Saturday, 13 July 2013

“Tóc mây ngang bờ vai



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 16 Thường Niên Năm C 21-7-2013

“Tóc mây ngang bờ vai
Em dáng gầy nho nhỏ
Nụ cười sao ngất ngây
Thương em từ dạo ấy.”
(Đức Huy – Tình Yêu Lần Cuối)


(Mt 28: 19)
            “Thương em từ dạo ấy!” Thế đó là giòng chảy thơ/nhạc, thật rất hay. Nhưng sao, người viết lại gọi đó là “Tình Yêu Lần Cuối”, mà không là tình yêu suốt đời? Thôi thì, lần cuối hay lần đầu, âu cũng là tình thương và yêu, rất mỹ miều. Tình thương yêu của bạn/của tôi, lại cũng có những đường biểu diễn đẹp như sau:

“Bước chân em tung tăng,
Ðôi mắt hoài mơ mộng.
Một trời thơ với trăng,
Cho Cuội thương chị Hằng.”


Tung tăng những bước chân, rồi cứ thế hát tiếp những lời âu yếm, đến là hay:

“Hôm đầu anh gặp em,
nghe rộn ràng niềm vui đến mau.
Anh về ôm đàn,
viết khúc nhạc tình nào anh biết đâu.
Xin yêu em như yêu lần cuối,
Ðón đưa em vào trong cuộc đời.
Tình yêu lần cuối, là một lần trăm năm.”
(Đức Huy – bđd)

Vâng. Đó chính là vấn đề. Vấn đề, của người viết nhạc chứ không phải của bần đạo bầy tôi đây, chỉ viết lách. Bần đạo đây, thật ra, lách nhiều hơn viết những giòng chảy, rày như thế. Chắc chắn một điều, là bần đạo đây sẽ chẳng bao giờ viết và lách, những là: “tình yêu lần cuối, là “một lần (những) trăm năm”.
Hôm nay, bạn và tôi hay ai đó, lại cũng có những cuộc tình, sẽ chẳng gọi là: “lần cuối “trăm năm”, đâu. Bởi, trăm năm hay trăm tuổi, là tuổi dài của tình yêu nhiều lóng lánh như giòng nhạc còn kể rõ:

“Ánh sao đêm lung linh,
Ðôi mắt bồ câu huyền,
Nhìn em trong thoáng giây,
Nghe thương về từ đây
.  
(Đức Huy – bđd)

            Vâng. “Nghe thương về từ đây”, còn là tâm tình và quyết tâm học được từ bậc thày đại sư như lời kể trong truyện, ở dưới:

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.

1. Thứ nhất, “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2. Thứ hai, “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.
3. Thứ ba, “học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4. Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5. Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
6. Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
7. Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.” (trích truyện kể do bạn bè vẫn gửi về.”

Vâng. Truyện kể trên, vẫn là lời khuyên của vị sư phụ bậc thày chuyên chiêm niệm về những điều cần học, vẫn rất quý. Thế nhưng, giả như bạn và tôi, ta lại cứ hỏi xem bầu bạn ở đời, có giống như bậc thày/đại sư vẫn chiêm và niệm xem ta cần học gì ở đời người? Chắc chắn câu đáp trả ở đây sẽ là: học biết về tình yêu. Yêu người, yêu đời và mọi thứ, cả những thứ/những sự là mọi vật ở trong đời. Những thứ và sự, như tâm tình/tự sự, bằng giòng thư sau đây:

“Bạn hiền đất đá “Uluru” trìu mến,

Những điều mình viết ra đây, đều nghiêm trang, nghiêm túc, nhưng không nghiêm nghị. Bởi, với tư cách là chốn miền được nhiều người biết bến viếng thăm như người bạn, mình thấy vẫn nên có đôi ba tâm tình nhắn nhủ bảo nhau rằng: mình rất phục bạn và mến bạn lắm đấy.

Quả thật, làm thân “sòng bài” như mình, coi vậy mà chẳng sướng gì đâu. Nhiều lúc cứ thấy dân tình ở đời, lại vẫn nghĩ: đời mình chỉ toàn những ngày sướng vui những nói cười; vì nhiều người tìm đến, cũng buồn cười. Buồn mà vẫn cứ cười được, là bởi những người như họ cứ xum xê chạy đến chỗ mình, rồi vung tiền cho lắm cũng chỉ để mua sắm nụ cười thâu đêm không thấy chán. Tuy nhiên, nơi đời mình vẫn có hố sâu thăm thẳm sầu-buồn khó lấp đầy. Ngày lại ngày, mình chỉ phát triển mỗi thói tật thật không đẹp, cứ là nuốt trôi nuốt chửng hết người này rồi lại vùi dập nhiều người khác, đưa học vào chốn đổ nát, không ngừng nghỉ. Quả thật, đến với mình hầu hết là những người mê say, nghiện ngập cứ tưởng rằng rồi ra sẽ có được giờ phút sướng vui, mà sự thật lại chẳng biết; hễ đến đây nộp mạng, thì mình đây vẫn cứ bòn mót, bóc lột, khai thác túi tiền của mọi người rồi lại sơi tái cả hồn linh họ, xong vứt bỏ hết mọi khúc xương mục nát, không thương tiếc. Việc mình làm, suốt ngày/đêm chỉ mỗi thế. Chẳng cần học hỏi thêm điều gì khác lạ hơn. Thành ra, mình nay lại đã lâm vào tình trạng bế tắc sầu buồn, rất khó sửa.

