Tuesday, 12 November 2019

“Một ngày tình bỗng khói sương”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 33 thường niên năm C 17/11/2019

“Một ngày tình bỗng khói sương”,
Tôi về gom chút tàn hương cuối trời
Hồn sầu mộng giấc chơi vơi
Tàn canh quạnh vắng trăng rời phố khuya.”
(Phạm Anh Dũng & Phạm Ngọc – Tình Bỗng Khói Sương)

(Lc 20 : 33-38)

Cứ như tình-tự của bài hát viết ở trên, thì có lẽ chẳng còn ai muốn có được thứ tình-tiết như thế. Thế nhưng, hãy để nghệ-sĩ nhà mình trải dài thêm vài ba tâm-tư cùng tình tự như bên dưới, vẫn hát rằng:

“Một ngày em đã xa tôi
Đường mây hướng gió xa xôi ngàn trùng
Quanh tôi là cõi thinh không
Tìm đâu lại áng mây hồng vụt bay
Một ngày em bỏ nơi này
Công viên ghế đá giăng đầy bụi mưa
Và Thu cũng sớm sang mùa
Hoang mang cành lá vàng úa trên đường.”
(Phạm Anh Dũng & Phạm Ngọc – bđd)


Ở ngoài đời, nghệ sĩ nhà mình thường hát thế. Vẫn cứ hát những điều nghe ra buồn rười rượi thế nhưng có người lại vẫn thích thú. Còn nhà Đạo mình thì sao? Có chăng bạn Đạo nào đó lại thích những chuyện ‘tréo cẳng ngỗng’, như thế không? Hỏi, thì hỏi thế chứ cũng nên xem nhà Đạo mình ở đây đó nói thế nào về tình hình người đi Đạo và giữ Đạo trên thế-giới với lời nhắn nhủ những bảo rằng:


Mới đây Đức Phanxicô từng bảo rằng: “Chuyện hàng giáo sĩ lạm dụng tình dục đang tẩy uế con người chúng ta; và nỗi đau buồn về những tai tiếng trên toàn thế-giới giúp Giáo hội khởi đầu cải tổ chính mình.


Trong buổi nói chuyện với các linh-mục thuộc giáo-phận Rôma ngày 07/3/2019, Đức Phanxicô lại cũng nói: “Chúng ta có thói quen hối hận một cách khiêm tốn các lầm lỡ của mình, qua động-tác lặng thinh rồi khóc lóc khi đặt mình ở hai tình-huống; một là, thấy rõ tầm mức lớn lao của lầm lỡ và sự cao cả khôn lường khi Chúa thứ tha mọi lỗi lầm của ta. Hối-hận một cách khiêm nhượng khiến ta bắt đầu trở nên thánh-thiện. 


Trong buổi gặp gỡ các linh mục vào ngày chay kiêng hôm 07/3/2019 Đức Phanxicô đã khởi sự buổi nguyện-cầu ăn-năn hối-cải và xưng thú cá-nhân diễn ra tại nguyện đường thánh Gioan Latêranô ở Rôma thuộc giáo-phận Rôma. Trong buổi nói chuyện khá dài về chức linh-mục và sự tha thứ, Đức Giáo Hoàng ghi nhận là đang có khủng hoảng lạm dụng tính-dục nơi hàng giáo sĩ và việc này tác-động lên các linh-mục một cách đặc biệt.


Ngài nói: “Tội làm ta biến dạng và bẽ mặt khi ta hoặc một người anh em linh-mục hoặc giám mục của ta, thì tội ác đưa ta xuống đáy vực đồi bại, rữa nát hoặc tệ hơn nữa, tàn phá sự sống của người khác tựa hồ chuyện lạm dụng tình dục con trẻ. 


Đức Giáo Hoàng còn tuyên bố ngài xác tín rằng các vụ lạm dụng tình dục cuối cùng ra, vẫn là công việc của ác thần. Ngài nói rõ: “Dù sao đi nữa, anh chị em cũng chớ nản lòng. Thiên-Chúa đang tẩy rửa hiền-thê của Ngài là Giáo-hội và Ngài cũng đang hoán-cải ta đưa tất cả mọi người về lại với Ngài. Thiên-Chúa đưa ta vào chốn thử-thách để ta hiểu ra rằng: không có Ngài, ta chỉ là cát bụi mà thôi.        


Đức Phanxicô lại cũng cho biết: Thiên-Chúa đang tái-tạo nét kiều diễm nơi hiền thê của Ngài đang ngỡ-ngàng trong cuộc tình đặc-biệt cách ngoại thường. Đức Giáo Hoàng tập trung buổi nói chuyện của ngài vào truyện Xuất Hành qua đó Thiên-Chúa đào luyện dân con của Ngài, giáo-dục họ, gọt giũa rồi đưa họ vào đất miền lành thánh Ngài hứa ban cho họ. Đức Giáo Hoàng lại cũng nhấn mạnh rằng Thiên Chúa buộc lòng phải dạy cho dân con của Ngài tính khiêm nhượng để họ biết Ngài là Thiên Chúa rồi từ đó hoàn toàn phó thác nơi Ngài.


