Saturday, 8 June 2013

“Em lo gì trời gió!”.



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ Mười Một Thường Niên Năm C 16-6-2013

“Em lo gì trời gió!”.
“Em lo gì trời mưa!
Em lo gì mùa hè,
Em tiếc gì mùa thu.”

(Đức Quỳnh/Nguyễn Bính – Thoi Tơ)

(1Ga 2: 8-11)
            Hôm ấy, thêm một ngày đẹp trời, bần đạo/bầy tôi đang lang thang trong khuôn viên chùa chiền, chợt nghe đứa cháu nội mới lên 5 đã biết ngâm nga câu hát do ông ngoại dạy mà không hiểu. Chẳng cần biết cháu đang tư-duy những gì với câu hát, ông nội cháu đây bèn hát tiếp đôi câu, như sau:
           
            “Ta cứ yêu đời đi.
            Như lúc ta còn thơ,
            Rồi để anh làm thơ,
            và để em dệt tơ.”
            (Đức Quỳnh/Nguyễn Bính – bđd)

            Vâng. Đúng thế! Khi xưa, lúc bầy-tôi-bần-đạo còn ấu thơ, ở đâu đó, vẫn có cảnh tình của cuộc sống, rất tốt đẹp. Cảnh tình đó, có những giờ phút êm ả mà người anh/người chị của chúng ta vẫn cứ đặt nhạc với những câu như “dệt tơ”, “làm thơ” cả vào mùa thu rồi nhắn nhủ: “Ta cứ yêu đời đi!” Yêu, như lúc ta “còn thơ”, và rồi chẳng còn “lo gì trời gió”, với “trời mưa”, rất ban tối. Và khi ấy, bần-đạo bầy-tôi đây chẳng tiếc nuối những “mùa thu”,hoặc “mùa hè” vẫn cứ lâm li, những lời như:

            “Thơ anh làm, em hát,
            tơ em dệt, anh may.
            Ta xây đời bằng mộng,
            như tiễn biệt con thoi.”
            (Đức Quỳnh/Nguyễn Bính – bđd)

            Vâng. Hôm nay đây, ở nơi này, người người vẫn sống trong phúc hạnh cũng chẳng vì đã “dệt tơ” hay làm thơ hoặc viết nhạc rất tiền chiến, nhưng vẫn ngồi đó hỏi han những vấn nạn nghe rất quen, mỗi khi có cuộc bầu bán Giáo Hoàng, cũng rất mới. Hỏi han, những câu nghe hoài không biết chán và cũng chẳng lạ, như:

“Theo anh chị và quý vị, có phải là Đức Giáo Hoàng tân cử của ta rồi ra sẽ cho phép Hội thánh tấn phong nhiều nữ phụ đạo đức nếu không được làm công việc của linh mục, thì ít ra cũng sẽ được vinh thăng thành “chị Sáu” hoặc “cô Sáu”, cũng chóng thôi, phải không? Hoặc, có khi còn tiến nhanh/tiến mạnh hơn nữa để đốt giai đoạn cho phép linh mục ta có vợ như giáo hội bạn, thật cũng tốt, phải thế không?”

            Hỏi han/vấn nạn huỵch toẹt như thế, thì người nghe có là ai đi nữa cũng sẽ tự ý xung phong kiếm tìm lời giải đáp cho hợp lý. Có nghe có nói hoặc có gạn hỏi cho nhiều, thì bần-đạo-bầy-tôi đây chỉ xin tình nguyện gửi về người hỏi đôi câu đáp trả tuy hèn mọn cũng chỉ để khỏi hát đi hát lại mãi câu ở trên vẫn cứ nhủ: “Em lo gì trời gió”, “Em lo gì trời mưa”, lưa thưa, ọp ẹp cho đỡ mệt. Cũng may là, bần đạo chưa kịp vấn nạn những chuyện nắng/mưa đã được bầu bạn chuyển cho thông tin khá mới mẻ vốn dĩ bao hàm vài tư tưởng khá “thời thượng”, như sau:

“Vừa qua, đấng bậc vị vọng thuộc tầm cỡ chóp bu của giáo hội Công giáo Đức-quốc là Tổng Giám Mục Robert Zollitsch đã kêu gọi Hội thánh ta nên cho phép nữ giới được trở thành các vị “nữ phó tế” trợ giúp cử hành bí tích rửa tội hoặc hôn phối bên ngoài thánh lễ, tức: một giải pháp mới mẻ khả dĩ giúp phụ nữ mình tham gia xây dựng Hội thánh thời buổi này. Chuyện này, là thể theo báo cáo của tờ “The Local”, tờ báo địa phương, ở bên ấy.

Tổng Giám mục giáo phận Fribourg, đương kim Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Đức lại đã kêu gọi hội thánh ta hãy có một vài đổi thay về cấu trúc, vốn dĩ từng là yêu cầu của nhiều người đã được đưa ra làm đề tài thảo luận vào buổi kết thúc 4 ngày hội thảo bàn về công cuộc cải tân, rất cần thiết.              

Đây là buổi Hội thảo đầu tiên được tổ chức theo thể loại này, đã mời 300 chuyên gia Công giáo có kèm theo một đề nghị là: hội thánh ta cũng nên thực hiện cải tổ bao quát, lớn rộng. Đề nghị của Tổng Giám Mục người Đức trước đây từng vang vọng một đòi hỏi có từ nhiều năm nhằm cho phép nữ-giới trở thành phó tế, đã không còn là điều huý-kỵ nữa.

