Tuesday, 27 November 2018

“Ai ngắt đóa quỳnh hương dưới trăng”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần 34 Thường niên năm B 25-11-2018

“Ai ngắt đóa quỳnh hương dưới trăng”
“Đêm lắng mơ hồ tai gió nghe, dạt về
Tiếng mưa buồn rơi có khi, tình cờ
Giữa dòng trí nhớ.”
(Hoàng Quốc Bảo - Tango xanh)

(Tv 94: 17)

Tango Xanh hôm ấy, lại thấy đóa quỳnh hương bị ngắt dưới trăng. Thế còn, Tango vàng/đỏ dẫu có bị ngắt nhiều đoạn cách nào đi nữa, lại cũng tương-tự lời ca còn hát mãi, như sau:    

“Đời vắng mấy cung nguyệt cầm cũng chẳng ai hay.
Đời cách xa bao ngày vui, thơ ấu
Rồi...
Ai cười ai giữa đêm mùa trăng long lanh
Ai cười vỡ tiếng đàn trầm mỏng manh...
Rừng lá khua bốn mùa
Đời gió đi không về ... tựa đời ta
Quê hương biếc xanh là nhớ
Trăng khuya rớt xô hiên nhà.
Mênh mang tiếng thơ chuông ngày cũ ,
Ai qua áo bay (bước chân) cơ hồ
Ngỡ là mơ......! 

Ai ngắt đóa quỳnh hương dưới trăng
Đêm lắng mơ hồ tai gió nghe, dạt về
Tiếng mưa buồn rơi có khi, tình cờ
Giữa dòng trí nhớ.

Đời vắng mấy cung nguyệt cầm
cũng chẳng ai hay.
Đời cách xa bao ngày vui, thơ ấu
Rồi...
Ai cười ai giữa
đêm mùa trăng long lanh
Ai cười vỡ tiếng đàn trầm mỏng manh...
Rừng lá khua bốn mùa
Đời gió đi không về ... tựa đời ta
Quê hương biếc xanh là nhớ
Trăng khuya rớt xô hiên nhà
Mênh mang tiếng thơ chuông ngày cũ
Ai qua áo bay (bước chân) cơ hồ
Ngỡ là mơ......!”
(Hoàng Quốc Bảo – bđd)

Vâng. Văn thơ, nhạc tình có là giòng chảy mạnh/nhẹ thế nào đi nữa, thì người nghệ sĩ lại vẫn biểu-lộ qua văn hoa, trữ tình rất thần sầu. Còn, nhà Đạo khi bàn về cõi đời đi Đạo cũng thấy khó mà dùng ảnh/hình cho hợp với lẽ đạo.

Vâng. Nhà Đạo bàn về thần-học tu-đức, tức: học hỏi về đấng bậc thần thiêng thánh hóa trên thiên quốc, vẫn thấy những điều mà người viết hôm nay, ở đây hay ở đó, có nhận-định đích-xác như sau:

“Chúa mà chẳng thương phù trợ,
thì hồn tôi đã vào chốn thinh lặng ngàn thu.”
(Tv 94: 17)

Chốn thinh-lặng ngàn thu” ấy, nay là chốn vắng êm đềm để nguyện-cầu như đấng thánh hiền từng khuyên bảo:

“Còn anh em, khi cầu nguyện,
hãy vào phòng, đóng cửa lại,
và cầu nguyện cùng Cha của anh em,
Đấng hiện diện nơi kín đáo.
Và Cha của anh em,
Đấng thấu suốt những gì kín đáo,
sẽ trả lại cho anh em.”
(Mt 6: 6)

Xem thế thì, lặng thinh chốn vắng êm đềm nhà Đạo không chỉ là chốn thinh-lặng để nguyện cầu hoặc để làm những việc cần thiết cho mình và cho người. Nghĩ thế rồi, nay mời/bạn mời tôi, ta nghe thêm xác-quyết của đấng bậc nổi-cộm ở Sydney từng giải đáp các thắc-mắc, như bên dưới:

“Có người bạn rất thân từng nói với tôi rằng: một trong các đấng bậc được Đức Phanxicô tấn phong thành bậc hiển thánh hôm 14 tháng 10 năm 2018 trong những ngày có Thượng Hội Đồng Giám Mục ở Rôma bàn về giới trẻ, lại là một thiếu niên ở độ tuổi “tin” (tức “teenagers”) qua đời hồi còn khá trẻ. Bạn ấy là ai, xin Cha cho biết thêm chi tiết.” (Một người từng hỏi và hỏi).

Và cứ có người hỏi là đấng bậc nhà mình lại xung phong đáp trả bằng những lời sau đây:

“Đúng thế. Vị thánh trẻ vừa được Đức Phanxicô tấn phong thành bậc hiển-thánh có tên là: Nunzio Sulprizio, một thanh niên người Ý sinh tại Pescosansonesco, tỉnh Pescara hồi tháng Tư năm 1817. Khi mới lên 3, thân phụ em đã qua đời và em gái của em sau đó vài tháng cũng theo chân người cha ruột về với Chúa. Hai năm sau, mẹ của em thành gia-thất với người cha ghẻ có tuổi đời khá cao từng đối xử với em Nunzio một cách quá quắt. Khi ấy, Nuxzio về với mẹ và gần gũi bà ngoại em hơn bao giờ hết.

Kịp đến tuổi đi học ở trường địa phương, tại đó em bắt đầu tập đọc và tập viết cũng rất hăng. Thời thơ ấu, em vẫn đi nhà thờ dự thánh lễ đều đặn và đã biết yêu thương Đức Giêsu cùng bậc thánh hiền là những vị mà em hết lòng muốn bắt chước.      

Một tháng trước ngày sinh thứ sáu của mình, Nunzio lại mất mẹ nên em đành phải về sống với bà ngoại là người có niềm tin rất mạnh mẽ đã đưa em đến nhà thờ dự thánh lễ rất đều đặn. Nhưng, bà ngoại lại cũng theo chân người thân đi về nhà Cha lúc Nuzio chỉ mới lên 9.

Lúc này thì Nunzio lại phải về sống với cậu ruội là người đưa em đến lò rèn để học việc nhưng ông lại đối xử với Nunzio rất tàn tệ bắt em làm việc nhiều giờ trong điều kiện thời tiết giá băng hoặc nóng khủng khiếp và còn buộc em phải khiêng đồ nặng đem giao cho khách ngoài sức chịu đựng của con trẻ.

Vốn là người khai-thác sức lao-động một cách triệt-để, người cậu này không cho phép Nunzio đến trường học-hành gì hết, đôi khi còn bắt em đi giao hàng đến vùng sâu vùng xa mà chẳng cho em thức ăn đi đường làm thực-phẩm. Đàng khác, ông còn la mắng/chửi rủa em đến thậm tệ mỗi khi phật ý bất cứ chuyện gì. Lúc ấy, Nunzio đành phải tìm cách ẩn náu phía sau Nhà Tạm chính là nơi em được tiếp xúc với Đức Giêsu như người bạn tri kỷ.

