Tuesday, 7 May 2019

“Tôi yêu những gì đến tự nhiên”



Chuyện Phiếm CN 4 Phục Sinh năm C 12/5/2019

“Tôi yêu những gì đến tự nhiên”
“Những câu nói thành thật
“Và yêu ngày nắng (như sương tan trong nắng mai)
“Tôi yêu mặc jeans và áo trắng
“Giấc ngủ không mộng mị
“Và tôi cũng yêu em.
(Đức Huy – Và Tôi Cũng Yêu Em)

(Ga 10: 27-30)
Bắt đầu bài phiếm loạn hôm nay, thường thì tôi vẫn trích lên một bài ca mang nội-dung cũng tựa hồ như thế. Nhưng, nếu phải bắt đầu chuyện phiếm kỳ này, bằng một truyện kể thì tôi sẽ mượn lời của ai đó, mà kể rằng:

“Có người đàn bà nghèo khổ nọ bế đứa trẻ đi ăn xin, một lần bà ta đi ngang qua một cái hang. Bỗng nghe văng vẳng bên tai: "Ngươi có thể vào trong và lấy bất cứ thứ gì mình muốn, nhưng đừng quên cái chính và hãy nhớ một điều: sau khi ngươi trở ra thì cửa hang sẽ đóng lại vĩnh viễn, tuy vậy hãy lợi dụng cơ hội hiếm có này và nhớ đừng quên cái chính".

Nghe lời bà ta đi vào trong hang. Bà bị lóa mắt bởi vô số những thứ quý giá: vàng bạc, châu báu, kim cương. Bà ta đặt đứa con xuống và bắt đầu nhặt mọi thứ có thể và nhét hết vào mọi nơi trên người. Bên tai văng vẳng lời nhắc nhở: "Ngươi chỉ có 8 phút thôi và đừng quên cái chính!"

Sau khi đã nhét đầy người vàng bạc châu báu cũng là lúc hết giờ. Bà ta vội vã rời khỏi hang, cũng là lúc cửa hang đóng sập lại. Chợt bà ta sực nhớ đến đứa trẻ còn ở trong hang. Bà ta vứt tất cả vàng bạc châu báu đã lấy được và lăn ra khóc lóc vật vã. Nhưng chẳng ích gì vì cửa hang đã vĩnh viễn đóng lại…”

Truyện kể thì như thế. Nhưng lời bàn của người kể, lại sẽ như sau những bàn rằng:

“Trong cuộc đời của ta lại cũng có khoảng 80 năm để sống ở đời và từ trong sâu thẳm đáy lòng luôn có một âm thanh nhắc nhở chúng ta:  "ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH"

Nhiều khi con người vì ham kiếm thật nhiều tiền, nhiều khi ăn chơi vô độ, hoặc chạy theo danh vọng, sắc đẹp mà quên đi cái chính của cuộc đời: 

ĐÓ LÀ CHĂM CHÚT CHO GIA ĐÌNH CHO NHỮNG NGƯỜI THÂN YÊU LÀ CHA MẸ, CON CÁI, VỢ CHỒNG.... là giá trị của đạo đức làm người. Nhoáng cái đã hết 80 năm. Đến khi sắp nhắm mắt mới nhận ra mình đã quên đi cái chính thì ôi thôi đã muộn.... !!!
(Truyện kể và lời bàn do Sưu tầm từng tầm nguyên)

Tầm gì thì tầm. Tầm nguyên hay tầm thường, vẫn là những ý-tưởng vẫn được bàn đi bàn lại rất nhiều, từ tựa câu hát tiếp ở bên dưới:

“Tôi yêu xem một cuốn truyện hay
Tiếng chim hót đầu ngày
Và yêu biển vắng
Tôi yêu ly cà phê buổi sáng
Con đường ngập lá vàng
Tôi yêu hương vị Tết ngày xưa
Mái tranh dưới hàng dừa
Và yêu trẻ thơ
Bữa cơm canh cà và điếu thuốc
Giấc ngủ không mộng mị
Và tôi cũng yêu em
Và tôi cũng yêu em
Và tôi cũng yêu em
Yêu em rộn ràng
Yêu em nồng nàn
Tôi yêu đi bộ dưới hàng cây
Đấu vui với bạn bè
Và ly rượu ngon
Tôi yêu trong nhà nhiều cây lá
Tôi yêu những người già
Tôi yêu những gì đến tự nhiên
Những câu nói thành thật
Và yêu ngày nắng (như sương tan trong nắng mai)
Tôi yêu mặc jeans và áo trắng
Giấc ngủ không mộng mị
Và tôi cũng yêu em
Và tôi cũng yêu em
Và tôi cũng yêu em
Yêu em rộn ràng
Yêu em nồng nàn
Yêu em chứa chan”
(Đức Huy – bđd)

Yêu gì thì vẫn thế. Vẫn là “yêu quần jeans và áo trắng”, rồi lại hát “và tôi vẫn yêu Em” nghĩa là cứ yêu dài dài, hết mọi thứ, giống như có lần bần đạo bầy tôi đây tự đặt tên cho mình là “người viết thích đủ thứ” cứ lữ thứ đường dài, dù chông gai, ai oán, rất tơi bời.

