Friday, 10 April 2009

“Thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu”

Cho nhau trọn tình dẫu có điêu linh Xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau

(Nguyễn Trung Cang – Thương nhau ngày mưa)

(Ep 4: 3)

Chừng như, con dân nhà Đạo mình vẫn có lề thói khá quen quen, là: “thích đồ cổ”. Đồ rất cổ, bần đạo muốn nói ở đây, có thể là “truyền thống giáo phụ”. Là, lề lối “bảo thủ”, khó gột bỏ. Gọi đó là tính nệ cổ, cũng rất đặng. Nên vừa rồi, bần đạo có dịp nghe câu hát: “cho nhau trọn tình, dẫu có điêu linh”, và: “xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau”, lại thấy nhớ. Thấy rất thấm. Thấm đến độ, bần đạo bèn lại ngẫu hứng phiếm lai rai, cầu bàu bạn hôm nay.

Ôi thôi chết! Bần đạo nói thế cũng không phải. Thấy mà thương ở đây, chẳng cứ là thương hại. Hay thương tâm. Rất tội nghiệp. Cũng không là, thương cảm, thương “cho roi cho vọt”, lọt tọt chẳng còn gì để thương. Để nhớ. Thương ở đây, là: “thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu”. Nói đúng hơn, thương là: thương và tin trọn đời. Dẫu điêu linh. Mất định hướng. Rất lúng túng.

Quả thật, bần đạo thấy lúng túng khi buộc phải minh định lập trường về những “nệ cổ”/cổ lệ, mà người thời nay, ít để ý. Nhưng vẫn thương. Thương, cho người bận tâm/để ý những chuyện xa vời, ít vấn vương. Không quan trọng. Trong cuộc sống.

Trước khi đi xa hơn, về những chuyện không vương vấn, lấn cấn sự sống, bần đạo mời bạn mời tôi ta mời mình thử tản mạn qua truyện kể rất lễ mễ, ở bên dưới:

“Thánh lễ vừa xong, bé em chạy đến gần chủ tế vừa giảng xong. Bé ngước đầu tuyên bố, rất dõng dạc:

-Mai ngày khi khôn lớn, con sẽ kiếm thật nhiều tiền, đem đến tặng cha.”

-Cảm ơn con nhiều. Nhưng sao lại làm thế?

-Bởi vì, mỗi lần ba con đi nhà thờ nghe cha giảng. Về nhà, Ba cứ bảo: ông cha, dạo này giảng có lẽ nghèo nàn nhất, trong số các cha mà ba vẫn nghe!”

Câu đó, không chắc có phải vì nghe cha giảng, thấy cha nghèo. Hay, bài giảng của cha bao giờ nghe thấy cũng nghèo, so với các vị khác, không? Chuyện này, bần đạo không dám quyết đoán. Nhưng, mỗi lần nghe cha/thày giảng/giải, cũng nên suy nghĩ, chứ đừng nên có động thái như bé ở trên. Chí ít, là khi ta nghe cha/cố chuyên giảng/giải về những chuyện xa xưa, giống trái đất.

Xưa như đất, là vấn đề thời đại. Lâu nay. Thời buổi này, vẫn còn những hỏi/đáp để giải mã những thắc mắc về nhà thờ, ở bên dưới, nghe cũng ngộ:

“Tôi vẫn nghe nói: ta phải cúi đầu khi đi lễ. Thứ nhất, là cúi đầu khi đọc Kinh Tin Kính, có còn buộc phải làm nữa hay không? Dường như, chẳng còn mấy ai nhớ làm chuyện ấy. Người bước lên đọc Sách thánh, cúi đầu là bái bàn thờ hay bái ông cha chủ tế? Cúi như thế, phải cả người hay chỉ mỗi đầu, mà thôi? Xin cho biết.

Hỏi và đáp những chuyện cũ xưa /cổ lỗ, vẫn là “nghề của chàng”. Chí ít, của “chàng trai linh mục”, mà kinh nghiệm giải đáp thuộc cỡ thượng thừa, rất John Flader, nơi tờ The Catholic Weekly, như sau:

“Trước hết, xin dành câu trả lời cho câu hỏi chót hết, dựa trên sách của Gm Peter Elliott có tựa đề: “Các Lễ Nghi trong Nghi tiết Phụng vụ La Mã”. Giám mục Elliott từng nói rõ: có hai loại cúi đầu trong nghi tiết Phụng vụ, là: cúi cả người hoặc cúi rạp mình, và cúi đầu, mà thôi.

