Saturday, 12 April 2014

“Anh mong chờ mùa Thu,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần Phục Sinh Năm A 20-4-2014

“Anh mong chờ mùa Thu,”
Trời đất kia ngả màu xanh lơ,
Đàn bướm kia buồn vui trên muôn hoa,
Bên những bông hồng đẹp xinh.”
(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – Thu Quyến Rũ)
(Tt 2: 1-5)

            Là “Thu quyến rũ”, ư? Nếu Thu ấy chỉ là một trong bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông, thì có gì mà đợi với chờ đến như thế? Đợi chờ rồi, hẳn sẽ lôi kéo biết bao nghệ sĩ cứ hát mãi những câu thơ đầy quyến luyến, quyến rũ hoặc quyến dụ đến độ cứ “ủ rũ” thân mình đến thế thôi!
            Vâng. Cũng có thể, nhạc bản “Thu quyến rũ” của hai nhà viết nhạc là Đoàn Chuẩn/Từ Linh lại có những điều để ta ngâm nga thêm đôi câu hát:

“Anh mong chờ mùa Thu,
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai,
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay,
Mùa Thu quyến rũ Anh rồi”.
(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

À thì ra, là như thế! Thu mùa chờ mong, lại đã “quyến rũ” anh rồi. Quyến rũ hay quyến dụ, rồi cũng lại đưa anh/đưa chị vào chốn thiên thai thời hiện-tại mà ngay đến chim muông/loài thú hay gì gì nữa đều “không muốn bay” thế mới chết! Nhưng thôi, nay mời bạn/mời tôi, ta nghe tiếp bài hát trên xem có gì đẹp hơn, để mình còn bàn và luận đôi ba ý mọn với dân con nhà Đạo, hầu xem sao:

“Mây bay về đây cuối trời,
Mưa rơi làm rụng lá vàng.
Duyên ta từ đây lỡ làng,
Còn đâu những chiều.
Dệt cung đàn yêu.”
(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

Thế đấy! Là Thu quyến rũ, một thu mùa tựa hồ như thế! Thu mùa này, còn khuyến dụ cả những anh và em hãy ngước mắt mà xem thu mùa hôm nay lại cũng có “mưa bay về đây, cuối trời” để người vui. Nhưng, Thu quyến rũ đây còn cho thấy “duyên ta từ đây, lỡ làng!”còn đâu những chiều dệt cung đàn yêu!” cũng đều thế.
À thì ra, ở đời thường, lại có những buổi chiều cũng rất thu, hôm ấy, cả anh và em từng “dệt” cung đàn “yêu” đến mỹ miều để rồi cuối cùng, cũng lại kéo nhau về mà bàn luận những chuyện rất “Xưa rồi Diễm” ở nhà Đạo lẫn trong đời. Nhập cuộc bàn-luận theo kiểu tản mạn, bỏ túi hôm nay, bầy tôi đây lại đã nhận ra được những điểm then chốt trong đời sống, giống như sau:

“Theo quan-điểm của tờ New York Times hôm trước, đã viết dưới dạng tản mạn có đầu đề đại ý bảo rằng: Nếu tính bằng đô la tiền Mỹ thì giá cả để nuôi một đứa trẻ cho đến khi bé em không còn là trẻ con nữa, cũng “ngốn” một số tiền lên đến hai triệu đô chứ không nhỏ. Ví thử, gia-đình người Việt thường thường bậc-trung của mình vốn từng đẻ chỉ mỗi 5 bé em thôi, thì gia đình ấy cũng sẽ được liệt vào giới đại-gia giàu-sụ có tài sản lên đến ít nhất $10 triệu đô, chứ chẳng chơi. Nhà nào không kham nổi số tiền đó, thì chắc cũng phải phá sản mất thôi.

Trong một bài viết khá ngắn gọn, tác giả Nadia Taha đã làm con tính cộng trừ nhân chia này khác, nên mới phát-giác ra rằng giá tiền nuôi dưỡng trẻ bé sẽ lên rất cao nếu gia đình sống ở nội-vi thành phố New York City, chứ không ít...

Sau khi tính toán lời hơn lỗ thiệt, tác giả Tania Taha bèn nói tóm gọn như sau: “Là thân sinh phụ mẫu, nếu ta buộc phải có ít nhất một đứa con thôi và làm bất cứ thứ gì mà bậc cha mẹ phải làm để tặng sự sống có khởi đầu tốt đẹp, thì e rằng cũng phải mất ít nhất là 1 triệu 8 trăm ngàn đô, kể cả những thứ vừa được kể ở trên”.

Nghe Nadia Taha kể, bản thân tôi cùng với chồng mình thử suy nghĩ xem bọn tôi phải tốn mất bao nhiêu mới gọi là nuôi con cho lớn trọn rồi còn cho cháu đi học đủ thứ trường nữa. Cuối cùng, tôi quyết định bàn thử với các bà bạn khác xem các cụ ấy có cùng một ý nghĩ như Tania Taha không. Thì, câu trả lời của các bà có số con từ 2 đến 8 đứa, thì một số bà đã mô tả chuyện họ từng bỏ ra một khoản tiền kếch sù cũng không kém. Một số bà khác còn tốn cả vào những việc như trả tiền trường và tiền tiết kiệm, yểm-trợ tài-chánh, học bổng, nợ ngân-hàng, tiền kiếm vào các mùa nghỉ, vv...

