Sunday, 15 March 2009

“Xưa em là kiếp chim, chết mục trên đường nhỏ”

Anh làm cội băng mai, để tang em, chờ mấy thuở Xưa em làm kiếp lá, rụng xuống lòng suối thu Anh làm mưa tháng bẩy, đôi hàng lệ ướt tương tư

(Phạm Duy – Pháp thân) (Đn 6: 10)

Một hôm nọ, bần đạo líu tíu theo đám bạn, ghé chùa Vạn Hạnh ở Canberra, làm màn thăm dân/quan nho nhỏ, bỏ túi. Vãn cảnh chùa, có tăng ni/nhân sự. Có báo chí/sách đọc chốn thiền môn. Vãn và thăm, bần đạo mới gặp được cuốn sách mỏng của “thiền sư” có tựa đề bằng Anh ngữ “A guide to walking meditation” (tạm dịch là: “Vào Chốn Thiền Hành”). Sách nhẹ mỏng, nhưng bắt mắt, rất dễ đọc. Đọc tại chỗ, cho bõ công đường dài rong ruổi “tội lắm anh ơi!” Tiếc một điều, là: sách của sư/tăng hôm ấy, không có bản tiếng Việt, dễ nuốt trôi. Duy, mỗi bản dịch qua Anh ngữ của Ánh Hương. Thôi thì thôi nhé, cũng đành tự chuyển ý/chuyển lời của tăng sư nhà Phật, bằng ngôn ngữ nhà Đạo. Hầu xem sao.

Ở cuối sách, bần đạo được đọc một đoạn viết, chỉ thoáng nhìn đã thấy hay. Hay và thích, ở chỗ: nó hao hao giống những điều mà bạn và tôi, ta từng nghe/biết, rất nhiều lần. Nay, mạn phép tăng/ni nhà Phật, cho bần đạo chuyển đạt ý/lời qua thơ văn nhà Đạo, rất xôn sao, như sau:

“Hãy cảm tạ, những người làm bạn gục ngã, và đớn đau

bởi điều đó, sẽ giúp bạn củng cố thêm nhiều quyết tâm.

Hãy cảm tạ, những người từng lừa phỉnh bạn bè,

bởi có thế, bạn mới đào sâu được ý nghĩa, của sự việc.

Hãy cảm tạ, những người từng làm đớn đau,

bởi có thế, bạn mới thấy bớt những cản trở của nghiệp chướng.

Hãy cảm tạ, những người bỏ bạn lại một mình,

bởi có như thế, bạn mới học hỏi cách sống âm thầm, tư riêng.

Hãy cảm tạ, những người từng làm bạn vấp ngã,

bởi có thế, mới giúp bạn tăng cường khả năng của chính mình.

Hãy cảm tạ, những người từng lăng nhục bạn,

bởi nhờ thế, bạn mới tỏ ra uyên bác và tập trung mọi quan năng.

Và cuối cùng,

hãy biết ơn những ai làm bạn vững lòng và cứng cỏi,

cả những ai đã giúp mình đạt đến thành công.” (lời huyền tăng Chin Kung)

Vẫn biết rằng, trích dẫn lời bàn từ chốn tăng ni nhà Phật rất ư là “sắc sắc không không”, về những chuyện mà bạn và tôi, ta không chuyên. Nhưng trích và dẫn ở đây, là để nói lên một gặp gỡ rất Đông-Tây. Gặp, về đạo lý. Gặp cả, về những chuyện “thần”, để học. Học, về đạo của tôn giáo ở đất trời về hướng Đông. Nhè nhẹ. Xuyên suốt. Âm thầm. Dù, sắc sắc không không, với nhà Đạo mình, đó có là tư tưởng gây ưu tư, khắc khoải? Có, làm mình bận tâm? Bận đến tâm, vì tư tưởng nhà Đạo, vẫn không là lời bàn vu vơ. Lơ mơ. Có đó, rồi mất đó. Nhưng, rất chắc nịch. Rất tin yêu. Mỹ miều.

Hôm nay, kể chuyện Đông-Tây, ta lại nhớ đến truyện kể, về thời trước. Thời, mà Công Đồng Chung Vatican II đã bàn. Bàn, về chuyện xoay chuyển bàn thờ, sao cho đúng. Sao cho thích hợp với “Đông Tây/kim cổ”.