Lâu nay, do khéo che đậy tình cảm bằng việc tặng riêng cho người đến sòng mình, vài bữa ăn rẻ rúng, miễn phí; có khi còn tặng không/biếu không những nào thịt thà, khoai rán cho trẻ nhỏ, để chúng ăn hoài không chán. Làm thế cũng đã nhiều, nên lúc này mình cũng nản chí nam nhi rồi, bạn hiền ạ. Mẫu mã quảng cáo của chủ sòng cứ lải nhải bảo rằng: nhiệm vụ của mình chỉ là kích thích dân chúng xích lại gần nhau, ở bên nhau; dù chỉ ít phút cho quên sầu. Nhưng sự thật, đâu phải thế. Mình vẫn hay chơi trò ú tim, úp mở rất thần sầu, khiến vợ chồng cùng gia cang nhà họ cứ chém giết nhau, chôn nhau trong mảng tối có mỗi lằn sáng leo lắt nơi bàn đánh bạc khiến họ mờ cả mắt, chẳng cần thủ thân, thủ thế. Mình rất khoái chí, nên đã cho người mê say bài bạc cái thứ âm nhạc rẻ tiền lặp đi lặp lại chỉ một điệu, từ máy kéo. Thú thật với bạn rằng: thay vì tạo hạnh phúc cho người chơi bài, bọn mình cứ câm miệng như hến để họ tha hồ rơi vào chốn mộ phần hiu hắt, tối tăm rồi tự đóng nắp chôn đời họ.

Cuối cùng, mình nhận ra được chân lý, này: quả thật, bạn là tất cả, còn mình chẳng là gì hết. Bạn tuy vò võ ở chốn miền sa mạc nóng bỏng, không ai thích. Còn mình, tuy sừng sững bên cầu-cảng Sydney trị giá bạc triệu cũng chỉ để làm chứng làm vì mà nói với mọi người rằng: dân bản địa giòng giống Thổ dân đã có mặt ở đây cả triệu năm sinh sống, mãi cho đến khi đám “bạch quỉ” đến từ châu Âu tràn đồng trờ tới, đã biết ngả ngả bạc ra mà kiếm chác cho qua ngày đoạn tháng. Thổ dân, người bản địa cũng biết rõ hiểm nguy khi họ đọc được tương lai mai ngày từ đất đá, chứ không qua cây bài lá bạc, như chỗ mình. Ở nơi đây, cũng có hành lang trưng bày đồ lưu niệm, để khách lãng du mua sắm đôi thứ làm quà, gồm đồ thủ công do Thổ dân tạo tác khiến khách du lịch cứ tưởng làm thế cũng đủ để trả nợ quỉ thần bằng số tiền mình vừa thắng bạc.

Mãi về sau, mình lại nghe thiên hạ kháo láo với nhau rằng: chàng trai giòng họ Packer lại những muốn dựng thêm tòa nhà đồ sộ hơn nữa toạ lạc sát với toà nhà của mình để moi móc them tiền lời tại địa điểm mang tên Barangaroo tức nữ phụ vốn là vợ hiền của Thổ dân Bennelong ngay khi người châu Âu đặt chân tới. Phải công nhận: danh tánh của giòng tộc Barangaroo đầy sử thiêng, diệu kỳ, là chốn thánh để bộ tộc Thổ dân gặp nhau mà thờ cúng. Mình cũng nghe nói: nơi đó còn được gọi là “Dặm Sơn Khê Chốn Miền Đói Kém” kéo dài từ những ngày Đại Suy Thoái. Cũng ở nơi đó, năm 2008, lớp người Công giáo ở khắp nơi đã mời đấng bậc Trưởng Thượng của họ từ Rôma vời đến, tổ chức lễ-hội đình đám cho người trẻ. Nay, thì người trẻ khác mang giòng họ Packer lại muốn xây thêm sòng bài cao 40 tầng lầu lớn hơn đây, để rồi như lời anh nói: ‘sẽ hốt nhiều bạc triệu hơn sòng mình nữa!’ Thế mới chết! Mọi người tới đây đều nói thế, nhưng sự thật không phải thế đâu bạn hiền Uluru, ạ!

Mình rất thán phục lối-vẻ mà bạn cứ sừng sững đứng trụ trên nền đất đỏ, chẳng cần phải giả dạng như mình đây cứ là che đậy mặt tiền trơ trẽn, vẫn còn đó. Cả triệu năm bạn đứng đó, làm chứng cho những người đến rồi đi, quyết tạo dáng cho bạn thành đá thánh, bất tử. Mình ở đây, lại có cảm tưởng chỉ tạo lợi điểm lôi cuốn người đến xem, rồi du hí. Còn bạn, bạn chẳng cần làm gì thế mà mọi người cứ đến với bạn. Bên trong mình, gồm toàn những hang động, cùng ngõ ngách khiến người chơi bài/đánh bạc chỉ muốn tìm cảm giác kín đáo giấu tên, trong khi bạn lại kiên vững, mực thước, rất hấp dẫn. Chẳng thế mà, Thổ dân mới dùng từ vựng “linh thánh” để đặt tên cho bạn. Thổ dân các bộc tộc đều có chiều sâu, ngõ hầu đáp lời bạn kêu mời chẳng cần bắt ai sẽ phục lụy; thế mà bạn vẫn cứ tạo niềm vui tươi hưng phấn nơi người thưởng lãm nét đẹp của đất đá. Trong khi đó, thì mình đây lại phải xoa bóp cái tôi nhỏ bé này để lôi cuốn dân ghiền kéo máy. Bạn vĩ đại hơn bất cứ ai, nên người dân bản địa xem ra đã hiểu. Bạn còn giúp họ tạo sắc thái lý lịch, hiểu được chiều sâu thực tại. Còn mình đây, chỉ biết tự trở thành “đồ chơi” cho thiên hạ “mua vui cũng được một vài trống canh”, thôi.