Các bà đều phát hoảng mỗi lần nghĩ đến chuyện tiền bạc, giá cả nợ nần khi phải nuôi dưỡng con mình cho phải phép. Đa số các bà này đều bảo: Taha hơi quá khi đặt vấn-đề như thế, để rồi có thể nhiều bà cũng sẽ chào thua, không tiếp tục nuôi dưỡng con mình nữa. Một số bà khác, lại cũng cho biết: có lẽ không nên định giá việc dưỡng dục con cái vì như thế thì như việc bắt buộc mình phải làm rồi”. (xem Mary Cooney, How to Value a Child, MercatorNet 24/11/2012)

Thật ra không bàn thì thôi, chứ nếu tiếp tục bàn luận theo kiểu như tác-giả Nadia Taha từng nêu lên, có lẽ phần đông các bà mẹ sẽ phải chết khiếp hoặc sẽ mắc bệnh trầm thống, mất thôi. Tuy nhiên, cũng có vị lại không đặt vấn đề tiền bạc khi dưỡng dục con cái, cho bằng chỉ nói về những điều tốt đẹp đối với bậc phụ mẫu trong việc nuôi dạy con, thì tốt hơn. Thế nên, bằng đôi giòng ngắn gọn hơn, tác giả nọ có đề ra cái-gọi-là các phương-cách để trở thành bậc phụ mẫu tốt, từng viết như sau:

“Dù có thể có nhiều vị cho rằng: đây là chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi”, nhưng cũng nên ghi ra đây những điều ấy để nhắc nhở mọi người về phương-cách tốt đẹp mình chọn sống làm bậc cha mẹ của bầy trẻ.

Tuy là thế, theo ý riêng tôi, cũng nên tóm gọn và nhắc nhở một số ý-tưởng dễ thấy dễ nhận ra nhất để mình còn tiếp tục thực-hiện, chẳng hạn như: trong mọi trường-hợp cũng nên chứng tỏ cho con cái thấy mình thương yêu chúng biết là dường nào, hoặc: cứ tiếp tục tỏ bày sự kiên-nhẫn trong mọi tình-huống, và: có những hành-xử làm gương mẫu cho con mình, vv...

Lại cũng có một số sự việc hơi khó thực-hiện, như: hạn-chế các con không cho chúng chơi “ghêm” hoặc xem phim tập có đánh đấm, bạo-lực hoặc tình-dục trên truyền-hình nhiều như trước, tức cũng phải đưa ra một số giới hạn hoặc rào cản, đều là việc cần thiết, cố gắng mà làm...

Với các bậc cha mẹ còn trẻ, chí ít là các ông bố cũng nên bỏ giờ ra mà đọc truyện kể ngăn ngắn cho các con nghe vào lúc nào thuận-tiện... Và, một chuyện khác nữa mà hầu hết các bậc cha mẹ thường hay quên sót là: dù bận rộn nhiều công chuyện, cũng nên để một ít thì giờ ra sinh hoạt với con mình, chơi các trò chơi nào chúng thích biến thời gian ấy thành thời-điểm có chất-lượng để yêu thương một cách thực-tế, khi ấy mới thấy con trẻ của mình vẫn cứ là những linh-hồn nhỏ, rất thiên thần.

Nói cho cùng, làm gì thì làm, các bậc cha mẹ đích-thực vẫn phải để tâm chú ý đến nhu-cầu con cái chứng tỏ mình khuyến khích năng-động, chứ không ù-lỳ để mọi việc trôi qua như những tháng ngày nhàm chán với con cái. Tóm lại, vẫn cứ phải nhấn mạnh với con cái nhu-cầu hành xử như người tốt lành/hạnh đạo dù có rơi vào tình-cảnh khó khăn đến thế nào đi nữa. Vẫn cứ phải giáo dục con sống sao cho có thể tự-lực ngay từ nhỏ, để có động-thái độc lập, có thế thì sau này chúng mới có thể tự mình quyết định cho lối sống tư-riêng, biệt lập.

Cuối cùng, cũng nên thêm một điều, là: ở vào mọi tình-huống dù khó khăn, bẽ bàng, tuyệt vọng cũng nên có ý-hướng vui nhộn, nhẹ nhàng, giản-đơn, không câu nệ và nhất là đừng tạo cho mọi sự mọi việc trở nên trầm trọng, khó xử sự. “ (xem William West, 18 ways to be a better father, MercatorNet 23/11/2012).
          
Nói như kiểu nhà văn, nhà Đạo rất đạo mạo hoặc mô phạm thì nói như thế, cũng đáng nể. Nhưng nói theo kiểu của nghệ sĩ, lại sẽ hát như sau:

“Thu nay vì đâu tiếc nhiều,
Thu nay vì đâu nhớ nhiều,
Đêm đêm nhìn cây trút lá,
Lòng thấy rộn ràng,
Ngỡ bóng ai về”.
(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

“Thu nay vì đâu tiếc nhiều” phải chăng có người cũng tiếc khá nhiều không chỉ mỗi Thu mùa, những tiếc và nuối rất nhiều chuyện. “Thu nay vì đâu nhớ nhiều”, đâu chỉ nhớ những việc, hoặc những chuyện để đời trong giáo dục con cái có được nếp sống vui tươi, không tiếc nuối đến thế. Tiếc nhiều, là tiếc thời vàng son bản thân mình được giáo dục theo cung cách đạo đức mang tính nhắc nhở, rất như sau:

Mẹ tôi có cách dạy con không giống như những người mẹ khác trong làng, không roi vọt, không những lời quở trách, mắng nhiếc hay dọa dẫm. Mẹ dạy chúng tôi bằng những câu chuyện có hậu, những câu chuyện đời thường có kết cục gần giống nhưnhững cái kết trong truyện cổ tích, hay những tấm gương về người tốt trong cuộc sống thường ngày. Những câu chuyện của mẹ không có bà tiên, ông Bụt nhưng lại có đủ sức mạnh, để cảm hóa những tâm hồn non nớt ngày ấy của chúng tôi. Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng nhỏ của miền Trung. Bố tôi mất sớm. Nhà tôi có ba chị em gái, mình mẹ phải vất vả nuôi chúng tôi ăn học nên người.

Hiện tại, chị em chúng tôi đều thành đạt và đã có gia đình. Nhiều lúc, vì áp lực công việc tôi đã dạy con bằng những lời nặng nề, những câu dọa dẫm. Tất cả chỉ mong chúng nên người, nhưng ngược lại chúng lại buồn bã và đôi lúc lại tỏ ra… bất mãn với tôi. Bất chợt tôi nhớ về mẹ, nhớ về từng lời dạy dỗ ngày xưa. Những lời dịu dàng của mẹnhư một sự nhắc nhở cho tôi về tình yêu thương, sự quan tâm đến con cái nhiều hơn. Và chính tình yêu thương xuất phát từ trái tim để đi đến trái tim, nó đã có sức mạnh hơn những roi đòn, mắng nhiếc.
 
