Monday, 18 March 2019

“Cứ yêu xin đừng mơ ước gì”


Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ ba mùa Chay năm C 24/3/2019

“Cứ yêu xin đừng mơ ước gì”
“Dù xa nhau mãi
Vẫn yêu nhau hoài,
tình không hề phai.”
(Nhạc ngoại quốc – Lời Việt: Khúc Lan & Julie: Ngàn Năm Vẫn Đợi)

(Phillíphê 4: 6-9)

Phải chăng đây là tin nhắn của người đương yêu vẫn cứ yêu đương, như thời nào? Phải chăng đây còn là lời nhủ gửi đến hết mọi người, từ Nước Trời Hội thánh chốn trần gian?

Nói thế, kể ra cũng hơi đụng chạm. Đụng và chạm, cả với đấng bậc trong Đạo/ngoài đời ở Sydney, là vùng trời có nhiều chuyện để bàn, giống như “phiếm”. Và chuyện phiếm hôm nay, gồm nhiều lời lẽ tóm gọn ở câu truyện kể, sau đây:

“Truyện rằng:
Cặp vợ chồng nọ mới vừa kết hôn, đã sống rất nghèo trong lán trại nhỏ. Một ngày nọ, người chồng nói với vợ:
-Em yêu, anh sẽ rời ngôi nhà này… Anh phải đến một nơi rất xa tìm công ăn việc làm, rồi còn phải cật lực chăm chỉ mới trở về mang cho em một cuộc sống đầy đủ mà em xứng đáng hưởng. Anh không biết vợ chồng mình sẽ biệt ly bao lâu, vì vậy anh chỉ đòi hỏi em một điều thôi là: Hãy đợi anh. Khi anh không còn ở đây, em hãy giữ tấm lòng son bảo toàn thủy chung, bởi anh cũng sẽ xử như vậy với em.”

Sau đó, người chồng ra đi. Ngày lại ngày trôi nhanh, anh đi được quãng đường rất xa, cho đến khi gặp một lão nông phu bên đường. Lão ông đang tìm người phò tá cho mình. Chàng trai trẻ tiến đến gần bên ông tỏ ý muốn trở thành người hầu cận phụ giúp ông hằng ngày. Ông lão nhận lời. Sau đó, họ đồng lòng thảo luận với nhau. Người trẻ nói:
-Hãy để tôi làm việc chừng nào tôi còn có thể, và khi tôi nhận thấy đã đến lúc phải trở về cố hương, xin hãy để tôi đi. Tôi không muốn nhận một đồng lương nào trong lúc này – ngài vui lòng giữ lại giúp tôi cho đến ngày tôi rời đi. Vào ngày ấy, xin hãy đưa lại cho tôi toàn bộ số tiền ấy.

Họ cùng đồng ý với thỏa thuận này. Thế là người chồng làm việc trong nông trại của ông lão suốt 20 năm – không có ngày lễ, và cũng không có ngày nghỉ ngơi. Thấm thoắt 20 năm trôi qua, anh đến gặp ông chủ của mình và nói:
-Thưa ngài, đã đến lúc tôi cần trở về quê nhà, xin ngài hãy cho lại tôi số tiền tôi được hưởng trong những năm qua. Ông chủ trả lời:
-Tốt lắm! Cuối cùng, ta đã thỏa thuận với anh và ta sẽ giữ lời. Tuy nhiên, trước khi anh đi, ta muốn anh hãy cân nhắc điều này: Hoặc ta sẽ trả lại anh tất cả số tiền và để anh đi; hoặc ta sẽ cho anh 3 lời khuyên và để anh đi. Nếu anh chọn túi tiền, ta sẽ không cho anh 3 lời khuyên ấy; và ngược lại, nếu anh chọn lời khuyên, ta cũng sẽ không đưa tiền cho anh. Bây giờ, hỡi chàng trai trẻ, hãy về phòng suy nghĩ trước khi cho ta biết quyết định của anh”.

Sau hai ngày suy nghĩ, người trẻ quay lại nói với ông chủ:
-Thưa ngài, tôi muốn nhận 3 lời khuyên của ngài.
-Đừng quên là, nếu ta cho anh 3 lời khuyên ta sẽ không đưa tiền cho anh. Anh có điều gì băn khoăn không?
-Thưa ngài, tôi muốn nhận 3 lời khuyên…
Sau đó, ông chủ nói với anh:
-Một là: Đừng bao giờ lựa chọn đường tắt trong cuộc đời. Những con đường nóng vội có thể tiềm ẩn mối hiểm họa khôn lường! Hai là: Đừng bao giờ tỏ ra quá hiếu kỳ, bởi cái giá trả cho tính hiếu kỳ có thể quá đắt…Ba là: Đừng bao giờ quyết định trong cơn giận dữ hoặc trong lúc tuyệt vọng, bởi mọi quyết định mù quáng sẽ khiến anh hối hận muộn màng.