Thôi thì, hôm nay, có ai oán tơi bời hay sao đó, vẫn cứ xin bạn và xin tôi, cho bần đạo phiếm đôi chút gọi là “chuyện ta bà thế sự tình đời rất lôi thôi, mà thôi.

Vậy thì ta bắt đầu bằng một tình tự rất “phiếm” ở nhà Đạo, có câu hỏi/đáp những bảo rằng:

“Thưa Cha, con có người bạn cứ nói với con là chị ấy đọc sách thấy người khai quật khám phá ra rằng: ở Israel nhiều sự việc xảy ra rất đúng thật như các đấng bậc chú giải Tin Mừng từng xác quyết. Vậy câu hỏi của con hôm nay là: những điều như thế có thật hay không, xin cha cho biết con cảm ơn Cha nhiều.”  

Và câu trả lời của đấng bậc vị vọng tại Sydney, vẫn như sau:

“Đây là câu hỏi rất chí lý. Phần đông chúng ta cứ thế chấp-nhận sự đã rồi mà không cần vấn-nạn bản-văn ta sử-dụng hôm nay có là nền-tảng của niềm tin soi dọi từ bản gốc nay không; càng khó khăn hơn, khi bản gốc không còn xuất hiện thế thế-gian này. Nói theo cách tự nhiên, ta sẽ nói: giả như ta không có bản gốc nắm trong tay, thì chắc hẳn là ta không thể nắm vững rằng nó xứng hợp tuyệt diệu với gốc nguồn của văn-bản. Nhưng, đây lại là trường hợp xảy đến đối với nhưng gì được viết trong các ấn-bản kỳ-cựu nhất.

Trường hợp của Tân Ước, ta có lý-chứng rạch-ròi vững mạnh hơn là những gì được thấy ở các ấn-phẩm xưa cũ.

Khi bản văn nào đó được viết cách nay đến cả ngàn năm, thì thiên hạ cứ là sao đi chép lại rất nhiều lần và lại sao chép bằng tay nữa mới lại khó. Đúng y như rằng, hễ cứ sao chép văn bản nào bằng tay thì đương nhiên sẽ xảy ra chuyện sai quấy nảy ra khi có sự việc sao chép như thế. Chí ít, là việc sao chép lại được thực-hiện ở nơi chốn rất khác biệt về địa lý. Và hơn nữa, về thời gian, ta được biết là văn-bản gốc có ngày tháng gần với tháng ngày bản gốc được viết ra. Đây là trường-hợp xảy đến với Tân Ước, quả nhiên rất rõ ràng.

Cộng thêm vào với điều này, là khi phần dịch-thuật có từ thời nền văn-minh in ấn chỉ mới chớm nếu đem so các bản văn hiện có viết bằng ngôn-ngữ gốc. Trường hợp của Tân Ước, các văn-bản đều viết bằng tiếng Hy Lạp lại cộng thêm vào với các bản viết tay dịch sang La-ngữ hoặc tiếng Syria cổ và cốp-tích rồi từ các ngôn-ngữ này các vị lại dịch sang tiếng Armênia, Gô-tích, Goer-gia, Êthiôpia, vv…

Như thế vẫn chưa hết. Ở trường hợp Tân Ước, dù ta không có bản viết tay nào như thế nhưng vẫn có nhiều câu trích hoặc văn-bản rút từ Tân Ước, chí ít là các lời bình về Kinh Sách, các bài giảng thuyết, các thánh thư cùng bản nghị-luận này/khác của giáo-phụ được tái-bản rồi đem vào Tân Ước. Khi so các bài viết này với nhau, ta vẫn có thể thiết-lập một cách chính-xác các bản gốc như thường.

Nếu nhìn vào các văn-bản cổ xưa, ta thấy Giáo hội mình được chúc phúc biết chừng nào, chẳng hạn trong các cuốn ký-lục về Đế quốc La Mã được viết vào niên-biểu 116 sau Công nguyên, hiện trong 6 cuốn đầu nay chỉ còn giữ lại có một cuốn được sao chép vào năm 850 sau Công nguyên. Từ các cuốn 11 đến â, lại chỉ có bản viết tay có thời biểu ghi lại từ thế-kỷ thứ 11 , trong khi đó các cuốn 7 đến 10 bị mất hoàn toàn.