Mẹ tôi đã dạy chị em tôi rất nhiều, nhưng điều làm tôi nhớ và biết ơn mẹ nhiều nhất đó là mẹ dạy con bằng chữ “nghiệp”. Lạ thay, chỉ với một chữ giản dị ấy đã theo tôi suốt một đời. Không làm điều ác, không chửi bới người khác, phải luôn giúp đỡ những người yếu hơn mình. Nếu không sẽ gieo nghiệp”. Mà ai gieo nghiệp, thì sau này sẽ gánh cái nghiệp mà mình đã gieo, và tất nhiên sẽ khổ suốt đời. Nếu không bị báo ứng ngay trong kiếp này thì khi chết xuống…. âm phủ sẽ bị đày đọa. Hiểu một cách nôm na theo ý mẹ, đó là ở ác sẽ gặp quả báo ác.

Câu chuyện về chữ nghiệp của mẹ làm tôi nhớ mãi: Ngày ấy, nhà tôi có nuôi một con gà trống để dành giỗ cha, nhưng gần đến ngày giỗ thì bất thình lình bị hàng xóm bắt mất. Chị em tôi định qua chửi cho lão hàng xóm hay ăn cắp vặt biết tay. Nhưng mẹ tôi ngăn lại với lý lẽ: “Người ta ăn thì mình khỏi ăn, có gì đâu mà các con tức tối, bận tâm. Nếu sang chửi thì con gà cũng không sống lại, mà các con sẽ mang… nghiệp vào thân đấy. ác con thấy bà Gạo ở đầu làng không, vì kiếp trước ăn nói xấc xược, thích gây gổ, chửi nhau nên kiếp này miệng bị lệch qua một bên đó, các con thấy chưa?”.

Hình ảnh bà cụ miệng lệch sang một bên, thường hay thất thểu đầu làng cuối xóm để lượm ve chai, thoáng thấy chúng tôi đã sợ xanh mặt. Nên thôi, chúng tôi quyết định không cãi vã gì nữa. Và cho dù sau này lớn lên, lập nghiệp nơi khác, trong cách ứng xử với đồng nghiệp, hay bạn bè, ít có khi nào tôi gây gổ hay nói nặng lời một ai đó đã làm tổn thương mình.

Không những dạy con cách đối đãi hàng xóm, mẹ còn dạy chúng tôi biết yêu thương nhau bằng những cụm từ “nếu không…”. Nếu không làm việc đức, thì con cháu của chúng ta sẽ khổ. Nếu không biết nỗ lực vươn lên, thì suốt đời ta sẽ như một đám lửa tàn. Nếu không biết thương yêu, nhường nhịn thì chúng ta sẽ gặp rắc rối và cuộc sống sẽ chẳng có lúc nào bình yên." Bởi vậy, dù trong một gia đình toàn con gái nhưng ba chị em tôi không bao giờ đánh nhau hoặc ganh tỵ điều gì. Bởi chúng tôi thương và tin vào những lời mẹ dạy. Mặc dầu, những cụm từ đằng sau chữ “nếu không…” luôn xa vời với chúng tôi về một thế giới khác, ở cái… kiếp nào đó.

Nhiều lúc tôi ngẫm lại thấy cách dạy của mẹ haybiết bao nhiêu. Mẹ vừa dạy cho chúng tôi tình yêu, lòng tin vào những điều tốt đẹp, vừa dạy cách đối nhân xử thế. Ngày xưa, mẹ ít học lắm. Mẹ không học đến cao học như chúng tôi bây giờ. Nhưng những bài học về làm người chỉ ở mẹ mới có, những câu nói không có trong sách vở nhưng đã làm cho chúng tôi biết sợ, biết tin, biết yêu vào cuộc đời.

Với tôi, mẹ là người tuyệt vời nhất, là người đã vẽ nên những cái kết có hậu trong cuộc sống. Mà ở đó con người không biết làm điều ác, chỉ biết yêu thương và san sẻ. Bởi khi ta cho đi những gì, thì ta sẽ nhận lại những thứ ấy. Cảm ơn tình yêu, cảm ơn những lời dạy dỗ của mẹ, để cho chúng con trưởng thành, biết sống hơn trong cuộc đời đầy những lo âu và muộn phiền này”.
(Thanh Trâm - 03/26/2014 trích từ email bạn bè gửi hôm 29/4/20214)

Bỏ qua một bên quan-niệm riêng-tư của mỗi người về chữ “nghiệp”, mà chỉ nói về cung cách đối xử với con trẻ, tưởng cũng nên cứu xét tính-chất rất riêng về hạnh phúc trong nhớ nhung và nuối tiếc.  
Nhớ và tiếc, còn là tiếc và nhớ những điều mà thánh-nhân hiền từng dặn dò mọi người trong cộng-đoàn tín-hữu xưa nay, nhưng ít người nhớ. Nhớ tiếc nhiều, hơn cả mùa Thu, là nhớ những điều được dặn, rất như sau:

“Anh hãy dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh.
Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực,
vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại.
Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh,
không nói xấu,
không rượu chè say sưa,
nhưng biết dạy bảo điều lành.
Như vậy, họ sẽ dạy cho người vợ trẻ biết yêu chồng, thương con,
biết sống chừng mực, trong sạch, chăm lo việc nhà, phục tùng chồng,
để lời Thiên Chúa khỏi bị người ta xúc phạm.”
(Titô 2: 1-5)

“Dạy những gì phù-hợp với giáo-lý lành mạnh”,  không chỉ là dạy và dỗ đàn con bé bỏng mà thôi. Nhưng còn là, sống xứng đáng như mẫu gương cuộc sống của đấng thánh nhân-hiền đã từng sống trước, rồi mới dỗ và dạy đệ tử hoặc con cái mình.
Trong tâm tình quyết chí thực hiện những điều mình được dạy như thế để rồi mình sẽ hiên ngang đứng thẳng dậy mà hát lên những lời ca tuy ướt át, nhưng rất thực-tế, như sau:

“Anh mong chờ mùa Thu
Tà áo xanh nào về với giấc mơ
Mầu áo xanh là mầu Anh trót yêu
Người mơ không đến bao giờ. 
(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

Tà áo nào, dù xanh dù đỏ, cũng về với ước mơ, để rồi bạn và tôi, ta sẽ bảo nhau cứ thế mà tiến bước trong tâm-tình dắt-dìu, đùm bọc lẫn nhau để sẽ không có “sự cố” nào xảy ra với mình và với người, hết.