Đức Phanxicô cũng nói: khi người Do-thái-giáo xưa đúc bò vàng để thờ, đã xảy ra tiến-trình hóa-giải khá bền-bỉ và dân con mọi người được dạy cho biết Thiên Chúa là Đấng vừa đe nẹt vừa ủi an hết mọi người để họ biết hậu quả của việc làm sai quấy và Ngài quyết định quên đi mọi lỗi tội của họ rồi còn xoa dịu các vết thương do Ngài giáng phạt.


Thiên Chúa dọa bỏ rơi dân con của Ngài và Ngài để họ trải nghiệm những cực hình họ có thể chịu để biết rằng không có Ngài giúp đỡ, thì mọi sự chẳng là gì cả. Đức Phanxicô còn nói rõ: “Mọi người chúng ta đều cảm-nghiệm điều này, cả những khoảnh khăc xấu xa, tồi tệ của tình-trạng âu sầu về tinh-thần nữa.”


Thế nhưng, Thiên Chúa luôn quay về ban phép cho dân con của Ngài học biết kính sợ tình trạng bất-lực của họ, tính tinh-quái của họ và cả đến cung-cách họ xử thế, tức nói một đằng làm một nẻo.


Việc xưng thú đối với hàng ngũ linh-mục cũng như bất cứ giáo-dân nào khác là khoảnh khắc quay về đối diện với sự yếu đuối của chính mình mà trở nên lương thiện và nói to cho mọi người biết con người đã lỗi phạm đến độ nào. Việc này tựa hồ cởi bỏ mặt nạ che khuất diện mạo của chính mình hoặc những gì người đời thường tô vẽ lên đó hoặc che kín nó để không ai thấy được sự xấu xa của mình.


Và cuối cùng, Đức Phanxicô còn quả quyết với các linh-mục có mặt ở Rôma hôm ấy rằng: các ngài đừng kỳ-vọng là mọi người hiểu mình, chấp nhận và cảm kích mình, nhưng  hãy tin tưởng vào sự dẫn dắt của Thiên Chúa là Đấng đang làm rất nhiều sự vào thời này. Ngài đang mở rộng tâm can của ta và đặt ta vào công cuộc phục vụ Lời nói mang tính giải hòa của Ngài.” (X. Cindy Wooden, Abuse purifying us, The Catholic Weekly 13-10-2019).

Để minh họa cho điều vừa định-vị, ta cũng nên thêm một truyện nữa cho “thấm” hơn, mà rằng:





“Có thanh niên nọ lúc nào cũng tự trách mình không gặp thời gặp thế, bởi vậy mặt mày cứ ủ rũ mãi thôi. Bỗng, có cụ già đi qua thấy vậy bèn hỏi nhỏ:
-Này bạn trẻ, sao bạn lại không thấy mình hạnh phúc chứ?
Người trẻ đáp:
-Cháu cũng không biết tại sao cháu cứ nghèo/hèn mãi như thế này.
Cụ già thành thật nói:
-Nghèo ư? Cháu rất giàu thì có!
Cụ lại hỏi:
-Nếu ta chặt một cánh tay của cháu và rồi trả 50 triệu tiền bồi thường cháu có chịu không?
Người thanh niên đáp:
-Không đâu, thưa cụ.
Cụ già lại hỏi:
-Nếu ta lấy đi hai con mắt của cháu và trả 500 triệu, cháu vẫn không chịu chứ?
-Không bao giờ thế đâu, thưa cụ.
Và rồi, cũ già lại hỏi tiếp:
-Nếu ta làm cho cháu trở-thành ông cụ già như ta và trả 50 tỷ đền bù, cháu chịu không?
-Thưa, cũng không luôn.
-Giả như ta làm cho cháu chết đi và trả cháu 50 tỷ đền bù, cháu có chấp nhận    
không?
-Không. Cậu thanh niên vẫn quả quyết.
Cụ già ôn tồn nói:
-Như thế là, cháu có cả khối tài sản hơn 50 tỷ rồi, sao cháu không vui chút nào hết vậy?

Người thanh niên bỗng lặng thinh, cậu hiểu ra được tất cả... Cậu là người hạnh phúc và giàu có không kém ai.

Nếu một mai thức dậy, bạn được phép hít thở tự do, đó là bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều người từng rời bỏ thế gian trong tuần này...

Giả như bạn chưa từng trải qua các mối hiểm nghèo của chiến tranh, nỗi thống khổ của đói kém, cả đến cô độc của tù đày, thì bạn đã hạnh phúc hơn 500 triệu người trên thế gian này!

Nếu bạn còn có đủ thức ăn, trên người lại có quần áo mặc có nhà để ở, thì bạn đã giàu có hơn 70% số người hiện-hữu trên thế giới này rồi còn gì nữa?

Nếu bạn được tự do, an toàn dự một lễ-hội mà không bị ai quấy rầy, bức bách thì bạn đã hạnh-phúc hơn 7 tỷ người sống trên trái đất...