Vừa qua, ở Sydney, có một bạn đọc rất đạo mạo, dám mạo muội gửi thư lên “đức thày” tên gọi là John, giòng họ Flader, để hỏi. Hỏi, là hỏi về lý sự vì sao ta cứ xoay chuyển bàn thờ, hết “Tây Phương Cực Lạc’, rồi phía Đông. Bạn, tuy gọi là bạn đọc, có lẽ còn hơi trẻ, nên mới dám chuyển ngỏ đôi lời, thành thư viết, như sau:

“Tôi có người bạn thuờng thích dự nghi tiết tế tự theo hình thức của Công Đồng Triđentinô. Là, Công Đồng Chung xưa cũ, không hợp thời. Bạn, vẫn dùng vài chứng cứ thực tế để đưa ra điều hay/cái lợi của thánh lễ có bàn thờ và vị chủ tế quay lưng về phía bổn đạo, mà họ gọi, là: “hướng phía Đông”. Bản thân tôi, lâu nay chỉ biết có thánh lễ trong đó tôi thấy vị linh mục chủ tế toàn quay về phía giáo dân, mà thôi. Không hiểu sao, bạn tôi lại cứ thích kiểu cách rất khác biệt. Có thể nào, xin linh mục ban cho vài tia sáng chỉ dẫn để ta thấy rõ vấn đề này, hơn?

Chẳng cần nói, bạn cũng như tôi, ta khá hiểu tâm trạng của các đấng bậc “nhà báo”, vốn vẫn chờ độc giả đến hỏi, rồi sẽ thưa. Thưa, như lời thưa hôm nay, rất chính mạch. Chính xác, một nguồn mạch, như sau:

“Theo truyền thống, việc quay tầm mắt nhìn về một phía để mà nguyện cầu, là một phần trong quá trình hành xử của một số tôn giáo lớn trên thế giới. Như ta biết, Hồi giáo là đạo chủ trương ta phải quay hướng tầm nhìn về phía Mecca, thánh địa của họ. Người Do Thái, trong khi đó, lại hướng tầm nhìn về với đền thánh Giêrusalem, của mọi thời. Thời Cựu Ước, rõ ràng là họ chỉ hướng về nơi nào có sự hiện diện của Thiên Chúa; tức: có Đền Thờ. Điều này, có thể nhận thấy nơi sách tiên tri Đanien, đoạn 6 câu 10.

Vào năm 70 Công nguyên, sau khi Đền Thờ Chúa bị phá huỷ, người Do Thái có thói quen hay quay hướng tầm nhìn về với Thành Thánh Giêrusalem, nơi có nền phụng vụ tổ chức tại hội đường. Theo cách này, các vị tỏ bày niềm hy vọng, rằng: vào khi Đức Mêsia đến lại, Ngài sẽ xây dựng Đền Thánh Chúa trở lại, ngõ hầu tập họp dân con Đạo Chúa đến từ khắp nơi, cả bốn phương trời, lành lặn.

Tín hữu Đạo Chúa thời tiên khởi, thay vì hướng về với Đền thánh Giêrusalem ở dưới đất, lại quay về với Giêrusalem rất mới, ở trên trời. Ai nấy tin tưởng rằng: khi Chúa trỗi dậy từ cõi chết, Ngài sẽ ngự đến trong vinh quang, mừng vui. Ngài sẽ tập họp những kẻ tin vào Ngài, để cùng thiết lập một Giêrusalem mới. Họ làm thế, vì nhận thấy nơi mặt trời đang mọc, một biểu tượng minh chứng Chúa Phục Sinh và Ngài sẽ lại đến lại. Chính vì thế, với họ, nguyện cầu quay hướng về phía Đông, mới là việc tự nhiên. Sự việc này, có chứng cứ cho thấy: phần đông tín hữu trên thế giới đều cùng quay về hướng Đông, phía có mặt trời mọc, để nguyện cầu. Và việc ấy khởi sự từ thế kỷ thứ 2, trở về đây.

Thật ra, khó mà tìm được chương đoạn nào trong Tân Ước nói rõ về việc tín hữu quay hướng về phiá Đông, để làm bằng, mà cử hành nghi tiết phụng thờ. Trong khi đó, truyền thống Giáo hội cũng tìm ra vài văn đoạn của sách thánh, diễn bày tính biểu trưng nơi “mặt trời đức nghĩa” nói trong sách tiên tri Malaki, đoạn 3 câu 20. Đằng khác, Tin Mừng thánh Luca ở đoạn 1 câu 78, cũng nói đến điều mà thánh sử gia gọi đó là “Thái dương, từ nơi cao xanh khấng viếng”. Và, sách Khải Huyền cũng đề cập đến điều mà thánh Gio-an Tông đồ khẳng định: ”Tôi đã thấy thiên thần khác từ phía mặt trời mọc, mà lên”. Và, Tin Mừng thánh Matthêu ở đoạn 24, cũng có nhắc: “Như chớp chói loà ở bên Đông rạng bên Đoài, thì cuộc Quang lâm của Con Người cũng sẽ như thế.” Nói như thế, là nói đến dấu chỉ Con Người sẽ đến trong vinh quang, rọi sáng. Rất ngời Ngài sẽ xuất hiện như sấm chớp, từ trời Đông sáng rực hừng hực, mãi tận cõi trời Tây. Tức, thập giá Đức Kitô.