Trần Ngọc Mười Hai
Nhiều lúc chẳng dám hát
những lời mong chờ Mùa Thu ra như thế,
nhưng vẫn cố
mở mắt xem bạn và người
có điểm tốt nào để theo gương
mà sống nốt quãng đời còn lại
rất mong chờ.   


Saturday, 5 April 2014

“Tôi đứng đây chờ em đã từ lâu,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thánh sau Lễ Lá Năm A 13-4-2014

“Tôi đứng đây chờ em đã từ lâu,”
Sân vắng thưa người đêm cũng buồn theo.
một con đường sắt trăm con tàu,
Mưa nắng sớm khuya trưa chiều,
Người nhớ người thương người yêu.”
(Y Vân – Đêm Tái Ngộ)
(Mt 5: 23)
            Chợt hát câu ca có chữ “người” những 3 lần, như thể: người nhớ, người thương người yêu” bần đạo lại nhớ đến bậc thày khi xưa ở Đà Lạt cũng nói thế. Bậc thày xưa, là linh mục người Canada mang tên rất Việt là “Nhân”, do phiên âm từ chữ Gérard Gagnon, CSsR cũng rất “người”.
Cha Nhân là linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ở Đà-Lạt biết nói, đọc và hiểu tiếng Việt mình rất giỏi và rất thích truyện Kiều. Đặc-biệt hơn, cha Nhân thường nóivề truyện Kiều với nhiều người trong Đạo. Như có lần, ngài còn bảo: truyện Kiều từng xác chứng Đức Chúa Trời có 3 Ngôi, khi thi sĩ Nguyễn Du lặp đi lặp lại chữ “mình” đến 3 lần, ở câu thơ:

            “Nghĩ mình, mình lại nên thương nỗi mình.”
            (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

            Giả như, thi sĩ Nguyễn Du còn sống đến hôm nay, thì chắc ông cũng phải lắc đầu “nguầy nguậy” trước ý-tưởng lạ kỳ của ông “cố” tên Nhân. Nhưng, chữ “người” (hoặc “Nhân”) ở bài ca trên rất ý-nghĩa, chẳng vì tác giả đã xác-chứng được Đức Chúa Trời có 3 Ngôi, mà chỉ khẳng định rằng: là người với nhau, ta không thể không nhớ, không thương hoặc không yêu nhau được. Mà, đã nhớ đã thương và đã yêu nhau rồi, hẳn người người vẫn chờ nhau, như câu hát tiếp ở bên dưới:

            “Em đứng đây chờ anh trước thềm ga,
            Hiu hắt cây đèn đêm giã từ xưa
Ngày xưa vội vã trong mưa nhoà
Nay lúc đón anh quay về
Thì sao thời gian chậm qua.”   
            (Y Vân – bđd)

            Nói những lời rất “nhớ”, rất “thương” và cũng “yêu” như ở trên, là: nói bằng từ ngữ bình thường ở đời, mà thôi. Nhưng, nếu hát: “Em đứng đây chờ anh trước thềm ga”, thì thật là ...”không dám đâu!” Bởi, thời buổi này, người được gọi là “Em” mà còn đứng chờ “Anh” ở sân ga, dù để làm gì đi nữa, cũng rất hiếm. Chí ít, là chờ người anh rất “lờ mờ” một đấng bậc linh (hồn) mục hay cụ sáu vĩnh viễn đặt chân đến viếng ngõ hầu đem Lời Chúa đến với những người vừa yêu, vừa thương lại vừa nhớ, chắc cũng hiếm?
            Hiếm ghê lắm, tựa hồ ý-tưởng của tác giả Michael McVeigh ở Úc, cũng từng viết:

“Nhiều người Công giáo thường không mấy thích thú với cụm từ “Rao giảng Lời Chúa”. Bởi, ngữ-từ này làm người nghe liên tưởng đến hiện-tượng nhiều vị cứ là múa may quay cuồng, vừa hát vừa nhún nhảy, rồi còn bảo: làm như thế, mới đúng nghĩa chúc-tụng Chúa, để rồi các ‘cụ’ lại cứ diễn-giải về tình Chúa rất “nhớ”, rất “thương” và cũng rất “yêu” loài người, đều rất lạ. Điều này, càngg làm nản lòng người đang cảm nghiệm một cách chắc-chắn, rằng: Chúa Thánh Thần quả là đang họat-động nơi mỗi người, mà người đời không biết, đấy thôi.

Do bởi không biết, nên nhiều người vẫn cứ ‘tha-hóa’ bản thân rồi còn chuyển đến người không được Chúa chúc-lành, những lời những lẽ rất vững-chắc về sức mạnh của Chúa đang họat-động ở với và ở trong con người, rất dài dài...

