín tầng mây, điều đó lại làm tôi thấy mình hơi dị kỳ. Tất cả các ngôn-từ này là thành-phần thế-giới của chúng ta, nhưng tôi không chắc lắm là: chúng có ý-nghĩa gì đối với mọi người hôm nay.

Một số từ-ngữ vẫn còn tạo nghĩa, như: thương yêu, tình bạn và gia đình, và còn nhiều nữa chắc tôi phải xem lại cho kỹ mới nhận ra được. Tôi nhận chân rằng: tình bạn có giá-trị đích-thực đối với các bạn; và đó là chốn miền lớn-lao để ta khởi sự mọi đối-thoại. Cuối cùng thì, tất cả cũng chỉ là tương-quan ta cần có. Và, tôi cũng rất vui khi thấy rằng; các tương-quan mật-thiết như thế cũng rất cần đối với các bạn. Có thể, chúng ta cũng nên ngồi lại mà chuyện trò đôi chút để coi xem đâu là ngôn-từ đẹp nhất ta có thể sử-dụng vào ngày hôm nay. Có lẽ, các bạn cũng phải hướng-dẫn tôi một đôi chút, vì các bạn hiểu biết rất nhiều về thế-giới của các bạn.

Thôi thì, tôi nghĩ Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã và đang làm công việc tuyệt vời, bởi ngài thực sự có được những gì mà chúng ta cần có để sống triệt-để hơn, hầu tìm ra được đường-lối mới đầy sáng-tạo quyết đem thông-điệp của Phúc Âm đến với thế-giới hôm nay. Vào thời tôi, tôi cũng phải làm như thế. Và, nay thì các bạn cũng nên làm thế cho thế-giới của các bạn nữa.

Tôi cầu chúc cho các bạn mọi sự tốt đẹp. Và tôi chắc-chắn một điều, là: Chúa Thánh Thần cũng đã và đang dẫn-dắt các bạn. Và với một chút tính-cách chân-phương, sáng-tạo và gan dạ, các bạn cũng sẽ làm được việc, rất tốt. Hội thánh đang cần đến các bạn, đấy.

Người bạn thân của các bạn,
Phaolô (tự Saolô) từ Tarsus, Thổ Nhĩ Kỳ                                               
(xem thêm Chris Monaghan, CP: Paul’s letter to the Young Australians, Majellan Familly April-June 2014, tr. 18-21)

            Nghe đấng bậc bảo thế, hẳn bạn trẻ cũng như tôi và mọi người, sẽ thấy phấn-chấn/rung động nhiều. Nghe bảo thế, giới trẻ nào có tâm-hồn nghệ-sĩ lại sẽ hát tiếp những ca-từ còn đó, hát dở dang như sau:

            “Từ lúc vắng em nên anh thường buồn,
Hay lang thang ngoài đường nhỏ không tên.
Hay ghi câu nhạc tình héo hắt,
Với tâm-tư sầu đau, kể từ ngày xa cách nhau.”
(Huỳnh Anh – bđd)

“Từ lúc vắng Em, nên thường buồn!”. Đúng. Ở đời thường, nhiều trường-hợp bạn bè, người thân chỉ cần vắng nhau đôi phút, cũng đã buồn. Buồn hơn cả, là tình-huống rất vắng không chỉ xác thân, nhưng cả tinh-thần và tình thương nữa. Thứ tình để thương, chẳng cần biết người-mình-thương có là bạn bè/thân thuộc của mình hay không. Chỉ cần biết, nếu vắng nhau chỉ vài phút giây thôi, cũng đã thấy vắng nhiều.
Tâm-tư sầu đau”, “từ ngày xa cách nhau”, có là tình-tự của giới trẻ hiện đang sống với thế-giới đổi thay đến chóng mặt, không? Hoặc, tâm-tư đó có là phản-ứng của giới-trẻ ở trường lớp/cuộc đời theo cách khác chăng? Những cách-thức rất thực, mà kinh-nghiệm của người trẻ ở đời thường, có là lập-trường sống rất tự-do hay không?
Trong đời thường, cũng có những người trẻ quyết sống theo kiểu riêng của mình, bằng lập-trường khác biệt. Họ, là những người còn trẻ gặp rất nhiều ở những “đường nhỏ không tên” bên Úc, cũng có nhận-định về thế-giới/cuộc đời của riêng mình.
Vừa qua, có nhà báo nọ ở Úc từng mon men tiếp-cận với giới-trẻ ở Úc quyết thực hiện cuộc phỏng-vấn bỏ túi với câu hỏi nhỏ: vấn-đề nào của thế-giới khiến bạn bận tâm hơn cả? Câu hỏi này gửi đến các học-sinh ở Melbourne, Úc liền được phúc-đáp như sau:

-Maeve, 17 tuổi thuộc Trung học Kew, Melbourne: “Với giới trẻ hôm nay, điều gì khiến họ say-mê nhất? -Ở Úc này, đó là vấn-đề kỳ-thị chủng-tộc. Bởi, mọi người ở đây không được đối xử ngang bằng đồng-đều, như phải lẽ; dù nước Úc tự-hào là nước chủ-trương đa văn-hoá.”

-Fraser, 14 tuổi thuộc Trung-học Xavier ở Melbourne: “Ở Úc này, đâu là vấn-đề xã-hội làm nhiều người ưu-tư nhất? -Cũng vẫn là kỳ-thị màu da, phụ-nữ mất giá và hà-hiếp kẻ yếu”.

-Adrien, 17 tuổi thuộc Trung học Genazzano FCJ: “Nếu em có 3 điều ước với Bà Tiên nào đó, thì điều ấy gồm những gì? –Làm sạch tình-trạng trì-trệ kinh-tế, thứ hai là: bãi bỏ tình-trạng nghèo đói và cuối cùng là: đi mọi nơi và mọi lúc, như các anh-hùng-ca khi xưa còn diễn-tả”.   

-Eleanor, 13 tuổi Nữ Trung-học Melbourne: “Nếu em cũng có 3 điều ước, thì em mớ ước chuyện gì? –Theo em là: Xoá sạch nạn nghèo đói trên thế-giới, chấm-dứt chiến-tranh ở các nơi, và cuối cùng…làm cho mọi người được hạnh-phúc”. (Xem thêm Australian Catholics Spring 2011, tr. 6)      

Phúc-đáp của học-sinh ghi ở trên, dĩ nhiên không nói hết vấn-đề gai góc ta đặt ra. Nhưng, cũng phần nào nói lên thực-chất sự việc ở đời, với người trẻ, thật không đến nỗi tệ, như ta tưởng. 
Để minh-hoạ cho vấn-đề bà con mình vừa đặt ra, tưởng cũng nên kể thêm đôi ba giòng về trường-hợp thực-tế cuộc đời, ở đâu đó, cũng có nhiều vị còn trẻ hay tuổi đã cứng/mềm về nhân-sinh cuộc đời có những cung-cách xử-thế với nhau, dù gần gũi nhau qua không-gian hoặc máu-mủ/ruột thịt, như sau:  

Một thanh niên học-hành rất xuất-sắc đến xin được tuyển vào một chức vụ quản lý ở một công ty lớn. Anh qua được vòng phỏng vấn thứ nhất và đến vòng 2, vị giám-đốc công-ty sẽ phỏng-vấn riêng anh và chính ông sẽ là người quyết định.

Qua lý lịch của người thanh niên, vị giám đốc biết được thành tích học tập ưu tú  của anh ta, từ bậc trung học đến sau đại học, chưa từng có một năm nào kết quả không đạt xuất sắc.
Người giám đốc hỏi:
-Khi đi học ở trường, cậu  có được học bổng nào không?
Cậu thanh niên trả lời  không  
Ông ta hỏi tiếp:
-Vậy là cha của cậu trả  học phí cho cậu phải không?”
Cậu ta đáp: 
-Cha tôi mất năm tôi mới  lên một; chính mẹ tôi là người trang trải tiền học cho tôi.
-Mẹ cậu làm việc ở đâu?
-Mẹ tôi làm nghề giặt quần áo.