Quả thật, có việc nối kết chặt chẽ giữa trạng thái nguyện cầu trong thế hướng lòng mình về với trời Đông, có thập giá Chúa. Ít nhất, là đến thế kỷ thứ IV, chuyện này mới trở thành thói lệ mọi người đều làm; ngõ hầu đánh dấu phương hướng cho mọi người biết mà nguyện cầu tại nơi chốn có thập giá Chúa đặt trên tường, đặt ở hướng Đông của Vương Cung Thánh Đường. Cũng như, tại phòng riêng các thày dòng. Hoặc, các bậc thày khắc kỷ/khổ tu.

Mãi đến cuối thiên niên kỷ thứ nhất, nhiều nhà thần học thuộc truyền thống khác nhau, cũng có nói đến việc nguyện cầu có việc hướng lòng mình, quay về phía Đông. Các ngài coi đây như truyền thống từng được thực hiện. Từng có khác biệt trong thờ kính, giữa Đạo Chúa và tôn giáo khác, ở cận Đông. Người Do Thái, có thói quen hướng lòng mình về với đền thánh Giêrusalem. Còn người đạo Hồi, lại quay về phía Mecca, là thánh địa của Mohammed, Giáo chủ của đạo. Cũng từ đó, mọi người đều có thói quen nguyện cầu quay về hướng Đông, nơi mặt trời trong tư thế đang mọc lên.

Ở thế kỷ đầu, tại các nguyện đường dành cho người Đạo Chúa, được dựng xây có phương có hướng trực chỉ phía Đông. Tức, nhằm tạo điều kiện để mọi người thấy dễ dàng theo thói lệ này. Chính vì thế, ngày nay cụm từ “quay về hướng Đông” được sử dụng theo nghĩa thông thường để chứng tỏ: linh mục giáo dân, khi tiến hành buổi lễ, đều quay về cùng một phía, thích hợp cho nghi thức phụng vụ. Tập tục này, được các truyền thống By-zăng-tanh, Syria, Ácmênia, Kốptích và Etiôpia đeo đuổi, ít nhất trong Tiệc Thánh Thể, cũng như trong mọi nguyện cầu theo nghi thức của Công Đồng Chung Triđentinô.

Tập tục, mang nhiều ý nghĩa biểu trưng. Nội mỗi việc, tất cả mọi người cùng quay về một hướng, có giáo dân và linh mục chủ tế đứng trên bàn thờ, như thời xưa ta vẫn làm, mới đích thực dẫn dắt dân con Đức Chúa về với hành trình tin yêu, hy vọng. Về với thành thánh Giêrusalem, trên Thiên quốc. Hướng về Chúa, như thế, từ xưa nay vẫn được các nghệ nhân diễn tả qua kính mầu nghệ thuật trên cung thánh, tại hầu hết các thánh đường, ở khắp nơi. Nơi, có Thập giá Chúa. Có Chúa Phục Sinh, quang vinh. Có triều thần thánh trên trời, vây quanh. Chực hầu. Đây, mới là mục tiêu mà các tín hữu ở trần thế, thường nhắm đến.

Điều này, nhắc cho ta thấy: việc cử hành Tiệc Thánh, là việc tham gia phụng vụ của trời cao. Và, cũng còn là lời thề cam kết về vinh quang mai ngày. Vinh quang, có sự hiện diện của Chúa Hằng Sống.

Chính vì thế, lâu nay ta tiếp tục thực hiện nghi tiết phụng vụ mang ý nghĩa đậm sâu. Ý nghĩa, qua đó mọi người cùng hướng lòng về với trời Đông, rất đồng bộ. Đặc biệt hơn cả, là trong thánh lễ. Lm Uwe Michael Lang từng viết cuốn sách có tựa đề “Hướng về Chúa, một Phương Hướng Nguyện Cầu rất ý nghĩa”, để sử dụng trong phụng vụ. Sách, do nhà xuất bản Ignatius phát hành.