Trong cuốn “Chiến tranh Do-thái-giáo” của Josephus viết bằng tiếng Aram hoặc tiếng Do-thái vào năm 75 sau Công nguyên, lại cũng chỉ có 9 văn bản viết tay bằng tiếng Hy Lạp còn tồn-tại đấnh dấu thời-gian từ thế kỷ thứ 10, 11 và 12 cộng thêm bản dịch ra La ngữ từ thế kỷ thứ 4 mà thôi.

Đem so sánh, ta có hơn 5,000 bản Tân Ước tiếng Hy Lạp viết tay mà thôi. Bản văn sớm nhất trong số này được viết trên giấy “cổ bản” là từ giống cây sậy sống ở đồng bằng sông Nile ở Ai Cập mà thôi. Bản văn đáng kể nhất là “Chester Beaty Biblical Papyri (tức cổ bản kinh thánh Chester Beaty) có nguồn gốc trở về từ đầu thế kỷ thứ 3 được khám-phá qua khai quật vào năm 1930, thôi. Các bản này bao gồm các phần vụn vặt từ 4 Tin Mừng, Tông Đồ Công vụ, thư thánh Phaolô và sách Khải Huyền. Hơn nữa, lại cũng có các cổ bản bằng giấy bổn khác có thời-biểu tính từ đầu thế kỷ thứ 3 nữa.

Bản vụn viết tay trên cổ bản sớm-sủa hơn cả, thấy có 5 câu trích từ chương 18 Tin Mừng thánh Gioan có niên-biểu từ năm 100 đến năm 150 sau Công nguyên, xét theo văn-phong của cổ-bản. Xem thế thì, chính bản văn Tin Mừng có thể được viết vào cuối thế kỷ thứ nhất ở Êphêsô thuộc Tiểu Á là bản-văn xưa nhất ở Ai-cập, tức cũ/xưa hơn cả chính Tân Ước.

Xét con số các bản viết tay hiện còn tồn-tại từ các văn-bản khác thời xưa cũ, xuất hiện ngay sau Tân Ước là tập thơ”Illiad” của thi sĩ Homer, trong đó gồm có 650 bản viết tay và một số gồm những câu vụn vặt. Công-trình này thực-hiện trước sau năm 800 trước Công nguyên và các bản viết tay có từ thế kỷ thứ 2 và 3 sau Công nguyên, tức một thời gian khá lâu sau khi bản gốc được viết.

Thành thử, hẳn là ta có nền tảng vững chắc để nắm rõ bản gốc Tân Ước.” (X. Lm John Flader, Research vindicates Gospels, The Catholic Weekly 20/01/2019 tr.17)

Xem xét thời-gian và tính-chất nền-tảng của văn bản Tân Ước, ta mới nắm chắc được nền-tảng nhiều sự việc. Và có thế, ta càng xác quyết được ý-nghĩa của nhiều thứ khác, trong dân gian. Những thứ và những sự như xác-quyết về đời người, dù chỉ một nửa về sau, như câu truyện kể được liệt kê ở bên dưới.

            “Truyện, là truyện nửa đời về sau, như thế này:

Nửa đời về sau, hãy học được cách trầm tĩnh.
Có đôi khi bị người khác hiểu lầm, đừng tranh luận.Trong cuộc sống, có rất nhiều chuyện đúng sai khó có thể nói rõ ràng, thậm chí căn bản là không có hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai..

Nửa đời về sau, hãy học cách cúi mình.
Bạn bất đồng ý kiến với với con cái, nói chuyện mâu thuẫn với bạn bè, những điều này cũng không sao cả. Lúc này bạn cũng có thể về lau nhà... Trong lúc lao động, bạn sẽ nhận ra tâm trạng và suy nghĩ của mình dần lắng xuống.

Nửa đời về sau, hãy đừng cảm thấy hối hận.
Cuộc đời là một con đường dài với vô số ngã rẽ, và ta luôn phải lựa chọn không ngừng.. Không có cơ hội nào lặp lại, lựa chọn rồi thì đừng hối hận, có khi do Duyên, do Nghiệp đã thôi thúc khiến mình đã chọn lựa và gắn bó với những gì đã chọn.

Nửa đời về sau, hãy giữ gìn sự đơn thuần.
Suy nghĩ quá nhiều, ngược lại càng làm cuộc sống thêm phức tạp, “đơn thuần” thật ra chính là một ân huệ mà trời cao ban cho chúng ta. Cảm nhận mùi thơm của đồ ăn, nhận ra niềm vui của vận động, cùng bạn bè nói chuyện không đâu...