Ông ta bảo cậu cho ông xem tay của cậu. Chàng thanh niên đưa ra 2 bàn tay trắng trẻo mịn màng.
 Người giám đốc lại hỏi:
-Cậu có bao giờ giúp mẹ giặt quần áo không?
Cậu ta trả lời:
-Không thưa ông, Mẹ tôi chỉ muốn tôi đọc nhiều sách và lo học. Với lại mẹ tôi có thể giặt đồ nhanh hơn tôi
-Tôi có một yêu cầu. Hôm nay cậu  đi về gặp mẹ và rửa tay cho bà, sáng mai quay lại đây gặp tôi.
Người thanh niên thấy có nhiều khả năng được tuyển dụng nên về đến nhà cậu vui vẻ bảo mẹ để cậu rửa tay cho bà. Bà mẹ tuy thấy đề nghị của con rất lạ kỳ nhưng  bà  cảm động và hạnh phúc để cho con trai rửa tay cho mình. 

Trong khi cậu chậm rãi rửa hai bàn tay của mẹ, nước mắt cậu tuôn ra. Đó là lần đầu tiên trong đời cậu nhận thấy đôi bàn tay của mẹ đầy những vết nhăn, vết sẹo thâm đen. Một số chỗ bầm tím mới khiến bà đau và rùng mình khi  cậu rửa tay của bà trong nước.

Đó cũng chính là lần đầu trong đời cậu nhận ra chính đôi tay của người mẹ đã giặt biết bao nhiêu là đống quần áo để có tiền đóng học phí cho mình. Những vết sẹo, chỗ bầm trên  hai bàn tay mẹ, những nỗi nhọc nhằn, vất vả là cái giá mẹ phải trả cho cậu được học hành xuất sắc, tốt nghiệp  ra trường và cả tương lai của cậu.

Sau khi rửa tay cho mẹ, cậu lặng lẽ giặt hết đống quần áo còn lại.
Đêm đó hai mẹ con nói chuyện rất lâu.
Sáng hôm sau, cậu thanh niên trở lại văn phòng của vị giám đốc.

Người giám đốc thấy đôi mắt rướm lệ của cậu đã hỏi:
-Cậu  nói xem ngày hôm qua ở nhà cậu đã làm gì và học được điều gì?
Cậu trả lời:
-Tôi đã rửa tay cho mẹ và đã giặt nốt số quần áo còn lại
-Hãy cho tôi biết  cảm tưởng của cậu
-Một là, bây giờ tôi đã hiểu thế nào là biết ơn. Nếu không có mẹ, tôi dã không được học hành như hôm nay. Hai là, nhờ cùng làm việc giúp mẹ, đến bây giờ tôi mới biết làm được một việc gì đều gian khó, vất vả. Ba là tôi đã nhận biết giá trị và tầm quan trọng của quan hệ  trong gia đình, với người thân.

Người giám đốc nói:
-Đó là những điều mà tôi muốn người quản lý của tôi phải có. Tôi muốn tuyển dụng một người biết ơn người khác giúp đỡ, một người  thấu hiểu những chịu đựng hy sinh của người khác để hoàn thành công việc, và một người sẽ không xem tiền là mục tiêu duy nhất trong đời. Cậu đã trúng tuyển vào chức vụ này.”

Và ý-kiến của người kể, sẽ như sau:

“Sau này, chàng thanh niên làm việc rất miệt mài và được cấp dưới kính trọng. Nhân viên của cậu cũng làm việc cần mẫn và là một nhóm đoàn kết tốt. Công việc kinh doanh của công ty tiến triển rất tốt.