Đức Tổng Giám-mục Zollitsch có nói: Giáo hội Công giáo ta chỉ tái tạo được niềm tin và sự ủng hộ tcủa mọi người nếu quyết tâm cải tổ, tận gốc rễ. Ngài Giám mục lại cũng mô tả sự việc khác xảy đến với buổi hội thảo được như thành-tựu rất mới, đó là: bầu khí cở mở, tự do. Vai trò của các phó tế chỉ để giúp linh mục trong các nghi tiết phụng vụ ở nhà thờ và các vị này cũng chỉ có quyền thực hiện nghi thức thanh-tẩy và hôn phối bên ngoài thánh đường thôi. Tuy nhiên, vai trò hàng đầu của các vị này là để phục vụ những người có nhu cầu trong cộng đoàn kẻ tin của mình, và trách nhiệm của các vị chỉ mang tính thế trần hơn là mục vụ.

Ngoài ra, còn đề nghị khác phát xuất từ hội thảo này là việc triển khai quyền của các vị từng ly dị nay quyết định tái giá được có chân trong cơ chế của hội thánh, như: hội đồng giáo xứ, ban thừa tác-viên thánh-thể, thế thôi. Các vị trong phần phần buổi hội thảo lại đã bàn thảo về việc cho phép các vị ấy được rước lễ và gặp cha để xưng tội.

Đức Tổng Giám Mục Zollitsch còn phát biểu: “Điều quan trọng đối với riêng tôi, là: dù ta không chủ trương hủy hoại tính thánh thiêng của hôn phối, những người nam và nữ này cũng nghiêm chỉnh đủ để ta cho phép họ được ở trong Hội thánh và cảm thấy mình cũng được trân trọng, ở cùng nhà.” Cho đến này, mọi canh cải vẫn còn ở tầm kích suy đoán hoặc biện bạch chứ chưa có gì là thực tiễn hết. Và, cũng chưa có đề nghị nào được đưa ra cho khung thời gian thực hiện những chuyện như thế ấy. Và, chuyện về các vị phối ngẫu nam nữ từng ly dị nay muốn tái giá, đã trở thành câu chuyên gây nhiều tranh cãi khá ồn ào, trong Hội thánh.” (x. CathNews, A Service of Church Resources, German arbishop calls for women deacons, 30/4/2013)   

            Thật ra thì, thắc mắc với vấn nạn về quyền được ngang bằng nam giới cả trong địa hạt phụng vụ hoặc chức thánh, với người ngoài đời, cũng như thể lời nhắn của nghệ sĩ, khi ông viết:

            “Thơ anh làm em hát,
            tơ em dệt anh may.
            Ta xây đời bằng mộng,
            như tiếng dệt con thoi.”
            (Đức Quỳnh/Nguyễn Bính – bđd)

            Kỳ thực thì, vấn nạn của nghệ sĩ xưa nào khác gì đề nghị của đấng bậc vị vọng ở nước Đức, cũng chỉ là: hãy thử để cho nữ-giới thực thi công việc của nam-nhân, hà tất sẽ có nhiều thuận lợi cho Hội thánh, rất hôm này. Thuận và lợi, không chỉ theo nghĩa kinh doanh hay thực tế ở ngoài đời, cho bằng chứng tỏ mình cũng biết sống hợp thời hợp buổi, rất đúng phép.
            Kỳ thực thì, có đề nghị hay không, đâu chỉ mỗi đấng bậc vị vọng là ủng hộ ý kiến hoặc đề xuất/đề bạt mọi chuyện trên nguyên tắc, mà còn có ý kiến phản hồi của các vị từng sống thực tế ở ngoài đời, rất kinh nghiệm như sau:

Trước hết, là ý kiến của John Francis Collins:

“Là thừa-tác-viên lâu năm ở nhà thờ họ Baden-Wurttemberg bên Đức, tôi cũng có chút kinh nghiệm để đưa ra đây mà chia sẻ. Ở nơi tôi, các vị nữ thừa tác-viên từng thực thi công tác phụng vụ với đủ tầm cỡ cả về phẩm cách lẫn nét đẹp mà tôi nghĩ không có rào cản nào về ngôn ngữ hết.
Tôi còn nhớ rõ sự kiện này từng dấy lên vấn đề về phong chức cho nữ-phụ, mà tôi vẫn giữ mãi trong đầu. Thế nên, cũng chẳng có gì lạ khi thấy Đức Tổng của tôi lại đã dấy lên vấn đề phong chức sáu cho phụ nữ ở Đức và đặc biệt là ở xứ họ của chúng tôi ở Baden-Wurttemberg. Có thể nói mà không sợ sai lầm là: các nữ thừa-tác-viên mục vụ có nền giáo dục ở cấp cao, rất thành thạo về công tác này lâu nay vẫn cố duy trì Giáo hội Đức sống mãi trong lòng dân tộc.”      