Cũng nên nhớ, dù vị linh mục cử hành thánh lễ, với diện mạo quay về hướng giáo dân đi nữa, thì linh mục cũng như giáo dân tham dự, đều chung một ý nghĩa, là: tất cả đang hướng lòng về với Chúa, mà thôi.” (Lm John Flader, The Catholic Weekly 13/1/2008 tr. 10)

Nói gì thì nói. Quay đâu thì quay. Đông Tây Nam Bắc, ta vẫn gặp nhau. Gặp, trong nguyện cầu. Gặp, trong ý hướng. Bởi, Đông hay Tây; Nam hay Bắc, ta vẫn là một. Một cộng đoàn. Một niềm tin.

Có những người, tuy cùng nhau quay chung về một phía, nhưng thực tế chỉ mỗi quay về phía, có cách chia. Hận thù. Đơn độc. Đó, mới là điều đáng sợ. Sợ, nhiều chuyện xảy ra. Xưa cũng như nay. Ở bên này, hay bên kia của thế giới. Thế giới, có Đông có Tây. Đầy đủ.

Vấn đề, là ở chỗ: dù Đông hay Tây, mình vẫn là người. Mà, đã là người, thì dù có ở phương Đông hay phương Tây đi nữa, vấn có nhiều “sự”. Nhiều vấn đề, như Thày Đạt Lai Lạt Ma, từng khẳng định:

“Có người đến hỏi Đức ĐạtLai LạtMa:

-Điều gì làm ngài ngạc nhiên nhất, trên cõi đời?

Vị “Phật sống” trả lời:

-Con người! Bởi, con người phung phí sức khoẻ để tích luỹ tiền của. Rồi, bỏ tiền bỏ của đi ngõ hầu mua lại sức khoẻ. Vì quá lo cho tương lai, con người quên mất hiện tại. Quên, đến độ không còn sống được, cả hiện tại lẫn tương lai. Ngày nay, con người ta sống như thể sẽ không bao giờ chết đi. Nhưng rồi họ cũng sẽ chết, như chưa bao giờ từng được sống. Vì họ không biết sống. Không ý thức sự sống. Nên, đã để mất cái ta. Mất cả thực tại.”

Nói cho cùng, cái ta và thực tại, vẫn còn đó. Rất buồn. Nhưng “ta” ấy, thực tại ấy, nay đã khác. Khác ở chỗ, cả hai đã được nghệ sĩ già nhà ta reo lên mà vui hát. Hát như sau:

“Xưa em là chữ biếc, nằm giữa lòng cuốn kinh

anh là thiền sư buồn, ngồi tụng giữa ánh trăng

xưa ta hẹn với nhau, tìm nhau giữa vô thường..

anh hoá thân làm mực, thấm vào cuốn kinh thơm.

Aha, ta tuy hai mà một! Aha, ta tuy một mà hai!

Aha, ta tuy hai mà một! Aha, ta tuy một mà hai! (Phạm Duy – bđd)

Thật, rất đúng. Ta đây, tuy hai mà một. Tuy một, mà là hai. Hai phương trời. Một bản thể. Bản thể người, rất dễ thương. Thương người. Và, thương ta. Thương, như lời thánh nhân, vẫn dặn dò:

“Ai có thể tách chúng ta ra khỏi

tình yêu của Đức Ki-tô?

Phải chăng là gian truân,

khốn khổ, đói rách,

hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?”

(Rm 8: 35)

Nếu thánh Phao-lô còn sống đến hôm nay, chắc hẳn ngài sẽ thêm: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? phải chăng là phương Tây lẫn phương ta, phía trời Đông?” Quả có thế. Dù là phương Đông, hay cõi trời Tây, ta vẫn chung một nhà. Nhà, Cha ta. Nhà, của “tứ hải gia huynh đệ.” Của, con dân Đức Chúa.

Trần Ngọc Mười Hai,

Sinh, là sinh ở phương Đông

hiện sống, là sống ở phương Tây,

nhưng vẫn tin mình thuộc mười phương/muời hướng ,

có xót và có thương.

Monday, 9 March 2009

“Rồi mai, tôi đưa em, xa kỷ niệm,”

xin lời cuối, không dối gian, trong mắt em.

Tình yêu, cho thương đau, nghe buồn thêm .

Gác vắng, mưa gợi niềm chăn chiếu.”