Dù gì đi nữa, mình vẫn muốn đành hanh/tị nạnh với bạn. Mình vẫn còn lưu giữ ở hành lang nơi đây tấm ảnh chụp toàn bộ hình hài đồ sộ của bạn để mọi người chiêm ngưỡng các đặc trưng/đặc thù bạn vốn có. Đặc trưng ấy, là: sự giản đơn, tính thật thà và cung cách hoành tráng/vĩ đại của thực tại mà bạn từng sẻ san với Thổ dân mọi sắc-tộc để rồi trở thành một phần của thế giới. Mình đây không thể nào trích-dẫn nhiều hơn nữa những điều kỳ-quặc mà xem ra đang đến với mình và mọi người. Điều đó có nghĩa: không là kẻ chơi bài nghiện ngập, mà chỉ là người bình thường rất cảm kích đặc trưng/đặc thù của bạn, thôi

Chúc bạn nhiều may mắn hơn tôi.
Sòng bài ở Sydney”
(xem. Michael McGirr, A Letter to Uluru, Australian Catholics Winter 2013, tr. 9)                    

Thư bạn viết, có là “thư tình sẻ san một nhận định”, không? Nhận định bạn từng bảo, có là nhận và định về thói hư/tật xấu của những người dư thì giờ và tiền bạc ở chốn vui chơi tìm sảng khoái không chứ? San sẻ tâm tình và nhận định ở đây, không chỉ là chia sẻ và san sớt những gì mình từng vui hưởng để bạn bè/người thân biết mà cảm kích.
Lại có những sẻ san về kinh nghiệm đời rất giống một cảm nghiệm về những gì được Thày Chí Ái nhủ khuyên. Cảm nghiệm đây, là: cảm kích và kinh nghiệm về cuộc sống biết đáp lại lời mời gọi của Chúa trước ngày Ngài ra đi về với Cha. Cảm và nghiệm, về sự cần thiết rao truyền/quảng bá “Lời Hằng Sống” vốn vinh-thăng hết mọi người. Cảm và nghiệm một thực tế, như người trẻ nọ ở Úc, từng sẻ san giòng chảy tư tưởng đầy cảm kích, rất như sau:

“Tuần qua, một bạn hiền của tôi chạy đến báo tin rằng: anh quyết thành kẻ vô thần, tức: sẽ không còn tin vào Chúa Mẹ gì nữa hết. Tôi lặng người trong thoáng chốc, rồi trả lời: “Này bạn, đối với tôi, khi tỏ bày tình cảm của mình với bất cứ ai, ta đâu có dựa trên sự việc họ có sống đời đạo hạnh và tin Chúa hay không, đâu!” Nghe thế rồi, chừng như có tiếng thở phào nhẹ nhõm, từ bạn ấy.

Cũng từ sự kiện này, tôi nay tiếp tục suy-tư về sự thể gọi là Rao Báo Lời Chúa và Sẻ San Niềm Tin cũng như tương quan giữa hành xử bác ái với việc rao truyền Đạo Chúa. Nên, khi các cơ-quan từ-thiện hoặc quỹ bác ái thực hiện công việc hành-thiện này khác, họ đã mang nhiều lợi ích đến cho đời không khác việc Bẻ Bánh ở thánh lễ hoặc sẻ san Tin Mừng. Theo tôi, khi ta giới thiệu người nào đó để họ đi vào quan hệ mật-thiết với Chúa, thì khi đó ta đang làm việc bác-ái ở mức độ cao nhất, như Tông thư “Caritas in Veritate” (Bác Ái nơi Sự Thật) do Đức Bênêđíctô từng đề cập.”

Làm từ thiện, không chỉ làm mỗi việc giúp đỡ mọi người mà thôi, nhưng còn là cung cách tỏ bày sự cảm kích biết ơn những gì Chúa ban cho ta. Tuy nhiên, khi rao báo Tin Mừng của Chúa, ta không chỉ hướng mọi cố gắng của mình về với tiến trình của xã hội, mà còn là kéo mọi người về với Lời Chúa, là cội nguồn của mọi sự thật, rất tốt lành. Tựa như thế, chủ đề của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Brazil năm nay 2013, cũng đã thuật lại bài-sai Chúa gửi gắm hết mọi người: “Các con hãy ra đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân” (Mt 28: 19) cũng là lời mời gọi của Chúa trong năm đức tin này. Lời mời gọi Hội thánh ra đi rao báo Tin Mừng, để cho muôn dân được biết Tin Mừng của Chúa, vẫn là điều thiết yếu, cho mọi thời.

Tôi hiểu rằng: rao báo Tin Mừng còn có mục đích đem mọi người đi vào hiệp thông với Đức Kitô để tất cả được cứu rỗi. Mục đích này, không chỉ để lấp đầy bàn quỳ nhà thờ, cho bằng nói cho mọi người biết sự thật có lợi cho họ. Và, nói điều có lợi cho mọi người, tức: đã làm công việc bác ái, rồi vậy. Lại nữa, làm thân đồ đệ chuyên rao báo Lời Chúa, tôi đây và mọi người đều hiểu việc đó không là nói hay về tôi, mà: chính Đức Kitô, Đấng dẫn dắt mọi người vào với sẻ san sự sống có Chúa Ba Ngôi ở cùng và ở với, suốt mọi thời. Bởi, tôi và họ, đều là công cụ Chúa dùng cho kế hoạch của Ngài. Đó không chỉ là quyền lợi dành cho chúng ta, mà là bổn phận của mỗi người và mọi người, nữa.