Tiếp đó, ông chủ đưa cho anh ba chiếc bánh mì rồi nói:
-Đây là 3 chiếc bánh mì dành cho anh: Hai chiếc để lên đường, còn chiếc cuối để anh thưởng thức với vợ khi trở về.

Tạm biệt ông lão, người đàn ông lên đường trở về nhà. Con đường 20 năm cách trở trải dài trước mắt. Anh hồi hộp mong chờ giây phút đoàn tụ với người vợ ở quê nhà.

Ngay ngày đầu tiên, anh gặp một hành khách trên đường. Người lạ mặt nói:
-Này chàng trai trẻ, anh đi đâu thế?
-Tôi đi đến một nơi rất xa, cách đây 20 ngày đường, nếu tôi tiếp tục đi về hướng này, thì...
Người lạ mặt nói:
-Ồ, anh bạn trẻ, đường sẽ rất dài và xa vời vợi! Tôi biết có một ngã rẽ giúp anh sớm trở về nhà.
Anh hăm hở bước theo con đường mới này. Nhưng sau đó, chợt nhớ lại lời khuyên ban đầu của ông lão, anh bèn trở lại con đường cũ lúc đầu tiên. Nhiều ngày sau, anh mới nhận ra rằng đoạn đường tắt hôm trước có nhiều tên đạo tặc mai phục.

Nhiều tháng ngày trôi qua, anh may mắn tìm thấy căn nhà nghỉ ở ven đường. Anh dừng chân dùng bữa tối rồi đánh một giấc dài…Đến nửa đêm, anh chợt thức giấc vì thấy có tiếng la hét thất kinh bên ngoài phòng trọ. Anh tung chăn dự định mở cửa xem điều gì xảy ra thế. Bất giác, anh nhớ lại lời khuyên thứ hai bèn nén nỗi tò mò và quay trở về giường ngủ.

Sáng hôm sau, khi dùng điểm tâm, chủ trọ hỏi liệu anh có nghe thấy tiếng la hét thất thanh đêm qua không? Anh đáp lại là: có. Ông bèn hỏi tiếp:
-Thế anh không tò mò ra xem chuyện gì xảy đến hay sao?
-Không, tôi không làm thế.
-Thật may cho anh. Anh là người khách trọ đầu tiên được sống sót mà rời khỏi nơi đây. Trong làng chúng tôi có một con quỷ. Cứ về đêm, nó thường la hét inh ỏi hầu gây chú ý. Bất cứ ai nghe tiếng hét mà chạy tới xem đều rơi vào nanh vuốt của nó…”

Anh tiếp tục hành trình của mình. Càng gần cố hương, anh càng hồi hộp và vui sướng. Ngày lại ngày, đêm này tiếp đêm nọ, đôi chân anh mỏi rã rời. Cuối cùng anh cũng thấy được ánh lửa bập bùng trong túp lều quen thuộc. Bầu trời đã tối lắm rồi, mà mái nhà của anh vẫn còn dài ở phía trước. Qua khe cửa, anh thấy bóng người vợ hiền mà anh thương yêu tha thiết. Nhưng kìa, sao nàng không ở một mình mà lại xuất hiện một gã đàn ông nào đó thế? Nàng vuốt tóc y ta, xem ra hai người rất có tình ý với nhau lắm.

Hình ảnh trước mắt khiến tim anh vỡ vụn đến cay đắng. Lòng anh sục sôi nỗi tức giận và tủi nhục. Anh chỉ muốn chạy ngay tới đó để trút giận. Nhưng rồi anh cũng cố hít một hơi thật sâu lấy bình tĩnh và nhớ lại lời khuyên thứ ba của lão ông nọ.

Anh dừng chân và quyết định ngủ lại ở bên ngoài. Nằm trên thảm cỏ giữa núi đồi trùng điệp ngắm nhìn sao trời trùng điệp, anh tự nhủ long mình hãy cố chờ cho đến sáng hôm sau. Thoạt lúc  bình minh vừa ló rạng lại cũng là lúc anh hoàn toàn lấy lại bình tĩnh, bèn nói nhỏ với lòng mình:
-Ta sẽ không làm điều gì hại đến vợ ta và người tình của nàng. Ta sẽ trở lại bên ông chủ và yêu cầu ông chấp nhận cho ta làm việc thêm ít thời gian nữa. Nhưng trước khi lên đường, ta muốn gặp nàng để nói rằng ta vẫn một lòng chung thủy với nàng…”
Anh ngập ngừng gõ cửa… Khi vợ anh mở cửa, cô òa lên vì hạnh phúc và ôm chầm lấy anh. Anh nhỏ nhẹ nói với vợ:
-Anh luôn một lòng một dạ với em, nhưng sao em lại phản bội niềm tin ấy?
Lời anh kết tội đã làm cho trái tim cô vợ thắt lại, cô bèn nói:
-Làm sao em có thể phản bội anh được cơ chứ? Em không bao giờ làm điều gì trái với lương tâm mình. Em đã kiên nhẫn đợi chờ anh suốt 20 năm …đến bây giờ
-Vậy thì người đàn ông bên cạnh em đêm qua là ai thế?
Đến lúc này, cô mới mỉm cười bèn nói nhỏ:
-Đó là con trai của chúng ta đấy anh ạ! Khi anh vừa rời đi, em mới phát hiện là mình mang thai. Đến nay, con của chúng mình cũng đã 20 tuổi rồi”.