Cúi rạp mình, tức cúi gập ngang lưng nghiêng mình về phía trước,là kiểu cúi trong khi cử hành thánh lễ; cúi trước mặt chủ tế vào trước và sau khi xông hương. Đây cũng là lối cúi mình trước Giám mục, mỗi khi đến gần ngài, từ chỗ ngài mà đi, hoặc mỗi khi đi ngang trước mặt ngài (mục 202).

Viết những điều này, trước tiên, Gm Elliott viết cho các thừa tác viên giúp lễ, chứ không phải cho bổn đạo đừng ngồi dưới bàn quỳ. Cho nên, ta cũng nên thêm một điều nữa là: mọi người chúng ta hãy cúi đầu thật sâu trước khi lĩnh nhận Mình Máu Chúa, nếu như người ấy muốn rước lễ theo tư thế cúi đầu, thay vì bái gối hoặc quỳ mà rước lễ.

Cũng nên thêm một điều, là: việc cúi đầu trong khi đọc Kinh Tin Kính vào lúc đọc câu “và bởi phép Chúa Thánh Thần Ngài đã nhập thể trong cùng lòng Đức Nữ Đồng Trinh Maria, và đã làm người.”

Mỗi năm hai lần, vào dịp lễ Giáng Sinh và lễ Truyền Tin, các tín hữu đều bái gối khi đọc những lời như thế, thay vì chỉ cúi đầu.Quả thật, là ngày nay nhiều người không còn biết cúi đầu nữa, thật đáng buồn. Trước ngày cải tổ phụng vụ hơn 40 năm về trước, toàn thể cộng đoàn đều cùng với vị chủ tế, đều bái gối mỗi khi đọc những lời như thế, trong Kinh Tin Kính. Và lúc đó, chẳng một ai thắc mắc về mầu nhiệm cao cả Con Thiên Chúa Xuống Thể, làm người. Và cũng từ ngày Hội thánh cho phép chỉ cần cúi đầu thay vì bái gối, nhiều người không còn tỏ dấu hiệu gì, để cung kính.

Để trả lời cho câu hỏi thứ hai, Gm Elliott cũng nói: người bước lên bục để đọc sách, trong lúc bước lên cung thánh, cũng cúi đầu trước bàn thờ, sau đó trước vị chủ tế, rồi mới bước lên bục, để đọc (mục 258). Cả hai lối cúi này, đều là cúi sâu từ ngang lưng.

Về cúi đầu trước vị chủ tế, không thấy nói trong sách nghi tiết phục vụ, như nói trong các nghi thức do Đức Giám mục cử hành, làm chủ tế (mục 76-77), có thể coi như thói quen cung kính diễn tả với vị linh mục. Chính vì lý do này, mà Gm Elliott đã nói đến trong sách của ngài (mục 258)

Một số người có thể thắc mắc hỏi tại sao người bước lên đọc sách không cần bái gối trước nhà tạm, khi bước lên cung thánh. Lý do, là vì Sách Các Lễ Nghi trong Nghi Thức Phụng vụ La Mã có nói là: nếu nhà tạm có Mình thánh Chúa được đặt trên cung thánh, thì “linh mục, phó tế, và các thừa tác viên đều bái gối khi bước lên và khi rời cung thánh, nhưng không phải vào lúc đang cử hành thánh lễ. (sđd mục 274)

Lối cúi khác, tức là chỉ cúi đầu mà thôi, thường đi kèm với cúi nhẹ thân vai. Vị chủ sự nghi thức phụng vụ sẽ làm như thế khi nghe đọc lớn tiếng Tên ba Ngôi cực trọng (tỉ như vào phần đầu kinh Vinh Danh) và vào lúc người đọc cất tên danh thánh Đức Giêsu, Đức Mẹ và các thánh mà buổi lễ hôm đó được cử hành, để mừng kính (m 275).