Đằng khác, cần phân biệt rằng: rao báo Tin Mừng của Chúa, không là việc thuyết phục người khác về với mình, và việc ấy không chỉ là công cuộc giao-dịch giữa người này người khác, mà là quan-hệ giữa người biện-giải với cả người nghe, nữa. Bởi, làm thế tức là: ta đang sẻ san sự thật vì ta thương yêu họ, đồng thời quan tâm đến phần rỗi tâm linh của họ nữa. Như thánh Phaolô từng khẳng định: Không có lòng mến, thì tôi cũng chỉ là thanh la phèng phèng, thôi. (1Cor 13: 1-2). Chính do bởi điều này, mà ta thấy có rào cản/trở ngại khiến nhiều người không có được lòng tin, như ta.

Lại nữa, có được chiến lược rao báo Tin Mừng cho đúng cách, bằng nguyện cầu và hành xử, là cách “đắc nhân tâm” hay nhất để đưa người nghe đi vào tình bằng hữu, rất huynh đệ. Tình bằng hữu giữa mọi người được dựng xây qua việc lắng nghe một cách chủ động. Lắng nghe, không chỉ là nghe ngóng người khác nói, mà là hiểu rõ điều người ấy nói có nghĩa gì. Nếu ta biết lắng nghe, thì người nói sẽ không “phớt lờ” ta hoặc bỏ đó mà đi, nhưng còn tỏ cho họ thấy: tôi là người nghe và là người nhận đón Tin Mừng vẫn đối xử với người nói hoặc người rao báo với tất cả sự tôn kính vốn có đồng thời tạo cho người nghe như tôi, có cơ hội để học hỏi nhiều điều nơi người họ, nữa. Và, khi rao báo Tin Mừng như thế, người nói buộc phải phản ánh những gì họ đang nói và/hoặc hỏi người nghe câu hỏi cần thiết để biết cả hai đều đã hiểu. Lắng nghe một cách chủ động, sẽ giúp mở ra con đường rộng dẫn đến tình bằng hữu chân thực, để tình cảm tốt đẹp ấy sẽ hiện hữu và tồn tại. Tồn tại mãi, còn có tương-quan tập trung vào Đức Chúa, để từ đó mở ngỏ cho sự thật có được chỗ đứng nơi mọi người. Và, tình bằng hữu thân thương qua hành-xử rất bác ái  sẽ khiến Tin Mừng của Chúa hiện hữu và trải rộng nhiều chốn, chứ không chỉ trình diễn cách thô thiển, cốt để thuyết phục người khác, thôi.”(xem Anthony Ndaira, Evangelisation: our role is but to plant the seed!, The Catholic Weekly, ngày 02/6/2013 tr.11)

Nói như người trẻ ở trên, là nói rằng: tình bằng-hữu rất yêu đương và rao báo Tin Mừng của Chúa vẫn tạo mẫu số chung như thế. Như thế, vì: yêu người còn là yêu những gì con người vẫn ao ước. Ao ước, như nghệ sĩ lại vẫn hát lời thơ cùng ý nhạc, nay vẫn bảo: 
    
Biết bao nhiêu là mơ,
Mơ ước chuyện chúng mình,
Mình ngày mai kết thơ,
Ðể anh thôi đợi chờ.”                       
(Đức Huy – bđd)

“Ngày mai kết thơ”, là kết và dệt một ao ước thực hiện điều Chúa dạy dân con Ngài, rằng:

            “Đức Giê-su nói với một người khác:
Anh hãy theo tôi!
Người ấy thưa:
‘Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã.’
Đức Giê-su bảo:
‘Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.
Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."
(Lc 9: 59-60)
           
Nơi nhà Đạo, thực hiện điều Chúa dạy, dân con đồ đệ của Ngài cũng sẽ thực hiện với quyết tâm nhiều cảm kích có “tự do con cái Chúa”, như lời đấng thánh-hiền từng nhắc nhở, như:

“Quả thế, thưa chị anh em,
anh chị em đã được gọi để hưởng tự do.
Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt,
nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau.”
(Gal 5: 13)   
           
            Xem thế thì, sống đời người có ước và có mơ, kết thành thơ, là sống thực hiện lời Chúa dạy trong tự do theo cung cách “lấy đức mến mà phục vụ nhau.” Phục vụ nhau, còn là thực hiện việc rao báo Lời Chúa rất cởi mở trong vui sống, có lời hát làm nền để ta tiến. Tiến bước mạnh, rồi lại hát lời thơ ý nhị hầu tháp tùng hành trình rao báo Tin Mừng như sau:

            “Hôm đầu anh gặp em nghe rộn ràng niềm vui đến mau
Anh về ôm đàn viết khúc nhạc tình nào anh biết đâu
Xin yêu em như yêu lần cuối
Ðón đưa em vào trong cuộc đời
Tình yêu lần cuối là một lần trăm năm.”
(Đức Huy – bđd)

Hát rồi, hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ hướng về phiá trước mà tiến bước nhé. Hãy coi nhẹ mọi khó khăn, trắc trở mình vẫn gặp trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai
Từng nghe nhiều hiệu lệnh như thế
Nhưng chưa thực hiện được nhiều,
ở trong đời.
           