            Và, dưới đây là kinh nghiệm của một nữ phụ tên Irena Mangone:

“Đã có một thời, Hội thánh ta cũng có khá nhiều nữ thừa-tác-viên hoặc gọi họ là “Chị Sáu” hay sao đó cũng tùy người. Ta thấy nhiều vị như thế trong sách Công Vụ khá năng nổ đến độ các thánh nam khó mà quản lý/điều động. Theo tôi, hãy giữ các vị này trong bếp hoặc Dòng tu thật cũng phải. Bởi, ngay ở những nơi như thế, các vị này cũng đã khó mà thấy an toàn trong hệ cấp toàn những nam nhân hết cầm cân nảy mực lại đe nẹt, doạ dẫm. Tôi chỉ muốn nói rằng: nay ta đang ở vào niên biểu 2013 chứ không còn sống vào thời Trung cổ nữa rồi, Giời ạ.

Và, một ý kiến của nữ phụ khác có tên Margaret M. Caffey:
“Ôi chao! Sao Đức Tổng Zollitsh của tôi lại can đảm đến thế, dám nêu vấn đề gai góc này lên ở đây! Như thế là ngài cũng công nhận vai trò quan trọng của các Nữ thừa-tác-viên trong Hội thánh thời tiên-khởi rồi đấy. Và, thật sự thì ta cũng đang có nhu cầu cảm thông cho những vị từng có vấn đề gãy đổ trong gia đình.

Có điều khiến tôi ngạc nhiên khi thấy rằng hiện thời ta đang bị mang tai tiếng rất nhiều trên khắp toàn cầu, vậy mà hàng giáo sĩ của ta chưa nhận ra được nhu cầu cần có được ảnh hưởng của nữ-giới trong công tác; và, các cụ vẫn chưa biết cách sử dụng món quà quý giá mà các phụ nữ từng đóng góp cho Hội thánh, trong công cuộc thừa tác rất cần thiết.”

Và, ý kiến của một giáo dân mang tên Phillip Turnbull ở Úc, cũng không tệ:
“Tôi thường tự nhủ: sao nhiều người lại cứ cho rằng thật khó cho phụ nữ được hoạt động trong Giáo hội, mà sự thật thì lâu nay lại có rất nhiều vị nữ-lưu từng điều hành Giáo hội Công giáo ở Úc với tầm cỡ tuyệt vời như cội rễ cho các tổ chức tôn-giáo như thế. Thật sự, thì các vị nữ lưu này từng thống lĩnh môi trường giáo dục ở nhiều nơi và chắc từng gây ảnh hưởng trên nền giáo dục mang tính chất rất Công giáo.

Ngay ở lĩnh vực giáo xứ cũng thế, rất nhiều phụ nữ từng có công gầy dựng công tác mục vụ có chất lượng và tạo ảnh hưởng lên nền phụng vụ của xứ sở. Kinh nghiệm của riêng tôi về công tác phụng vụ ở nhiều giáo xứ mà tôi có dịp ghé viếng thì hầu hết lực lượng thừa-tác ở nơi đó đều do phụ nữ đảm trách, đặc biệt là về âm nhạc và văn hoá. Vậy thì, ta còn chờ gì nữa mà không cho các vị ấy chức năng lành thánh hoặc vai trò gì đáng kể nữa cơ chứ?”

            Ý kiến phản hồi tương đối là thế, tuy chưa gọi được là “rộng đường dư luận”, nhưng nếu có ai muốn truy tầm một chút Kinh Sáchccủa đấng bậc thánh hiền trong Giáo hội, tưởng cũng nên đọc thêm đôi giòng sau đây:

“Anh em thân mến,
tôi viết cho anh em, điều ấy thật là thế
nơi Đức Giêsu và nơi anh em,
bởi vì bóng tối đang qua đi và ánh sáng thật đã tỏ rạng.
   
Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng
mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối.
Ai yêu thương anh em mình thì ở lại trong ánh sáng,
và nơi người ấy không có gì nên cớ vấp phạm.”
(1Ga 2: 8-11)

Điều mà đấng thánh hiền viết ở trên, vẫn là lời nhắc nhở về điều răn mới rất yêu thương, ta xử sự với mọi người. Điều mới ấy có là lời răn bảo hay không, vẫn cứ là: “không có gì nên cớ vấp phạm”, cho mọi người. Điều mà đấng bậc ở trên đã đề nghị, chưa hẳn là “cớ vấp phạm” cho ai hết, mà chỉ là một chắc nhở ta xem lại chức năng và ý nghĩa của cụm từ Hội thánh, như đấng bậc vị vọng khác cũng từng đề cập khi ngài nói về Lễ Hiện Xuống có Thần Khí Chúa đã đến, rất như sau:

“Lễ Hiện Xuống nhắc ta chuyện tương lai, ta dựng xây. Đôi lúc ta cứ nghĩ mình hoạt động trong tình huống có khuôn thước lịch sử có giới hạn, nên cũng chỉ vội vã thông qua với người Do-thái ở Cựu-ước, và tập trung nhiều vào Đức Kitô của thời ấu thơ, vội nhảy vào thời điểm Ngài công khai hoạt động, chú trọng nhiều đến sự chết và sống lại của Ngài, rồi thêm vào đó chuyện Ngài về Trời và gửi Thần Khí đến với muôn người trong ngày Hiện Xuống, chỉ thế thôi. Còn lại một việc, là: ta chỉ tìm đường về quê trời, sau đoạn kết của câu chuyện đời.