Nhiều bổn đạo vẫn có thói quen cúi đầu mỗi khi nghe đọc đến tên cực trọng Đức Giêsu hoặc Đức Mẹ. Cũng thế, cũng là thói quen thông thường của nhiều người trước mặt chủ tế mỗi khi bưng khiêng các vật thể trong kiệu rước lễ vật dâng tiến Chúa, và cúi đầu mỗi khi đưa hoặc nhận lễ vật dâng tiến với chủ tế.

Về việc này, Gm Elliott có nói: Chỉ cúi nhẹ một chút cũng đủ để tỏ lòng cung kính lẫn nhau và biết ơn trước và sau khi nhận vật gì hoặc làm việc gì, theo cách nào đó, vào khi cử hành nghi tiết.” (m 203)

Cùng một lý do như thế, các thừa tác viên Thánh Thể hoặc chú giúp lễ vẫn thường cúi đầu trước và sau khi đưa bình rượu lễ hoặc dĩa rửa tay cho chủ tế. Cả vị chủ tế nữa, cũng có thể cúi đầu đáp lễ. (x. sđd mục 277)

Mọi kiểu cúi đầu như thế, không nên chỉ coi như việc mang nặng hình thức hoặc vô nghĩa, trống rỗng, mà như dấu hiệu căn bản để tỏ lòng cung kính Đức Chúa hoặc đấng bậc vị vọng, dù đó có là Giám mục, linh mục hoặc thừa tác viên, mà thôi.”(bđd, 08/02.2009 tr. 10)

Cúi đầu thờ lạy, hay chào Chúa Mẹ là chuyện đương nhiên, đã đành. Nhưng, hễ gặp cha cố đấng bậc mà lại cứ phải bắt con chiên ngoan đạo gục đầu chào rất kính cẩn, mới thành chuyện. Chuyện, là chuyện dây dưa khi xưa, hôm nay. Ở nhà Đạo. Cũng rất nản. Nản, vì cứ phải nghe, phải biết những chuyện cãi tranh, lanh chanh cùng đố kỵ như chuyện “cũ/mới được giỡ bỏ”. Chẳng hạn như chuyện giỡ bỏ mọi “dứt phép thông công” đối với 4 vị giám mục từng gây tranh luận, nổ như đom đóm.

Nổ nhiều nhất, là chuyện vừa mới xảy ra có liên quan đến Gm Richard Williamson đã bất chợt công khai có thái độ chống Do thái. Từ dạo ấy, các giới có thẩm quyền trong Giáo hội đều bài bác thái độ báng bổ của vị giám mục này.

Về cung cách cũ/mới cần có khi cử hành nghi tiết phụng vụ, cũng đã thấy xảy ra một vài bất bình trong/ngoài Hội thánh ở Brisbane, Úc. Bất bình, lại rộ lên trong nội bộ Hội thánh khi chính Đức đương kim Giáo Hoàng Biển Đức có quyết định lạ thường, về nghi tiết phụng vụ này khác, theo kiểu cũ hay theo sau Công Đồng Vatican II. Quyết định của ngài giỡ bỏ việc dứt phép thông công đối với 4 vị giám mục, để làm nhẹ đi mọi căng thẳng vốn có trong giáo hội, từ ngày ấy. Nhưng, việc này lại kéo theo những thách thức về sự hiệp nhất trong giáo hội.

Phiếm luận hôm nay, không phải để nói “ai đúng ai sai”/ai phải ai quấy. Mà chỉ muốn bảo rằng, trong mọi thử thách đối với sự hiệp nhất trong giáo hội, ban ngành, đoàn thể trong xã hội, luôn cần đến thương thảo. Việc thương thảo bao giờ cũng tế nhị. Tế nhị, là vì trong mọi cuộc tranh và cãi, bao giờ cũng có cái giá phải trả đều rất đặt. Cử chỉ hài hoà độ lượng của Đức Giáo hoàng, cùng với việc thừa nhận các cộng đoàn Anh giáo bất phục tùng, luôn đem đến với người trong cuộc, sự thông cảm hiểu biết cần có cho một hiệp nhất.