Nói chung, thì: phần đông người Công giáo thường hay đặt vấn đề với Giáo hội để xem Giáo Hội của ta nay có còn chất-vấn xã hội về công bằng, trật-tự nữa hay không. Và nhất là: Giáo-hội có còn biết tự-kiểm để xem mình có xa rời chúng-dân nghèo như xưa nữa không? Hoặc: nay có quyết định ra khỏi “vỏ-sò-khép-kín” ở chốn trên cao vời vợi mà sống đích thực Lời Chúa dạy, hầu hoà mình với dân con ngoài Đạo, nữa hay không?” (xem Michael McVeigh, Keeping it real, Australian Catholics số Summer 2014 tr. 5)

            Thật ra thì, chuyện “thoát khỏi “vỏ-sò-cục-bộ”, mà ra ngoài sống đích thực Lời Chúa, có hay không, đó vẫn là vấn đề muôn thuở, của nhà Đạo. Muôn thuở, không phải vì nó khó thực hiện, cho bằng đôi lúc cũng thấy rằng mình lâu nay hiểu hơi khác, Lời Chúa dạy. Nhiều lúc Hội thánh (hiểu theo nghĩa phẩm-trật ở trên cao) chỉ muốn hiểu rằng: Lời Chúa là Lời áp dụng cho dân con ở bên dưới mà thôi, chứ nào đâu dành để cho chính mình. Chả thế mà, các đấng chủ quản giáo phận, khi phong chức linh-mục tư-tế cho đấng-bậc phó-tế ở đây đó, vẫn căn dặn “con cháu trong nhà” rằng: “Con hãy sống điều mình giảng và dạy, chứ đừng dạy và giảng điều mình đang sống...”
            Nói thế cũng hơi khó hiểu. Khó là bởi, giả như đấng bậc ngày nay sống đúng chức-năng của các ngài, thì đâu thành chuyện. Nếu sống đúng Lời Chúa dạy, thì làm gì có chuyện bê-bối với bê-tha xảy ra với hàng giáo-sĩ ở Âu Mỹ, và Úc nữa. Còn đâu ngày đẹp trời hôm trước, khi cha và con ta cứ sống hài hoà; dù có “nhớ”, có “thương” và có “yêu” da diết lắm, rồi cũng thôi không còn dám hát những lời kế tiếp ở nhạc bản, trích-dẫn hồi hôm trước, như sau:

“Vọng từ chốn xa, xa xăm
Hồi còi tàu rúc lên, trong đêm
Xe lăn trên đường, nhịp nhàngTái Ngộ lyrics on ChiaSeNhac.com
Từ từ về, trước sân.
Anh bước xuống tàu ngơ ngác vài giây.
Khi thấy em cười sau ánh đèn soi.
Nhìn nhau mà nói không nên lời,
Nơi cũ lúc xưa tay rời,
Thì nay lại tay cầm tay.”
(Y Vân – bđd)

Vâng. Quả có thế. Khi xưa, rất nhiều anh/nhiều chị cứ còn đứng đó, chờ nhau khi “sân ga chỉ có 2 người” hoặc “khi thấy em cười, sau ánh đèn soi”, chứ bây giờ sân ga hoặc sân bay toàn những cảnh chúng-dân cứ là hì-hục bưng bưng/vác vác rồi tháo chạy cho nhanh, kẻo con tàu sắt nó chẳng chờ mình, để làm gì.
Vâng. Quả có thế. Ngày nay, ở nhà Đạo cũng như ngoài đời, làm gì còn cái cảnh da-diết quá trời ơi, người hỡi cứ là “người chờ người” ở sân nhà ga hay nhà thờ, để đi lễ? Có chăng, chỉ chờ và đợi anh/đợi em mau chóng thức giấc cho kịp giờ lễ sau nhiều ngày lễ mễ thức trắng con mắt xanh cứ là “chat” với “chit”, rộn cả bầu trời đen kịt ít có ánh trăng, mà chỉ lờ tờ mờ mỗi ánh đèn “leo lét” những là ánh sáng L.E.D. từ màn ảnh nhỏ, có “web cam” !?!...
Vâng. Nhà Đạo và nhà của người đời thời hôm nay thấy rất nhiều cảnh và tình có Anh có em cứ chờ nhau mãi, hằng thế kỷ, mà chẳng thấy ma nào đến với nhau mà giúp đỡ. Vâng. Ở ngoài đời và ở cả nhà Đạo nữa, vẫn có cảnh “vô cảm” cứ là “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi”. Mạnh ông, ông sống mạnh bà, bà chịu, chứ có chết thằng Tây đen Tây trắng, nào đâu chứ!
Vâng. Ở ngoài đời cũng như trong nhà Đạo, đâu còn các màn khuyến-khích/ngợi khen nhau từ các bậc thức-giả nhiều kinh-nghiệm dạy đám học-trò “vô cảm” hoặc “vô tư” chỉ thích những thứ gì khác ngoài tình yêu thương, như lời đấng bậc mô-phạm nhiều kinh-nghiệm nọ lại đã viết cho cô giáo “đầy tưởng-tượng” tên là Pat, vì cô đã dám đi vào cuộc chơi, ở cuộc đời nhiều “vô cảm”, như sau:

“Thân mến thăm Cô Pat rất trân quí,

Xin thành thật chúc mừng cô đã chấp-nhận vai trò rất “bậc thày” mà cô vừa đạt.

Tôi biết chắc, rằng: lâu nay, cô từng ưu-tư rất mực, về buổi gặp gỡ giống hôm nay như biết bao nhà giáo rất mới khác của thời đại, dám ký hợp-đồng ngắn hạn cho đến khi trở thành thày cô, về lâu về dài.

Là người có không ít kinh nghiệm trong giảng-dạy, tôi thấy đây là công việc lạ kỳ, cốt để khích-lệ mọi người đầu tư con tim và hồn mình, vào với cộng-đoàn. Tôi đoan chắc rằng: lý-tưởng và ý-nghĩa của cuộc sống đã thúc đẩy cô tiến bước đi vào phỏng-vấn.

Học trò của cô, đôi lúc, cũng sẽ nói nhiều và nghịch ngợm không thiếu, khiến cô thấy đinh tai nhức óc. Nhưng xin cô cũng hãy nhớ cho rằng chúng cũng được Ởn Trên chúc phúc và ban cho chúng có được một đấng bậc thày/cô như cô trong đời chúng. Cô cũng sẽ được chúc lành hệt như chúng từng được như thế. Sẽ xảy đến những ngày khiến cô có thể nghi ngờ về chuyện này, nhưng tôi thiết nghĩ: do kế-hoạch của Thiên-Chúa từng bày biện cho cô, để rồi cô sẽ quay lại mà thầm cảm ơn Bề Trên đã khiến cô phải trải qua những tháng ngày khủng khiếp, đến độ thế.