Khuôn thước lịch-sử vẫn ra như thế, nếu là lịch-sử cứu độ, e rằng cũng bức bách, hạn hẹp. Thật sự, thì: ta cần khuôn thước lớn rộng, bao gộp nhiều công đoạn để thực thi việc Hiện Xuống của Thần Khí trong tất cả lịch sử hay tiểu sử của mỗi người. Không chỉ quan tâm mỗi khuôn thước thánh-sử của Giáo hội mà thôi, nhưng của mọi nhóm hội/đoàn thể trong đó người người vẫn cứ làm mọi việc nhưng không nói ra, nhưng để Chúa tỏ cho ta thấy Ngài muốn ta làm gì vào Lễ Hiện Xuống, rất Ngũ Tuần. Ta đang ở trong tình huống có Hiện Xuống thời hiện tại, có bối cảnh một đại lễ đang bày cho ta việc để làm.

Nhìn vào thánh Hội hôm nay, lúc này, ta thấy rằng Hội thánh đang bận bịu rất nhiều việc, nhưng đã chắc gì Hội thánh là ta đang theo khuôn thước của Hiện Xuống, có Thần Khí chỉ dẫn. Hội thánh ta cũng đang hoạt động thật đấy, nhưng vẫn đẩy lùi thế giới và con người ra bên ngoài. Hôm nay, mừng ngày Chúa Hiện Đến, có lẽ Hội thánh, tức toàn thể các kẻ tin chứ không chỉ là hệ cấp giáo quyền mà thôi cũng nên nhớ, rằng: mọi sự ở trần gian là một phần của tổng thể có Chúa, có ta, có cả Thần Khí cùng hoạt động trong Chúa và với Chúa. Hội thánh hôm nay cũng cần một nền giáo dục mới cho công tác ấy. Hội thánh cần mời mọi người lâu nay bị bỏ rơi ở bờ rìa, hãy cùng tham gia công việc chung của mọi người. Công việc thánh-hoá toàn thể thánh hội, như đã từng xảy ra trong ngày Chúa Hiện Đến.

Làm được thế, ta sẽ có cuộc di dân khá lớn rộng không phải từ nước này qua nước nọ, mà từ vai trò này qua chức năng khác, trong tổng thể. Và hiện nay đang có dấu hiệu cho thấy sự việc như thế đang dần dà tỏ hiện một lễ Hiện Xuống và Hiện Đến với muôn người.” (xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Hiện Xuống năm C 19-5-2013, www.suyniemloingai.blogspot.com)

            Là người sống trong/ngoài thánh hội hoặc xã hội, bạn và tôi, vẫn là người cần dựng xây nhóm hội ấy cho phải phép, đúng cách. Dễ thực hiện. Giáo Hội và xã hội hôm nay không phải và không còn là thể chế rất cứng ngắc, vị luật và cố chấp. Nhưng, là một tổng thể gồm những con người sống cho phải đạo, và đúng lẽ đạo. Đạo làm người. Đạo của Chúa.
            Để minh hoạ những điều nói trên cho nhẹ nhàng, thư giãn như chuyện đời sau đây:
                                                                                                                   
Vua Arthur vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông ta hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu ngài giải được một câu đố cực khó. Thời hạn để Arthur đưa ra câu trả lời là một năm. Nếu sau một năm không tìm ra lời giải, Arthur sẽ phải chết.
Câu đố là: Phụ nữ thật sự muốn gì? Đó là câu đố mà có lẽ đến nhà thông thái nhất thế gian này cũng phải bó tay. Và với Arthur câu đố này quả là một thử thách quá lớn. Nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn là cái chết. Arthur đành chấp nhận mạo hiểm.
Khi trở về Anh Quốc, ngài hỏi tất cả mọi người từ các công chúa, các cô gái mại dâm, các vị cha xứ đến cả các quan toà, nhưng không ai có thể đưa ra một câu trả lời hoàn hảo. Điều mọi người khuyên vua là đến hỏi bà phù thuỷ già bởi vì có lẽ chỉ còn bà ta mới giải được câu đố hóc búa này.
Những ngày cuối năm cũng đã tới gần. Arthur không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Bà ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là bà ta muốn lấy Garwain hiệp sĩ dũng cảm của Hội bàn tròn, người bạn thân nhất của vua.
Arthur thất kinh. Bà ta vừa xấu vừa bẩn thỉu. Ngài chưa từng bao giờ thấy một ai đáng tởm như mụ ta. Không, ngài sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi như vậy.
Khi biết chuyện, Garwain nói với Arthur rằng sự hi sinh đó của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của vua, sự tồn tại của hội bàn tròn và vương quốc Anh. Và chàng hiệp sĩ quyết định hy sinh. Cuộc hôn nhân được chấp thuận và vua Arthur cũng nhận được câu trả lời.
Điều phụ nữ thật sự muốn đó là “Có toàn quyền quyết định mọi việc trong cuộc sống của mình”.
Ngay lập tức ai cũng nhận ra rằng mụ ta vừa thốt ra một chân lý. Vua của họ nhất định sẽ được cứu. Quả thật vua nước láng giềng rất hài lòng với lời giải đáp và cho Arthur khỏi cái án tử hình.
Lại nói về đám cưới của mụ phù thuỷ và chàng hiệp sĩ. Tưởng chừng như không có gì có thể khiến Arthur hối hận và đau khổ hơn nữa. Tuy nhiên chàng hiệp sĩ Garwain của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự. Mụ phù thuỷ thì trái lại, trong tiệc cưới, mụ ta làm nháo nhào mọi thứ lên. Thỉnh thoảng mụ lại lấy bàn tay bẩn thỉu của mụ nhón cái này một chút, bốc cái kia một tý. Thật chẳng ra làm sao cả. Mọi người thì hết sức khó chịu.
Đêm tân hôn, Garwain thu hết can đảm bước vào động phòng hoa chúc. Nhưng, gì thế này? Trên giường không phải là mụ phù thuỷ già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ.
Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng hiệp sĩ, cô gái từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với cô lúc cô là phù thuỷ, nên để thưởng cho chàng hiệp sĩ, cô sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ thương đối với chàng trong một nửa thời gian của 24 giờ một ngày.
Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh đẹp của nàng vào ban ngày hay là ban đêm. Chao ôi sao mà khó thế? Garwain bắt đầu cân nhắc: Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể tự hào cùng nàng đi khắp nơi, nhưng ban đêm làm sao mà ta chịu cho nổi? Hay là ngược lại nhỉ, ta đâu cần sỹ diện với bạn bè cơ chứ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, nhưng khi màn đêm buông xuống, ta sẽ được tận hưởng những giây phút chồng vợ với thiên thần này.
Sau đó Garwain đã trả lời “Nàng hãy tự quyết định lấy số phận của mình. Nàng muốn đẹp hay xấu vào lúc nào cũng được”.
Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô gái xinh đẹp kia hài lòng và nàng nói với chàng rằng nàng sẽ hóa thân thành một cô gái xinh đẹp suốt đời cho chàng.
            Đó là phần thưởng cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.....khà ...khà ...
 