Nửa đời về sau, hãy trở nên bình thản.
Con người đến độ tuổi nào đó, tự nhiên không còn thích những gì ồn ào náo nhiệt, tâm thái bình thản giúp cho cơ thể khỏe mạnh, kéo dài tuổi thọ.Mặc kệ là đời sống vật chất dư dả hay bần cùng, chỉ cần nội tâm bình thản, chính là sống một cuộc đời hạnh phúc.

Nửa đời về sau, đôi lúc hãy ngờ nghệch một chút.
Có những chuyện, cần hờ hững thì hờ hững, điều gì không làm rõ được thì không cần làm rõ, người nào cần lướt qua thì cứ lướt qua. Nếu như chỉ biết nhớ không biết quên, chỉ biết tính toán mà không biết cho qua, chỉ biết khôn khéo mà lại không biết vụng về… sẽ chỉ làm cuộc sống của chúng ta luôn nặng nề, phiền não.

Nửa đời về sau, hãy thỉnh thoảng buông xả bản thân.
Mỗi ngày ăn trái cây rau quả, thực phẩm lành mạnh, đừng cố thỏa mãn những thèm muốn ăn uống, vì thân thể phì nhiêu trong tuổi xế chiều thì nặng nhọc biết bao nhiều..  Tuy nhiên, cũng không nên gò ép bản thân mình quá, hãy thưởng thức mọi huong vị của cuộc sống trong sự chừng mực sẽ thấy tâm hồn và thể xác thanh tao hơn…

Nửa đời về sau, hãy thường xuyên chúc phúc người khác.
Chúng ta đối đãi với người khác thế nào, họ cũng sẽ đối đãi với ta như vậy. Cho nên, hãy thường xuyên khen ngợi bạn bè, con cháu của mình, thậm chí cả người xa lạ cũng đừng tiếc một lời chúc phúc ! Khi bạn làm cho người khác vui vẻ, bạn sẽ nhận ra rằng mình còn được dâng lên trong lòng dào dạt những niềm vui... (Từ Tâm)
  
Xem thế thì, dù là “nửa đời về sau” hoặc “nửa đời người khi trước” cũng vẫn là và sẽ là toàn bộ cuộc đời của con người, trong đó có tôi, có bạn và mọi người trong cõi thế. Xem như thế, cuộc không chỉ mỗi thế mà còn hơn thế nữa. Hơn, cả nử trước lẫn nửa sau một cuộc đời. Chỉ thế thôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những nửa cuộc đời
hoặc nguyên một đời người
không còn gì để tiếc nuối.



Wednesday, 1 May 2019

“Có ai biết chăng chuyện tình cờ”


Chuyện Phiếm CN 3 Phục Sinh năm C 05/5/2019

“Có ai biết chăng chuyện tình cờ”
Có ai biết đâu nào mà ngờ?
Vào một đêm trăng sáng
Hồn nhạc thơ lai láng
Thiết tha êm đềm mơ hồ.
(Văn Phụng – Mộng Viễn Du)

(Isaya 29: 8)

Phải chăng câu hát ở trên là sự thật, qua câu nhắn? Bởi, có những sự rất thật, thoạt xem qua tưởng chừng không đúng. Nghĩ đi nghĩ lại, mới thấy nó đúng làm sao! Thế đó, là “sự thật” được diễn tả như chuyện không để cười ở bên dưới:

“Truyện rằng:
Có bà vợ nọ đứng trước gương ngắm nghía một lúc rồi buông tiếng thở dài:
-Giời ạ, tôi đã già, béo và xấu xí đến mức này sao?

 Thấy chồng không mảy may chú ý, bà vợ lại tiếp tục … than:
-Phụ nữ đúng là số khổ mà! Có chồng có con xong là nhan sắc tàn tạ, đến giờ nó thảm đến mức soi gương cũng không dám nữa!
 Ông chồng ngồi đọc báo gần đó lên tiếng:
-Bà còn may mắn hơn tui chán, than thở gì cơ chứ?
 Bà vợ bực mình đáp lại:
-Đàn ông các ông có phải lo lắng gì đâu mà xuống sắc, lại còn bảo tôi may mắn hơn?
Ông chồng buông tờ báo, thở dài ngao ngán nói:
-Bà tự ngắm mình trước gương có mấy phút thôi đã than đau khổ rồi! Còn tôi đây phải ngắm bà suốt từ ngày này sang tháng nọ, có được than vãn tiếng nào đâu?” (Truyện kể lấy từ trang mạng)

Chuyện tình cờ ở trên mạng hay trong cuộc đời, vẫn là những chuyện còn được người nghệ sĩ diễn-tả qua câu hát được thêm vào như sau:

“Có ai biết chăng chuyện tình cờ
Có ai biết đâu nào mà ngờ
Vào một đêm trăng sáng,
hồn nhạc thơ lai láng,
thiết tha êm đềm mơ hồ
Áng mây cuốn tâm hồn dịu dàng
Thiết tha với cung đàn nhịp nhàng
Dìu hồn ta đi tới
miền Thần Tiên thanh thú,
sắc hương huy hoàng nên thơ.
 