Cộng với cung cách hành-xử bất nhân như thế, kịp đến khi em tròn 14 tuổi, Nunzio mắc phải căn bệnh ngặt nghèo khi bị ông cậu bắt em phải làm một số công việc vặt vãnh bên ngoài trời đông lạnh để rồi chiều tối hôm ấy chân em bị sưng tấy lên vì phù thủng. Dù vậy, em vẫn không cho người cậu biết rõ sự thể cho đến sáng ngày hôm sau em không còn sức đứng vững được nữa, nhưng ông cậu vẫn chẳng bận tâm về sự đau đớn này.

Do đôi chân bị sưng vù phù thủng, Nunzio bèn phải chạy ra giòng suối gần làng mà rửa cho sạch vết mưng, rồi cứ thế em lần chuỗi Mân Côi xin Đức Mẹ cầu bàu cho mau khỏi. Và ít lâu sau đó, em buộc phải nhập-viện mới phát giác ra là mình bị chứng hoại-tử nơi chân. Em cắn răng chịu đựng cơn đau điếng và phó dâng mọi sự cho Chúa.

Vào những lần cơn đau lên quá mức chịu đựng, người trẻ Nunzio cũng biết thưa thốt sự việc với nhiều người rằng: “Đức Giêsu từng đau đớn cam lòng chịu đựng vì con người chúng ta nhờ công-trạng của Ngài nên ta sẽ chờ đợi sự sống vĩnh cửu. Giả như chúng ta có chịu đau một chút ít, ta cũng sẽ nếm mùi hạnh-phúc chốn thiên-đường.” Hoặc:
-Đức Giêsu từng đau khổ nhiều vì tôi, nên tại sao tôi lại không chịu đau chịu cực vì Ngài?
-Tôi những muốn chết đi để cứu rỗi dù chỉ một linh hồn cũng đủ.

Và, khi có người hỏi: Ai là người lo lắng chăm sóc em, thì Nunzio bèn nhanh chóng trả lời:
-Có Chúa quan phòng mọi sự, em chẳng muốn gì hơn.

Trong lúc ở bệnh viện, Nunzio có gặp một người chú họ muốn giới thiệu em với một vị đại tá trong quân-đội để nhờ ông coi ngó em như cha đẻ và chấp-nhận trang-trải mọi tổn-phí thuốc men cùng việc chữa trị. Năm 1835, khi Nunzio được 18 tuổi, các bác sĩ đành phải quyết định cắt cụt ống chân của em, nhưng cơn đau vẫn tiếp-tục hành hạ, không suy giảm chút nào                               

Sức khỏe của Nunzio cứ thế tiều tụy dần và cơn sốt vẫn cứ gia-tăng, nhưng Nunzio lại vẫn phó mặc mọi sự trong tay Chúa, biết rõ giây phút cuối đời đã gần kề. Anh yêu cầu các đấng ban cho mình một cây thập-tự và đã lãnh-nhận các phép bí tích trước khi phó dâng linh-hồn mình trong tay Chúa, vào tháng Năm 1836 hưởng dương 19 tuổi. Anh chết vì ung-thư xương. Một trong những việc cuối cùng anh nói với viên đại-tá đã trở-thành bạn chí thân rằng: “Hãy cứ vui lên đi anh bạn. Từ chốn thiên-đường, tôi sẽ hộ phù anh luôn mãi.”

Thế đó, là danh tiếng tên tuổi nổi cộm về sự thánh thiện của người trẻ tên Nunzio đã được coi là thân thế/sự nghiệp để được phong chân phước được mở ra năm 1843, tức chỉ 7 năm sau khi anh qua đời. Năm 1891, Đức Giáo Hoàng Lêô 13 đã chấp-thuận ký sắc lệnh về các nhân-đức anh-hùng của người trẻ và tuyên-bố Nunzio là ‘Tôi tớ Chúa’ và đề-nghị anh làm quan thày gương mẫu cho bậc thợ thuyền.

Tháng 12 năm 1963, Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ Lục đã phong á thánh cho anh. Tháng 10 năm 2018 vừa qua, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cùng lúc phong thánh cho Đức Phaolô Đệ Lục và Nunzio Sulprizio. Ngoài ra, trong buổi phong thánh hôm ấy, Đức Phanxicô đã gọi Nunzio là đấng thánh can đảm, một người trẻ khiêm tốn từng giáp mặt với Đức Giêsu trong cơn khổ đau kéo dài, trong thinh lặng và trong việc phó thác toàn thân cho Chúa.”

Trong buổi phong á thánh hôm ấy, Đức thánh Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục có nói: Nunzio Sulprizio sẽ nói cho mọi người chúng ta biết rằng ta không nên coi thời trẻ như tuổi tự do đam mê, sa ngã không tránh khỏi hoặc thời thử thách khó vượt qua hoặc cơn suy đồi khủng hoảng, cũng chẳng là thời kỳ ích kỷ đầy tệ hại. Đúng hơn ngài sẽ kể cho ta biết tuổi trẻ còn là ân-huệ Chúa ban… Ngài sẽ chỉ cho ta biết, hỡi các bạn trẻ, không có tuổi nào khác ngoài tuổi trẻ của các bạn lại thích hợp với lý-tưởng cao cả, với đặc-trưng anh-hùng cao-thượng luôn dính liền với các đòi hỏi về tư-tưởng và hành động.

Thánh Nunzio sẽ dạy cho các bạn biết cách phục-hưng thế-giới trong đó Chúa quan phòng sẽ gọi
các bạn đi vào đó để sống. Thế nên, cũng tùy các bạn có biết cống hiến chính mình cho việc cứu
rỗi xã hội đang cần đến các linh hồn mạnh mẽ, không sợ hãi điều gì. Thánh Nunzio sẽ dạy cho các bạn biết rằng lời lẽ cao cả của Đức Kitô là: sự hy sinh hãm mình, là thập giá để cứu rỗi chính mình và cứu độ thế giới. Lớp trẻ là những người hiểu biết ơn gọi cao cả này, hơn ai hết.” (X. Lm John Flader, Pain became youth’s path, The Catholic Weekly 11/11/2018 tr. 21)

Xem thế thì, lớp người trẻ đầy sức sống hoặc đám cao niên đang ngày càng lão-hóa rất nhiều thứ, cuộc đời vẫn cần nhiều hỗ trợ từ các đấng bậc hiền lành ở mọi nơi, mọi thời, rất thông thoáng. Trẻ hay già, vẫn là lớp người mạnh mẽ sẽ đứng lên lập lại trật tự thế-giới như nhân-loại đòi hỏi và mong đợi.