            Nói cho cùng, thì: có cho phụ nữ làm phó tế vĩnh viễn hay không, hoặc có giúp vua Arthur tìm được hạnh phúc với người mình yêu hay không, cũng chỉ là vấn đề rất thực của người sống trong đời. Dù, đời ấy có là đời đi Đạo hay đời người sống đạo làm người cho phải lẽ, xin hãy như cháu nhỏ nọ cứ ngâm ngay câu hát, dù chưa hiểu hoặc chưa biết, như sau:

Em lo gì trời gió!”.
“Em lo gì trời mưa!
Em lo gì mùa hè,
Em tiếc gì mùa thu.”

(Đức Quỳnh/Nguyễn Bính – bđd)

Hát thế rồi, ta lại sẽ hát thêm câu ca đầy ý nghĩa, trong mọi chuyện, rằng:

“Ta cứ yêu đời đi.
            Như lúc ta còn thơ,
            Rồi để anh làm thơ,
            và để em dệt tơ.”
            (Đức Quỳnh/Nguyễn Bính – bđd)

            Hãy cứ yêu đời đi, rồi thì các nữ phụ trong đời rồi cũng sẽ thực hiện được điều mà Hội thánh ta phải nghĩ tới, rất ở đời.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn quan niệm:
            kitô-hữu cũng như người đời
            vẫn luôn có tự do
            sống ở đời, như mọi người.

Saturday, 1 June 2013

“Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ!”




 Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ Mười Thường Niên Năm C 09-6-2013

Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ!”
Đừng đợi ngày mai, đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai, đến khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mỉm cười.”
(Đức Huy – Nếu Có Yêu Tôi)
(1Tim 3: 10-18)
            Vâng. Đúng thế. Câu hát này bần đạo lại được nghe Khánh Ly hát thêm lần nữa, vào buổi văn nghệ “Tiếng Hát Bằng Kiều” ở Sydney, hôm 10/5/2013. “Nếu có yêu tôi…” có thể là lời nhắn của ai đó gửi đến mỗi người trong ta. Cũng có thể là lời nhắn gửi của cái-gọi-là “Cầm, Kỳ Thi, Hoạ” được nhân-cách-hoá, cũng không chừng!
Vâng. Đúng vậy. Lời nhắn đây, gồm những câu và những chữ rất hi hữu:“Đừng đợi ngày mai, đến lúc tôi qua đời…” rồi mới hỏi hoặc mới thích, e sẽ muộn.   
            Vâng. Có thể là như thế. Như thế, tức: trong đời người vẫn có những câu hỏi hoặc câu nhắn không khác thế là bao nhiêu. Như thế tức hỏi rằng: trong sống đời đi Đạo, nhiều người vẫn sống bằng con tim hoặc quan năng của mình, rất thức thời! Con tim và quan năng này, được triển khai/diễn tả qua nghệ thuật rất lớn lao của nhà Đạo, ở đâu đó. Câu hỏi và câu nói, hôm nay, còn là câu hối thúc bần đạo lục lọi hầu kiếm tìm một giải đáp cho phải lẽ, dù đôi lúc không đúng với thực tại cuộc sống.
            Có những câu hỏi/đáp tựa hồ như thế. Có những lời hát cũng tương tự như lời nhắn nhủ được nghệ sĩ hát tiếp ở bên dưới:

            Nếu có bao dung, thì hãy bao dung bây giờ.
Đừng đợi ngày mai, đến lúc tôi xa đời.
Đừng đợi ngày mai, biết đâu tôi nằm im hơi.
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.”
(Đức Huy – bđd)

Với một số người, nằm im hơi hay tạ lỗi cùng người vẫn có thể là câu hát tiếp, rất ý nghĩa:

“Có nhớ thương tôi, thì nhớ thương bây giờ.
Đừng đợi ngày mai, lúc mắt tôi khép lại.
Đừng đợi ngày mai, có khi tôi đành xuôi tay.
Trôi dạt về đâu, chốn nào tựa nương?”
(Đức Huy –bđd)

Nói cho đúng, có hỏi và đáp về nhiều thứ hoặc nhiều điều trong đạo, cũng tựa hồ lời thư của người viết có tên là Michael McGirr, tác giả cuốn “Finding God’s Traces” từng đưa ra vài ba thắc mắc gửi đến danh hoạ Rembrandt để nối lên sợi giây liên-kết giữa hội-hoạ và Đạo Chúa, như sau: 

“Thưa ông Rembrandt,

Chắc tôi phải thú thật với ông ngay ở đây, rằng: tôi đã có dịp đọc mẩu quảng cáo đăng trên báo địa phương thấy có người đã dùng tên ông làm thương-hiệu. Riêng tôi, vẫn thích cái cung-cách đầy tự tin đến độ bạo dạn khi ông ký tên lên hoạ-phẩm nổi bật trong giòng sử Tây phương đúng vào lúc có nhiều vị dám in hình vẽ của ông lên thành xe tải, với giòng chữ: “Tranh Rembrandt và những chuyện kỳ quặc”. Kỳ quặc đây, là ở điểm danh hoạ Rembrandt là hoạ sĩ tên tuổi người Hoà Lan sinh năm 1606 và chết năm 1669 có thể cũng muốn thấy xảy ra những chuyện như thế. Và từ đó, tôi đặt giả thuyết: nếu ông còn sống đến hôm nay, hẳn ông cũng sẽ lảng vảng đi quanh quất chiếc xe tải vẽ đầy những hoa hoè hoa sói, giống như thế!

Rembrandt xưa của tôi lại là ông công nhân, con trai của người thợ phay/tiện cùng với anh em mình làm nghề nướng bánh và sửa giày dép. Với ông, nghệ thuật là công việc hằng ngày đầy hấp dẫn của cuộc sống. Ông chẳng bao giờ làm giàu nhờ vẽ tranh để sống, nhưng ông vẫn phải đương đầu với nhiều thử thách gay go trong đó có buồn đau, đơn độc cùng các khó khăn tương tự. Nhưng ông là doanh gia từng làm nên nhiều khác biệt.

Có hai sự việc khiến ông được nhiều người biết đến và cảm kích rất mực, đó là: vẽ chân dung tự thuật và tạo tranh vẽ rút từ truyện Kinh thánh. Đó là hai mặt trên cùng một đồng tiền kẽm phối hợp để triển khai đặc tính linh-đạo súc tích, đầy kiếm tìm.

Thưa ông Rembrandt,

Ông là người đã tạo ra nhiều bức tranh chân-dung tự-thuật nói lên các giai đoạn đường đời với nét vẻ buồn/vui khác biệt. Khác biệt đây, không do tác giả muốn diễn tả sự phù phiếm/vu vơ hoặc tính vị kỷ của con người, nhưng ngược lại mới đúng. Các chân-dung tự-thuật do ông vẽ, có thể đã khởi đầu cho nhiều cố gắng gây ấn-tượng, nhưng thực chất nó là những kiếm tìm không ngừng nghỉ. Kiếm và tìm sự thật về chính mình, về người mình luôn có mặt xấu xí và nhiều khía cạnh giống như thế. Ông là người không biết hãi sợ khi nhìn lại chính mình ở cự-ly rất gần.

Cụ thể thì như thế. Chẳng hạn như, khi ông quyết vẽ lên nhiều cảnh-trí rút từ Kinh thánh của Đạo Chúa, thì chiều sâu tâm-thức mang tính chất rất người nơi bản vẽ đã trở thành nét vẻ tuyệt vời. Có điều lạ, là có lần ông tự vẽ chân dung của chính mình vào năm 1658 cách sao cho nó mang dáng vẻ vương giả một chút, lại chính là lúc căn hộ và tài sản của ông bị người ta đem đi đấu giá bán cho công chúng. Điều đó còn nói cho người xem tranh biết rằng: chân dung tự-thuật của ông chẳng liên quan đến những gì ông sở-hữu.

Về khía cạnh này, có hai bức độc đáo mà theo tôi, ông nên xem chung một lúc là bức “Xuống khỏi thập giá” (1633), còn bức kia là bức “Chúa trên đường Emmaus” (1629). Bức tranh đầu, vẽ hình Chúa trông mềm mại, ủ rũ là thế mà phải mất 4 người mới nâng nổi Ngài. Theo tôi, đây là hình ảnh cuối nói lên tấm thảm-hoạ nơi người phàm. Nhưng, toàn bộ thi hài của Chúa lại đẫm mình trong nguồn sáng rất mãnh liệt. Còn bức “Chúa trên đường Emmaus” lại dựa vào trình-thuật kể về những ngày tháng sau khi Chúa trỗi dậy từ cõi chết, cho thấy Chúa lu mờ dần trong bóng tối đầy ảm đạm. Dù thế, tranh của ông đã chứa đựng một sự thật rất sâu sắc. Sự thật là: Đức Giêsu trên thập-giá đã đưa toàn thể nhân loại vào với ánh sáng, còn Chúa Phục Sinh lại đã hiện thân cho nhiệm-tích sống động của Đức Chúa sống giữa chúng ta.