Hào quang bốn phương huy hoàng
Bầy tiên nữ đang khoe mình với cung đàn
Nắm tay múa theo điệu nhịp nhàng
Nhắp say chén men rượu nồng nàn
Bầu trời trong thanh mát
Ngàn người vang câu hát
dưới hoa muôn mầu huy hoàng.

Có ai biết chăng chuyện tình cờ
Có ai biết đâu nào mà ngờ
Chuyện Thần Tiên giây phút
chìm dần trong sương khói
vấn vương tâm hồn trong mơ
Tìm trong mơ
Tìm trong mơ
Tìm trong mơ
Mơ trong mơ.”
(Văn Phụng – bđd)

“Tìm trong mơ” hoặc  “Mơ trong mơ”, trong mộng lại vẫn là những giấc mơ có thể trở thành hiện-thực, như câu truyện kể còn thêm nếm ở bên dưới:
“Sau đám tang, họ hàng bạn bè ở xa, ở gần, đã từ giã ra về hết. Người đàn bà bắt đầu thu dọn lại căn nhà mình. Ngôi nhà bây giờ chỉ còn lại một người. Chị không biết mình sẽ ở lại trong ngôi nhà này, hay chị sẽ dọn về với con.

Chị bắt đầu dọn dẹp từ mấy gian bên ngoài. Từ cái ghế vải dài nằm coi truyền hình của anh, chắc là phải gọi con đem đi giặt; những cái áo khoác treo trên mắc ở tủ ngoài, chị tháo xuống, xếp vào thùng; mấy cái nón mùa đông, mấy cái nón mùa hè, chị cũng xếp luôn vào. Cứ mỗi một thứ xếp vào thùng chị lại tần ngần ngắm nghía, cầm lên, bỏ xuống. Không biết nên giữ hay nên đem cho, vì cái nào cũng mang một kỷ niệm. Cái mũ nỉ ấm áp này mua ở đâu, trong chuyến đi nào; cái nón mùa hè này, chị nhớ là của con gái cho bố trong ngày Father’s Day.

Trên cái bàn ăn trong bếp, một cái khay nhựa mầu trắng, đựng gần hai mươi chai thuốc của anh, chị cầm lên đọc tên từng chai thuốc. Chị đã thuộc lòng từng loại thuốc trong chai; thuốc giảm đau, thuốc mất ngủ, thuốc chống ói, thuốc trụ sinh,v.v.  Chị cho tất cả mấy cái chai vào cái túi nhỏ, cột chặt lại, vứt cái túi vào thùng rác ngoài sân. Cái khay bây giờ trống rỗng. Chị hình dung ra hình ảnh khi anh qua đời, người ta đến mang anh ra khỏi giường, chiếc giường trống, một màu chăn gối trắng toát. Người ta cất anh vào một cái ngăn thật lạnh.

Chị vào nhà xe, những đôi giầy cũ mới, những đôi giầy anh dùng chạy trên sân đánh tennis, giầy đi bộ, giầy du lịch, giầy khiêu vũ. Những đôi giầy đã mang anh vào đám tiệc, đi gặp gỡ bạn bè, lang thang trên những con đường, loanh quanh ở công viên, lên thuyền, xuống bến, đi qua những thành phố rất lạ, những quốc gia rất xa.

Nhưng bây giờ anh đi về một nơi lạ nhất, xa nhất, anh lại không cần đến bất cứ đôi giầy nào. Chị xếp những đôi giầy của anh vào một chiếc thùng giấy, để vào một góc nhà xe. Chúng sẽ được mang đem đi cho và người xa lạ nào đó, sẽ xỏ chân vào, tiếp tục đi trên một đoạn đường ngoài kia. Họ có đi cho đến khi đôi giầy rách, cũ? Hay những đôi giầy đó lại được chuyển sang những bàn chân mới?

Chàng đi để lại đôi giầy 
Ngón chân em nhớ những ngày có nhau (1). Chị ra vườn, vườn trước vườn sau, những cây hoa lan đất đủ mầu đang đua nhau nở tung trong chậu; hoa hồng, hoa dâm bụt cũng rực rỡ không kém, chị bùi ngùi nghĩ đến công lao của anh chăm sóc cây cỏ lá hoa. Những ống nước trong vườn cũng do anh đặt, sợi giây điện chung quanh tượng Đức Mẹ cũng anh giăng. Các con có lưu ý là bố phải cẩn thận, kẻo gây hỏa hoạn đấy, Nhưng anh đời nào nghe chúng.