Những lời nói vừa thốt khỏi miệng cô vợ, đã như giòng suối mát lành cuốn trôi nỗi buồn lắng đọng trong lòng anh. Anh xin cô tha thứ, rồi bước vào phòng gặp người con trai mà anh chưa một lần thấy mặt. Sau đó, cả gia đình đoàn tụ trong bữa điểm tâm ban sáng do vợ anh chuẩn bị. Anh lấy  chiếc bánh mì cuối cùng còn lại rồi đặt lên bàn.

Khi cắt bánh mì làm ba phần đều nhau, anh bất ngờ khi nhìn thấy toàn bộ số tiền lương của 20 năm qua được giữ kín trong đó. Số tiền không chỉ là 20 năm mà còn vượt xa gấp nhiều lần…

Câu truyện kể ở đây cho thấy Đấng Bề Trên cũng xử sự như ông chủ trong chuyện. Khi yêu cầu ta hiến dâng hết mọi sự cho Ngài, Ngài cũng dành tặng ta nhiều điều hơn ta làm. Ngài muốn con cái của Ngài có được trí huệ sáng suốt và mọi phúc lành xứng hợp…” (Theo Khỏe và đẹp)

Truyện kể ở trên, khác nào cổ tích thời đương đại. Cũng một ý tứ, nhưng lời lẽ có hơi vụng về, cách khác thường. Khác nhiều, vì trong đó đính kèm ý-nghĩa của đạo giáo có niềm tin vào Đấng Ở Trên soi sáng. Niềm tin đây, khác nào ý-tứ ở ca-từ được đượm thắm trong nhạc bản vừa trích dẫn có giòng chảy như sau: 

“Bên nhau ta say đắm ôi hạnh phúc đôi mình
Em nghe trong tim ngất ngây tình ta âu yếm
Tưởng tình trong như giấc mơ ta không hề biết
Con tim nhân gian sẽ không bao giờ bền lâu
Thôi đành tình em trao anh
Tình như thông xanh
Ngàn năm vẫn đợi
Người em yêu hỡi...muôn đời.. khó quên
Vì yêu em hãy đón em trong vòng tay
Cứ yêu xin đừng mơ ước gì
Dù xa nhau mãi
Vẫn yêu nhau hoài, tình không hề phai

Anh yêu ơi thế thôi trời đã an bài
Ta yêu nhau phải đâu vì ai xui khiến
Rồi ngày mai sau có em vui hay buồn tủi
Em xinh em tươi chỉ cho riêng em mà thôi
Anh xa rồi dù không bên anh
Mình em cô đơn em vẫn gắng cười
Đừng lo lắng thêm u sầu
Hỡi anh! Vì yêu em xin giữ em trong vòng tay
Cứ yêu xin đừng mơ ước gì
Giọt lệ em đã khóc cho bao ngày
Người ơi đừng quên
Người yêu ơi hãy xiết em trong vòng tay
Cứ yêu xin đừng mơ ước gì
Dù xa nhau mãi vẫn yêu nhau hoài
Tình không hề phai …”
(Nhạc Ngoại quốc - bđd)
Nói cho cùng, có kể truyện dài/ngắn hoặc hát hò vui chơi, nhiều lúc ta chỉ muốn nói lên một điều mà bậc thánh hiền từng khuyên bảo:
Anh em đừng lo lắng gì cả.
Trong mọi hoàn cảnh,
anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn,
mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa
những điều anh em thỉnh nguyện.
Và bình an của Chúa,
bình an vượt lên trên mọi hiểu biết,
sẽ giữ cho lòng trí anh em
được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.”
(Phillíphê 4: 6-9)

“Đừng lo lắng gì cả”, còn là và cứ là lời dặn của đấng bậc vị vọng ở chốn chóp bu từng lên tiếng trong chuyến bay từ Panama trở về La Mã hôm 27/1/2019 như sau:

“Nhiều vị rất đỗi ngạc nhiên khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói với nhà báo trên chuyến bay trở về nhà từ Panama hôm 27/01/2019 rằng: ngài không nghĩ là hàng giáo sĩ trong Hội thánh, theo truyền thống La Mã, lại có thể chọn cuộc sống độc thân hay có gia đình tùy ý mình.