Nếu bạn có thể mỉm cười, trong người lại tràn ngập đủ mọi tâm tư thì bạn đã thực sự là người hạnh phúc nhất rồi. Bởi lẽ, mọi người sống trên thế giới đều có thể làm thế, nhưng họ vẫn không làm.

Nếu bạn đọc được những giòng chữ viết nơi đây, thì bạn đã hạnh phúc hơn 2 tỷ người không biết chữ trên thế giới...

Vậy, hãy thử nghĩ xem, có điều gì khiến bạn không thấy hạnh phúc đây? (Nguồn: ST sưu tầm)


Thật ra thì, có những điều được ST và bạn bè ở đây đó sưu tầm cho mình đọc, thì đó cũng là một phúc hạnh không nhỏ, chứ chẳng chơi! Còn gì hạnh phúc bằng, luôn có ai đó quan-tâm chăm sóc mình bằng nhiều cách. Cả đến phương-cách lý-luận, kể lể những chuyện trong nhà ngoài ngõ suốt cuộc đời, hệt như câu chuyện về đấng bậc nọ cũng luôn quan-tâm không đến những chuyện của bạn và của tôi, sau đây:

“Nếu ta vẫn sống sót để đi đến Chúa, ở với Chúa và được Chúa chăm sóc cho mình sau khi chết, điều này có nghĩa: Chúa đang thiết-lập một thế giới mới và ban cho ta một hiện hữu theo kiểu mới nơi xác thể, ở thế giới này. Đây là thứ xác-thể có uy-lực của Thánh-Linh, chứ không chỉ là sự sống còn theo nghĩa tinh thần, đâu. Ta cũng không thể biết xác-thể mới này trông giống gì. Các câu hỏi như thế không thích-hợp. Câu hỏi thực sự không mang tính vũ trụ quan mà có tính cách chính-trị. Thế giới mới này sẽ khác hẳn và tốt đẹp hơn.

Thế giới mới ấy sẽ là thế giới của tự do, công bằng, bình yên và thương yêu. Thế giới đó, sẽ là thế giới trong đó người nghèo khó, thấp hèn không còn khó nghèo và hèn kém nữa. Mà là, thế giới trong đó con người có uy-lực hiện thời sẽ không còn và không thể hiện hữu để rồi có thể làm hại một ai nữa. Đám người như nhóm bè Xađuxê và người La Mã sẽ không còn loanh quanh luẩn quẩn ở cạnh nữa, mà đây lại là một cuộc xuất hành mới, theo đó, một lần nữa Chúa lại nghe tiếng vãn than của dân con Ngài đang đau khổ và Ngài đến tiếp cứu.

Đây là cuộc trở về mới từ nơi lưu lạc, theo đủ cách. Thiên Chúa là Chúa của tự do. Là, Đấng cứu độ và là Chúa của mọi cách mạng qua đó Ngài đối đầu sự chết với tin lành loan đi sẽ có thế giới mới trong đó sự chết không còn chỗ đứng. Thiên Chúa giáp mặt với mọi người có uy-lực để lãnh nhận sự sống tràn đầy từ người khác, cùng tin tức loan báo rằng mọi sự xấu sẽ được chỉnh sửa để nên tốt. Mọi đớn đau được lành lặn và dân con mọi người sẽ ở đó. Thiên Chúa không là Chúa của bè nhóm Xađuxê, cũng không là Chúa của đế quốc La Mã.

Chẳng thế mà, người Xađuxê và La Mã không thể ở vào địa vị của Chúa để nói về Phục sinh quang vinh. Họ vẫn muốn có uy quyền, để cai trị thế gian. Họ chẳng muốn mất đi thế lực mình vẫn có. Nên Chúa nói: họ sẽ mất tất cả, bởi loại hình thế giới của họ sẽ không bao giờ có nữa. Họ lại chọn loại hình sai trái về thế giới do mình tạo mà thực tế lại khác hẳn. Thế giới mà người nghèo khó lâu nay vẫn đợi chờ.

Phục sinh không có nghĩa như một miêu tả sự thể xảy đến cho mỗi người sau khi chết. Điều này không chỉ nói: Chúa đã sống lại, thế nên ta sẽ lên thiên đàng khi chết đi sẽ về với Chúa. Mà là Chúa mang đến thế giới mới này bằng việc lật ngược/thay đổi tận gốc rễ thế giới ta đang sống. Tin Mừng có ý nói: Chúa đã sống lại rồi, thế nên tạo vật mới đã bắt đầu. Ý Tin Mừng nói: Chúa đã sống lại thật, nên ta được ủy thác ra đi mà thiết lập thế giới mới đã khởi sự đến gần, ngay tại đây, bây giờ, và có trước cho mọi người. Ta có bổn phận để cho sự thật về “sự sống lại” biến ta trở thành những nhà cách mạng biết chối-từ nhượng-bộ những gì đã hiện-hữu.