Mấy năm rồi, bóng đèn vẫn chớp, vẫn sáng, có sao đâu. Chị se lòng nghĩ, nếu một người khác dọn vào nhà này, họ có làm lại ngôi vườn không? Những cây hoa có bị dời chỗ, những bóng đèn sẽ tháo xuống, và tượng Đức Mẹ nữa, người chủ mới có cùng một tôn giáo như anh chị không?

Cuối cùng, chị quay vào buồng của anh. Căn buồng mấy năm nay là một thế giới của riêng anh. Thỉnh thoảng chị ngó vào, kêu ầm lên: Sao mà bừa thế này!

Chị đến bàn viết. Cái máy vi tính đã đóng lại để cho người con trai lớn đến mang đi; một ít giấy linh tinh trên mặt cái bàn nhỏ, chị nhìn qua, thấy không có gì quan trọng, chị thu xuống cái sọt giấy bên dưới. Chị coi như là xong, những thư từ trên máy vi tính đã có con trai lo hộ, chị không thắc mắc.

Bây giờ chị cần thu dọn quần áo của anh đem cho. Chị bối rối vì không biết nên bắt đầu từ ngăn kéo nào, từ góc tủ nào.

Quần dầy, áo mỏng, áo còn mới, hay quần đã cũ. Cái treo, cái gấp, cái vắt trên ghế, cái rơi cạnh giường. Hơn một tháng nay anh ở bệnh viện, anh vào hospice, chị đâu có thời giờ để ý đến căn buồng.

Quần áo là vật dụng thân quen nhất cho thân thể, chúng đã ôm ấp anh, mang hơi hướm anh, chúng là những người bạn thân thiết của anh, quần áo này gần gũi với anh cho đến hôm anh mất. Chị úp mặt vào chiếc áo sơ mi vắt trên thành ghế tưởng như chị đang gục đầu trên vai anh.

Một cơn gió nhẹ thổi vào phòng qua cửa sổ xoa xoa mái tóc chị, nước mắt chị ứa ra. Bất giác chị nhớ đến bài thơ của Cao Bá Quát khóc vợ:

Từ ngày anh ra đi Giường không đêm đêm giữ Trăng biển soi lòng nhớ Vào giấc mộng cô đơn Gió sông thổi cơn lạnh Vào khoảng trời hoàng hôn Chiếc gương nhỏ em cất Trong hành lý người xa Áo lạnh em vẫn giữ Trong phòng của hai ta Giữ vật tự an ủi Làm sao mà quên nhau (2)

Chị tháo xuống từng chiếc áo, chiếc quần. Gấp lại như gấp chính hồn mình, chị xếp từng xấp để lên giường anh. Chị đứng nhìn những xấp vải vô tri đó mà như nhìn những mảnh hồn mình. Chị ngồi lặng đi trong buồng anh không biết bao lâu. Ngoài kia, mặt trời đang xuống.

Bỗng chị nghe một tiếng reo, hai tiếng reo. Tiếng reo của chiếc cell-phone. Chị nhìn quanh, không phải phôn của chị, chị biết phôn của chị đang để ở buồng ngủ của chị, phía bên kia nhà. Chị hấp tấp đến bàn viết, kéo từng ngăn kéo, chị tìm thấy cái phôn của anh đang rung, chị cầm lên:
-A lô, A lô!
Không có tiếng trả lời. Chị luống cuống bấm lung tung tìm xem ai vừa gọi. Không có ai gọi cả, con số cuối cùng trong máy là của con gái chị gọi cho bố từ tuần trước, khi anh còn tỉnh. Cái phôn im lặng, tắt ngấm, lạnh ngắt trong tay chị. Bất giác chị nấc lên: “Anh ơi!” Ngoài kia, mặt trời đã tắt. (Trích truyện kể của tác giả Trần Mộng Tú)

Và dưới đây là một truyện kể khác trích từ kho tàng truyện của tác giả khác như sau:

“Có lẽ hầu hết các bạn đều biết đến tên Scott Hahn. Ông là một học giả Kinh thánh và mục sư Tin lành đã gia nhập Công giáo. Scott Hahn có một người bạn là linh mục, vị linh mục đó đến viếng thăm Giáo Đô Rôma.

“Trong lần đó, vị Linh mục được gặp gỡ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Vào ngày hẹn, vị Linh mục có nhiều thời gian rảnh rỗi. Giống như những du khách, ngài quyết định đi tới một nhà thờ chính toà, để kính viếng thăm và cầu nguyện. Trên những bậc thềm của nhà thờ thường hay có những người hành khất, cảnh này rất quen thuộc ở Rome.