(Trường Sa – Rồi mai tôi đưa em)

Mt 25: 45

Đưa em, xa vùng trời kỷ niệm. Không dối gian. Nghe buồn thêm. Buồn thật, nhưng có buồn nào bằng cái buồn của những “ngày mai tôi đưa em/đưa anh” xa vùng trời yêu thương. Nhung nhớ. Vùng trời đầy nhung nhớ ấy, cũng chẳng ở làng Nazarét, chốn quê nghèo. Cũng chẳng là, hang Bê-lem, thôn làng nhỏ bé. Nhưng lại là, thành thánh Giêrusalem, đầy nhớ thương. Nhớ và thương vùng trời Giêrusalem ấy, chốn tôn nghiêm. Yêu thương, tình Đại kết.

Thành thánh Salem lần đầu ghé viếng, người người đều thấy rõ tình đại kết, rất mến thương. Tình, của các phe phái nơi Đạo Chúa, vẫn chung phần nối kết, một lịch sử. Một di tích tưởng niệm, có những chặng đàng khổ giá, có khóc than. Có bái lạy, sì sụp. Mà người người đinh ninh rằng: Hài Cốt Chúa được lưu giữ ở đâu đó, ngay bên dưới. Có nhà mồ, kiên cố. Có nến đèn thắp sáng, quanh năm.

Điều trớ trêu mọi người đều thấy, là: di tích sử của những “chặng đàng thánh giá” ở Giêrusalem, nay thuộc phần sở hữu của dân con, người Hồi giáo. Là, người giữ chìa khóa, và thu tiền. Thu tiền thuê, là để các phe phái nhà Đạo mình làm nơi phượng thờ, để du khách đến thưởng lãm/bái lạy, không cãi tranh. Các giáo phái đóng tiền như thế, bần đạo thấy có: Công giáo La mã. Chính Thống Hy Lạp. Chính tông Đạo Chúa xứ Ác-mê-ni-a, Ai Cập, Ê-ti-ô-pi-a và Xy-ri-a. Nhất nhất, mọi giáo phái đều có thói quen hiệp thông/đối thoại, giữ di tích.

Về hiệp thông/đối thoại, thế giới hôm nay có thói quen gọi là “truyền thông” hay “thông đạt”. Tức, những cử chỉ thân tình ta vẫn có, khi đổi trao. Đối thoại. Truyền đạt. Truyền thông hôm nay, đã thành chuyện rõ như ban ngày. Chẳng có gì phải ưu tư, thắc mắc. Truyền thông như thế, có là truyền đạt và đả thông như nghệ sĩ nhà mình, vẫn ca và vẫn hát, nhiều hôm trước:

“Ngồi nghe yêu thương đi, xa tầm tay,

giữa tiếng ru trầm vào, cơn mê này.” (Trường Sa – bđd)

Ru trầm vào truyền thông/cơn mê này, là ru như người xưa vẫn cứ coi đó như bộ môn khoa học/kỹ thuật được sử dụng để người người xích lại gần nhau. Chứ không phải, để cùng nhau kéo ra bãi tha ma, mà tranh chấp đất đai. Quyền lợi. Người người hôm nay, sống là sống có truyền và có thông. Có đối thoại. Truyền đạt. Truyền và thông, là để đả thông tư tưởng. Là, chung lòng kết hiệp, vì mục đích cao cả. Là, dẫn đưa mọi người đến với Nước Trời, ở trần thế. Ở nơi đó, có tương quan dào dạt thân thương, tình đại kết.

Truyền thông đây, không là phương tiện của báo đài, chuyên nối kết với người nghe nhìn và đọc. Để rồi, cùng nhau ta đi vào nơi chết chóc, có tin buồn. Truyền thông đây, là truyền đạt một thông điệp đầy cảm tính giữa người cùng nhà. “Tứ hải gia huynh đệ” dấu yêu. Là, tình cảm thân thương của người cùng chiến tuyến/mục tiêu. Đến với Chúa. Nói như thế, là nói: chính Đức Chúa đã truyền đạt cuộc sống của Ngài, qua năng lực hỗ tương/đa dạng, từ thiên nhiên.

Thế giới hôm nay, nhìn tổng thể, là thực tại trong đó mọi thành phần được đính kết vào nhau, người với người. Thế giới nhân trần, nay có quá nhiều thứ để tỏ cho mọi người thấy rõ Đức Chúa vẫn truyền đạt/đả thông với ta, qua nét vẻ của thiên nhiên. Con người.