Mọi người, cả nam lẫn nữ, đã ở vào “cuộc chơi” cũng đủ để nói rằng: những gì là sai quấy trong thế-giới của ta đã chết, và thế-giới mới của Chúa đã khởi-sự. Thế giới mới này, không chỉ mang tính linh-thiêng, nhưng còn có nghĩa chính trị. Không phải chỉ xảy ra trong tương lai/ mai ngày, nhưng đã xảy đến ngay lúc này rồi.” (X. Lm Kevin O’Shea, DCCT Suy tư Tin Mừng CN 32 thường niên năm C, Lời Chúa Sẻ San)

Tất cả, lại đã quay về với ý-nghĩa của phụng-vụ lời Chúa hôm nào đó vẫn cứ quay về với ý-nghĩa đích thực về “Sống lại” và về sự sống rất mới, ở trần gian hôm nay. Tất cả đã như lời nhắn nhủ của Đấng thánh hiền từng bảo ban trong thánh kinh, mà phán rằng:

“Những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham,Thiên Chúa của tổ phụ Isaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Mà Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống."  
 
“Tất cả đều đang sống”. Không những thế, họ và ta vẫn đang sống mạnh, sống vững chãi và hiên ngang như bao giờ. Đó là sự thật rõ như ban ngày, ai cũng thấy. Thế mới lạ!

Và điều lạ đây, cứ thấy xảy ra đều đều và mãi mãi trong đời mình, như câu truyện kể có đầu đề Xin hãy cho nhau nụ cười”  ở bên dưới vẫn chứng minh một điều hệt như thế:
            Truyện rằng:
“Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện, thế nhưng nụ cười lại tỏa sáng nhiều hơn hàng trǎm bóng đèn điện.

Không ai nghèo đến nỗi không thể mỉm một nụ cười, cũng không ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác.

Một nụ cười - vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng nó phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ.

Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười.
Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình.
Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái.
Nụ cười làm cho kẻ nhọc nhằn tìm được sự thoải mái dễ chịu.
Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí, hoang mang.
Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi vì không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười..

Có một câu chuyện kể rằng: Saint Exupery từng là phi công tham gia chống phát xít trong Đệ nhị Thế chiến. Chính từ những nǎm tháng này ông đã viết ra tác phẩm "Nụ cười".. Không biết đây là một tự truyện hay một truyện hư cấu, nhưng tôi tin rằng nó có thật. Trong truyện, Saint Exupery là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông biết nay mai có thể bị xử bắn như nhiều người khác.

Ông viết:
-Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù.

Tôi gọi:
-Xin lỗi, anh có lửa không?.

Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là viên cai ngục phát xít mà chỉ là một con người.

Anh ta hỏi tôi:
-Anh có con chứ?"
Tôi đáp:
-Có và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình.

Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhoà lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại được người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khoá và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười".

Từ khi đọc được câu chuyện này tôi nghiệm ra được nhiều điều. Tôi biết rằng bên dưới mọi thứ vỏ bọc chúng ta dùng để thủ thế, để bảo vệ phẩm giá và địa vị, vẫn còn đó một điều thật quý giá mà tôi gọi là tâm hồn.

Tôi tin rằng: nếu tâm hồn bạn và tâm hồn tôi nhận ra nhau thì chúng ta chẳng còn gì phải sợ hãi hay cǎm thù oán ghét nhau.

Nếu bạn từng có một khoảnh khắc gắn bó với đồng loại qua sức mạnh của nụ cười, thì tôi tin rằng bạn cũng đồng ý với tôi, đó là một phép lạ nho nhỏ, một món quà tuyệt vời mà chúng ta có thể dành cho nhau.

Một nữ tu ở Calcutta đã cảm nhận được điều này trong cuộc sống, và bà đưa ra lời khuyên chân thành: "Hãy mỉm cười với nhau, mỉm cười với vợ, với chồng, với con cái bạn và với mọi người dù đó là ai đi nữa, vì điều này sẽ giúp bạn lớn lên trong tình yêu của nhau..."
(ST sưu tầm)

Và, để minh họa cho câu chuyện nói ở đây, tưởng cũng nên trở về với ca-từ những hát rằng:

“Một ngày tình bỗng khói sương”,
Tôi về gom chút tàn hương cuối trời
Hồn sầu mộng giấc chơi vơi
Tàn canh quạnh vắng trăng rời phố khuya.
“Một ngày em đã xa tôi
Đường mây hướng gió xa xôi ngàn trùng
Quanh tôi là cõi thinh không
Tìm đâu lại áng mây hồng vụt bay
Một ngày em bỏ nơi này
Công viên ghế đá giăng đầy bụi mưa
Và Thu cũng sớm sang mùa
Hoang mang cành lá vàng úa trên đường.”
(Phạm Anh Dũng & Phạm Ngọc – bđd)

Và lời Kinh thánh làm bằng cho việc ấy, lại đã thấy ở Tin Mừng sau đây, những bảo rằng:

"Con cái đời này cưới vợ lấy chồng,
chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau
và sống lại từ cõi chết,
thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng.
Quả thật, họ không thể chết nữa,
vì được ngang hàng với các thiên thần.
Họ là con cái Thiên Chúa,
vì là con cái sự sống lại.
Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy,
thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai,
khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham,
Thiên Chúa của tổ phụ Isaác,
và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp.
Mà Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết,
nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống,
vì đối với Ngài,
tất cả đều đang sống."
(Lc 20 : 33-38)

Lời Chúa hôm ấy, thì như thế. Còn, lời của người đời hôm nay, sẽ như câu truyện sau đây:

“Hôm ấy, lễ xong có một nữ phụ đứng đón cha xứ ở cuối nhà thờ và thưa với ngài:
-Chắc cha không phiền khi thấy chồng con bước ra ngoài lúc cha đang giảng đấy chứ?
-Thật tình thì tôi cũng hơi bị phân-tâm khi thấy ông ấy bỏ ra như vậy.
Người phụ nữ cố-gắng biện-minh cho hành-động của chồng mình, rằng:
-Thưa cha, thật ra thì …không phải là chồng con chê cha giảng dở mà bước ra đâu. Số là chồng con có cái bệnh ‘mộng du’ bị từ nhỏ. Lần nào ngủ, ông cũng đều đi như thế!

Tiện thể, bà già đạo đức lại cất tiếng kể thêm câu truyện khác cũng về nhà thờ/nhà thánh như sau:

Đức Giám Mục địa phương thường có thói quen chào anh chị em giáo dân bằng câu “Peace be with you” (Bình an ở cùng anh chị em) trước khi bắt đầu giảng.

Hôm ấy, ngài đến dâng lễ cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam. Khi đến phần thuyết giảng, ngài tiến đến bục giảng và sửa cái microphone cho cao hơn để vừa với thân hình cao lớn của ngài.

Dùng hết sức uốn nắn cái “microphone” cho nó cao lên nhưng nó cứ nằm ì không chịu nhúc nhích, Đức Cha bèn nói: “Something wrong with the microphone” (= có cái gì đó không ổn với máy vi-âm này).

Cộng đoàn theo thói quen, đồng thanh đáp: “And also with you”. Đức Cha! (Và với ngài cũng thế.) 

Với ngài hay với ai, cũng vậy. Nhưng với giáo dân có “Chúa ở cùng” ngày hôm ấy, vẫn không vậy!

            Trần Ngọc Mười Hai
            Nhiều lúc cũng nghĩ vậy
Nên mới chết “một cửa tứ”
Đấy chứ.
           
           


Monday, 4 November 2019

“Cho nhớ thương về quê xưa.”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 32 thường niên năm C 10/11/2019

“Cho nhớ thương về quê xưa.”
Mùa Xuân không còn nữa,
Muôn cánh hoa đào phai úa,
Lối cũ rơi hững hờ.”
(Nguyễn Hiền – Hoa Bướm Ngày Xưa)


(1Phêrô 4: 12-16)

“Nhớ thương quê xưa”, “Xuân mùa không còn” rồi thì cả đến “lối cũ” cũng như “hoa đào” hoặc hoa xuân ít nhiều cánh, cũng chẳng ai còn nhớ, còn thương như khi xưa, bao giờ.

Đó, là niềm thương niềm nhớ về chốn cũ ”Ngày xanh”, “Hồn thơ mơ màng” và… thôi thì cú đủ  trăng thanh gió mát, “làn mây trôi”, “Khung trời hoa bướm”, “Nắng tơ vàng”, đủ thứ, hết mọi loại lại cứ ơ hờ, trời mơ quẩn quanh đây đó mấy tư-tưởng đầy những thơ như câu ca còn hát mãi: 

“Nơi ấy bao ngày xanh qua
Hồn thơ mơ màng quá
Yêu những khung trời hoa bướm
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Hồn bướm hoa xưa còn đâu?
Vườn cũ quê nhà yêu dấu
Mầu nắng xưa còn lưu luyến
Hương sắc ngừng trôi trước thềm
Còn nhớ hay chăng người ơi!
Chiều nào thầm nghe lá rơi
Ta nắn cung đàn u sầu
Thương ngàn cánh hoa phai mầu

Cho nhớ thương về quê xưa
Mùa Xuân không còn nữa
Muôn cánh hoa đào phai úa
Lối cũ rơi hững hờ
Nơi ấy bao ngày xanh qua
Hồn thơ mơ màng quá
Yêu những khung trời hoa bướm
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Tìm thấy đâu ngày thơ êm ái
(Nguyễn Hiền - bđd)

Hôm nay đây, và có lẽ cả trong mai ngày nhiều thế hệ, bạn cũng như tôi sẽ không còn thấy bơ phờ nhiều giòng chảy tư-tưởng đầy những thở than, lan man một “bồ chữ”, rất như sau:

“Thưa Cha,
Có thể nào, cũng xin Cha kể cho đám con cháu còn ngu muội đây, đôi điều về “Linh-hồn xâm nhập xác phàm loài trẻ bé”. Xâm nhập từ đâu? Khởi từ khi nào? Từ buồng trứng hoặc tử cung đây? Con có đứa con gái rất đáng yêu từng xảy thai khá nhiều lần khiến con đây cứ tự hỏi lòng mình là: với các thai nhi chưa kịp mang hình hài trai, gái xác phàm có chăng linh hồn của trẻ thơ? Linh hồn ấy, hẳn cũng đạt chốn thiên đường khi chết sớm đấy chứ? Xin Cha bố thí cho con đôi giòng chữ thân thương giải đáp để con còn biết mà thưa thốt với mọi người, trong ngoài Giáo hội!”