Thông cảm cho một hiệp nhất, là luôn nhớ đến lời các thánh viết trong thư, gửi các giáo đoàn, như đoạn bên dưới là một ví dụ cụ thể:

“Anh em

hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất

mà Thần Khí đem lại,

bằng cách ăn ở thuận hoà

gắn bó với nhau.”

(Ep 4: 3)

Có thuận hoà gắn bó, mới xứng là nhân chứng cho tình thương yêu của Đức Chúa. Mới là có quan hệ thân thương của dân con nhà Đạo. Của những người hiện đang sống trong Nước Trời, ở trần gian. Quan hệ ấy, dù mang cung cách cũ/mới, dù ở trong hay ở ngoài giới có thẩm quyền, nhà Đạo. Thuận hoà - gắn bó, cả vào khi bạn và tôi, vẫn hát:

“Khi mặt trời vắng bóng,

khi lời nguyền khuất lấp

nghe lạc loài kiếp sống sao mỏi mong..”(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Và, thuận hoà – gắn bó, có đoàn kết/hiệp nhất, vào những lúc, có:

“Như giọt buồn nước mắt,

mưa ngại ngùng héo hắt,

thương người về buốt giá, trên đường xa.” (Nguyễn Trung Cang – bđd)

Nói cách khác, dù có buốt giá, xa lạ/cũ mới, ta vẫn cứ: “Thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu”, vẫn cho nhau trọn tình”, trọn nghĩa, trọn chữ thương yêu. Thương cả những người xa lạ, chẳng hề quen. Thương, cả vào khi mình không còn nhớ những ân tình xưa/cũ, để trả nợ. Trả nợ ân tình, dù chỉ là một ngụm sữa nhỏ. Như câu truyện ở bên dưới:

Một cậu bé nghèo làm nghề bán hàng rong để kiếm tiền học. Một ngày nọ nhận thấy mình chỉ còn mỗi một hào mà bụng đang đói, cậu định bụng sẽ sang nhà kế bên xin một bữa ăn. Một phụ nữ đẹp ra mở cửa. Bối rối trước cuộc gặp gỡ không hẹn trước này thay vì ăn cậu xin uống. Người phụ nữ đoán ra cậu đang đói và mang đến cho cậu một ly sữa lớn. Cậu chầm chậm nhấp từng ngụm sữa rồi hỏi: “Cháu phải trả cho cô bao nhiêu ạ?" Người phụ nữ trả lời:

-Cháu không nợ cô cái gì cả. Mẹ cô đã dạy không bao giờ nhận tiền trả cho lòng tốt -Cháu sẽ cám ơn cô từ sâu thẳm trái tim cháu."

Khi ra đi cậu cảm thấy khoẻ khoắn hơn và niềm tin của cậu vào con người cũng mãnh liệt hơn. Trước đó cậu gần như muốn đầu hàng trước số phận.

Nhiều năm sau đó người phụ nữ bị ốm nặng. Các bác sĩ địa phương đều bó tay. Họ chuyển bà đến một thành phố lớn và tiến sĩ Howard Kelly được mời đến tham vấn. Khi ông nghe tên thị trấn nơi người phụ nữ ở, một tia sáng ánh lên trong mắt ông. Ngay lập tức ông khoác áo choàng và đi tới phòng bệnh người phụ nữ ở.

Ông nhận ra được ngay ân nhân của mình năm xưa. Quay về phòng hội chẩn, ông quyết định dốc hết sức để cứu bệnh nhân này. Và cuối cùng nỗ lực của ông đã thành công.

Tiến sĩ Howard Kelly đề nghị phòng y vụ chuyển cho ông hoá đơn viện phí của ân nhân. Ông viết vài chữ bên lề của tờ hoá đơn và cho chuyển nó đến người phụ nữ. Bà nhìn tờ hoá đơn và biết rằng sẽ phải thanh toán nó hết đời mới xong. Bỗng nhiên có cái gì đó khiến bà chú ý và bà đọc những dòng chữ này: "Trị giá hoá đơn bằng một ly sữa." Ký tên: tiến sĩ Howard Kelly

Truyện kể ở trên, chắc nhiều ngưòi nghe đã quen. Nhưng, dù quen nghe những truyện kể nhè như như thế, vẫn nên thêm ở đây, lời bàn của người viết truyện, không ký tên, như sau: Hãy mở rộng trái tim với mọi người vì một mai bạn cũng cần người khác mở rộng trái tim dành cho mình. Do đó giúp đỡ người khác chính là mục tiêu để được sống hạnh phúc.”