Chính vì thế mới có lời, rằng:

“Quả thật,

Ta bảo các ngươi:

những gì các ngươi đã không làm

cho người nào

trong các kẻ hèn mọn nhất này

là các ngươi đã

không làm cho chính Ta.”

(Mt 25: 45)

Đức Chúa truyền đạt/đả thông với thiên nhiên/con người, qua tương quan phức hợp, khiến ta trở thành người con. Thành, con của Người. Con của Chúa. Tương quan ấy, bao gồm mọi ước vọng, có vấn nạn. Bao và gồm, cả những ao ước thầm kín, qua giao du mật thiết với bạn bè/người thân. Với xã hội nhân quần, nhiều hình thức.

Cựu Ước xưa, diễn tả tương quan/truyền thông ấy, ngang qua dân con Do Thái. Tức, dân con được Chúa hứa hẹn, chọn lựa. Tân Ước nay, lại tập trung nhấn mạnh đến chiều sâu quan hệ, giữa ta và Chúa. Giao ước Tân/Cựu khi trước cho thấy tính tham lam/vị kỷ gây cản trở làm muôn dân không đến được với nhau, ngõ hầu thực hiện ước mơ ấy.

Nói theo kiểu nhân gian nghệ sĩ, là nói và hát như thế này:

“Còn đây, không gian xưa quen gót lầy.

Bên hè phố, cây lá thưa, chim đã bay.” (Trường Sa – bđdd)

Gót lầy không gian, nay vấy bẩn một môi trường, là cảnh huống tương quan được nhắc đến:

“Rồi mai, chân hoang vu lên phố gầy,

Tôi về nhớ, trong mắt môi đã đắng cay.” (Trường Sa – bđd)

Cứ thế, không gian xưa/nay vẫn về lại với nhớ nhung, có mắt môi, phố gầy. Rất đắng cay. Đắng và cay, vì mọi tương quan hệ trọng khi trước, nay đà:

“Đành đoạn, rồi những lần chiều hẹn ước.” (Trường Sa – bđd)

Hẹn, là những hẹn và ước có buổi chiều. Hẹn, là ước và mơ, ở buổi chiều vàng, chưa đứt đoạn. Hẹn, là tương quan hệ trọng người người, có đứt đoạn hay không, đó mới là vấn đề. Vấn đề, của mọi người. Của đôi nam nữ rất “tương quan”. Như câu truyện, ở bên dưới:

“Có cô gái, rất hận đời vì chứng mù loà, cả hai mắt. Cô thù ghét hết mọi người. Chỉ trừ mỗi người bạn trai, của cô. Anh luôn ở bên cạnh, chăm sóc/hầu hạ cô. Nói tóm, là: có quan hệ rất chu đáo. Với cô gái.

Có lần, cô nói với anh:

-Nếu được sáng mắt, em sẽ lấy anh làm chồng, ngay lập tức.

Một ngày kia, có người tặng cho cô đôi mắt sáng, để thấy đời. Sau ngày chuyển vận quà tặng, bác sĩ cho phép cắt chỉ, bỏ lớp băng che đôi mắt loà. Và, cô thấy được đủ mọi thứ. Thấy, cả người bạn đời yêu dấu, vẫn ở cạnh.

Thấy bạn hiền sung sướng có cặp mắt để nhìn, anh bạn bèn hỏi:

-Bây giờ nhìn thấy rồi, em có còn muốn lấy anh làm chồng, nữa hay không?

Cô gái nhìn người bạn từng ở gần mình bấy lâu nay, phút chốc đã bàng hoàng. Bàng hoàng, thấy anh bạn mù loà kia lại đã dám ngỏ lời cầu hôn, với cô. Đó là chuyện, hẳn là cô chẳng bao giờ nghĩ đến. Không nghĩ, nên mới hứa. Bỗng tự dưng, cô thất hãi sợ. Rất sợ, khi nghĩ cảnh tình buộc phải sống chung đụng cùng kẻ mù loà, có đôi mắt hõm, thật đáng ghê. Khiếp sợ hơn, về quãng đời còn lại của mình, đang khởi sắc. Vì thế nên, cô đã thất hứa.

Người bạn trai buồn rầu, bỏ đi nơi khác, không một lời giã từ. Ít ngày sau, cô gái nay đã sáng mắt, nhận được đôi giòng chữ cay đắng, rất tâm tình. Giòng thư đau khổ của bạn hiền hôm trước, nay có lời ngỏ rất thương, một dặn dò:

-Em yêu dấu. Em nhớ chăm sóc cặp mắt mà em vừa mới nhận, cho thật kỹ, em nhé. Bởi lẽ, trước khi cặp mắt đó được tặng trao cho em, nó là của anh. Một người vẫn thương em dù giờ đây không còn cặp mắt nào, để nhìn em.