Thế đó, là yêu cầu và là mong đợi của mọi người, rất hôm nay. Nhằm hỗ trợ nhận-định này trên thực tế, cũng nên đi vào vùng trời truyện kể có các câu truyện dân gian nhiều kể lể làm đoạn kết như sau: 

“Truyện rằng,
Suốt năm qua, Dan Andy đau khổ và bất lực nhìn vợ bị một chứng bệnh kỳ lạ dày vò: Betty luôn luôn sợ hãi khi đi tới nơi nào trống trải hoặc đông người.

Bác sĩ bảo đó là chứng sợ bãi rộng và môi trường lạ. Do bệnh tật, Betty phải nghỉ việc, chỉ ở nhà làm một số việc nhẹ. Tuy thế, bệnh tình không vì vậy mà chuyển biến tốt. Thậm chí có hôm chị phát bệnh ngay khi đang mua sắm ở siêu thị. Đi đâu chị cũng phải có chồng kèm bên, nếu không thì chẳng dám ra khỏi nhà.

Một hôm Dan nhận được điện thoại của anh bạn, hỏi xem Dan có cần nuôi một chú lợn làm cảnh không: 
-Con lợn này tên là Rode, 4 tháng tuổi, thông minh hơn bất cứ con chó nào. Nó thích sống với người. Nếu Betty có con Rode bên cạnh, chắc hẳn cô ấy và nó sẽ trở thành đôi bạn thân đấy!

Betty đứng bên cạnh nghe được câu chuyện điện thoại ấy, chị nhìn Dan nguây nguẩy lắc đầu. Dan khuyên vợ: 
-Em thử nghĩ xem, có lẽ một con vật đặc biệt đáng yêu sẽ giúp em được gì chăng ?

Betty nhớ lại một cuốn sách tâm lý học chị từng đọc nói rằng một số loài vật có thể giúp con người vượt qua các trục trặc về tâm lý. 
-Một con lợn sao lại có thể giúp làm em bớt căng thẳng được nhỉ? Nhưng nếu chúng mình không thích nó nữa thì chắc là bà con nông dân sẽ vui lòng nhận nuôi nó đấy, chị nói.

Con lợn được chở đến ngay. Trông nó hãy còn nhỏ, nặng chừng 10 cân, vẻ mặt rất nghịch ngợm, cứ như một thùng nước có 4 cái cọc thòi ra ấy. Dan không nhịn được cười. 

-Trông cái mũi nó kìa, chắc là chạy nhanh quá đâm vào tường nên mới bẹt dí thế. Dan nhìn vợ vui vẻ nói. Betty không tỏ thái độ gì, chỉ lạnh nhạt bảo: 

-Ôi dào, lèo tèo vài sợi lông, có lẽ lông cái bàn chải của em còn nhiều hơn nó đấy.

Dan mở cái cũi nhốt con lợn. Rode vẫy đuôi chạy ra. Nó liếc nhìn xung quanh một tý rồi chạy tới chỗ Betty. Chị ngạc nhiên ngồi thụp xuống ngắm kỹ chú lợn con. Rode tiến lại, giơ hai chân trước lên và áp đầu vào lưng Betty, rồi lấy mũi hôn lên mặt chị. Betty bất giác cười thành tiếng. Đã lâu lắm chị không cười rồi.

Sau đấy chú lợn con bắt đầu bận rộn chạy đi chạy lại khắp mọi chỗ, ra vẻ như đi tuần tra lãnh địa của mình. Chạy chán rồi nó nằm bệt dưới sàn nhà nhìn Betty tỏ ý xin ăn. Khi Dan bế nó lên đặt trên đùi mình, chú ỉn con thân thiết thè cái lưỡi ra liếm bộ râu của anh.

Rode rất ngoan. Mỗi khi nghe thấy Dan hoặc Betty huýt sáo, nó liền chạy ngay tới chỗ chủ nhân. Tối hôm ấy, khi Betty và Dan chuẩn bị lên gác đi ngủ, Rode bám theo sau cũng muốn lên gác, nhưng cái bụng bự của nó quá to nên dù đã cố hết sức, Rode vẫn không thể leo lên cầu thang được. Betty kê một cái giường trong bếp cho nó nằm rồi vỗ vỗ nó:
-Thế này được rồi ! Chào chú mày nhé!

Betty mọi hôm đều thấp thỏm sợ một ngày mới, thế mà sáng nay khi ngủ dậy chị bỗng dưng vội ra khỏi giường chạy xuống bếp xem con vật cưng của mình. Nghe thấy tiếng chân bà chủ, Rode lập tức chạy ra đón. Nó cứ cọ cọ mãi cái mũi của mình vào chân Betty khiến chị cảm thấy khoan khoái chẳng khác gì được xoa bóp. Từ hôm ấy trở đi, trò xoa bóp trở thành tiết mục thường xuyên hàng ngày mỗi sáng khi Betty và Rode gặp nhau. Chị cảm thấy mình như đắm chìm trong cảm giác khoan khoái do sự “xoa bóp” ấy đem lại. Ăn sáng xong, Rode theo Betty đi vào phòng làm việc của chị. Nó lặng lẽ duỗi người ra nằm sấp bên cạnh bàn. Khi nào Betty cảm thấy thần kinh căng thẳng, chị lại nghỉ tay bế Rode lên, thì thầm vài câu với nó, nhờ thế cảm giác bình tĩnh nhanh chóng trở lại với chị.

Rode nhanh chóng hòa nhập với cái gia đình nhỏ này, trở thành một thành viên trong nhà. Dan mua cho nó một cái giường mới, kê ngay cạnh giường Betty. Chú ỉn con nhìn thấy giường mới của mình bèn nghĩ cách “cải tạo”: nó cắn rách chiếc gối dạ hoa Scotland, lôi các vật lót trong gối ra rồi khoái trá nằm lên đống lót mềm ấy.

Một buổi tối, Dan và Betty kê ghế ngồi xem truyền hình. Con Rode cũng dùng mũi đẩy một chiếc ghế đến bên họ, chễm chệ ngồi lên đó xem truyền hình, dường như nó muốn nói: 

-Ê kìa, chớ có quên cháu đấy nhé! Nó rất chăm chú xem, mỗi khi thấy người trên màn hình chuyển động, đầu nó cũng lắc lư theo.

Rode không thích tiếng động lớn, nhất là tiếng chuông điện thoại. Cu cậu khám phá ra một điều là mỗi khi Betty cầm lấy ống nghe thì chuông hết kêu. Thế là mỗi khi Betty không có mặt mà nghe thấy chuông điện thoại kêu thì Rode bèn lấy mõm giằng lấy dây điện thoại, ống nghe bị nó lôi xuống nằm chỏng chơ trên sàn, còn nó thì liên tục kêu ư ử vào cái ống nghe ấy.

Hôm ấy có một vị khách đến thăm Betty, thấy chú lợn con, ông ta thích quá. Từ đó trở đi hàng xóm láng giềng ai cũng biết nhà Betty có một con vật cưng rất hay, mỗi lần có dịp đi qua nhà chị, bao giờ họ cũng ghé vào xem con Rode. Để tiện gọi hơn, lũ trẻ con hàng xóm gọi chú ỉn ấy bằng một cái tên mới là Pick. Chẳng bao lâu ai cũng biết cái tên này.