Đức Giáo Hoàng còn nói: “Riêng phần tôi, tôi tin rằng sống đời độc thân là một trong các ân-huệ Chúa ban cho Giáo hội ta. Kế đến, tôi không đồng ý với những ai có lập trường coi việc sống đời độc thân chỉ như một chọn lựa…

Tuy nhiên, trước đó và đặc biệt là trước khi đi vào vấn đề đời độc-thân linh mục, Đức Giáo Hoàng Phanxicô có thuật lại cho báo giới nghe lại câu nói của Đức Phaolô Đệ Lục vừa nảy ra trong đầu ngài mà bảo rằng: “Tôi thà cho đứt sự sống của mình hơn thay đổi luật lệ về cuộc sống độc thân linh mục.”

Ý tôi muốn nói: độc thân linh mục theo mình chọn không là con đường dẫn mọi người tiến về phía trước đâu. Đức Giáo Hoàng còn nói thêm: Nói thế phải chăng tôi là người có lập trường khép kín không? Có thể là như thế, nhưng tôi đây lại cảm thấy như thể mình đang đứng trước mặt Chúa mà xin Ngài ra qyết định này cho bằng được.”

Tuy vậy, rõ ràng là Đức Giáo Hoàng Phanxicô có phát biểu bảo rằng: “Rồi ra cũng có khả năng nào đó khiến ta phong chức linh mục cho nam-nhân ở các vùng sâu vùng xa trong hoàn cảnh ít có cơ hội dự thánh lễ do thiếu linh mục. Nhưng, cả vào trường hợp như thế, ta vẫn cần nghiên-cứu tìm hiểu sự việc nhiều hơn nữa. Nhận-định của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khiến một số người từng ngờ vực cho rằng ngài là người muốn buông bỏ kỷ-luật về đời sống độc thân linh mục và cả những người vẫn cứ hy vọng rằng ngài sẽ làm thế, đã gây thất vọng ở nhiều nơi.

Cả hai nhóm người nói ở trên đều trông đợi rồi ra Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng sẽ đặt vấn đề này lại khi ngài triệu tập Hội nghị Giám mục Thượng đỉnh sắp tới ở Amazône xa xôi ở nơi đó có rất ít cộng-đoàn tín hữu tập trung đi lễ hoặc tham-dự các Bí tích khác vào cuối tuần.

Một số giám mục ở nhiều nơi thường nêu vấn đề phong chức linh mục cho các nam-nhân có hạnh kiểm tốt trong các cuộc họp vừa kể, các vị giám mục nói trên hy vọng rằng Hội nghị Thượng đỉnh sắp tới sẽ nêu vấn đề này một lúc nào đó thuận-tiện hơn như Hội Nghị Giám mục Thượng đỉnh bàn về Tiệc Thánh tổ chức hồi 2005, đã có nghị phụ từng đưa vấn đề này đệ đạt lên Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 là Đấng bậc chủ quản coi việc thiếu linh mục là nguyên dó tạo niềm đau cho Giáo hội. Nhưng lúc đó, Đức Giáo Hoàng lại thêm một câu bảo rằng: “Trong bối cảnh ấy, các nghị phụ từng khẳng-định rằng: điều quan trọng ở chỗ đây là quà tặng khó lường về đời sống độc thân linh-mục trong Hội thánh La Mã.”

Một số tham-dự-viên Hội nghị Thượng đỉnh đã ám chỉ vấn đề nêu trên, nhưng cuối cùng cũng có nhiều nhóm khác lại bàn lui về khả-năng này bằng một đề nghị: ta không nên đề cập chuyện này nhiều không tiện. Thay vào đó, các nghị phụ kêu gọi mọi đấng bậc trong Hội thánh hãy bảo trợ nhiều hơn cho ơn gọi linh-mục.

Riêng hai thuật-ngữ “phong chức cho nam-nhân có đời sống đạo-đức” và “linh mục có vợ” không thấy xuất hiện trong tài-liệu chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh vùng Amazône dự trù tổ chức vào tháng 10 năm 2019. Nhưng, bản văn nói ở đây lại cũng khuyên rằng: “Cũng nên cân nhắc chuyện Dân con Chúa có cơ hội dự Tiệc Thánh Thể một cách tốt lành và thường xuyên hơn; bởi đó là trọng tâm cuộc sống của mọi tín-hữu Đức Kitô”, nên mới đòi các Giám mục phải đưa ra các đề-nghị trên hầu “hầu đáp-ứng nhu-cầu” vừa kể.

Trong văn bản này, các nghị-phụ còn nhấn mạnh rằng: các vị trọng tuổi được tấn phong phải là bậc thông thái trổi vượt khác hẳn hàng giáo sĩ địa phận. Giải thích lập trường này trên báo “Us Catholic Magazine” số tháng 3 năm 2010, Đức Giám mục Lobinger có nói, rằng: “Hai hình-thái linh-mục nói ở đây sẽ thực-thi vai trò khác nhau.