Nhưng tình cờ, vị Linh mục đã nhận ra một người có gương mặt rất quen trong số những người hành khất. Sau khi vào đền thánh cầu nguyện, khuôn mặt của người hành khất đó cứ luẩn quẩn trong tâm trí của ngài. Vị linh mục đó đã cố nhớ lại xem, mình đã gặp người hành khất đó ở đâu đó. Cuối cùng, ngài đã nhớ ra, ngài chạy vội đến người hành khất đang ngồi ở ngoài Vương Cung Thánh Đường và hỏi :

-Tôi biết anh. Hình như chúng ta đã học chung ở chủng viện phải không?
Người hành khất gật đầu xác nhận. Vị linh mục nói với người hành khất:
-Như vậy anh là một linh mục!”

Người hành khất trả lời:
-Tôi không còn là một linh mục nữa. Tôi đã sa ngã và mọi sự đã kết thúc rồi. Làm ơn để cho tôi yên.

Vị Linh mục chợt nhớ cuộc hẹn sắp tới của mình với Đức Thánh Cha. “Tôi đi đây và tôi sẽ cầu nguyên cho anh. ” Người ăn xin với bộ mặt quen thuộc trả lời "Còn nhiều việc đang chờ bạn.”

Sau đó, vị Linh mục bỏ lại người hành khất trên bậc thềm và đi dự buổi tiếp kiến Đức Thánh Cha. Những cuộc tiếp kiến với Đức Thánh Cha thường thì rất long trọng nhưng ngắn ngủi. Một số người được đặc ân gặp gỡ riêng cùng lúc và khi Đức Thánh Cha tiến về phía bạn, vị thư ký trao cho ngài một cỗ tràng hạt đã làm phép và Đức Thánh Cha tận tay trao cho bạn.

Vào lúc này, người ta có thể hôn nhẫn của Đức Thánh Cha và nói điều gì đó cách chân thành, chẳng hạn xin ngài cầu nguyện cho bạn, nói rằng bạn đang cầu nguyện cho ngài, hay cám ơn ngài về sự phục vụ cho Giáo Hội. Tuy nhiên, khi Đức Thánh Cha đến gần, vị Linh mục đã không cầm được lòng và bộc phát:
-Xin Đức Thánh Cha cầu nguyện cho bạn con. ”

Không chỉ có thế, vị Linh mục đã kể toàn bộ câu chuyện. Đức Thánh Cha có vẻ đăm chiêu và ngài hứa sẽ cầu nguyện cho người hành khất đó. Khi ra khỏi phòng, ngài thì thầm điều gì đó với một người trợ tá ở lối đi.

Chiều tối hôm đó, vị Linh mục nhận được cú điện thoại từ một nhân viên của toà thánh Vatican. Họ nói với vị Linh mục rằng ngài và người hành khất được mời tới để dùng bữa tối với Đức Thánh Cha. Phấn khởi và bồn chồn, vị linh mục chạy vội tới nhà thờ nơi ngài đã gặp người bạn học của mình. Chỉ còn lại vài người ăn xin, thật là may mắn (hay có lẽ do ơn Chúa), người bạn học năm xưa vẫn còn đó. Ngài tới gần bạn mình và nói:
-Tôi đã gặp Đức Thánh Cha và ngài nói sẽ cầu nguyên cho anh. Nhưng còn hơn thế nữa, ngài đã mời chúng ta tới gặp gỡ riêng để ăn tối với ngài.

Người hành khất nói:
-“Không thể nào, nhìn kỹ tôi đi. Tôi chỉ là đống giẻ rách. Tôi đã không tắm gội từ lâu rồi... rồi quần áo của tôi... ”

Nhận ra sự nghiêm trọng của tình huống (và hiểu được rằng người ăn xin này được phép ăn cơm tối với Đức Thánh Cha) vị Linh mục nói:
-Tôi đang mướn một phòng ở khách sạn gần đây, ở đó anh có thể tắm rửa và cạo râu, và tôi có quần áo vừa vặn cho anh.

Một lần nữa, nhờ ơn sủng của Thiên Chúa, người hành khất đồng ý. Sau đó, họ cùng tới dùng bữa tối với Đức Thánh Cha. Vào lúc bữa ăn kết thúc, trước khi ăn tráng miệng, Đức Thánh Cha đi về phía vị Linh mục, nhưng vị này không hiểu được ngài đang có ý định gì. Cuối cùng, vị thư ký của Đức Thánh Cha nói nhỏ với vị Linh mục:
-Ngài muốn chúng ta ra khỏi phòng.

Lúc đó vị Linh mục và vị thư ký đi ra ngoài, để Đức Thánh Cha ở lại một mình với người hành khất.

Một lúc sau, người hành khất rưng rưng nước mắt bước ra khỏi phòng. Vị Linh mục hỏi:
-Chuyện gì đã xảy ra vậy?
-Đức Thánh Cha xin tôi giải tội cho ngài , người ăn xin nức nở.
           