Nhớ em nhiều trong yêu thương.”

Đành rằng, trong tương quan giữa người với người, có nhiều cảnh trong đó con người từng thất hứa. Chấm hết mọi tương quan dù rất đẹp, vào ngày trưóc. Những ngày, cả hai phiá từng có những lời thề non hẹn biển. Với nhau. Trước mặt Chúa. Bởi thế nên, trong tương quan mật thiết với Chúa và với người, dù có là người nhà hay người dưng nước lã. Ta vẫn cứ nhớ lời dặn dò của bạn bè người xưa. Những lời chưa nghe quen, hay đã rành. Những dặn dò của ngày trước, rất nhè nhẹ một nhắn nhủ. Như lời nhắn nhủ ở bên dưới:

“Đời là quà tặng. Hãy biết ơn đời. Biết ơn người. Biết ơn, và nhớ đến người. Nhớ cả những người từng lên án mình. Và nhớ rằng, khi có tư tưởng yếm thế chợt đến khiến mình chán ngán chỉ muốn bỏ đi, thì hãy cứ tươi lên mà suy nghĩ. Suy và nghĩ, rằng dù vậy mình hạnh phúc/được ơn, vẫn đang sống. Nên, hãy sống vững vàng. Sống vui tươi như không gì xảy đến.”

Lời nhắn ở đây, mang máng một giòng chảy suy tư về truyền thông/đối thoại, trong đời. Về những nhắn nhủ của người thân yêu, trước khi ra đi, cũng có lời nhắn rất “truyền và thông”, như sau:

“Anh yêu,

Em cấm anh không được cho cái con mẹ T. Dầu ngõ ấy đến nhà quàn, mà làm chi. Em ghét cái bản mặt dẻo quẹo của mẹ ấy lắm lắm. Không chịu nổi. Nó mà dẫn xác đến, là em sẽ phùng mang trợn mắt, rồi lè lưỡi ra là nó đứng tim ngay. Chết ngay tại chỗ không trối trăn cho mà xem. Lo cho đám tang của em xong, là anh phải bán nhà mà đi nơi khác, đó nhe. Đi, khỏi chòm xóm mình đang ở, nhé. Em không muốn anh tiếp tục sống cạnh bên nhà cái con mẹ B., kia nữa đó. Em thấy con mẹ này gian khủng khiếp lắm đấy. Mỗi lần nó thấy em đi ngang qua, là nó nhổ nước bọt/thọt nước miếng xuống đất. Rồi ngoăn ngoắt quay vào nhà trong. Còn, hễ thấy anh là nó cười ngỏn ngoẻn nhe đủ hết hàm răng cỏ trắng phau như ngựa vía ấy. Trong khi, em có làm tình làm tội, gì nó đâu mà sao nó lại xử với em như thế ?

Chỉ sau ba năm mà thôi, anh muốn lấy ai thì lấy, em không cấm. Nhưng tuyệt nhiên, anh không được lấy cái con mẹ N., con mẹ L., con mẹ C kia nữa. Dứt khoát, anh mà lấy một trong mấy cái con mẹ đó đó, thì chắc chắn em sẽ hiện hồn về, bóp cổ anh, ngay thôi. Em sẽ xé xác mấy mụ voi dầy/ngựa xéo ấy ra làm nhiều mảnh, chứ đừng có mà trêu ngươi em, đâu nhé. Quần áo của em, anh cứ đem cho hội từ thiện. Hoặc là Salvation Army hay Vincent de Paul, hay gì gì cũng được. Miễn là, em cấm anh không được để cho mấy cái con chằng ăn/trăn quấn ấy đụng tới là được rồi. Còn mấy đồ nữ trang của em, thì anh hãy đeo hết cho em, rồi mới chôn, nhe !