“Các bậc cao niên có nhiệm vụ hướng-dẫn cộng đoàn sống Đạo và thực-hiện các phép bí-tích trong cộng đoàn mình sống, trong khi đó linh-mục địa-phận là linh-hướng cho bậc cao niên trong các cộng đoàn biết tự chăm lo chính mình. Bởi thế nên, các linh-mục nói ở đây sẽ phục-vụ toàn-thể địa phận trong khi đó, bậc cao niên lại chỉ phục vụ cộng-đoàn mà các ngài được tấn-phong.”

Đức Phanxicô còn nói với báo giới là ngài thấy đề-nghị của Đức Giám mục Lobinger để cho linh-mục địa-phận và bậc cao niên được tấn-phong làm linh mục có thể thực-thi công tác khác nhau. Và, khi giải thích cho mọi người hiểu ý của các giám mục nói đây, Đức Phanxicô cũng cho báo chí biết thêm là ngài sẽ không nói nhiều chuyện này, là vì ngài không suy tư nhiều về việc ấy, và ngài cầu nguyện chưa đủ cho chuyện như thế, để nhường chỗ cho các nhà thần-học nghiên cứu thêm.”

Đức Giám mục Lobinger còn nói với báo CNS rằng: ngài xác tín thấy là một phần của việc suy tư, cầu nguyện và nghiên-cứu sẽ là chuyện phải lẽ khi Hội nghị Thượng đỉnh vùng Amazône được tổ-chức và ngài cũng nhấn mạnh rằng: Đức Phanxicô là “vị Giáo Hoàng đang lèo lái Giáo hội theo hướng ấy”.

Một điều thấy rõ hơn nữa, là: các nghị-phụ nói trên sẽ không bao giờ bàn thảo về chuyện ta có nên thiết lập đời sống linh mục độc thân tự chọn không. Trong cuốn sách do ngài viết và phát hành vào năm 2003 mang tựa-đề là “Linh Mục Cho Mai Ngày”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô có nói: giả như ngài buộc phải thiết-lập việc này một cách thận trọng, thì việc tấn-phong linh-mục cho bậc cao niên sẽ gia tăng lòng cảm kích biết ơn các linh mục địa phận từng hiến dâng nhiều thứ hầu phục vụ Chúa và Giáo hội.” (X. Cindy Wooden, Married clergy not likely, Pope surprises some with his thinking on married priests, The Catholic Weekly ngày 10/02/2019 tr. 27)

Nói cho cùng, có bàn đi hoặc nói lại nhiều lần về vấn đề nóng bỏng ấy, hẳn là người bàn bạc sẽ bị bốc cháy cách nào đó, cả trong tâm tưởng lẫn bên ngoài mình. Bởi, chuyện linh mục có vợ hoặc cho bậc cao niên có vợ được phép làm linh mục là chuyện thời thượng của mọi thời. Không riêng gì với người đi Đạo ở đây đó, chí ít là ở quê nhà.

Thế nên, lại đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta nên bàn chuyện thiết-thực xảy ra trong cộng đoàn mình, chứ đừng nhìn về phía láng giềng, dù đó có là chòm xóm người Tây hay người mình đi nữa, cũng chẳng nên. Nghĩ thế rồi, nay ta cũng nên đi vào vùng trời truyện vui để tìm ra câu chuyện nào đó mà kể cho vui đời theo cách “phiếm-luận” lai rai, dài dài. Rất hôm nay.

Và truyện hôm nay, đâu đuôi nó thế này:

“Trong cuộc phỏng vấn về nghệ thuật quản lý, phóng viên hỏi một vì giám đốc:
– Ông có thể vui lòng chia sẻ bí quyết nào khiến cho 100% nhân viên của công ty ông luôn đi làm đúng giờ không ạ?
Vị giám đốc mỉm cười đáp:
– Tôi xin đính chính lại một chút, nhân viên công ty tôi không chỉ đến đúng giờ, thậm chí có khi còn đến sớm hơn hẳn một giờ nữa đấy!
Phóng viên trầm trồ:
– Một thành công thật đáng ngưỡng mộ! Bí quyết gì vậy thưa ngài?
Vị giám đốc chậm rãi:
– Thật ra cũng chẳng phải bí quyết gì to tát đâu. Chả là công ty tôi có tất cả 50 chỗ để xe. Trong số đó thì 49 chỗ là miễn phí, 1 chỗ còn lại tính phí gấp 30 lần phí bình thường cho người đến công ty cuối cùng. (Truyện kể tìm trên mạng vi tính)

Cũng chẳng phải bí quyết gì to tát đâu!” là câu nói có thể áp-dụng ở nhiều chỗ. Chí ít là Chuyện Phiếm Đạo đời vẫn kể truyện đời nhiều hơn truyện Đạo, giống như trên.