Người ta thường kéo đến nhà Betty để xem con Pick. Mới đầu thấy mọi người túm năm tụm ba ở nhà mình, Betty có chút căng thẳng, nhưng khi biết họ đến chỉ để xem con Pick, chị dần dần bớt cảm giác ấy, lâu ngày lại còn thích có nhiều người đến nhà mình nữa. Dan bảo vợ: 
-Bây giờ anh cảm thấy mỗi lần về nhà thật là vui. Gặp em, câu đầu tiên em hỏi anh là ‘Anh thử đoán xem hôm nay con Pick làm những trò gì không nào? Chúng mình luôn luôn nói về con Pick, cười cười nói nói thật là vui. Anh có cảm tưởng như chúng ta đang trở lại cái thời mới cưới ấy.
-Đúng thế! Betty nói:
-Anh biết con Pick hôm nay làm gì không nào? Suýt nữa thì em hết dở vì nó đấy. 
Thì ra mọi khi Pick ta rất thích bám theo chân bà chủ ra ra vào vào, nó trông thấy Betty lúc thì mở cửa, lúc thì đóng cửa. Sáng nay, Betty ra khỏi phòng mà Pick không đi theo, nó bắt chước tự đóng cửa lấy. Thế là cửa bị khóa ở trong. May sao Betty có mang theo chìa khóa nên mới không xảy ra rắc rối.

Từ hôm ấy trở đi, Betty ngày càng thấy con Pick này đúng là chuyên gia siêu hạng về khoản bắt chước. Nó có thể nhanh chóng học được mọi động tác của bà chủ. Betty lắc đầu, nó cũng lắc đầu theo. Betty xoay người, nó cũng xoay theo. Thế là chị bắt đầu dạy nó học một số động tác mà chỉ những con chó thông minh nhất mới học được.

Có Pick bên mình, Betty bắt đầu tìm lại con người đích thực của chị. Ông bố Betty thấy con Pick cũng rất thích, nhiều lần ông khuyên con gái mang Pick đến cuộc họp mặt của những người cao tuổi trong khu phố để giúp các cụ ông cụ bà được vui vẻ khuây khỏa.

Một buổi tối, Dan về nhà mang theo một chiếc xe nôi. Betty hỏi: “Anh định làm gì thế? … À, em hiểu rồi: một chiếc xe đẩy dành cho chú ỉn con. Anh định dùng xe này để đưa con Pick đi dự cuộc gặp của những người cao tuổi chứ gì!”

Được người nhà khuyến khích động viên, rốt cuộc Betty quyết tâm đem con Pick đi dự cuộc gặp mặt của chi hội người cao tuổi khu phố. Khi ngồi trên xe taxi, chị cảm thấy mình căng thẳng quá, thậm chí có chút run run. Con Pick ấp người nó vào chị. Betty nhè nhẹ vuốt ve nó, dần dà tâm trạng chị trở lại bình tĩnh.

Lúc xuống taxi, chị đặt con Pick lên xe nôi rồi đẩy nó vào hội trường. Dọc đường, các ông bà già ai cũng hỏi: 

-Cái gì ở trong xe thế? Vào đến nơi, Betty đặt con Pick xuống, nó lập tức chạy tới một bà cao tuổi nhất và cọ cọ mũi lên mặt bà. Những người khác xúm lại xem chú lợn con. Ai nấy vừa cười vui vừa trêu nó. Họ hỏi Betty nhiều câu. Lúc mới đầu chị còn có chút do dự khi trả lời, về sau càng nói chị càng hưng phấn.
Chị bảo: 

-Thật ra, con lợn này ngoan hơn chó. Nó rất ưa sạch sẽ, nó thích nhất tắm đấy ạ!

Để chứng minh điều đó, chị gọi con Pick và bảo nó rằng nó là một chú lợn rất đẹp. Nghe thế, Pick ta lắc lư mình chạy tới, ra vẻ tự hào lắm. Lúc đó, Betty lại trách nó trông nhếch nhác quá. Thế là nó xấu hổ cúi đầu xuống; rồi để tỏ ý thành thật, nó còn lè lưỡi ra. Mọi người thấy thế đều ôm bụng cười.

Sau lần ấy, Betty quyết định đưa con Pick đến thăm viện dưỡng lão gần nhà để góp vui cho nhiều cụ già hơn. Chị đẩy chiếc xe nôi chở con Pick đến thăm từng nhà. Tại nhà nọ, chị trông thấy một bà già gục đầu ngồi trên xe lăn, chăm chăm nhìn hai bàn tay mình không nói năng gì. Khi con Pick hiện ra trước mắt, bà bỗng dưng ngửng đầu lên, khuôn mặt nở một nụ cười. Bà giơ tay đan chéo trước ngực, hỏi:

-Gì thế?”
Betty hỏi lại: 
-Thưa bà, bà có muốn ôm nó không ạ? Chị y tá bảo: 
-Bà ấy từ ngày chồng chết đến giờ chưa nói một câu nào, chưa cười một lần nào, chẳng quan tâm đến bất cứ cái gì cả. 

Betty bế con Pick đưa cho bà. Nó ngoan ngoãn ngồi trên đùi bà, lim dim mắt, nhếch cái miệng, dường như mỉm cười với bà lão.

Từ hôm ấy trở đi, mỗi lần Betty và Pick vừa đến cổng nhà dưỡng lão đã có người reo lên: “Con Pick đến đây kìa!” Rồi mọi người nhao nhao chạy ra để xem chú ỉn con láu lỉnh.

Sau mỗi lần đi thăm những người già không nơi nương tựa ấy trở về, Betty đều cảm thấy bệnh tình của mình thuyên giảm một chút. Chị bảo Dan: 

-Trước kia em rất hận mình, nhưng bây giờ em bắt đầu cảm ơn mỗi một ngày Thượng Đế ban tặng cho em; mà tất cả những cái đó đều là nhờ có Pick.

Nhờ có con Pick mà cả thị trấn đều biết Dan và Betty. Có lần hai vợ chồng chị đang mua sắm ở siêu thị, mấy đứa trẻ tinh nghịch reo lên: 

-Ô, bố và mẹ của chú lợn con cũng đang ở đây kìa! 
Nghe thấy thế, Dan và Betty ngượng nghịu vẫy tay chào lũ trẻ.
Có người hỏi Dan: 
-Vậy rốt cuộc con Pick là gì thế nhỉ? 
Dan nói: 
-Đối với chúng tôi, nó là một con lợn. Nhưng Pick thì lại nghĩ nó là một con người. 
Có lần Dan còn dẫn một câu nói của văn hào kiêm cựu Thủ tướng Anh Churchill: 
-Chó bao giờ cũng nhìn chúng ta từ dưới lên. Mèo nhìn chúng ta từ trên xuống. Còn loài lợn thì nhìn chúng ta với con mắt bình đẳng. Nếu lúc ấy có con Pick ở bên thì nó nhất định sẽ liên tục kêu ư ử, như để xác nhận câu nói ấy là đúng.”  (Nguồn: Reader’s Digest (Mỹ) Nguyễn Hải Hoành dịch qua bản Trung văn của Haiwai Wenzhai)

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ trông mong đợi chở
hết mọi người
làm như thế.     