Nói kiểu khác, kiểu lạm bàn nhiều phiếm luận, ta có thể bảo: “Thương nhau thật nhiều, biết mấy tin yêu”, chính là biết mở rộng tâm can. Mở trái tim. Với mọi người. Dù người ấy, chỉ là chú em đi bỏ báo. Không đủ tiền mua nước giải khát, bèn đi xin. Dù chú em ấy, nay trở thành người nổi tiếng, giới y khoa/phẫu thuật, rất Howard Kelly. H. Kelly hay gì gì đi nữa, ta vẫn cần vòng tay mở rộng. Mở, cả trái tim. Mở cho mọi người. Dù, chỉ mở bằng bát chè xanh. Tươi mát. Mang lại hạnh phúc.

Có cởi mở, lòng người mới đi vào cuộc sống thân thương, thoải mái. Sống hăng say, chẳng câu nệ chuyện cúi gập người. Hoặc, chỉ sơ sơ mỗi cái đầu. Có cởi mở, mới thấy đời đi Đạo của người mình, đâu câu nệ chuyện cúi hay không cúi. Nhưng vẫn kính. Vẫn tôn. Vẫn thờ lạy.

Có cởi mở, mới thấy:

“Như mưa ngày nào thấm ướt vai em,

như mưa ngày nào khuất lấp sao đêm

Thương em ngày nào khóc ướt môi mềm.” (Nguyễn Trung Cang – bđd)

Có cởi mở, mới thấy được rằng:

“Thần khí của Đức Chúa ngập tràn cõi đất,

bảo toàn mối hiệp nhất giữa muôn vật muôn loài,

thấu hiểu hết mọi lời mọi tiếng.”

(Kn 1: 7)

Và, khi có Thần Khí Chúa tràn ngập, thì dù “Xa nhau trọn đời, vẫn nhớ thương nhau”. Đó là cuộc sống Nước Trời. Đó là tình thân thương cộng đoàn con cái Chúa. Ở trần gian.

Trần Ngọc Mưới Hai

Thêm một lần tự nhủ

về những cúi đầu

và thương yêu

trọn đời.

Saturday, 4 April 2009

“Này người yêu, người yêu anh ơi!”

Bên kia sông là ánh mặt trời…

(Nguyễn Đức Quang – Bên Kia Sông)

(2M 7: 9)

Viễn du ngày đầu năm, bần đạo được hân hạnh đặt chân lên thủ đô Amman, nước Gio-đan. Đất nước êm đềm. Đẹp và sạch. Sạch đẹp, hơn Kai-rô nước Ai Cập ngàn năm khô khan. Cũng sa mạc. Vùng Trung Đông. Sạch đẹp nơi đây, thấy rõ ở nét mặt dân con ông hoàng Hussein, nước Gio-đan có hơn 90% dân con Hồi Giáo. Sạch đẹp, và người người vẫn hân hoan giữ đạo, vẫn rất vui.

Bảo rằng, dân con Hồi giáo xưa nay rặt toàn những người cực (kỳ đa) đoan, đâu không thấy. Hồi giáo ở đây, cũng có thờ Thượng Đế. Có cung chúc, ca tụng thánh Allah. Tươi vui. Nề nếp. Bởi thế nên, dù ra khỏi đền thờ sau giờ kinh, rất cháy nắng, rất cực mệt, người người vẫn hớn hở. Hân hoan, vui cười. Vẫn cứ vui tươi, cười nói với chuỗi hạt trên tay. Mừng rỡ. Khấn nguyện.