Vâng, đấng bậc nhà Đạo đây có bố thí cho người hỏi đôi giòng tư-tưởng không “ta bà” nhiều bến đáp, rất như sau:

“Trước nhất, theo thiển ý, ta cũng nên tìm về bối cảnh trong đó ta có những hai sự thật về đời người, ở đời. Trước hết, qua cụm từ “linh hồn” nói chung, mọi người thường diễn-tả nguyên-tắc sống của mọi sinh-vật trong trời đất. Tất cả mọi sinh vật sống, từ cây cỏ, thú vật hoặc bản-thể người đều có một thứ gọi là ‘hồn’. Chính cái ‘hồn’ này tạo sự hợp nhất cho bản thể ấy, và theo nghĩa triết-học cái đó được gọi là ‘hình-thức’ của chất vật.

Tuy nhiên, duy chỉ nơi con người cái hồn này mới mang tính linh thiêng, có khả năng am-hiểu, tư-duy và thương mến, vv… Rồi từ đó, hồn người mới lại có chính hành-động tư-tung tự tác, biệt-lập với thân xác rồi cứ thế nó tiếp tục hiện-hữu mãi đến khi người ấy quá vãng đi vào chốn thiên thu bất tận.

Thứ hai là, hồn thiêng nơi con người do Thiên-Chúa trực-tiếp dựng nên. Bằng vào lời lẽ ở Sách Giáo-lý, ta đọc được những lời sau đây: “Giáo Hội dạy rằng: tất cả thần-hồn linh-thiêng đều do Thiên Chúa trực-tiếp tác thành –chứ không do cha mẹ ‘sản sinh’-  và hồn thiêng con người luôn bất tử; hồn thiêng không héo rụi khi tách rời khỏi xác thể vào lúc chết và nó sẽ kết hợp trở lại với xác thân vào ngày Phục sinh sau hết.” Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đoạn 366; và ở câu 33)                 

Nhìn vào lịch sử Giáo hội, ta thấy Aristotle (384-322 trước Công nguyên) dạy rằng: bản thể người lúc đầu đã có hồn thực vật hoặc hồn cỏ cây, rồi sau đó có hồn cảm-xúc hoặc hồn thú và cuối cùng là hồn trí-tri hoặc hồn người. Với ông, thì việc nhập hồn, tức việc hồn người gia nhập thể xác xảy ra 40 ngày sau khi thụ thai, đó là đối với nam-nhân và 90 ngày với nữ-giới. Vào lúc ấy, mọi người tin rằng chỉ sau thời gian ấy ta mới thấy có sự chuyển động trong cung lòng người mẹ và chỉ khi ấy việc người mẹ mang thai mới chắc chắn.

Với các triết-gia khác, nhóm Khắc Kỷ chủ-trương rằng hồn thú chỉ thành hình sau khi sinh ra, tức vào lúc thú con tiếp xúc với không khí và sau đó mới đổi thành hồn có lý-trí vào độ tuổi 14 thôi. Các triết-gia theo thuyết Êpicure và Pythagore lại tin rằng hồn thiêng khởi sự hiện-hữu ngay vào lúc thú mẹ thụ thai.         

Giáo hội thời đầu, có rất nhiều vị chuẩn-nhận lập-trường của triết-gia Aristotle. Nhưng, ý-tưởng bảo rằng hồn thiêng thấm nhập thể xác vào lúc thụ thai lại cũng được mọi người chấp-nhận ngay từ thế kỷ thứ 3 và sau đó thánh Grêgôriô thành Nyssa lại cũng xác-nhận sự thật này vào thế kỷ thứ tư.

Mãi sau này, quan-điểm của Aristotle mới trở-thành lập-trường của nhiều người hơn nữa là do họ đặt nền-tảng trên sự tin tưởng bảo rằng chỉ vào khi thai-nhi đã thành-hình rồi mới có được hồn người. Đến thế kỷ thứ 5, thánh Âu-tinh mới theo lập trường này dù thánh-nhân sau đó cũng biện-luận nhiều về sự việc hồn thiêng mọi loài có khả-năng xuất-hiện trước lúc đó.

Đến thế-kỷ thứ 13, thánh Tôma Aquinô lại đã công-nhận rất hết mình khái-niệm của Aristotle chủ-trương rằng phôi-thai ban đầu đã có hồn thực-vật và hồn thiêng xúc-cảm của con người xuất-hiện vào 40 ngày sau.

Đi thẳng vào thời hiện-tại, Giáo-hội lâu nay vẫn chưa khẳng-định khi nào thì hồn thiêng nhập-định. Đây vẫn là vấn-đề còn mở ngỏ, suốt từ lâu.