Tuesday, 13 November 2018

“Còn tiếng hát ta ru trời, ta ru đời, ru người”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần 33 Thường niên năm B 18-11-2018

“Còn tiếng hát ta ru trời, ta ru đời, ru người”
Rồi nghe ra một tiếng khóc lẻ loi.”
(Trần Quang Lộc/Nguyễn Đình Toàn - Còn Tiếng Hát Gửi Người)

(Mt 26: 38-39)  

Vâng. “Tiếng khóc lẻ loi” gửi cho người, nào có khác “tiếng hát ru trời, ru đời và ru người!” Khóc và ru như thế, lại là nỗi buồn của người đời, suốt nhiều thời. Và, “tiếng gửi người” lại vẫn sầu buồn hơn cả tiếng hát ru đời và ru người là thế. Và, dưới đây cũng là “Tiếng gửi người” khá buồn cười, như một chuyện tiếu lâm nhàn nhạt, thôi:  

“Tiếu lâm kể rằng:
Trong một quán rượu, có anh thanh niên nọ đến gặp người bạn đang ngồi uống một mình, bèn bảo:
-Trông anh buồn quá! Có chuyện gì thế?
-Tôi buồn là vì mẹ tôi mới vừa mất vào tháng 6, để lại cho tôi chỉ có ba nghìn đôla, thôi.
-Xin thành thật chia buồn cùng anh.
-Ấy chưa hết! Vào tháng 7 sau đó, bố tôi lại cũng chết và để lại có 7 nghìn đô.
-Trời đất! Chỉ trong vòng 2 tháng trời mà anh đã mất đi những người thân yêu nhất. Tôi cũng hiểu
 vì sao anh lại buồn đến mức độ này. 
-Chưa hết đâu anh ạ. Tháng 8 vừa rồi, dì tôi lại chết để lại cho tôi 10 nghìn đô…
-Anh quả là người bất hạnh nhất trên đời…
-Nhưng có điều đáng buồn hơn cả, là: tháng này chả ma nào chết tốt!”
(Trích “truyện buồn thế kỷ” thả trên mạng rộng khắp chốn)

Vâng. Chuyện thế kỷ, thường vẫn buồn là thế. Vẫn cứ âu sầu hơn mọi chuyện. Nhưng, có sầu và có buồn đến độ thế, cũng chẳng sao. Bởi, đã là chuyện ‘buồn thế kỷ’ rồi, thì còn gì buồn hơn? Khác nào chuyện buồn của người Đạo Chúa, được kể bằng lời ca hiền từ vào tối hôm trình-diễn Hát Cho Nhau Nghe 13/10/2018, như sau:

“Hồn có lúc khói hương bay,
tình có lúc như đèn soi.
Chập chờn về đâu đây,
còn vang vọng tiếng chân người.
Thầm bước tới kêu rêu hoài,
đêm trăng động dấu hài,
Từng cơn mưa về đưa lá vàng rơi.
Còn tiếng hát chất ngất trên môi,
Và nước mắt thay ngày vui,
Một lần tình xa là vĩnh viễn xa người.

Người đi đã quá xa,
chỉ còn ta với bóng ta,
Và mùi hương đã hoá ra hương mê đời.
hương nay lạnh giá,
Tình Em như gió qua,
còn thoảng nơi chăn gối xưa.
Một vì sao vừa nghe đã vỡ,
Trong tâm hồn anh mềm như tơ.
Tình dẫu cố nuôi cho dài thương cho hồn rã rời.
Đành xem như là một giấc mộng thôi.
Chợt thức giấc ngó quanh đời,
Chỉ thấy bóng em tạnh hơi.
Một lần xa nhau là ta mất nhau rồi. 
(Trần Quang Lộc –Nguyễn Đình Toàn: bđd)

Vâng. “Chỉ thấy bóng em tạnh hơi” cũng đã buồn. Thế nên, có nỗi niềm nào buồn hơn câu kế tiếp, những hát rằng: “Một lần xa nhau là ta mất nhau rồi…” Quả thật, đây là nỗi buồn tê tái, hơn “Tiếng Gửi Người” của nhà thơ được phụ soạn thêm bằng thứ âm-nhạc da-diết, điên-dại với những ca từ như: “đành xem (đó) như …giấc mộng thôi”.

Hỡi người nghệ sĩ từng hát “Tiếng gửi người” đến liên hồi, hôm nay đây, nhà Đạo chúng tôi cũng thấy mối tình buồn như người viết nhạc qua lời hỏi/đáp không kém phần da-diết, điên-dại như sau:

“Thưa Cha,

Hiện con đang làm công việc dọn dẹp phòng ốc mà công ty con đã trúng thầu chăm sóc bệnh xá vẫn dung-nạp các bà mẹ muốn phá bỏ thai-nhi của bà. Hôm nay đây, nhân cơ hội này, con xin được phép hỏi cha một câu: ‘Giả như con buộc phải giải-quyết các thai-nhi bị trừ khử cho gọn/sạch, thì thử hỏi: con có được phép làm các việc như thế không? Con đây, hoàn toàn chống lại chuyện phá thai, nhưng cũng không muốn để luột mất cơ-hội có công ăn việc làm vững chãi, thế nên thật khó cho con khi suy tính…” (Một độc giả viết thư hỏi đấng bậc nhà Đạo nhưng lại không cho biết tên của mình).

Người đọc ở đây, hôm nay, đâu cần biết tên tuổi của các vị đưa ra thắc mắc, với hỏi han. Bởi, cha đạo người Tây, lâu nay chỉ cần bà con đưa thắc mắc chưa giải quyết để rồi tìm cách trả lời cho xong việc. Và, đáp-từ của ngài cũng quanh quẩn mỗi thế này:

“Nhiều người thấy mình cũng rơi vào tình-huống giống hệt như trường-hợp anh/chị vừa nêu ra để học biết những gì khiến họ chống-đối trên căn bản đạo đức. Sự việc anh/chị thắc mắc như trên, không chỉ xảy ra ở sở làm nào đó thôi, nhưng còn xuất-hiện ở nhiều nơi khác trong đời. Thành thử, tôi nghĩ: mình cũng nên coi đây là chuyện quan-trọng, khiến ta cần tìm hiểu cho rõ, hầu giải quyết các vấn-đề khó xử về luân-lý.