Saturday, 6 July 2013

“Tình yêu như nắng,




  
Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ XV mùa Thường Niên Năm C 14-7-2013

“Tình yêu như nắng,
nắng đưa em về bên dòng suối mơ”
“Nhẹ vương theo gió,
gió mang câu thề xa rời chốn xưa.”
 (Ngô Thụy Miên – Riêng Một Góc Trời)
(Phl 2: 1-2)
            Mỗi lần, bần đạo nghe giọng Tuấn Ngọc hát lên những lời tương tự, là đã thấy ngay “Một góc Trời”, khá thời thượng. Góc trời thời thượng, nói nôm na thì: chẳng trời đất nào lại có góc, có cạnh ở đâu hết. Góc Trời rất riêng tây, mà bần đạo nay đề cập, là tình tự thấy rõ ở câu ca, vẫn hát tiếp:

            “Tình như lá úa, rơi buồn trong nỗi nhớ.
            Mưa vẫn mưa rơi,
            Mây vẫn mây trôi
            Hắt hiu tình tôi.”
            (Ngô Thụy Miên – bđd)

            À thì ra, góc trời riêng tây một cõi, là tình-tự của người viết nhạc và/hoặc của nghệ sĩ nay cứ hạt những là “lá úa”, “hắt hiu”, “như sương khói”. Tình tự người nghe nhạc, lại chỉ là những tình rất tự-sự của người đang sống với môi trường thực-tế cứ thấy đời mình như sương khói, “mơ hồ trong bóng tối” rất ê chề, hết cách chữa.
            Có thể, người nghe nhạc ở đâu đó, chợt thấy người nghệ sĩ vẫn cứ hát thêm câu khá âu sầu:

            “Tìm đâu thấy, tìm đâu thấy nữa
            Khi mùa đông về theo cánh chim bay
            Là chia cách đôi nơi
            Là, hạnh phúc rã rời, người ơi!”
            (Ngô Thụy Miên -  bđd)

            Chuyện rã rời đời người hôm nay, không chỉ là tình tự-sự giữa hai người, thôi. Mà, còn là và sẽ là sự rã rời nơi tình người đối với nhau và với không gian/môi trường không còn dễ sống và đáng sống nữa. Nhưng đã và sẽ một gãy đổ/rữa nát giả như con người, chứ không phải con vật ở rừng sâu, cứ tiếp tục gây vỡ đổ/rữa nát khiến môi trường sống không còn có thể sống lâu dài được nữa.
            Lập trường đây, không phải của riêng bầy tôi/bần đạo cứ xục xạo các chuyện kể hoặc vấn đề thời đại, thời mà đàn anh/đàn chị bậc trưởng thượng hay đặt vấn nạn này nọ. Bậc trưởng thượng nay ưu tư, uẩn ức rất âu sầu về tình thương hết mọi thứ, cả những thứ không chỉ là ưu-tư của người thường, như đấng bậc nọ từng ghi thư gửi Giáo Hoàng mới đắc cử, ở bên dưới:

            “Trọng kính Đức Giáo Hoàng Phanxicố đáng kính,
            Có nhiều điều và nhiều thứ khiến bản thân con vẫn muốn đề-cập đến trong thư này. Nhưng, con không biết bắt đầu thế nào cho phải lẽ. Bởi thế nên, nếu ngài cho phép con tâm sự chừng vài phút thôi, con sẽ san sẻ với ngài một vài ký ức của con như sau:
            Cách nay không lâu, tại xứ sở mà mọi người vẫn gọi là Úc Châu, con đã thong dong tản bộ vào một buổi sáng thứ Bẩy ở khu thương mại để xem dân cho biết sự tình. Lý do là bởi nước Úc của con vẫn có thói quen thích các khu thị tứ đồ sộ với nơi đậu xe thật to lớn đến độ con cứ tự hỏi, sao ở đây không ai chối bỏ sự thể về lửa luyện ngục rồi còn tin vào các khu thương-xá rất vĩ đại.
            Đặc biệt là sáng hôm ấy, con bước vào quán xá gọi một tách cà-phê nóng cho ấm lòng bèn thấy bàn bên cạnh lại là vị linh-mục mang cổ trắng khá nổi bật, cũng đang tìm cách gọi cà-phê như con. Vẫn đinh ninh ông là linh mục Anh-giáo hay sao đó, nhưng không rõ, bởi lẽ quây quần bên ông có đến bốn trẻ cứ gọi hết ba rồi lại bố rộn cả một góc trời. Trong số đám con đó, có một bé em cứ là đòi bố với ba mua cho được nhưng hai đôi giày khác nhau, một để chơi bóng tròn, một để chơi bóng bầu dục, kiểu của Úc.
            Cô con gái của ông lại cũng đỏ mặt tía tai vì cái túi sách của cô không có chỗ nào đặc biệt cho chiếc di động khá đắt tiền của cô. Trong khi đó, một bé còn trong nôi cứ là khóc inh ỏi, còn bé kia thì cứ xé nhỏ cái bánh tiêu đường rồi vứt vào bé em trong nôi.
            Vị linh mục kia cố gắng hết mình để sự việc được êm thắm, nhưng không xong. Ông bắt đầu mất bình tĩnh, chửi toáng kêu cả tên tục của cấp trên ra mà tả oán kể khổ. Và rồi, khi gỡ nắp đựng cốc cà-phê bằng giấy ra, bất chợt ông kêu tên cực trọng ra mà xin lỗi: Lạy Chúa, xin thứ tha cho lỗi của kẻ hèn mọn này.
            Trọng kính Đức Thánh Cha,
Kể chuyện này, con chỉ muốn nói rằng: với con, sự kiện này là dấu chỉ về cuộc sống mỗi ngày của đám con cái cha đang ở đây, chí ít là đấng bậc linh mục như vừa thấy. Linh-mục ấy, nay cho thấy mình cũng mon men sát lằn ranh chịu đựng trong cuộc sống, đến độ khó có thể làm hơn thế. Ông cũng đã nguyện cầu bằng lời lẽ xuất tự tâm can. Và trong trường hợp vừa kể, ông cũng đã hoà mình với những người đi mua sắm ở khu này khá tương tự như công việc cử hành và chiến đấu với thực tại rất thật vào một buổi sáng thứ bẩy rất thường tình. Lý do mà lâu nay một số người vẫn biện luận cho rằng Giáo hội mình cần phong chức linh-mục cho các vị có gia đình, là chuyện không mấy thực tế. Trên thực tế, chừng như Giáo hội ta đang bị chứng ưu tư buồn bã làm cho tê cứng. Có lẽ Giáo hội ta đang cần đến các linh mục nào có khả năng mở rộng vòng tay với thứ thực tại của thế giới đương đại, dù các ngài có chọn sống đời độc thân thanh khiết, thiết tưởng cũng bị một áp lực tương tự như thế.
Có thể ngài không tin chuyện con kể ở đây là chuyện thực tế, nhưng sự việc xảy ra hôm đó lại cứ trở về với đầu óc của con rất nhiều lần khi con nhớ lại có lần đã đọc được ở đâu đó đôi giòng chảy ngài từng tỏ lộ trước khi được bầu làm vị thượng hoàng của cả Hội thánh. Điều ngài viết, ai cũng nhớ rõ mồn một như sau:  
“Thật sự, thì tôi vẫn xác tín rằng: thời buổi hôm nay, chọn lựa căn bản để Hội thánh ta làm không phải là giảm thiểu hoặc bãi bỏ đi các giới lệnh này khác của Giáo hội; và biến giới lệnh này hay giới lệnh khác sao cho dễ thực hiện hơn, nhưng là: hãy cứ xuống phố đi vào các ngõ nhỏ để kiếm tìm đồng bào hầu hiểu rõ từng người, biết cả tên lẫn tuổi của họ; chứ, không phải chỉ là Giáo hội mình có bổn phận phải ra đi rao giảng Tin Mừng và coi đó như sứ mệnh được trao ban, mà: không làm thế, tự khắc sẽ tổn hại đến chính thanh danh của Giáo Hội. Rõ ràng là, nếu ta xuống phố đi vào đời có thể sẽ gặp phải tai nạn này khác xảy ra cho chính mình cũng không chừng. Nhưng riêng tôi, tôi vẫn một ngàn lần thích có một Giáo Hội bị tai nạn nhiều hơn là Hội thánh cứ bệnh hoạn mãi.” (x. Michael McGirr, A Letter to the Pope, Australian Catholics, Winter 2013, tr. 16)                    
           
            Thích chọn một giáo hội “sứt càng gãy gọng” vì tai nạn, hơn một giáo hội đau yếu, bệnh hoạn. Vâng. Đó là lựa chọn của đấng bậc ở trên cao. Nhưng, như thế chưa hẳn là chọn lựa của toàn-thể hội thánh Chúa. Cũng thế, nếu là nghệ sĩ tức là người thích hát những câu ca “một góc trời” nào đó, thì có lẽ bạn và tôi, ta sẽ lại hát tiếp câu trên, như sau:

“Người vui bên ấy, xót xa nơi này thương hình dáng ai,
Vòng tay tiếc nuối bước chân âm thầm nghe giọt nắng phai.
Đời như sương khó, mơ hồ trong bóng tối  
            Em df9ã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi riêng một góc trời.”
(Ngô Thụy Miên – bđd)

            Góc trời riêng tây ấy, nay thấy chơi vơi, chẳng vì “Em đã xa rồi” cho bằng tình tự của tôi, của em, của rất nhiều người nay cứ níu kéo:  

            “Người yêu dấu, người yêu dấu hỡi.
            Khi mùa xuân vội qua chốn nơi đây,
            Nụ hôn đã mơ say, bờ môi ướt mi cay cay nay còn đâu.
            Tìm đâu thấy, tìm đâu thấy nữa
            Khi mùa Đông về, theo cánh chim bay
là chia cách đôi nơi là hạnh phúc rã rời, ngươi ơi!”
(Ngô Thụy Miên – bđd)

            Góc trời hội thánh hay cõi trời của tôi, của bạn và của mọi người, là cảnh-trí/môi trường ta sống đang ra như rã nát, bệnh hoạn rất không kém. Bằng chứng ư? Thật ra thì, bần đạo đây hay bạn bè các nơi cũng chẳng kiếm đâu ra được bằng chứng nào thuyết phục được mọi người. Chỉ dám cống hiến bạn đọc những giòng chữ này đôi ba truyện kể để ai cảm nghiệm được chừng nào, hay chừng nấy, thôi.
Trước hết là truyện tiếu lâm nhẹ nhưng có thật, để nói lên rằng: trong môi trường ta đang sống cũng có những chuyện lỉnh kỉnh, khá buồn cười để cho vui, trước khi đi vào câu chuyện nghiêm túc, đứng đắn:

“Báo “Unity”, một tập san do cộng đồng Công giáo ở miền đất phía Bắc Úc Châu có ghi lại một truyện kể về cụ bà cao niên cũng dễ nể, rằng: Hôm ấy, cụ lon ton bước từ khu thương mại ra bãi đậu xe chất đồ đạc vừa sắm sửa, bèn thấy 4 vị đàn ông lực lưỡng đang chễm chệ ngồi ở đó, miệng còn mủm mỉm như thách đố cụ bà cứ việc giải quyết cho hữu lý.