Là đám học trò nhỏ, rất thường tình, chúng vẫn xử sự gây khó cho cô. Chúng làm thế, là bởi vào thời nhỏ tuổi, con trẻ vẫn phải phấn đấu hết mình, để tìm ra: đâu là lai lịch của  chúng. Và, đây chính là cuộc phấn đấu diễn ra như một hỗn loạn. Nhưng sự thật không phải thế. Cô cứ coi thời tuổi nhỏ như mùa xuân, cứ chợt đến rồi đi, như mây trôi/gió thoảng chẳng tiễn đưa, hẹn hò cũng chẳng cần ai níu kéo, bao giờ hết. Nó cứ quay tròn vào tám hướng/bốn phương, dù chỉ một ngày, cũng thấy bốn mùa biền biệt nắng mưa, lưa thưa cơn sốt lạnh. Đây mới là thời điểm của cuộc đời, có hạt giống gieo vãi khắp nơi; gieo lên vùng trời đầy bão táp, mưa sa, có gió đông lạnh. Công việc của cô sẽ là cung cấp cho đám trẻ nhỏ, lớp đất mịn/lành để hạt giống mọc lên được tươi tốt.

Xin cho tôi được phép ngưỡng mộ cô hết mình, bởi lẽ: cô đã dám một mình xung-phong vào chốn miền đầy gai-góc, sau những chuỗi ngày buồn chán với nghề kế toán. Mặc dù nghề đó cũng có thể sẽ biến cô trở thành “tỷ phú” chẳng mấy chốc. Chỉ mỗi điều, là cứ phải đánh vật suốt ngày với con số, nên rất chán. Điều khiến tôi thán phục cô đây hết mình, là: bởi cô đã liều-lĩnh chấp-nhận dạy giáo-lý cho bọn trẻ ở tuổi “teen”, là tuổi từng chiếm-đoạt ngày giờ và công sức của bậc thày cũng không ít.

Thân mẫu của cô, có lẽ khi trước, cũng là nhà giáo hay sao đó, từng thấy khó mà bỏ giờ ra để dạy-dỗ đám cứng đầu/cứng cổ với bộ môn mà chẳng em nào thích thú được hết. Chí ít, là vào thập niên ‘70, tức: một thời điểm đầy những cãi-tranh, đặt nhiều vấn-đề về niềm-tin, khiến bậc thày hết hứng-thú để dạy lẽ Đạo. Đó, cũng là thời-điểm mà nhà giáo như chúng toi không thể nào quên-lãng khi đàn trẻ nhỏ, các em đều đã hứng chịu hậu-quả của sự tranh-cãi thần-học, đến độ bọn tôi là nhà giáo lâu năm, cũng đã vất-vả nhiều phen đến độ phải câm nín. Cứ câm và nín, cho qua ngày đoạn tháng, chí ít là thấy bọn nhỏ lại cứ dửng dưng, không chịu học.

Tôi hiểu rằng: cô cũng từng có quan-điểm mạnh đến độ khiến cho các đấng bề trên của cô, chụp cho cái mũ “bảo thủ” hay sao đó, để rồi cô không nản chí, vẫn cương quyết tiến bước, vì thương yêu bọn con trẻ. Bọn chúng tôi, cũng từng trải-nghiệm giống như thế, nên rất trân-trọng khí-thế của cô, khi cô quyết-định chọn công việc khó-khăn này làm lẽ sống, cho đời mình.

Mặc dù thế, tôi nghĩ cô cũng có đôi chút sai lầm khi tỏ-bày lập-trường khác hẳn bậc mẹ cha, nhất thứ là: về chuyện công-bằng xã-hội mà nhiều vị cứ coi đó như “chuyện vặt-vãnh” ngoài tầm ảnh-hưởng của Phúc Âm. Cô còn có lúc cũng sai lầm ngộ-nhận, khi bảo rằng: nền phụng-vụ của Hội-thánh hơi cứng ngắc, và buồn tẻ. Tôi lại càng trân-trọng lập-trường cố-hữu của bất kỳ ai đã từng trải qua những tháng ngày khám-phá ra rằng: Tin Mừng, hoặc người xưa còn gọi là Phúc-Âm, chỉ gồm tóm những luật và luật và/hoặc những điều lệ về luân-lý/đạo-đức không mấy thích-thú với người trẻ thời hôm nay. Và, Đạo-giáo của ta, chỉ là bức tường-thành kiên-cố những giam-hãm hoặc phân-cách người trẻ khỏi thế giới bên ngoài, đang vội sống.

Tôi lại cũng hiểu rằng: từ ngày đấng bậc mẹ/cha của cô, từng quyết-định “chia tay” một-lần-là-mãi-mãi, chẳng kể gì đến người con gái trẻ cứ hụt-hẫng/chới-với cần có cái gì đó thật an-toàn để bám-víu. Cũng vào lúc đó, Đạo Chúa của ta lại chỉ là hình-thái của một tôn-giáo dẫy đầy những bấp-bênh/thương-tổn, vì nội bộ. Tâm-thân của Đạo mình, khi ấy, vẫn trần-trụi như hồi nào trên thập-tự. Và, người trong Đạo vẫn cứ bước những bước dài tìm-kiếm tương-quan mật-thiết, thay cho lời đáp-trả của cuộc tranh cãi. Kiếm tìm, như thế kéo theo nhiều hiểm-nguy, khó tránh khỏi. Rồi ra, học trò nhỏ của cô- cũng sẽ đặt ra nhiều câu hỏi tựa hồ như thế. Những câu hỏi gồm nhiều thể-loại, cả bằng lời nói cũng như lề-lối hành-xử rất đặc-trưng, khác hẳn những gì cô từng suy-nghĩ. Thế nhưng, những vấn-nạn mà chúng đưa ra, cũng sẽ bị khoả-lấp bởi những câu hỏi sâu-lắng không được bộc-lộ ra bên ngoài, vì hãi sợ. Hỏi, là hỏi về tình thương-yêu và chuyện tùy-thuộc. Và, đây là những gì khiến cô không bao giờ cảm thấy ngán-ngẫm hoặc bỏ cuộc.