Trường hợp anh/chị nêu ra đây, là điều mà các thần-học-gia luân-lý gọi là ‘cộng-tác vào sự tội’, theo đó người trong cuộc được yêu-cầu có hành vi đạo-đức, chức-năng. Nhưng, theo cách nào đó, việc ấy lại hợp-tác vào hành-vi đầy lỗi phạm. Thành thử, vấn-đề là hỏi rằng: mọi người, dù nam hay nữ, có thể cộng-tác vào sự việc như thế không?

Để trả lời, trước nhất cần phân-biệt rõ sự việc hầu giúp ta giải-quyết vấn đề đặt ra. Trước nhất, hỏi rằng: người trong cuộc có đồng ý với hành-động của những người được kể ở đây không? Và, ta có bằng lòng hợp-tác hoặc chống-đối chuyện như thế chứ? Giả như ai đó đồng thuận với hành-động đầy lỗi tội mà ta gọi là hợp-tác vào sự tội thì sao? Và, như ta biết, điều này bao giờ cũng là chuyện sai trái hết.

Lấy ví dụ, người nào đó tuy không chống-đối chuyện phá thai, nhưng lại chấp-nhận làm thư ký ngồi quầy tiếp khách hoặc nhận chân kế-toán công-tác ở bệnh xá phá thai, như thế tức là: đã hợp-tác với hành-động phá thai theo cách nào đó rồi.

Tuy nhiên, giả như những người chuyên chống đối hành-vi đầy lỗi tội, nhưng theo cách nào đó, hẳn cũng thấy mình bắt buộc phải hợp-tác nhận làm công việc mà ta gọi là ‘hợp-lực theo thể chất mất rồi. Thật ra, một số trường-hợp trong đó cho thấy việc hợp-lực theo thể-chất có lẽ cũng được phép làm.

Nhằm định-vị việc này, trước nhất ta phải tự hỏi xem việc hợp-lực nói ở đây có nối-kết chặt-chẽ với hành-động đầy lỗi tội không, hay chỉ là ‘hợp-tác từ xa’ kết-nối với việc ấy? Ở trường hợp trước, ta gọi đó là hợp-lực theo cách rất gần và ở trường-hợp sau, ta gọi đó là hợp-lực từ xa. Đương nhiên, trong cuộc sống đời thường, ta có hàng loạt các cấp-độ hợp-tác rất gần hoặc hợp-lực từ xa thật không thiếu.

Nhưng, cứ như nguyên tắc luân-lý lâu nay được được áp-dụng vẫn bảo rằng: hành-động nào lại gần cận hành-vi đầy lỗi tội, thì lý-do gây ra càng mạnh-mẽ hơn, cốt để con người tham-gia làm công việc đó. Và, việc hợp-lực càng từ xa, thì ta càng dễ biện minh cho nó, nhiều hơn nữa.

Lấy ví dụ một trường hợp phá thai có y tá hoặc nhân-viên trợ-lực nọ làm việc tại bệnh xá phá thai, tự bản-chất, đã hợp-tác một cách rất gần cận, khi tiếp-viên ngồi quầy hoặc thư-ký làm việc tại một nơi xa-xôi tương-tự như nhân-viên lo dọn dẹp vệ-sinh hoặc chăm sóc vườn tược, vẫn làm việc theo cách từ nơi xa xôi. Thiết nghĩ, người đi Đạo chẳng nên chấp-nhận làm công việc của nhân-viên toàn thời tại bệnh xá phá thai, vì làm thế cũng không khác gì mình đang hợp-tác thực-thi công việc hàng ngày, dù từ xa, trong việc giết chết trẻ thơ vô-tội. Tuy nhiên, có thể có hoàn cảnh nào đó người công-nhân thỉnh thoảng mới làm việc theo tư-cách người dọn dẹp vệ-sinh hoặc thợ làm vườn.

Điều này còn tùy sự khác biệt xảy ra sau đó. Vấn-đề là, giả như ai đó cộng-tác vào hành-động đầy lỗi phạm có được tiếp-tục tiến về phía trước không? Lấy ví dụ, người đặc-biệt nào đó khước-từ việc chùi dọn bệnh-xá phá-thai thì như có phần chắc chắn là nhiều người khác cũng sẽ làm thay công việc dọn dẹp ấy và như thế, thì chuyện phá thai lại cứ tiếp diễn, thôi.

Trường hợp này, lý-do ít chính đáng hơn hầu biện-minh cho việc chấp-nhận làm công việc này. Một ví dụ khác, giả như bạn của cô gái đăng ký phá thai và những người sống ở vùng quê đã từ-chối không chịu chuyên chở cô gái về thành-phố để thực-hiện việc phá thai, thì sự thể rất dễ xảy ra là: cô ta sẽ không có khả-năng xúc-tiến việc phá thai. Thế nên, cô gái được yêu-cầu lái xe chở bạn mình đi phá, phải từ-chối làm thế là vì cô không thể ngăn-cản việc phá thai vào ngày đặc biệt và có thể cô sẽ bảo là bạn không cùng mình đi phá.

Cuối cùng thì, việc ta có quan-tâm đến chuyện hợp-tác phá thai hay không lại là sức mạnh tạo lý do tự hỏi: tại sao con người phải suy-tính kỹ có nên hợp-tác phá thai hay không? Giả như đây là vấn-đề để luột mất công ăn việc làm và khó có thể kiếm được việc nào khác, thì điều này có thể chứng minh chuyện hợp-tác từ xa như trường hợp anh/chị vừa nêu ra.

Thế nhưng, giả như đó chỉ là vấn-đề kiếm kế sinh nhai hầu có nhiều tiền hơn, thì điều ấy không chứng minh được là việc hợp-lực vào hành-động nào đó cũng quái-ác như việc phá thai vậy. Nói chung, ta phải tìm cách tránh-né, quyết không hợp-tác vào việc gây nên tội, như từng thấy, vẫn có trường-hợp ta có thể chứng minh được như việc hợp-tác từ xa, theo thể-chất. Cuộc sống cho thấy nhiều tình-huống trong đó mọi người phải giáp-mặt, thế nên ta cần có quyết-định là có nên hợp-tác vào sự tội của người khác không.

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo có viết rằng: “Ta chịu trách-nhiệm về các lỗi/tội do người khác phạm khi ta hợp-lực vào đó: “Bằng hành-động cố ý tham-gia cách trực-tiếp vào việc ấy; bằng cách ra lệnh, khuyên nhủ, tán đồng hoặc chấp-thuận chúng; hoặc bằng cách không biểu-lộ hoặc không giấu diếm chúng khi ta có bổn phận phải làm thế; qua hành-động bao che/bênh-vực những người có hành-động xấu.” (X. Sách GLHTCG đoạn 1868).