Trần Ngọc Mười Hai
Và những giờ phút
thấy chẳng có bí quyết gì to tát
cả trong chuyện Đạo.   

Monday, 11 March 2019

“Em gái vườn quê”

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ hai mùa Chay năm C 17/3/2019

“Em gái vườn quê”
Cuộc đời trong trắng”
Dầm mưa dãi nắng
Mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.
(Hoàng Thi Thơ – Duyên Quê)

(Rm 9: 15-17)

Đã là “Duyên Quê”, thì không chỉ có em mà cả anh nữa. Hết mọi người. Ở thời này. “Duyên Quê” hôm nay, còn là cái duyên của người còn ở quê nhà hay đã xa quê từ lâu lắm, rất nhớ nhung.

            Duyên Quê hôm nay, nhiều nhung nhớ rất quê mình, và quê người, cùng một lối. Rất tương lai, mai ngày và mãi mãi cứ là duyên và quê nhà thương yêu, diễm kiều, đầy chất thơ. Và, chất nhạc nhiều thơ, không ơ hờ và cũng chẳng thẫn thờ, một chiều mơ. Rất tuyệt diệu.

            Duyên Quê hôm nay, còn là tính-chất rất có duyên của những người không còn quê mùa, nhưng vẫn vương vấn tính-chất rất “quê vườn” của mình và của người, khá tuyệt vời. Tuyệt vời với tuyệt chiêu hay tuyệt cú mèo hay tuyệt gì đi nữa, nay mời bạn và mời tôi, ta rong rả thả hồn đi rong vào lòng người để thưởng thức một ý nguyện nào đó trong đời, như ý của vị trưởng thượng, qua câu hỏi/đáp rất như sau:


“Hỏi, là hỏi những câu được bạn đọc nọ từng hỏi như sau:

“Thưa Cha,

“Con có người Chú từng là huấn-luyện-viên môn Yoga và ông là người Công Giáo sùng đạo, không bỏ lễ ngày nào. Theo con, theo cách nào đó: môn Yoga không thích-đáng với niềm tin đi Đạo của ta. Vậy, xin cho con chút ánh sáng soi tỏ vấn-đề này, để bà con đi Đạo có đường mà tin cho đúng cách. Được vậy, con cảm ơn Cha rất nhiều.” (Câu hỏi từ một người mộ đạo nhưng không ghi quí danh)

Và câu trả lời của đấng bậc vị vọng ở Sydney vẫn được coi là chính qui/chính mạch như sau:

“Để đáp trả câu hỏi của anh/chị, tôi xin mượn lời Thày Giảng Max Sculley DLS từng viết cuốn “Yoga, Tai Chi, Reiki: hướng-dẫn người theo chân Chúa giữ Đạo” do nhà xuất bản Modotti Press ở Ý đưa ra. Tác-giả nói rõ ý-tưởng bảo rằng: dù nhiều nhóm hội/đoàn thể Công-giáo lâu nay vẫn giới-thiệu và giải thích nhiều về “Yoga”, nhưng việc thực-thi các lời khuyên bảo ấy đã và đang đem đến mối hiểm-nguy không nhỏ cho niềm tin đi Đạo của chúng ta. Tôi xin tóm kết những điều ngài nói để anh/chị và mọi người hiểu là tôi đề-nghị nên cuốn sách. Tóm gọn như thế này:


Yoga không chỉ là một loạt động-tác luyện tập để gỡ bỏ mọi căng thẳng và đề xuất lối sống làng mạnh cả về thân xác cũng như tinh thần. Dù lâu nay ta có nhiều hình thức luyện tập yoga rất khác biệt, nhưng phần lớn đều gồm tóm một số thế đứng, động-tác làm chậm hơi thở của người thực-thi động tác  trong lúc tập trung cả vào não bộ thần-kinh lẫn xác thể và cứ thế lặp đi lặp lại tư-tưởng hoặc câu nói nào đó. Tất cả chỉ để hấp-thụ hơi thở hoặc năng-lượng thần thiêng, từ không trung và chuyển tải vào cơ thể như thể đi vào trạng-thái ý-thức.


Người thực-hiện các động-tác như thế vốn học cách cảm-nhận hơi thở và đưa nó đi thẳng vào bẩy trung-khu tập-trung năng lượng khác nhau hoặc các trung-tâm chứ năng lượng bắt đầu đi sâu vào vòm nhọn và đỉnh đầu.


Đỉnh cao đạt được khi đầu não trở nên trống rỗng kéo dài thời-gian và người thực-hiện đi vào trạng-huống tự nhận thức chính mình và soi sáng con người mình, biết rõ rằng mình hiện đang thăng-hóa và nhập-cuộc với vũ trụ.