Ấy chết ! Cái hộp bích-qui em cất giữ trong ga-ra, để phía dưới thùng bột giặt, bọc bằng bao ny-lông, thì anh đem đi mà đốt sạch cho em. Cấm anh không được mở nó ra mà coi, đâu nhé. Anh mà không nghe em, đêm đêm em hiện về, em sẽ lấy dây điện xiết cổ anh, cho mà coi. Trong đó, chỉ có một đống hình chụp và mấy lá thư của mấy con bạn nạ dòng của anh thôi, chứ chẳng có gì đâu. Anh đừng thắc mắc, bận tâm. Anh cũng không cần phải xem mấy thứ đó mà làm gì. Chỉ là, những bức ảnh của mấy con quỷ ấy. Bọn chúng nó đều bị vẽ râu ria và chọc thủng mắt hết trơn rồi. Xem làm gì nữa. Cả cuốn sổ điện thoại mà anh cứ tưởng là bị lạc đâu mất, kiếm cả tháng không ra. Tất cả đều ở trong đó hết trơn. Hơn nữa, mấy con mẹ đó đâu còn giữ số điện thoại nữa, kiếm làm gì.

Bây giờ em ra đi, anh muốn làm gì với người nào em không quen không biết thì cũng chẳng can hệ gì. Nhưng, em cấm anh không được lạng quạng quay lại với mấy nhỏ kia. Cứ nghĩ tới bọn nó là em đã thấy lộn ruột rồi. Tụi nó, có đứa dám gọi em là sư tử Hà Đông, có láo toét không. Nó còn viết ngay trong thư gửi cho anh, vô phúc cho nó là em đã bắt chộp kịp. Chúng nó hỗn láo như thế, mà sao anh chịu được nhỉ.

Anh nhớ nghe lời em dặn: chủ nhật là phải đi nhà thờ. Xong rồi, ra mộ mà thăm em. Anh có đi, thì cũng chỉ đi một mình thôi, không được hẹn hò với đứa nào vào ngày ấy, đấy. Có đi chơi với ai, thì nhớ không được đeo bất cứ cà-vạt nào em mua cho anh. Cả, áo sơ mi, giầy dép, hoặc mấy áo lạnh, áo vét em chọn cho anh, hồi đó đó.

Em thiêng lắm đó. Nói cho anh biết để anh dè chừng. Đừng có mà chọc tức em cho em điên tiết lên, anh nghe chửa?

Ký tên

Người vợ chung-tình của anh, cả đời này lẫn đời sau.

Truyền thông là như thế. Truyền và thông, cả khi chết. Hết còn sống. Cả đời này, hay đời sau. Truyền, bằng thư từ. Thông, bằng di chúc. Những là, khói hương ví vút, trọn tâm tình. Bằng, những lối mòn suy tư rất nhận định. Cả vào đời sau.

Tựu trung, lối mòn đường đời, bao giờ cũng có những tương quan hệ trọng, mà người đời gọi đó là truyền thông/đối thoại. Hay, đả thông/truyền đạt. Nhất nhất, đều là những cái “có” trong đời. Có tương quan. Có truyền thông đối thoại. Với Chúa. Vấn đề còn lại, là: ta truyền và thông, là thông và truyền với Chúa đến thế nào? Đối thoại và cảm thông với bạn bè/người thân, ra sao?

Về với truyền thông, trong ca nhạc, người nghệ sĩ chắc sẽ lại hát với ta lời cuối. Cho nhau:

“Còn ai mơ trên tay, khi hoàng hôn!

Vỗ giấc xuân muộn về, trên môi hồng.” (Trường Sa – Rồi mai tôi đưa em)

Xem như thế, nghĩa là: Xuân có muộn về trên môi hồng hay môi trắng, ta vẫn có thể “vỗ giấc” trên tầm tay. Khi hoàng hôn. Hoàng hôn buổi xế bóng. Hay, hôn hoàng một cuộc đời. Duy có điều, là: sẽ không có hôn hoàng của niềm tin. Bởi, về niềm tin và yêu, các thánh từng quả quyết:

“dân thánh được chuẩn bị

để làm công việc phục vụ,

là xây dựng thân thể Đức Ki-tô,

cho đến khi

tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất

trong đức tin

và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa,

tới tình trạng con người trưởng thành,

tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.

(Ep 4: 13)

Và như thế, dân con mọi nơi/mọi thời sẽ chuẩn bị phục vụ, qua truyền thông/đối thoại, để ta đạt được cùng đích, tức: tin yêu, nhận biết Con Thiên Chúa. Và, khi nhận biết tiếp nhận niềm tin Con của Ngài rồi, tất cả sẽ tốt đẹp. Sẽ thông đạt trong trưởng thành. Có sự viên mãn của Đức Chúa. Đấng vẫn ở với và ở cùng ta. Và, mọi người. Trong Nước Trời.

Chính đó là mục tiêu. Là, cùng đích của truyền thông/truyền đạt. Đối thoại. Trao đổi. Ở mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn muốn

truyền thông/thông đạt

với Chúa.

Với mọi người.