Việc này tạo nhiều yếu-tố để ta suy-tư thêm nữa. Trường-hợp hỏi rằng mọi người có được phép dự đám cưới của người Công giáo nào đó ngoài công-viên hoặc bãi biển, thì xin bà con đọc cuốn do tôi soạn-thảo có tên là “Question Time 2, nxb Connor Court 2012, câu hỏi số 248.” (X. Lm John Flader, Co-Operation in sin, The Catholic Weekly 08/12/2013 tr. 10)               

Đời thường ở huyện, nhiều sự việc không suông sẻ như truyện cổ tích, rất dân gian. Thế nhưng, truyện dân gian/cổ tích nhiều lúc lại cũng giống như chuyện thật ở đời.

Có câu chuyện thật từng diễn ra ở đời, hơi giống truyện cổ tích mà người kể gọi là: “Câu chuyện có thật giống như truyện cổ tích”. Truyện này, được người kể mang tên nghe giống người nhà Phật, như sau:

“Trong thế chiến thứ hai, có một người đàn ông họ Wall tên là Martin. Martin Wall là một tù nhân chiến tranh, bị giam tại trại tù binh ở Siberia, từ đó phải rời xa quê hương Ucraina, bỏ lại người vợ là Anna và cậu con trai Jacob.

“Vài năm sau đó, anh ta và gia đình mỗi người một phương, bặt vô âm tín, thậm chí sau khi anh ta bị bắt một thời gian, đến cả việc người vợ Anna sinh thêm một đứa con gái tên là Sonia mà anh ta cũng không hề hay biết.

Thêm một vài năm nữa, Martin được trả tự do, lúc này anh ta kiệt quệ cả về sức khỏe lẫn tinh thần, nhìn bề ngoài như một ông già lọm khọm. Không chỉ có vậy, trên tay và chân của anh còn lưu lại nhiều vết sẹo, điều khiến anh đau lòng hơn nữa, là anh không còn khả năng sinh con.

Sau khi được ra tù, chuyện đầu tiên mà Martin làm là tìm kiếm cô vợ Anna, và cậu con trai Jacob. Cuối cùng, anh cũng nghe ngóng được tin tức của họ từ hội Chữ Thập Đỏ, người ta nói rằng vợ con của anh đã chết trên đường đi tới Siberia. Martin đau khổ tột độ. Đương nhiên, anh vẫn không hề biết rằng mình còn có một cô con gái trên thế gian này.

Thật ra thì, không lâu sau khi Martin bị bắt, Anna đã may mắn đưa được con trai Jacob chạy trốn đến nước Đức. Cô gặp được một đôi vợ chồng nông dân tốt bụng tại đó, đôi vợ chồng này đã giữ mẹ con họ ở lại. Vì vậy, Anna sống yên ổn tại đó, đồng thời cô cũng giúp họ làm việc đồng áng và dọn dẹp nhà cửa.

Cũng vào thời gian này, cô sinh đứa con gái Sonia. Anna tin rằng, chỉ cần Martin còn sống, họ nhất định sẽ trùng phùng, nhất định có thể tạo lập một cuộc sống mới. Nhưng, đời không là mơ. Vài năm sau đó, cuộc chiến tranh tàn khốc đã đưa nước Đức đến bờ vực của sự thất bại. Anna và hai đứa con vô cùng vui mừng, họ cho rằng sẽ có cơ hội để đoàn tụ với Martin.

Tuy nhiên, điều họ không ngờ là, Hồng quân Liên Xô đã tập trung những người dân di cư như họ lại, đưa họ lên một con tàu đông đúc như tàu chở súc vật, nói rằng đưa họ về nhà, nhưng thực chất là đưa họ đến trại tập trung đầy chết chóc ở Siberia.

Hi vọng của Anna vụt tắt, cô cảm thấy tuyệt vọng, rồi sinh bệnh nặng. Cô cảm thấy mình sống không được bao lâu nữa, chỉ ngày qua ngày cầu nguyện: “Cầu xin ông trời, hãy phù hộ cho hai đứa trẻ bất hạnh của con!”

Một ngày nọ, Anna gọi Jacob đến bên cạnh và nói: “Con trai của mẹ, mẹ bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không sống được bao lâu. Mẹ sẽ ở trên trời phù hộ các con. Jacob, con phải hứa với mẹ, không bao giờ được bỏ rơi em gái Sonia”.

Sáng sớm hôm sau, Anna qua đời. Người ta đem thi thể của cô chất lên xe hàng và chở đến một khu nghĩa địa đầy rẫy những ngôi mộ vô danh. Còn hai đứa trẻ thì bị đem lên tàu hỏa, đưa đến một cô nhi viện gần đó.
Còn Martin – người đang chìm đắm trong tuyệt vọng, lúc này đang làm việc như cỗ máy trong một nông trang. Một buổi sáng, Martin gặp Greta – một cô gái làm cùng nông trang với anh. Greta luôn mỉm cười để ý đến anh.

Martin không ngờ rằng, cô gái luôn lạc quan yêu đời, thông minh lanh lợi này lại là bạn học hồi xưa của mình. Bôn ba nhiều nơi, trải qua thời gian thăng trầm, xảy ra vô số sự việc, mà họ lại có thể gặp nhau ở đây, thật là thần kỳ!

Chẳng bao lâu sau, họ tổ chức hôn lễ. Martin cảm thấy cuộc sống của mình tìm lại được ánh mặt trời, cuộc sống lại trở nên có ý nghĩa. Greta cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cô luôn mong mỏi bản thân có một đứa con để yêu thương, chăm sóc.

Đến một ngày, Greta khẩn cầu với chồng: “Martin, có nhiều đứa trẻ trong cô nhi viện, chúng ta hãy nhận một đứa về nuôi có được không?”. Martin phản bác: “Greta, sao em lại có ý nghĩ như vậy, anh không thể chịu thêm bất cứ sự đả kích nào nữa, em có hiểu không?”. Greta vô cùng buồn bã.
Nhưng cuối cùng tình yêu mãnh liệt của cô dành cho trẻ em đã thuyết phục được Martin. Vào một buổi sáng, Martin nói với Greta: “Đi nào, chúng ta đi đến cô nhi viện nhận nuôi một đứa trẻ”. Greta vui mừng khôn xiết, lập tức lên tàu đi đến cô nhi viện.

Greta bước trên hành lang tối tăm của cô nhi viện, nhìn về phía lũ trẻ đang xếp thành hàng, chăm chú quan sát, cân nhắc. Nhìn thấy những khuôn mặt trầm mặc, những ánh mắt cầu xin của lũ trẻ, Greta chỉ muốn mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả chúng vào lòng và đưa về nhà. Nhưng cô biết rằng, điều đó là không thể.

Đúng vào lúc này, có một đứa trẻ cười thẹn thùng bước về phía cô. Greta quỳ xuống, xoa đầu đứa trẻ: “Cháu à, cháu có đồng ý đi theo cô không? Đến một nơi có cả cha lẫn mẹ?”

“Đương nhiên cháu đồng ý, nhưng cô đợi chút, cháu đi gọi anh trai. Chúng cháu phải đi cùng nhau, cháu không thể bỏ lại anh trai mình được”.