Tình tự rỡ mừng trong khấn nguyện, đã được nghệ sĩ mình diễn tả bằng giòng nhạc êm, như:

“Này người yêu, người yêu anh hỡi!

bên kia đồi, cỏ hoa đan lối

bên kia núi, núi cao chập chùng

bên kia suối, suối reo lạnh lùng

là bài thơ, toàn chữ hư vô. “ (Nguyễn Đức Quang – bđd)

Dân lành nhà Đạo con Đức Chúa, nay cũng có những tình tự rất phấn khởi. Hân hoan. Cởi mở. Hân hoan - cởi mở, chẳng phải vì “bên kia núi, suối reo lạnh lùng”, có còn là: “bài thơ toàn chữ hư vô”, hay không. Mà chính vì, nhà Đạo hôm nay đều đã tươi cười bảo ban nhau: “Chúa sống lại rồi! Ngài sống lại thật đấy, mình dám thưa!”

Dân con nhà Chúa, dám cả quyết về mặc khải Sống lại, không phải chỉ vào Phục Sinh ngày Lễ Hội, thôi. Nhưng, vào mọi ngày của Chúa, rất Phục Sinh. Bằng chứng ư? Rõ ràng, khi tuyên tín, người mình đều chẳng hát như thế sao? Hát rằng:”Tôi tin xác sẽ sống lại,và sự sống đời sau”!

Tin Chúa sống lại từ cõi chết, là tin như người Kitô-hữu thời tiên khởi, quyết một lòng. Ngược giòng lịch sử trước Công nguyên, sách Ma-ca-bê rõ ràng đà ghi rõ:

“bởi lẽ chúng tôi chết

vì Luật pháp của Vua vũ trụ,

nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại

để hưởng sự sống đời đời."

(2M 7: 9)

Tin vào “sự sống lại từ cõi chết”, không chỉ là thành phần của niềm tin qua lời dạy mà Đức Giêsu đem đến. Mà, còn là động thái của môn đệ từng dõi bước theo Ngài. Tuy nhiên, ngàn năm về sau, người thời đại, lại nổi lên chống đối. Chống đến độ, khiến thánh Âu-tinh phải vụt thốt: “Không có tín điều nào nơi ở người tín hữu Đức Kitô lại gặp nhiều chống đối, bằng niềm xác tín rằng xác sẽ sống lại.”

Chống đối này, vẫn bắt gặp dẫy đầy ở Tin Mừng. Đây này, đoàn Xa-đu-xê, những giáo điều. Nơi kia, một kinh sư/Biệt phái, cùng thượng tế, vẫn loi nhoi. Loi nhoi chống đối, là chống mọi động thái/tín điều không để họ được chễm chệ, ngồi ở trên. Ngồi ở trên, để họ những phán và phán. Phán rất nhiều. Toàn những điều mang lợi ích đến cho riêng họ. Phán rằng: Đấng Mê-sia giải thoát chư dân khỏi quan lại cầm quyền, từng đô hộ. Lời phán của họ chỉ đặt nặng lên cuộc sống hiện tại, những hưởng thụ. Tuyệt nhiên, không về những điều mà họ cho là khô khan khó nhận, về đời sau.

Giáo huấn Đức Giê-su, thì khác. Ngài từng quả quyết, có khác biệt giữa đời này và đời sau. Người đời này, đều sẽ chết. Và khi chết, ai cũng chắc chắn là con cháu mình sẽ tiếp tục nối dõi tông đường. Còn đời sau, sẽ chẳng có ai buộc phải chết. Chẳng thấy ai, dựng vợ gả chồng cho con cháu, mà là tiếp tục sự sống. Xác chứng sự thật, Đức Giêsu căn cứ vào luật Môsê, mà bầu đoàn những người chống đối đều tuân giữ. Chính vì thế, ta có được khẳng định dứt khoát, về đời sau. Từ Đức Chúa:

“Về kẻ chết trỗi dậy,

chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy

trong đoạn văn nói về bụi gai,

khi ông gọi Đức Chúa

là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ram,

Thiên Chúa của I-xa-ác,

và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp.

Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết,

nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống,

vì đối với Người, tất cả đều đang sống."