Thưa ông Rembrandt,

Ông cứ dấn bước về phía trước mà vẽ lên căn hộ của ông trước khi bọn tôi đưa ra thị trường địa ốc. Và tôi đây, tôi những muốn ông vẽ cả phần hậu trường của mọi thứ. Quả thế, ông hãy chú tâm đến những nơi mà ít người để mắt tới. Hãy đem chúng vào với ánh sáng. Bởi, chính đó là tên tuổi của những người cùng họ/cùng tên với ông đã vẽ lên toàn cảnh của thế giới nhân trần này.

Nay kính,
Michael McGirr
            (x. Michael McGirr, A Letter to a Painter, Australian Catholic Easter 2013, tr. 16)

            Thế đó, là tương quan giữa hội-họa và Đạo Chúa, đã phần nào kể hết những điều tương tự cũng rất “chân-thiện-mỹ”. Thế đó, cũng là những điều và những sự khiến ta có thể nói mà không sợ quá đáng, rằng: Đạo mình lâu nay vẫn có quan hệ khá chặt với nghệ thuật, đặc biệt là ngành hội hoạ, rất tượng hình.
            Nếu theo dõi Kinh Sách Cựu và Tân Ước, người đọc hẳn sẽ thấy là: ngay từ đầu, Đạo Chúa đã diễn tả ảnh hình một Đức Chúa theo hình tượng mà các nghệ nhân tưởng tượng. Tưởng tượng đó là thần tượng, tức thần linh được đúc tượng theo hình hài có mầu/có sắc nhưng không chắc. Nhiều lúc và nhiều khi, nghệ nhân trong Đạo ta lại cứ nắn/đúc nên tượng, nên hình đầy mầu sắc rồi tưởng đó là thần tượng chứ sự thật chỉ là tượng thần rất phàm trần, mà thôi.
            Vào thời của Đế quốc La Mã, người Đạo Chúa vẫn thấy sự giằng co giữa lo sợ về thần tượng và lòng ao ước có được ảnh hình đích thực để tạo nên nơi phượng thờ đẹp đẽ mà nguyện cầu. Vào lúc ấy, các tân tòng vừa trở về với Đạo dễ nhào trộn ảnh hình của Thiên Chúa với hình tượng của các thần khi trước mình đã theo. Lại thêm vào sự trộn lẫn này, là ý tưởng về việc Chúa tạo dựng con người theo ảnh hình của Ngài. Do đó, có sự trộn lẫn kéo dài nhiều thế kỷ.
            Lịch sử cho thấy, trong quá khứ, nhiều vị hoàng đế từng cấm con dân đi Đạo tạo ảnh Chúa giống con người rồi đặt ở nhà thờ. Có vị còn nại vào luật Môsê ngăn cấm người Do thái phủ phục trước các ảnh tượng Đức Chúa giống như thế.
            Giòng chảy lịch sử, lại cũng chứng tỏ cho mọi người thấy được hiện tượng cãi tranh, biện luận về sự kiện: đặt ảnh/tượng về Chúa đặt ở nhà thờ, không xứng hợp. Và, đó có thể là một trong các lý do có sự khác biệt và tách bạch giữa Thiên-Chúa-giáo và Đạo chính thống ở phương Đông, hồi thế kỷ thứ 8.
            Cuối cùng ra, tất cả đi tới thỏa hiệp công nhận rằng: nghệ thuật, dù gi đi nữa, cũng phải phản ánh và/hoặc có liên quan đến niềm tin, đúng truyền thống. Nói cách khác, truyền thống dạy rằng: các ảnh/tượng ở nơi thờ phượng phải là những tuyệt-tác thực sự mang tính “chân-thiện-mỹ”, mới được phép. Nói khác đi, nghệ thuật tượng-hình phải là nghệ-thuật tuyệt phẩm, do nghệ nhân có kỹ năng phải rất chuẩn mới được phép đưa vào nhà thờ, để tụng ca vinh danh Chúa, mà thôi.                
            Lại nữa, trong đời người, có nhiều sự việc nhìn qua người người cứ tưởng đó là nghệ thuật rất thật, nhưng kỳ thực vẫn chỉ là sự thật ở đời và trong đời được diễn tả thật ăn khách, mỹ miều, gồm nhiều thứ. Nhiều thứ và nhiều sự, rất giống truyện kể ở dưới cốt chứng minh rằng cuộc đời con người không chỉ mỗi đẹp như nghệ thuật thôi, mà còn mang nhiều ý nghĩa, rất “chân, thiện, mỹ”, nữa:    
         
“Truyện rằng:
Có một cậu học sinh 18 tuổi đang gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Cậu ta là một đứa trẻ mồ côi, và cậu ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền. Thế là anh chàng này bèn nảy ra một sáng kiến. Cậu ta cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ tìm đến người nghệ sĩ dương cầm đại tài Ignacy J Paderewski. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản phí bảo đảm $2000 để cho ông ấy được biểu diễn. Sau khi họ thoả thuận xong, hai người sinh viên ấy bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị để cho buổi trình diễn được thành công.