Thưa cô giáo Pat,
Thật sự, tôi cũng cảm thấy rất hứng khởi khi được biết, là: cô cũng có những ước-vọng được tiến-bước mãi lên bậc thang đầy giá-trị của hệ-cấp lãnh-đạo. Thấy cô phấn khởi nạp đơn để trở thành bậc thày ở cấp cao hơn. Đó là điều hay, mà giới già chúng tôi không dám nghĩ tới. Bởi lẽ, theo tôi thì: một trong các thách-thức lớn đối với nền giáo-dục của anh chị em Công-giáo chúng mình, là: làm sao đào-tạo được thế-hệ trẻ đầy tươi-mát gồm các nhà lãnh-đạo không hề biết mệt, về nhiều thứ. Và, tôi vẫn nghĩ rằng: Đạo mình cần những người như cô, là những người không thiếu bầu nhiệt-huyết, để rồi sẽ “đầu-cao-mắt-sáng” hiên-ngang tiến về phía trước không hãi sợ bất cứ thứ gì.

Có thể, cô cũng sẽ cần học thêm, để có bằng-cấp như họ đòi hỏi. Đây, cũng là một trong các điều làm tôi quan-ngại không ít. Bởi, mới vừa đây, một người bạn thân-thiết của tôi đã dám nạp đơn xin làm chức vụ Phó Chủ-Nhiệm một trường Công-giáo khá nổi tiếng. Anh có đến 30 năm kinh-nghiệm trong ngành/nghề khiến có thể tạo hứng cho giới trẻ trong ngành, có được sức-sống hăng-say như anh. Tuy thế, anh lại nhận được một đáp-trả rất ư là tiêu-cực với lý do đơn-giản chỉ vì anh không có văn bằng Cao-Học/Thạc-sĩ, như người khác. Dĩ nhiên, đây chỉ là câu đáp-trả khá lừa-bịp và cũng nguy hại. Bởi, một người như anh từng đầu-tư đời mình vào với cuộc sống của nhiều người khác, lại bị khước-từ bởi lý-do duy-nhất là có người khác đã làm khác anh, tức là: chỉ đầu-tư cuộc sống của mình vào bằng-cấp/khoa-bảng để vinh-danh tên tuổi của mình hoặc cho chức-vụ cao mà thôi.

Tôi xin lỗi, nếu phải gửi đến cô lời khuyên nhủ dặn dò rằng: hãy chuẩn-bị trước, cho thật kỹ để có thể lướt-vượt một trong các rào cản vô nghĩa, đến độ thế. Bởi, theo tôi, tài lãnh-đạo vẫn tuỳ-thuộc con tim, chứ không vào nghề-nghiệp của chính mình. Đó, chính là niềm-vui cho mọi người, chứ không phải cái “tôi” đầy mâu-thuẫn/rắc-rối, chỉ cốt lo cho chính mình, mà thôi.

Tôi hy vọng rằng: cô cũng có được một đời dạy học đầy vui-tươi, phúc-hạnh như tôi từng trải-qua vào những tháng ngày đen tối nhất, cuộc đời mình. Tiếp-xúc với bọn trẻ bé, tôi nghĩ rằng: cô cũng sẽ nhận được nhiều năng-lượng vốn dĩ tạo được niềm vui-tươi, phấn-khởi từ đám trẻ có tấm lòng rất cởi mở. Tôi tin chắc, là: cô sẽ được đồng-nghiệp hỗ-trợ hết mình, vì họ cũng đã được thế.

Xin hãy nhớ cho rằng: danh-xưng thông-thường mà mọi người đều có được, khi liên-tưởng đến Đức Chúa của ta, khi ta gọi Ngài là “Thày dạy”. Chính vì thế, mà tôi nghĩ: cô cũng sẽ thuộc vào lớp người được thừa-kế tính sáng-tạo, mà khi xưa các “bậc thày” của ta từng minh-định trong cái-gọi-là “Bài-Giảng-Trên-Núi”, mà theo tôi, đó cũng là Hiến-chương của Nhà Giáo, tức: các bậc thày dạy, Chúa gửi đến với muôn người.

Xin trân-trọng gửi đến cô lời chúc mừng đầy tình-thương của một một người đồng-nghiệp đang đi vào dĩ-vãng, vì tuổi tác.

Michael McGirr
(x. Michael McGirr, A letter to a New teacher, Australian Catholics, số Summer 2014 t. 8)                       

Vâng. Quả có thế. Khi các bậc trưởng-thượng trong nghề dạy, hay nghề khác, nay cứ lục-tục ra về “vui thú điền viên”, “đuổi gà cho vợ” hoặc ngồi buồn viết hồi ký, cho đỡ nhớ và đỡ thương lũ trẻ nhỏ, nay lớn người lớn xác, nhưng vẫn chưa lớn tâm tính, rất đáng thương.
Vâng. Quả là thực tế rất giống thế, khi văn-hoá của sự chết nay tràn lan ở nhiều nơi. Chí ít, là những nơi/những thời mà con người không còn bám-víu vào giá-trị vĩnh-cửu, nữa. Làm sao và làm gì, để bám víu khi không còn gì ngoài một xã hội, tức nhóm người chỉ để tâm đến chuyện kiếm cho thật nhiều tiền. Và, khi có được tiền rồi, sẽ lại tìm kiếm danh-lợi để mọi người biết đến hoặc thụ-hưởng cho qua ngày/đoạn tháng.
Vâng. Thực tế hôm nay, nảy sinh nhiều sự-kiện đáng “gờm” khiến bậc thức-giả ở quê nhà, hoặc ngoại-quốc vẫn cứ ưu-tư lo-lắng cho lớp trẻ đang ngủ vùi trên nếp sống “vô cảm”, vô văn hoá, hoặc rặt toàn thứ văn-hoá của sự chết.
Vâng. Thực-tế thời-đại hôm nay cũng đáng buồn, nên tác-giả của nhạc-bản ở trên, lại cứ hát mãi câu chờ/mong như sau:

“Tôi đứng đây chờ em đã từ lâu,”
Sân vắng thưa người đêm cũng buồn theo.
một con đường sắt trăm con tàu,
Mưa nắng sớm khuya trưa chiều,
Người nhớ người thương người yêu.”
(Y Vân – bđd)
       