Sau khi lấy lại bình tĩnh, người hành khất nói tiếp:
-Tôi nói với ngài, ‘Thưa Đức Thánh Cha, hãy nhìn con đi. Con chỉ là đứa ăn xin. Con không còn là một Linh mục’. Đức Thánh Cha nhìn tôi và nói rằng:
-Con ơi, một lần là Linh mục thì suốt đời là Linh mục, và không phải chỉ có con là người ăn xin. Trước mặt Chúa, ta cũng là một kẻ ăn xin, ta cầu xin Chúa tha thứ tội lỗi cho ta’.

-Tôi nói với ngài tôi không xứng đáng ở trong Giáo hội, nhưng ngài bảo đảm với tôi rằng với tư cách là Giám mục Rôma, ngài có quyền phục chức cho tôi ngay lúc đó và tại đó. Vị linh mục hành khất nói tiếp rằng, đã lâu lắm rồi tôi đã không giải tội, đến độ Đức Thánh Cha đã phải giúp tôi đọc lời xá giải.

Vị Linh mục bạn hỏi:
-Nhưng anh ở trong đó khá lâu. Chắc chắn việc xưng tội của Đức Thánh Cha đâu có lâu như vậy?

Người linh mục hành khất mới nói: 
-Không, việc xưng tội của Đức Thánh Cha không có lâu như vậy đâu, nhưng sau khi tôi đã giải tội cho ngài xong, tôi đã xin ngài giải tội cho tôi.

Những lời nói cuối cùng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 với người con hoang đàng này, là một mệnh lệnh. Đức Thánh Cha đã giao cho vị Linh mục mới được hoà giải, nhiệm vụ đầu tiên:
-Con hãy đi và làm mục vụ cho những người vô gia cư và ăn xin, trên bậc thềm ở chính ngôi thánh đường mà con đã ở đó.” (Truyện kể do bạn bè kể trên Sách Phây)

Truyện kể trên Facebook nghe xong tưởng chừng như chuyện hư cấu, có dàn dựng. Bởi, có Đức thánh cha nào mà lại vướng bận mấy chuyện cỏn con, cục bộ như thế? Thôi thì, cục bộ hay đại cục gì gì đi nữa, nay vẫn cứ xin bạn và tôi coi đó như một cơ hội giúp ta suy tư đôi chút về cuộc sống của người đi Đạo ở đây đó. Đây và đó, có nhiều loại truyện kể cũng đáng nể để ta suy. Suy và nghĩ, vẫn là thói quen của người đời ở trong Đạo hoặc người đi Đạo ở đời, mà thôi.

Định thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta quay lại bài hát đầy những chữ và chứ rất trần tình làm đoạn kết cho chuyện phiếm lai rai, dài giòng như hôm nay. Vậy, bạn và tôi lại sẽ hát rằng:

“Có ai biết chăng chuyện tình cờ
Có ai biết đâu nào mà ngờ
Vào một đêm trăng sáng,
hồn nhạc thơ lai láng,
thiết tha êm đềm mơ hồ
Áng mây cuốn tâm hồn dịu dàng
Thiết tha với cung đàn nhịp nhàng
Dìu hồn ta đi tới
miền Thần Tiên thanh thú,
sắc hương huy hoàng nên thơ.
 
Hào quang bốn phương huy hoàng
Bầy tiên nữ đang khoe mình với cung đàn
Nắm tay múa theo điệu nhịp nhàng
Nhắp say chén men rượu nồng nàn
Bầu trời trong thanh mát
Ngàn người vang câu hát
dưới hoa muôn mầu huy hoàng.
 
Có ai biết chăng chuyện tình cờ
Có ai biết đâu nào mà ngờ
Chuyện Thần Tiên giây phút
chìm dần trong sương khói
vấn vương tâm hồn trong mơ

Tìm trong mơ
Tìm trong mơ
Tìm trong mơ
Mơ trong mơ.”
(Văn Phụng – bđd)

“Chuyện thần tiên giây phút” vẫn như “Tìm trong mơ” lại cũng giống chuyện đời người ở huyện rất nên thơ như sự việc được Đấng thánh hiền ghi ở Kinh Sách vẫn nói rằng:

“Như người đói mơ thấy mình đang ăn,
khi tỉnh dậy thấy dạ dày trống rỗng;
hoặc như một người khát nằm mơ thấy mình đang uống,
khi tỉnh dậy thấy mình mệt lử,
họng khát khô;
đoàn lũ các dân tộc đang tiến đánh núi Xion
cũng sẽ y như vậy.
(Is 29: 8)


Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn luôn liên tưởng đến những gì Là Tình Trong Mơ
Biết đâu nào ngờ về Hồn nhạc thơ lai láng
Cũng trong mơ.