Ngày trọng đại ấy cuối cùng đã đến. Paderewski cuối cùng cũng đã biểu diễn tại Stanford. Thế nhưng không may là vé vẫn chưa được bán hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé lại, họ chỉ có được $1600. Quá thất vọng, họ đến chỗ của của Paderewski để trình bày hoàn cảnh của mình. Hai người sinh viên ấy đưa Paderewski toàn bộ số tiền bán vé, cùng với 1 check nợ $400, và hứa rằng họ sẽ trả số nợ ấy sớm nhất có thể.
- Không! Paderewski nói - Cái này không thể nào chấp nhận được.
Ông ta xé tờ check, trả lại $1,600 cho hai chàng thanh niên và nói :
- Đây là 1600 đô, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn thì còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu thì hãy đưa cho tôi.
Hai cậu sinh viên ấy vô cùng bất ngờ, xúc động cảm ơn Paderewski..
Đây chỉ là một việc làm nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski.

Tại sao ông ấy có thể giúp hai người mà ông ấy thậm chí không hề quen biết. Chúng ta tất cả đều đã bắt gặp những tình huống như vậy trong cuộc sống của mình. Và hầu hết chúng ta đều nghĩ: "Nếu chúng ta giúp họ, chúng ta sẽ được gì ?” Thế nhưng, những người vĩ đại họ lại nghĩ khác: "Giả sử chúng ta không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp khó khăn ấy?” Họ không mong đợi sự đền đáp. Họ làm chỉ vì họ nghĩ đó là việc nên làm, vậy thôi.
Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski hôm nào, sau này trở thành Thủ Tướng của Ba Lan. Ông ấy là một vị lãnh đạo tài năng. Thế nhưng không may chiến tranh thế giới nổ ra, và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Có hơn một triệu rưỡi người Ba Lan đang bị chết đói, và bấy giờ chính phủ của ông không còn tiền để có thể nuôi sống họ được nữa. Paderewski không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ. Ông ta bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ sự trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy.

Thảm họa cuối cùng cũng đã được ngăn chặn. Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy nhẹ nhõm. Ông bèn quyết định đi sang Mỹ để tự mình cảm ơn ông
Hoover vì cử chỉ cao quý của ông ấy đã giúp đỡ người dân Ba Lan trong những lúc khó khăn.
Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói :
-Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu, thưa ngài Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.”

            Truyện kể thì như thế. Thật ra, cũng không nói hết được những gì bần đạo muốn nói về câu chuyện nghệ thuật ở nhà Đạo. Nhưng, người kể lại có lời bàn rằng: “Thế giới này đúng thật tuyệt vời, khi bạn cho đi thứ gì, bạn sẽ nhận lại được những điều tương tự.” Đúng thế. Thế giới này vẫn có những chuyện như thế: khi mình cho đi, dù trong nghệ thuật hoặc ở nhà Đạo, thì sẽ nhận lại được những điều tương tự. Nhưng, tương tự là tương tự thế nào? Cũng có thể là lời cuối cùng một bài hát, cũng là thế:

            Có tốt với tôi, thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai, đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai, đến khi tôi phải ra đi
Ôi muộn làm sao nói lời tạ ơn.”
(Đức Huy – bđd)

Cũng có thể là những lời dẫn giải và diễn giải khác, cũng khác hẳn. Và diễn giải của nhà Đạo, vẫn tương tự như lời dẫn rất hạnh đạo, như sau:

Các trợ tá cũng vậy,

phải là người đàng hoàng,

biết giữ lời hứa, không rượu chè say sưa,

không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn;

họ phải bảo toàn mầu nhiệm đức tin

trong một lương tâm trong sạch.”

(1 Tim 3: 5-9)

 

            Thật ra thì, bậc thánh-hiền nói rất chung có thể áp dụng trong nhiều trường-hợp. Nhưng trường hợp của nghệ thuật trong Đạo, ta cũng nên hướng về lời căn dặn khác của đấng thánh như:

 

Tôi viết cho anh thư này, dù vẫn hy vọng sớm đến với anh.
Nhưng nếu tôi chậm trễ, thì thư này sẽ cho anh biết
phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa,
tức Hội Thánh của Thiên Chúa hằng sống,
cột trụ và điểm tựa của chân lý.
Phải công nhận rằng: mầu nhiệm của đạo thánh thật là cao cả, đó là:
Đức Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm,
được Chúa Thánh Thần chứng thực là công chính;
Người được các thiên thần chiêm ngưỡng,
và được loan truyền giữa muôn dân;
Người được cả hoàn cầu tin kính,
được siêu thăng cõi trời vinh hiển.”
(1Tim 3: 10-18)

            Là Kitô-khác, tức cũng phải sống như Đức Kitô. Sống rất “chân, thiện, mỹ” không chỉ trong nhà Đạo mà thôi, nhưng là sống Đạo một cách rất “chân, thiện, mỹ” ở đời với người đời, rất ngoài Đạo. Sống như thế, tức sống cùng và sống với mọi người, cả những người vẫn hát những lời nhắn-nhủ rất ý nghĩa, vẫn bảo rằng:

Rộn ràng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Ngậm ngùi một nỗi vui.”
(Đức Huy – bđd)

            Vui hay đau, đau nhưng mà vui, vẫn là trạng thái rất tâm-linh lình xình một đời người. Một đời của những người vẫn nghe lời nhắn nhủ phải sống rất “chân, thiện, mỹ” suốt đời, với người đời.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn nghe nhiều lời nhắn và nhủ
            giống như thế suốt một đời
            mà vẫn quên.