Thánh bộ Giáo-lý Đức tin có tuyên-bố thẳng-thừng về chuyện này qua Tông thư Tuyên-ngôn Phá thai ban hành năm 1974, khi ấy nói rõ: “Tuyên ngôn đây, dứt khoát để sang một bên vấn đề hỏi rằng: khi nào thì hồn thiêng con người nhập-định vào thân xác. Về điểm này, truyền thống Giáo-hội không nói rõ chuyện đó và các tác-giả lại cũng bất đồng ý kiến về chuyện ấy. Với nhiều vị, sự việc này xuất-hiện ngay vào lúc khởi đầu; các vị khác lại chủ-trương: ít ra thì, sự việc này cũng không xảy ra vào lúc phôi thai đi vào cung lòng của người nữ. Và, chuyện này khoa-học cũng không có thẩm-quyền để phân-định các lập trường khác biệt, bởi lẽ việc linh hồn bất-tử hiện-hữu không là vấn-đề đặt ra cho họ.

Đây là vấn đề triết-học chứng tỏ rằng những gì ta khẳng định về đạo đức vẫn mang tính biệt lập, vì hai lý-do: thứ nhất, nếu có được sự sinh động muộn màng đi nữa, thì sự sinh động đó vẫn không là gì hết so với sự sống con người đang chuẩn bị đón nhận hồn thiêng trong đó bản-chất người được hoàn tất xuất từ cung lòng của mẹ cha. Mặt khác, điều đó cũng đủ để nói rằng sự hiện hữu của hồn thiêng này chỉ là khả-hữu-thể(và không ai lại có thể chứng minh điều ngược lại)ngõ hầu việc chấp-nhận sự sống bao gồm cả việc chấp-nhận mối nguy hiểm sẽ giết chết con người, không phải chỉ vì còn đợi chờ, nhưng đã sở-hữu hồn này rồi.

Thành thử, dù không biết rõ khi nào thi hồn thiêng nhập-định vào với xác thể, nhưng ta vẫn nắm chắc rằng nó đã có đó thoạt vào lúc rất sớm, cả khi người mang bầu bị xảy thai.

Với ơn cứu độ, Sách Giáo lý Hội thánh quả quyết rằng: trường hợp trẻ bé chết đi cả vào lúc bé chưa chịu phép thanh-tẩy, Giáo hội chỉ có thể phó thác bé trong tình thương của Thiên-Chúa và Giáo hội vẫn làm lễ mồ cho bé như người thường.

Quả thật, Thiên Chúa lòng lành vẫn mong muốn sao cho tất cả mọi người được cứu rỗi, và lòng từ-ái của Đức Giê su đối với con trẻ là nguyên-do khiến Ngài bảo ban các môn-đệ trong Tin Mừng, bảo rằng: “Hãy để con trẻ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng”, (Mc 10: 14). Từ đó, ta có lý để hy vọng rằng vẫn còn đó con đường cứu rỗi các trẻ bé chết đi trước khi lĩnh nhận bí tích thanh tẩy.”  Như sách Giáo lý Hội thánh Công giáo đoạn 1261 từng đoan quyết. (X. Lm John Flader, The Child and the soul, The Catholic Weekly 27/10/2019, tr.23)
                                         
Với nhà Đạo, các đấng bậc bao giờ cũng thở than, luận bàn về “linh hồn” nhập vào thể xác cùng lập trường của các giáo phái, giáo luật gồm tòn chữ “Phải” và “Phải”, tức là toàn những chuyện trăng sao mây nước với hào quang sáng chói, chứng tỏ đấng bậc lành thánh không thuộc loại “ma trơi”, ma mãnh nhưng là chuyện thực tế hấp dẫn mọi người trong thiên hạ.

Với người đời trong thiên hạ, ắt hẳn việc bàn bạc chuyện thực tế trong đời là chuyện thiết yếu chẳng cần phải trích dẫn điều gì vẫn thu hút người nghe, ở khắp chốn. Những chuyện hấp dẫn người nghe, tựa hồ truyện kể ở thôn làng này/khác có giòng chảy nhẹ như sau:

            “Truyện rằng:
Có một người đau khổ tìm đến tham vấn vị Thiền sư:
-Kính bạch Ngài, đời con khổ quá, khổ đeo đuổi con như một kẻ ''chạy trời không khỏi nắng''? Làm cách để đời con hết khổ, cuộc đời chỉ có một màu hạnh phúc mà thôi?
- Này nhé! Bây giờ ông ra chợ mua một trái Thanh Long, ăn cho hết trái đó, với điều kiện là chỉ ăn phần thịt và phun hết hạt của nó ra, thì ông sẽ hết khổ.

Và, lời bàn của người kể truyện lại đã bảo rằng:

Bạn biết không, khổ đau trong cuộc đời này giống như muối vậy. Số lượng muối luôn giữ nguyên, chẳng hề thay đổi. Nhưng khối lượng khổ đau chúng ta phải thọ nhận còn phụ thuộc vào chiếc “bình chứa” của nó. Vậy nên, khi ta đau khổ, điều duy nhất con nên làm là mở rộng tầm nhìn của con ra. Đừng an phận làm một ly nước, hãy trở thành một hồ nước hay một dòng sông hòa tan mọi hết đau đớn trong cuộc đời này”.