Vâng. Thực tế hôm nay, vẫn còn nhiều người những là nhận định rằng: làm gì thì làm, sống sao thì sống, vẫn phải sống sao cho có niềm-tin vững-chắc trong đời, có như thế mới tìm được niềm phúc-hạnh của sự sống.
Vâng. Làm gì thì làm, bạn và tôi, ta cũng sẽ gặp nhiều người, ở đời, có lập-trường nhẹ-nhàng/thông-thoáng như quan-niệm của đấng-bậc hạnh-đạo ở tôn-giáo bạn, có tâm-hồn và lập-trường sống vẫn cứ coi mọi sự như thường-tình, không đặt nặng chuyện đúng/sai, phải/quấy đầy cãi-vã, vẫn có cái nhìn cởi-mở như ở dưới, về nỗi hạnh-phúc sống niềm tin-yêu với đời, rằng:

“Tôi tin rằng:
mọi khổ đau trong đời, đều sinh ra từ sự ngu muội. Người ta thường gây đau đớn cho người khác, khi ích-kỷ theo đuổi hạnh-phúc hay thỏa-mãn riêng mình. Tuy nhiên, hạnh-phúc thật sự đến từ cảm giác an-bình và hài lòng, nó được tạo từ sự nuôi-dưỡng lòng vị-tha, tình-yêu và lòng từ tâm xoá bỏ sự ngu muội, ích-kỷ và sự ham muốn thái quá..

“Càng quan-tâm đến hạnh-phúc của người khác, ta càng thấy an-lạc. Nuôi-dưỡng cảm-giác thân-thiết ấm-áp đối với người khác tự nhiên làm ta thoải mái trong tâm hồn. Đó là nguồn gốc tối-hậu của mọi thành-công trong đời.

“Chỉ có phát-triển từ-tâm và thấu-hiểu người khác mới có thể mang lại cho ta sự tĩnh-lặng và hạnh-phúc mà tất cả chúng ta đều tìm kiếm.

“Nếu tình-yêu trong tâm-hồn bạn bị mất đi, và bạn thấy mọi người đều là kẻ thù của mình, thì dù bạn có kiến-thức, có giáo-dục hoặc tiện-nghi vật-chất nhiều cách mấy, bạn cũng chỉ thấy có khổ đau và rối mù.

“Bản-chất của con người không chỉ cần có vật-chất mà cần đến cả đời sống tâm-linh, rất khó để đạt an-bình và giữ được an-bình trong tâm-hồn.

“Bạn cũ mất đi, bạn mới cứ đến, nó cũng giống như những tháng ngày cuộc đời mình. Ngày cũ qua đi, ngày mới vẫn cứ tới. Điều quan-trọng, là: làm mọi sự trở nên có ý-nghĩa: ý-nghĩa của tình bạn- hay của một ngày đầy ý-lực.

“Khi bạn bất-đồng với người thân-thiết của mình, hãy chỉ nói về hiện-tại mà thôi. Đừng nhắc gì đến chuyện cũ.

“Bầu khí yêu-thương trong nhà bạn, là nền-tảng cho đời sống của bạn.

“Hãy sống cuộc đời tử-tế và phẩm-hạnh; để rồi khi về già hồi-tưởng lại, bạn có thể thưởng-thức cuộc đời bạn thêm lần nữa.

“Đừng để tranh-chấp nhỏ làm tổn-thương thâm-tình lớn.

“Hãy cứ theo luật định về 3 chữ T, là: Tự trọng, Tôn-trọng người khác và có trách-nhiệm về mọi hành-động của chính mình.” (x. His Holiness the Dalai Lama and Howard C. Cutler, M.D., The Art od Happiness, a Handbook for Living, Hodder Headline Australia Pty Limited, 1998)

Vâng. Làm gì thì làm, sống sao thì sống, cũng đừng quên sống đúng như lời dặn-dò của Thày Chí Ái từng nói với đồ-đệ của Ngài khi xưa, rằng:

“Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ,
mà sực nhớ có người anh em
đang có chuyện bất bình với anh,
thì hãy để của lễ lại đó
trước bàn thờ,
mà đi làm hoà với người anh em ấy đã,
rồi trở lại dâng lễ vật của mình. ”
(Mt 5: 23)

Vâng. Nhìn quanh quất, người người cũng thấy khó mà sống sao cho mọi người chung quanh được phúc-hạnh, hoà-hoãn với mình. Bởi lẽ, hiện vẫn thấy nảy-sinh nhiều cảnh-tình có quá nhiều người “vô cảm”, thì hoà-hoãn được với ai?
Thêm vào đó, có một sự-kiện còn hay thấy nữa, đó là: ngày nay người người có đi nhà thờ “dâng của lễ” cho Chúa, cũng chỉ dâng/chỉ cúng một cách “vô cảm” vì vẫn còn đó sự ganh-tương hoặc ích-kỷ, thì nói làm gì đến chuyện “làm hoà” với người-làm-mình-phật-ý hoặc những người mà mình từng làm mất lòng, nữa chứ!.
Tóm lại, tại sân ga chiều hôm đó, vẫn có người đứng chờ kẻ “vô cảm” rơi vào vòng tay ôm của Đức-Chúa-đang-hiện-diện-trong-lòng-người và đang chờ đợi mọi người, để nhớ và thương suốt một đời.
Đấng ấy, người ấy, có là nhà Đạo ở đâu đó, rất đáng thương hay không? Câu trả lời, xin dành để cho bạn, cho tôi và cho chúng ta, là những kẻ đang hát bài:

“Tôi đứng đây chờ Em đã từ lâu”.
Sân vắng thưa người đêm cũng buồn theo.
một con đường sắt trăm con tàu,
Mưa nắng sớm khuya trưa chiều,
Người nhớ người thương người yêu.”
(Y Vân – Đêm Tái Ngộ)

Vâng, cũng thế. Ở bên này, rày vẫn thấy:

Trần Ngọc Mười Hai
Nhiều lúc cũng sợ mình
Trở thành người “vô cảm” rất đáng sợ.
Chẳng đợi chẳng chờ,
Dù một ai.