Muốn nên một với cõi trời thăng-hóa, đối với người Ấn-giáo, là trở nên một với Brahma, tức ngã vô cả, tức năng-lương vô-biên vốn là tạo-hóa dựng nên tất cả mọi sự trong vũ trụ. Vũ-trụ đây, đến lượt mình, lại cũng kéo dài cái ngã của Brahma, đó là theo niềm tin thần thánh của người Ấn-giáo vẫn cho rằng mọi sự trong thiên-nhiên đều là thần thiêng thánh hóa cách nào đó, thôi. Cũng là chuyện dễ hiểu khi bảo rằng Yoga trở-thành phổ-cập với những người sủng ái ở Thời Đại Mới.


Theo lý-thuyết của Yoga, thì khi năng-lượng thần thiêng bốc lên ngang qua mọi giai-tầng của “chakra” tức trung-khu năng-lượng mà con người nhận được quyền-uy tâm-linh thích-ứng với từng cấp-độ. Việc này bao gồm cả khả-năng đọc được ý-nghĩ của người khác, biết được cuộc sống trong quá-khứ hầu giao-tiếp với thế-giới tinh-thần, gồm cả các hồn thiêng của người đã chết, có mãnh-lực thấu suốt, tự nâng bổng chính mình và có nặng-lực chữa lành mọi sự.


Việc nâng bổng hơi thở ngang qua thể xác được nữ thần Ấn-giáo là Kundalini tượng-trưng-hóa thành con rắn cuộc cong nằm ngủ dưới bệ cột sống đã trỗi dậy và cuối cùng lợp-lực vào với trung-khu năng-lượng thần thiêng cùng với thần Shiava của tín-đồ Ấn-giáo.


Thành thử, hỏi rằng tại sao Yoga là nguy-hiểm đối với niềm tin của người đi Đạo Chúa, thì cũng rõ như ta từng thấy nãy giờ, toàn-bộ niềm tin vào “năng-lượng thánh thiêng” trong vũ trụ mà con người có được con đường dẫn vào cơ thể khiến mình có khả năng biến con người mình trở thành thần thiêng theo cách nào đó. Và trở nên Một với Chúa , tức: đi ngược lại niềm tin của người Đạo Chúa. Đó chính là sự tin tưởng theo phái phiếm thần vẫn cho rằng Thiên Chúa đồng-hóa với thiên-nhiên.


Cả vào khi con người hình-dung “năng-lượng” này như ân-huệ của Thiên Chúa hoặc của Chúa Thánh Thần đi nữa, và Ngài đã làm thế trong thời kỳ nào đó hoặc theo cách nào đó đi nữa. Ta cũng không thể tạo đường luồng nối kết với ân-huệ hoặc với Thần Linh Thánh Ái vào chính con người mình duy nhất chỉ bằng cách có được lòng muốn như thế.


Thêm điều nữa, là: tình-trạng ý-thức được thay thế vốn dĩ là mục-tiêu của phái Yoga trong đó trí-tuệ vẫn còn đó và coi như trở nên một với vũ-trụ lại có thể khiến con người cởi mở chính mình ra với loài ma mãnh. Quả thật rất nhiều trường-hợp con người đã vô tình theo học các môn-phái của Yoga để rồi cuối cùng cũng bị đám ma mãnh tạo ảnh-hưởng lên người mình. Và, nhiều người cuối cùng lại cũng bị thứ bệnh tâm-thần nào đó vật ngã. …


Nói cho cùng, thì khi thần-linh của Yoga là năng-lượng vô-hồn, thì Thiên-Chúa của tín-hữu đi Đạo Chúa lại là Đức Giêsu nhập-thể làm người phàm đã thương yêu ta quá độ đến nỗi Ngài chấp-nhận chết trên thập-giá cho ta và ở lại với ta mọi người trong Mầu-nhiệm Thánh Thể.


Tắt một lời, giả như con người muốn có được sự bình yên trong tâm não, tốt hơn cả hãy bước chân vào nguyện đường, ở lại nơi đó một thơi gian mà nghiền ngẫm về tình thương yêu của Chúa đang hiện-diện trong Nhà Tạm, thì ta chẳng còn cần gì đến Yoga, hết.” (X. Lm John Flader “Yoga is out for Christians, The Catholic Weekly 03/3/2019 tr. 21)


Với bần đạo bầy tôi đây, ngẫm nghĩ và ngẫm thầm những điều như thế, khác nào người nghệ sĩ ngoài đời cứ là hát lên những lời đầy ý-nghĩa như sau:


“Em biết mặt anh
Một chiều bên thềm
Giọng hò êm đềm
Và đôi mắt em long lanh sau rèm.

Ai hát ngoài ao
Chừng ngồi giặt áo
Giọng hò êm quá
Mà em ngỡ ai rót mật vào lòng.

Anh cuốc vườn sau
Mặt trời trên đầu
Ruộng vườn lên màu
Vì em ước mong đây đó chung lòng.
Gió xao ao bèo
Em thương anh không kể là giàu nghèo
Miễn rằng tình đặng sơn keo
Núi cao em cũng trèo
Sông sâu em cũng lội
Vạn đèo em cũng qua.