(Lc 20: 37-38)

Tranh luận tới đây, tưởng chừng như kết thúc. Nhưng, đã âm ỉ một nhắn nhủ:

“Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông, đường vẫn còn dài.” (Nguyễn Đức Quang – bdd)

Đường còn dài, không chỉ người người vẫn còn muốn tranh luận, mà vì vẫn chẳng tin. Bởi thế nên, người nghệ sĩ lại đã diễn tả trạng huống ấy bằng lời ca, như sau:

“Trong cơn gió, thoáng nghe nụ cười

trong khe núi, thánh thót lòng người

lòng đòi tình vật vã khôn nguôi.” (Nguyễn Đức Quang - bdd)

Đã nhiều thời, Đức Giêsu lại trở thành chính vấn nạn, cho người đời tranh cãi. Họ cãi vã, về chuyện Chúa sống, rồi Chúa chết. Sống nghèo nàn. Rồi lại chết nhục trên khổ giá. Ngài có chết. Nhưng Ngài đã sống lại vinh hiển. Ngài không để cho sự chết cứ mỉm cười. Trêu ngươi vào mặt Ngài. Đó là một cãi vã từ nhiều đời, của bè Xa-đu-xê, rất cứng lòng. Đó, còn là khẳng định của Đức Giê-su về chính Ngài:

“Ngài phải đi Giêrusalem

chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng

và thượng tế cùng ký lục,

và bị giết đi,

và ngày thứ ba sẽ sống lại.”

(Mt 17: 21)

Tin “vào sự sống đời sau” ở lời kinh Tin Kính, chắc chắn đưa dẫn ta vào với thế giới rực rỡ của lai thời. Nhưng, điều này không có nghĩa bảo ban ta quên đi đời này. Đúng hơn, là khuyến khích ta cải thiện đời này sao cho đời sau cứ thế vinh quang hơn. Các giáo phụ thời Công Đồng Vatican II cũng đã khuyến khích mọi người hãy triển khai cuộc sống ở dưới đất này, để nhìn vào trời mới đất mới, rất tương lai.

Tương lai rực sáng ấy, đã và vẫn nằm ở cụm từ “Amen”, rất xác tín. Quyết liệt. Xác tín và quyết liệt như các thánh xưa kia vẫn dẫn dụ mọi người, hãy vui mừng lên, trong niềm tin. Vui mừng và soi dọi nơi bản kinh Tin Kính. Để biết rõ niềm tin của mình đạt đến cỡ nào. Có đúng bài bản, như Hội thánh trông đợi không?

Tuyên tín, hay chỉ đọc kinh tuyên xưng, mỗi Chúa nhật vẫn phải là điều phản ánh đích thực, những gì bên trong ta đang có. Chứ không phải chỉ là lời nói, từ đầu môi. Tin hay đọc, cũng cứ làm giống như trẻ nhỏ ở nhà. Cứ nghe người lớn dạy bảo, đều vẫn tin. Vẫn hân hoan phấn khởi tin vào Chúa. Tin vào lời của người lớn, trong Hội thánh. Cùng thày cô. Như lời của bé em trong truyện kể, ở bên dưới:

“Ông bố Minh Giao, buồn rầu kể về tính đơn hiền cả tin của bé Loan, con ông mới sáu tuổi, nhưng đã biết viết vài hàng chuyện vãn với Chúa. Bé viết thư rất ngắn, sau đó nhờ bố bỏ vào phong bì gửi cho Chúa trên thiên đàng, bằng đường bưu điện. Chuyện bé viết, là chuyện về chú Missy, bạn thân của bé, vừa mới chết, như sau:

Lạy Chúa của con,

Có thể nào Chúa chăm sóc cho Missy của con, được không Chúa? Tội nghiệp! Missy của con vừa mới chết, Missy năm nay mới có 14 tuổi à. Nhưng Missy dễ thương lắm đó, Chúa ơi. Con nghĩ là giờ này em cũng đã sống lại và đang ở bên cạnh Chúa, trên thiên đàng. Missy chỉ mới chết hồi hôm, nên con nhớ Missy chịu không nổi.

Chúa ơi! Chúa có thương con, thì Chúa phải chơi với Missy của con, nữa đó nghe. Missy thích đùa giỡn với bóng nhỏ lắm. Missy vẫn vẫn tung mình lên để đón bóng, khi con ném lên trời. Missy còn biết nhảy xuống nước bơi lội một hồi, và vớt bóng nữa.