Một đứa trẻ quen được che chở và nhận được mọi thứ nó muốn, sẽ phát triển tính cách “muốn là được”, sẽ thành đứa trẻ ích kỷ xem mình là số 1, và không đếm xỉa gì đến nỗ lực của cha mẹ.

Khi lớn lên đi làm việc, người này sẽ cho rằng ai cũng phải nghe theo lời mình. Khi thành quản lý, anh ta sẽ chẳng bao giờ biết được những cố gắng, vất vả của nhân viên và sẽ luôn đổ lỗi cho người khác. Với loại người này, họ có thể học giỏi, có thể một thời thành đạt, nhưng cuối cùng vẫn không thấy hài lòng, thỏa mãn. Họ sẽ càu nhàu, trong lòng luôn bực bội, tức tối và lao vào chiến đấu tranh giành để có nhiều hơn. Nếu chúng ta là những bố mẹ luôn bao bọc con mình, liệu chúng ta có đang thực sự thể hiện yêu thương con đúng cách, hay là ta đang làm hại con cái?

Bạn có thể cho con cái sống trong một ngôi nhà to, ăn ngon, học đàn piano, xem TV màn hình rộng. Nhưng khi bạn cắt cỏ, hãy để cho chúng cùng làm và trải nghiệm. Sau bữa ăn, cứ để chúng rửa bát với nhau. Làm như vậy không phải vì bạn không có tiền thuê người giúp việc, mà là vì bạn yêu thương con cái một cách đúng đắn. Bạn muốn chúng hiểu rằng dù cha mẹ có giàu đến đâu, một ngày kia cha mẹ cũng yếu già như mẹ của cậu thanh niên trong câu chuyện kể trên.

Điều quan trọng nhất là con cái của bạn học biết ơn, biết trân trọng những nỗ lực và có thể trải nghiệm những khó khăn và học được kỹ năng hợp tác với người khác để hoàn thành công việc. Con cái cũng phải biết trân quý, biết ơn những gì cha mẹ đã làm và yêu cha mẹ.” (Huỳnh Huệ dịch từ truyện nước người)

Phản-ứng trước lối sống của thế-giới hôm nay, cũng còn tùy. Tùy người, tùy trường-hợp tư-riêng của gia-đình hoặc bản thân mình. Tùy nhiều nhất, là tùy tự-do chọn-lựa của mỗi người. Tự-do theo nghĩa rộng/hẹp hay chính-xác của triết-lý, cũng đều thế. Tuy nhiên, tùy gì thì tùy, vẫn nên nhớ đến bài học ở trên và nhất là lời dặn-dò của đấng thánh đích-thực Phaolô tông-đồ khi xưa từng ghi thư, như sau:

Nhưng hãy coi chừng kẻo sự tự do của anh chị em
nên dịp cho những người yếu đuối  a ngã.”
(1 Cor 8: 9) 

Nghe dặn thế rồi, giờ thì bạn và tôi, ta cũng sẽ ra đi mà thực hiện những điều được dặn dò gửi gắm hôm nay hoặc khi trước. Và, trong tư-thế tự-do như thế, ta cũng cố gắng liên-hệ, trò chuyện, kết thân bạn bè, nâng-đỡ những người gần cận với ta trong gia-đình, chòm xóm, sở làm và những người ta thường gặp, để rồi sẽ hiên ngang đầu cao mắt sáng hát lại ca-từ tuy hơi buồn, nhưng lại mang ý-nghĩa của một quyết-tâm, như sau:

“Thuở ấy có em, anh chưa từng sầu.
Chưa đi âm thầm ngoài phố đêm thâu.
Chưa mang hoang lạnh ngoài bến vắng,
Hỡi Em! Em về đâu, cho đời mình luôn nhớ nhau?”
(Huỳnh Anh – bđd)

Luôn nhớ nhau, và nhớ mãi những tình-tự yêu-thương của nhau, nhiều mãi mãi.

Trần Ngọc Mười Hai
Lại cũng nhớ lời dặn dò
Của em, của anh
Của mọi người đồng-hành với mình
Trong cuộc đời.