Gió lay cành đa
Anh thương Anh thương em thật thà
Mưa lay hoa cà Da em quá mặn mà
Và thương bao giọt mồ hôi
Đẹp má mặn môi.
Đây miếng trầu cay
Một buồng cau trắng
Một buồng cau trắng
Mà duyên đôi ta nên
Vợ thành chồng.
Một túp lều tranh
Một vầng trăng tròn
Một vầng trăng tròn
Mà tha thiết yêu cho hết tơ lòng.

Cho đến ngày mai
Dù mưa hay nắng
Lòng ta vẫn thắng
Mà đôi chúng ta xây dựng
Đời này ta có bàn tay
Một tình yêu này
Một đời sum vầy
Thì đâu khó chi lấp biển vá trời...”
(Hoàng Thi Thơ – bđd)


Là nghệ sĩ với những vần thơ đơn giản của thi ca/âm nhạc nổi lên nói thay cho mình, thì thiết tưởng tâm tình của người nghệ-sĩ nói đây, cũng đã và đang đề-nghị ta và người hãy hiên-ngang mà ca hát những lời “còn đó nỗi buồn”, qua bài “Duyên Quê” hoặc Duyên (tỉnh thành) có những ý-từ như sau:


“Em gái vườn quê”
Cuộc đời trong trắng”
Dầm mưa dãi nắng
Mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.
(Hoàng Thi Thơ – bđd)


Duyên quê hay duyên gì đi nữa, vẫn là cơ duyên của người ở quê miền nhà mình rất dễ yêu và dễ mến, rất nhiều thời, mà thôi. Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và mời ta, ta cứ thế hiên ngang hát lời lời ca, cùng ý-tứ vẫn tuân trào mà rằng:


“Cho đến ngày mai
Dù mưa hay nắng
Lòng ta vẫn thắng
Mà đôi chúng ta xây dựng
Đời này ta có bàn tay
Một tình yêu này
Một đời sum vầy
Thì đâu khó chi lấp biển vá trời...”
(Hoàng Thi Thơ – bđd)


Duyên gì thì duyên, cũng không bằng “duyên tình” mà Đấng Ở Trên vẫn hằng ban cho ta, và cho người như đấng thánh hiền nhà Đạo từng minh định, như sau:


Thiên Chúa đã phán với ông Môsê:
Ta muốn thương xót ai thì thương xót,
muốn cảm thương ai thì cảm thương.
Vậy người ta được chọn không phải vì muốn hay chạy vạy,
nhưng vì được Thiên Chúa thương xót.
Quả thế, trong Kinh Thánh,
Thiên Chúa cũng nói với Pharaô:
Ta đã cất nhắc ngươi lên,
chính là để dùng ngươi làm cớ cho mọi người thấy sức mạnh của Ta,
và để cho danh Ta lẫy lừng trên khắp hoàn cầu.
Vậy Thiên Chúa thương xót ai là tuỳ ý Ngài,
và làm cho ai ra cứng cổ cũng tuỳ ý Ngài.”
(Thư Rôma 9: 15-17)


Để minh-họa những điều nêu trên, tưởng cũng nên đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta đi vào vùng trời truyện kể có những tình-tiết khiến ta nhớ hoài nhớ mãi một tình-tự làm đoạn kết cho bài phiếm lai rai nhưng không dài, của ngày mai như sau:


“Tại bệnh viện tâm thần nọ, để kiểm tra lần cuối cùng trước khi cho bệnh nhân xuất viện các bác sĩ bèn bàn nhau cho vẽ một cái cửa giả lên tường rồi bảo:
-Các anh hãy mở cánh cửa đó ra là có thể về nhà được rồi!
Các bệnh nhân vui vẻ xông vào cánh cửa vừa mới vẽ để đi ra, duy có một người đứng từ xa không làm gì chỉ cười ngặt nghẽo. Thấy vậy, các bác sĩ vui mừng vì nghĩ anh này đã hết bệnh liền đến gần rồi hỏi:
-Tại sao anh cười?
Bệnh nhân kia bèn đáp:
-Tại vì tôi thấy bọn họ ngu quá.
Các bác sĩ mừng thầm, nhưng để chắc ăn hơn, bèn hỏi tiếp:
-Thế tại sao anh lại bảo bọn họ ngu?
Anh này giơ cái xẻng đang cầm trong tay bèn trả lời:
-Tại vì tui đang giữ chìa khóa cửa ấy đây thì lại sao bọn chúng có thể mớ cái cửa đó ra được!” (Truyện cười đọc trên báo)  


Truyện đọc rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ thế hiên ngang mà tiến bước về phía trước mang theo niềm tin tưởng mình đã tạo cho chính mình và mọi người. Ở đời.


Trần Ngọc Mười Hai
Và những tình-tự còn đó
Vẫn không buồn thuở nào đây.