Thấy thế, cụ bà bèn bỏ mấy túi đồ vừa mới mua xuống đất, rút trong người khấu súng lục nhỏ nhắn bằng giọng hét vẫn rất lớn: “Bọn bay có biết là bà đây đang có súng và cũng biết cách xử dụng, chẳng thua ai không? Khôn hồn thì bước ra khỏi xe mà đầu hàng, cho được việc!”  

Mấy người đàn ông nghe thế, bèn răm rắp tuân lệnh, biến khỏi hiện trường ngay tức thì. Nhưng, kỳ lạ thay, cụ xỏ chìa khoá xe vào ổ rất đúng cách mà sao máy vẫn không chịu nổ. Và, cớ làm sao lại có hai thùng bia hiệu Victoria Bitter còn nguyên xi. Thêm vào đó, còn có quả bóng bầu dục nữa mới hết biết? Trong một thoáng rất nhanh, cụ bà phát hiện ra rằng mình đã chui lộn vào xe người khác, nhưng trễ mất rồi, bọn tứ quái kia biến đâu mất làm sao mà thanh minh thanh nga đây. Cụ bà nhìn quanh quất mới thấy xe của cụ đang nằm chình-ình cách đó không xa, bèn lên xe chạy thẳng đến đồn cảnh sát báo cáo sự việc. Cảnh-sát-viên ở đó không nhịn cười được, bèn chỉ vào 4 người đàn ông ngồi phía bên kia cũng vừa đến báo cáo rằng: xe của họ vừa bị một lão bà có súng đến cướp cạn.

Chuyện chỉ mỗi thế. Cũng may là: chỉ vì sơ xuất và lầm lẫn, nên chẳng bên nào bị phạt vạ hoặc ký giấy gì hết.” (x. The Catholic Weekly 16/6/2013 tr. 3) 