Greta cảm thấy vô cùng băn khoăn, bất lực lắc đầu: “Nhưng cháu à, cô chỉ có thể đưa một mình cháu đi thôi”. “Không, cháu muốn đi cùng anh trai mình. Trước đây chúng cháu cũng có mẹ, khi mẹ qua đời đã dặn dò anh trai không được bỏ rơi cháu”.

Lúc này, Greta cảm thấy bản thân không muốn chọn bất kì đứa trẻ nào khác, bởi vì đứa trẻ trước mặt cô vô cùng đáng yêu, đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. Tuy nhiên, cô nghĩ rằng mình phải về thương lượng lại với Martin.

Khi về đến nhà, Greta lại khẩn cầu Martin: “Martin, có một chuyện em muốn thương lượng với anh. Em phải nhận nuôi hai đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ mà em chọn có một người anh trai, nó không thể rời bỏ anh trai của mình. Em mong anh đồng ý nhận nuôi đứa trẻ này được không?”

“Greta, vậy sao em không chọn đứa trẻ khác, mà lại nhất quyết là bé gái này? Theo anh thấy thì tốt nhất đừng chọn đứa nào cả”.

Lời nói của Martin Wall, khiến Greta vô cùng đau lòng, cô thậm chí còn không muốn đi cô nhi viện nữa. Nhìn thấy bộ dạng buồn bã của Greta, trong lòng Wall chợt trào dâng niềm thương cảm. Tình yêu rốt cuộc lại giành chiến thắng.

Lần này, Martin và Greta cùng đi đến cô nhi viện, Martin cũng muốn gặp đứa bé gái đó. Đứa bé gái ra ngoài hành lang tiếp đón họ, lần này, cô bé nắm chặt tay cậu bé đi cùng. Đó là một cậu bé gầy gò, trông rất yếu ớt, nhưng cặp mắt của cậu bé lại ngập tràn sự dịu dàng và lương thiện. Lúc này, cô bé mở to đôi mắt sáng lóng lánh, nhẹ nhàng hỏi Greta: “Cô đến đón chúng cháu phải không?”

Greta chưa kịp trả lời, thì cậu bé đứng bên cạnh đã mở lời: “Cháu đã đồng ý với mẹ là sẽ không bao giờ bỏ rơi em gái. Khi mẹ cháu mất, cháu đã hứa như vậy. Vậy nên, đáng tiếc là em gái cháu không thể đi cùng với hai người”.
Martin âm thầm quan sát hai đứa trẻ vừa đáng yêu lại đáng thương này. Một lát sau, anh tuyên bố đầy quả quyết: “Chúng tôi nhận cả hai đứa trẻ này”. Martin đã bị cậu bé gầy gò ốm yếu trước mắt thu hút đến nỗi không thể kháng cự nổi nữa rồi.

Vậy là Greta đưa hai anh em đi thu dọn quần áo, Martin đến văn phòng làm thủ tục nhận nuôi. Sau khi Greta thu dọn đồ đạc, đưa hai đứa trẻ đến văn phòng, liền thấy Martin bần thần lúng túng đứng ở đó. Gương mặt trắng bệch, đôi tay run rẩy, dường như không dám kí vào thủ tục nhận nuôi.
Greta sợ hãi hỏi: “Martin! Anh làm sao vậy? Martin?”

“Greta, em nhìn những cái tên này xem!”. Greta nhận lấy tờ thủ tục nhận nuôi có ghi tên hai đứa trẻ:“Jacob Wall; Sonia Wall, Mẹ: Anna (Bartel) Wall; Cha: Martin Wall”.

“Em có biết không Greta, hai đứa trẻ này là con ruột của anh! Một là đứa con trai mà anh tưởng rằng đã chết từ lâu, một là đứa con gái mà anh chưa từng gặp mặt!”

Martin xúc động đến nỗi nước mắt nhạt nhoà, anh vừa nói vừa quỳ xuống, ôm chặt hai đứa trẻ vào trong lòng, thán phục nói: “Kỳ tích, thật là kỳ tích! Ôi! Cảm ơn trời đất đã phù hộ chúng tôi, ôi! Greta, nếu như không phải em đã thỉnh cầu anh nhận nuôi chúng, nếu như không có trái tim nhân ái của em, có lẽ anh đã không thể gặp được kỳ tích này mất rồi”.

Đúng vậy, dưới sự vẫy gọi của tình yêu, mọi kỳ tích đều có thể xảy ra!” (Tuệ Tâm)

Kỳ tích của tình yêu lúc nào cũng có thể xảy ra, như tác-giả truyện kể từng diễn-tả. Tuy nhiên, có một thứ kỳ-tích cũng sẽ xảy ra trong đời người, dù mọi người chẳng ai muốn thấy nó hiện hữu. Kỳ-tích ấy, lại được người đời gọi đó là “nỗi buồng không tên” vẫn nhanh chân lẻn vào mọi ngõ ngách cuộc đời. Chẳng thế mà, ngay đến tác-giả Tin Mừng Nhất Lãm, cũng không quên ghi chép các sự kiện xảy đến với Đức Giêsu, rõ ràng như sau:

Bấy giờ Ngài nói với các ông:
"Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.
Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy."
Ngài đi xa hơn một chút,
sấp mặt xuống,
cầu nguyện rằng:
"Lạy Cha, nếu có thể được,
xin cho con khỏi phải uống chén này.
Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha."
(Mt 26: 38-39)  

Đức Giêsu mà còn thấy “buồn đến chết được”, thì hỏi rằng người đời bình thường làm sao không. Buồn hay vui, đều là tâm trạng của mỗi người và mọi người, ở mọi nơi, mọi lúc trong đời mình. Vấn đề còn lại, là: làm sao thoát khỏi những tình-huống như thế để rồi có thể xướng lên câu hát vốn dĩ nâng nhẹ lòng người, để mà sống, rất như sau

“Một vì sao vừa nghe đã vỡ
Trong tâm hồn anh mềm như tơ
Tình dẫu cố nuôi cho dài thương cho hồn rã rời
Đành xem như là một giấc mộng thôi
Chợt thức giấc ngó quanh đời
Chỉ thấy bóng em tạnh hơi
Một lần xa nhau là ta mất nhau rồi 
(Trần Quang Lộc –Nguyễn Đình Toàn: bđd)

Hạt sao có vỡ nát hoặc “tâm hồn anh có mềm như tơ”, vẫn là tình-trạng của tôi, của bạn hay của ai đó trong đời rất giống sự việc vẫn thường diễn-tiến ở đời. Như mọi thời. Thế đó, là tình-huống có thể sẽ gặp thấy nơi tôi, nơi bạn hoặc ai đó vẫn ưu-tư, kỳ vọng bấy lâu nay.

Trần Ngọc Mười Hai
Và tình huống
rất giống đời thường
ở đời,
vào mọi lúc.