Đúng như lời những vị thiền sư nói, mỗi con người trong đời đều phải trải qua nhiều khó khăn hay đau đớn nhưng quan trọng là cách chúng ta nhìn nhận vấn đề. Nhìn xa hơn một chút, có lẽ chúng ta sẽ nhận thấy được nhiều điều tích  cực và rồi nhận ra đớn đau hay gian khó cũng chẳng hề gì, ta vẫn có thể vui vẻ, hạnh phúc nếu ta thực sự muốn. Vấn đề như thế nào không quan trọng, điều tất yếu là ta chọn cách đối mặt với nó ra sao.

Bạn chọn trở thành một ly nước hay cả một hồ nước? Mỗi khi bạn cảm thấy buồn phiền hay chán nản, cảm thấy cuộc sống mình không hạnh phúc, không như mong đợi thì hãy nhớ lấy điều này: “Một nhúm muối nếu bỏ vào một cốc nước, cốc nước ấy có thể không còn uống ược, nhưng nếu được bỏ vào một hồ nước thì nguồn nước ấy vẫn trong ngọt.

Vì thế, vấn đề không chỉ đơn thuần là có hay không có một ai đó bỏ một nhúm muối vào cuộc đời bạn, mà còn là ở: trái tim bạn là một hồ nước lớn hay chỉ là một cốc nước  nhỏ bé?

'Cuộc đời khổ một phần tư
Ba phần còn lại, khổ từ chính ta.
Ta là Phật, cũng là Ma
Ma nhiều hơn Phật- Đời là khổ đau!''
(Như Nhiên Thích Tánh Tọa)

Với nhà Đạo, thì: cuộc đời có là những chuỗi ngày đầy đau khổ như thế không? Câu trả lời, cũng tùy từng người. Tùy từng giai đoạn trong cuộc đời mình và đời người. Nhưng, đời ai đi nữa, cũng đều có chung một kinh-nghiệm xương máu, rất tốt tươi. Kinh nghiệm ấy, đấng thánh hiền nhà Đạo, từng kinh qua, nên mới bảo:

            “Anh em đang bị lửa thử thách: chớ có ngạc nhiên
Nhưng hãy coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em.
Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu,
anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện,
anh em cùng được vui mừng hoan hỷ…
Nếu có ai phải chịu khổ vì danh hiệu Kitô hữu, thì cũng đừng xấu hổ,
nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa
vì được mang danh hiệu đó.”
(IP 4: 12-16)

Nơi “nhà Phật” có giòng chảy thi-ca cũng nhẹ nhàng, hấp dẫn chứng tỏ cuộc đời người gồm đủ tham, sân, si như bên dưới:

“Lẫn Trong Nhau
Khổ đau là bạn an vui
An vui đích thực không rời khổ đau
Thong dong ngay giữa cõi sầu
Niết Bàn chung một nhịp cầu thế gian.

Trong mưa có giọt nắng vàng
Nơi bùn thoang thoảng.. mơ màng hương sen
Giữa ngày nghiêng bóng màn đêm
Canh khuya chợp mắt, nắng lên ngập hồn.

Sau niềm vui có nỗi buồn,
Trong tù ngục thấy con đường thoát ly.
Nơi dung nhan tuổi xuân thì,
Có đôi mắt Mẹ xếp li buổi chiều.

Ghét người, bởi chính vì Yêu
Yêu bao nhiêu Hận bấy nhiêu cũng là..
Trong chùa có cả ta bà
Trong ta bà ẩn một toà Như Lai.

Nơi điều '' nghịch ý trái tai ''
Lặng mà nghe - tỏ một bài Pháp âm.
À ơi, dưới võng con nằm
Cũng là giấc ngủ ngàn năm đi về...

Trong phiền não có Bồ đề
Dạt dào sóng gợn.. bốn bề đại dương.
Ngay tim ta có tình thương
Thương như lưới cá - tơ vương.. nhọc mình!

Trong sinh tử gặp Vô sinh
Bên đời huyên náo lặng thinh Phật ngồi.
Trong ta có cả vạn đời
Lặng yên.. tràn ngập đất trời xưa, sau..
(Như Nhiên- Thích Tánh Tuệ)

Đọc thơ Bồ Đề nhà Phật, hẳn người Đạo Chúa thấy rất thấm và cũng thương cho lòng người còn bôn ba, ta bà khắp chốn. Cả chốn tu-trì lẫn ngoài đời nhiễu nhương, tít mù nhiều sương khói. Những sương và khói còn đó nơi cuộc đời con người như tôi, như bạn, như mỗi người và mọi người, ở đây. Rất vui vầy đầy nhân tính.


Trần Ngọc Mười Hai
            Và những kỷ niệm đẹp
            Của một đời người
            Nhiều ý nghĩa.