Thôi được, để con gửi cho Chúa bức ảnh của Missy, để khi thấy hình của Em, Chúa mới biết đó là Missy của con. Con nhớ Missy của con lắm, Chúa ơi.

Ký tên

Minh Loan, người con nhỏ của Chúa.

Ông bố Minh Giao chiều con, lấy thư của người con viết cho Chúa, bỏ vào phong bì rồi mang ra bưu điện để gửi. Ông không quên kèm theo một tấm hình mầu có chụp cả Missy lẫn Minh Loan, rồi đề tên người nhận là Đức Chúa, ở thiên đàng… Bé Minh Loan vội vàng dán thật nhiều tem, vì sợ đường xa, cho chóng đến nơi. Ông còn cất công chở Minh Loan ra bưu điện, chứng kiến con mình bỏ thư vào thùng xong đâu đấy, mới yên tâm. Ít ngày sau, đã thấy con của ông dò hỏi xem Chúa đã nhận được thư chưa.

Ông trả lời là rồi, xem ra có vẻ chắc chắn lắm.

Bỗng ngày hôm sau, về nhà đã thấy gói quà bọc giấy óng ánh vàng, ở trước cửa, đề tên người nhận: ”Gửi Minh Loan”… bằng tuồng chữ rất lạ.Mở ra, ông thấy có cuốn sách do tác giả Rogers viết, có tựa đề “Khi đàn gia súc chết đi.” Kẹp dính bên trong gói quà tặng sách là bức thư của Minh Loan viết, gói gọn trong phong bì còn để ngỏ. Ở trang bên kia, là bức hình Missy đang chơi giỡn với Minh Loan, có chú thích, như sau:

“Minh Loan, con

Missy đã tới thiên đàng rất an toàn. Bức hình của Missy giúp cho Cha rất nhiều điều. Cha đã nhận ra ngay chú ấy, không khó. Missy nay không còn ốm đau gì hết nữa. “Linh hồn” của Missy đang ở đây với Cha, cũng giống như đang ở trong tim của con. Missy vẫn muốn là chú chó ngoan, bạn thân của con đó.

Nay, mọi người không còn thân xác để sống ở thiên đàng, nên Cha cũng chẳng có túi để giữ bức hình của con. Bởi thế nên, giờ đây Cha gửi lại cho con trong cuốn sách này để con giữ mãi mà nhớ Missy.

Cảm ơn con đã viết bức thư rất hay cho Cha. Cha cũng cảm ơn ba má đã giúp con viết thư và gửi đến cho Cha nữa. Con thật diễm phúc có được người mẹ tuyệt vời. Cha đã chọn bà làm người mẹ đặc biệt, riêng cho con.

Cha gửi ban phép lành hằng ngày cho con. Hãy nhớ rằng Cha yêu con, không kể xiết. Tiện đây, Cha cũng cho biết thêm là muốn tìm Cha, thật rất dễ. Cha ở bất cứ nơi nào có tình thương yêu.

Thương con

Cha là Đức Chúa hằng sống của con.”

Truyện kể về bé em Minh Loan, chỉ muốn minh hoạ những điều vừa nói ở trên. Về, sự sống và nỗi chết. Về, sự sống lại của thân xác đã mai một. Mai một như bất cứ thụ tạo nào, đều như thế. Như loài cây ngủ vùi như chết suốt mùa Đông. Đã bừng dậy sống lại, vào khoảnh khắc miên trường, ngày xuân nắng. Sống chết là như thế. Sống lại, cũng như vậy. Chết, là chết trong giai đoạn. Sống lại, là sống mãi trong tình yêu. Với Thiên Chúa của Tình Yêu. Là Tình Yêu.

Vậy thì, hãy cùng người nghệ sĩ ở ngoài Đạo, hãy hát thêm một lời ca, như câu kết:

“Này người yêu anh ơi!

Đêm đêm lòng vỗ tình dài

Dây xanh quấn quít vào đời

Cho trái tình nở trên tiếng cười.

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên trong lòng nôi êm ái

Rắc nhẹ từng cánh sao rơi

Sẽ âm thầm mình em nghe thôi.” (Nguyễn Đức Quang – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng âm thầm

nói chuyện sống chết

nhưng không chỉ để

mình em nghe thôi.