            Truyện kể đúng thật chỉ có thế. Nhưng, như thế không có nghĩa là người kể quên gửi gắm một bài học, bảo rằng: Nếu bạn bắt gặp bất cứ chuyện gì có liên quan đến môi trường nay đổi thay, cũng đừng ngại ngần mà quan tâm cho đúng cách. Chuyện về cụ bà ở trên đã lầm lẫn xe mình với xe người, chỉ vì môi trường/mặt bằng nơi bãi đâu cũng đã thay đổi kể từ ngày cụ ghé đậu không bao lâu.  
Lan man kể truyện nhẹ ở trên, là để dẫn nhập vào với câu chuyện ta mạn đàm về môi trường, thời buổi này. Nói chữ “môi trường” đôi lúc thấy cũng rộng và rắc rối. Bởi, nó dấy lên nhiều cuộc tranh cãi, rất mê say biện luận. Nói đến môi trường, có vị lại cứ liên tưởng đến sự việc rừng rậm/rừng thưa xưa rày đầy mầu xanh, nay chỉ lớt phớt đôi ba cây trơ cả gốc ngọn đến lo ngại. Có vị hễ cứ đề cập đến môi trường lại cứ lo cho loài thú hiếm nay truyệt chủng vì loài người ham đốn rừng lấy gỗ/lấy củi, khiến đất đai khô cằn thiếu nước, thiếu sức sống rất đáng sợ.
Nói đến môi trường hôm nay, còn hỏi là: nhà Đạo mình tính sao về những chuyện như thế? Nhà Đạo mình có trách nhiệm gì về gìn giữ môi trường cho dân con mình được sống? Và, có chăng một thần học môi trường?
Nói về môi trường hôm nay là nói rất nhiều giờ và nhiều thứ. Có những thứ/những sự mà người nhà Đạo nói hoài/nói mãi, không biết mệt. Không mệt, là bởi Đạo Chúa nói về môi trường từ thuở ban đầu của lịch sử, khi Giavê Thiên Chúa tạo dựng trời đất có con người, ở sách Sáng Thế ký. Rồi đến thánh vịnh lại cũng cất lời ngợi khen nét vẻ mỹ miều của thế giới, nơi ta sống. Thế giới đây, không chỉ là đất miền để ta khai thác đến tận cùng mà tồn tại. Nhưng còn để tạo vật nhìn vào đó mà ngợi ca kỳ công Chúa thiết lập. Chúa lập nên chốn ta sống, có cỏ cây hoa lá có cả sinh vật vẫn cùng với con người sống kết hợp/sẻ san hầu gìn giữ nó cho thế hệ sau có cơ hội mà sống sót.
Tin Mừng không đề cập trực tiếp đến chuyện môi trường sống của con người. Đức Kitô không nói rõ bằng Lời về cuộc sống có kết hợp với môi trường trong đó mọi sinh vật đều đang sống. Nhưng cuộc sống và cái chết của Chúa đã tạo cho tín hữu Ngài có thái độ đúng đắn với môi trường. Chính Chúa đã chứng minh bằng hành động và sinh hoạt của Ngài đối với Chúa Cha và thế trần do Ngài lập.
Chúa thương con người đến độ Ngài đã để cho Con Một Ngài tham gia vào cuộc sống ở dưới thế với con người và như con người. Giống và như con người, Ngài cũng có những băn khoăn, trăn trở, khổ đau và cuối cùng cũng chết đi để cứu vớt con người và trần thế. Chúa đến với thế trần, không chỉ để cứu mỗi linh hồn của con người mà thôi, nhưng Ngài còn cứu vớt cả thế giới để rồi đổi mới tất cả, cùng với con người.
Bằng Tin Mừng Ngài loan báo, Chúa tỏ cho dân con mọi người thấy được điều cần thiết giữ gìn cuộc sống ở trần thế, biết chiêm ngưỡng nét đẹp của vạn vật. Bằng sự kiện cụ thể, Ngài kể cho dân con mọi người các dụ ngôn bình dị liên quan đến thiên nhiên vạn vật, như: hoa quả, tiết trời, nhà nông trồng tỉa, gặt hái thành tựu của vụ mùa, nhất nhất tỏ cho mọi người thấy Ngài cảm kích sống với thế gian mà không màng chấp nhận mọi ràng buộc của môi trường hạn hẹp, nhiều bức bách. Và, Ngài chấp nhận đồng cam đồng khổ với con người, và cùng với mọi người kinh qua mọi giai đoạn của cuộc sống, rất giống nhau.
Sống trong môi trường cụ thể, con người nay giống Chúa vẫn gặp nhiều thách thức đặt ra cho chính mình. Thách thức thuộc đủ mọi tầm cỡ quyết chăm lo cho đất mẹ do Chúa tạo dựng. Thách thức ngày nay thấy rõ nơi thời tiết đổi thay, thực phẩm và nước uống cứ cạn dần. Thách thức còn thấy rõ, ở sự việc buộc mọi người phải tìm cách cải thiện cuộc sống nhờ y khoa, biến chế thực phẩm từ thiên nhiên ngõ hầu giúp con người sống dai, sống mạnh, sống phúc hạnh hơn khi trước.
Bước tiến của khoa học và kỹ thuật đã giúp cải thiện cuộc sống của con người cũng rất nhiều. Ngoài ra, các phương tiện con người đang có trong tay cũng giúp họ tìm tòi và phát triển nhiều giải phát thực tiễn hầu giải quyết mọi khó khăn đang gặp phải trong cuộc sống mà mội trường đang dần dà bị hủy hoại do nhiều thứ xúc tác, đến từ ngoài. Thách thức quan trọng và cuối cùng, là: con người vẫn phải thật thà và tự tin. Tin rằng: bằng vào thiện chí sẵn có cộng thêm sự hỗ trợ của ơn trên, ta cũng sẽ giải quyết được mọi khó khăn đặt ra cho môi trường mình hiện sống cùng và sống với.                          
Và, một thách thức khác không kém quan trọng, là: biết mình chỉ là tạo vật rất hạn chế; thế nên, luôn cần đến sự hiệp thông hỗ trợ từ mọi phía, mọi người. Có như thế, mình với ta vẫn cứ là một. Một con người. Một sức mạnh vốn dĩ có thể thực thi mọi điều tốt đẹp sao cho phù hợp với tình thương Chúa ban và tình người đang mở rộng chào đón mỗi người và mọi người. Để rồi, tất cả mọi người đều có thể ngồi cùng bàn mà thưởng lãm tình tự thương yêu được làm con Chúa, được sống với anh em trong môi trường rất con người.
Còn lại, chỉ mỗi việc là: làm sao đáp ứng được ước vọng từ nhiều người, nhiều phía. Cả từ phía của người thường rất nghệ sĩ vẫn hát câu ca vang vọng tận “một góc trời” có những lời như:

“Tìm đâu thấy, tìm đâu thấy nữa khi mùa đông
về theo cánh chim bay là chia cách đôi nơi,
là hạnh phúc rã rời, người ơi!
Một mai em nhé, có nghe thu về bên hang lá khô.
Ngàn sao lấp lánh, hát câu mong chờ em về lối xưa.
Hạ còn nắng ấm, thấy long sao buốt giá
Gọi tên em mãi trong cơn mê này mình nhớ thương nhau.”
(Ngô Thụy Miên – bđd)

Thật rất đúng. Trong cơn mê này, cơn mê của môi trường sống nay đi dần vào chốn rữa nát, vẫn cứ gọi tên em, gọi tên nhau mãi, trong cơn mê này mình nhớ thương nhau. Thương nhau, mình rất nhớ. Nhớ cả những lời được đấng thánh hiền vẫn bao ban, nhắc nhở, rằng:

“Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô
đem lại cho chúng ta một niềm an ủi,
nếu tình bác ái khích lệ chúng ta,
nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí,
nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau,
thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn,
là hãy có cùng một cảm nghĩ,
cùng một lòng mến,
cùng một tâm hồn,
cùng một ý hướng như nhau.”
(Phillip 2: 1-2)   

            Tâm tình ấy. Ý hướng này, bạn và tôi, ta đều nắm vững. Nắm vững rồi, chỉ còn mỗi việc, là: ta nhất quyết biến nó thành hiện thực. Hiện và thực, cho đời mình, đời người và đời cỏ cây/sinh vật trong môi trường sống ta trải nghiệm, tất cả đều vui/đều mừng như đấng thánh từng dặn dò, nhắn nhủ rất không nhiều, nhưng cũng đủ để nhớ mãi suốt cuộc đời.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn thường tự nhắn và tự nhủ
            Những điều rất thường như thế.