Friday, 13 April 2018

“Hầy Hô Hây Hồ Hây Hô Nhịp nhàng khoan thai bước khẽ”

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 3 Phục Sinh năm B 15-4-2018

“Hầy Hô Hây Hồ Hây Hô
Nhịp nhàng khoan thai bước khẽ”

Đi trong mưa nhè nhẹ
Gà chuồng le le gáy rõ
Ta nghe ta đợi chờ
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Ngoảnh nhìn bên ta vẫn nhớ
Ôi êm ru ngày mùa.”
(Phạm Duy – Dã Ca Ngày Mùa)

(Mát-thêu 20:18-19)

Ngày mùa có “Dã Ca Hây Hồ” hoặc “hầy hô/hây hồ” thế nào đi nữa, cũng đâu êm ả một ngày mưa hay ngày mùa nào đâu chứ? Ngày mùa hay ngày mưa, đâu có là ngày dân ta hát những là: “hây hồ/hầy hô” mà thôi đâu. Nghe qua câu này, người người có lẽ sẽ tưởng tượng như 7 chú lùn hát vang rền câu ca nào đó ở trong rừng rất yêu đời, đầy sức sống.

Thôi thì, có là ngày gì cũng được, bạn và tôi, ta cứ nghe thêm âm-điệu reo vui ở câu tiếp:

“Hây Hố Hây Hô Hây Hô Ngày mùa
Hây Hố Hây Hô Hây Hô Êm ru...
Hây Hồ Hây Hô Hấy Hố
Ta đi qua cầu này
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Nhịp cầu tre soi nước soáy
Ta nghe ta lạnh đầy
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Và dòng sông con nhấp nháy
Đi quanh quanh hoài hoài
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Ngoảnh nhìn bên ta vẫn thấy
Ôi êm ru ngày dài.
(Phạm Duy – bđd)

Quả thật, đời người lúc nào cũng nghe và thấy những “hây hồ/hầy hô” toàn những lời như sau:

“Hây Hồ Hây Hô Hấy Hố
Ta đi qua vườn ngoài
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Dạt dào dăm ba gốc chuối
Cây không cao buồng dài
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Ôm ộp oang oang ếch nói
Ta nghe ta nguôi ngoai
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Ngoảnh nhìn bên ta vẫn đấy
Ôi êm ru ngày dài
Hây Hô Hây Hô Hây Hô

Hầy hồ Hây hô Hấy Hố
Ta đi trong vườn đời
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Lòng mình ươm cây kết trái
Ươm hoa ươm cỏ dại
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
Ngọt nhạt hay chua cũng khoái
Ta yêu khu vườn này
Hây Hô Hây Hô Hây Hô
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Phải công nhận tài nghệ của “nhạc sĩ già” họ Phạm thật đa dạng. Đa dạng, cả về âm nhạc lẫn ý-tứ và ý-từ nhiều thể-loại tuyệt vời, rất con người.

Và cũng công-nhận, rằng: đời người thật lắm nhiêu khê, ê chề nhiều nhận-định tuyệt vời. Có đặt vấn đề gì ở đây nữa cũng chỉ để giới thiệu với bạn và tôi, những chuyện xảy ra ở đời người. Một đời, có nhiều truyện kể rất đáng nể như truyện “Cậu Bé và người nhặt rác” của tác giả Lê Quang Sinh ở Garland, Hoa Kỳ như sau:  

“Ngày 13 tháng 3 năm 1991, gia đình chúng tôi qua định cư tại Sacramento, thủ phủ Cali, Hoa Kỳ dưới diện “Hát Ô” (H.O.) sau 8 năm tù gọi là cải tạo dưới chế độ CS.

Năm 1994, chúng tôi cùng Nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương, bút hiệu Thái Luân, và Nhà thơ Nguyễn Lý Tưởng thành lập Hội Thơ Tài Tử VNHN, và tôi được đề nghị làm Trưởng Ban Điều Hành cho đến nay đã được 24 năm.

Sau khi thành lập hội thơ, chúng tôi nghĩ đến sự phát triển hội bằng cách in một tập thơ mang tên CỤM HOA TÌNH YÊU để giới thiệu cùng độc giả và tổ chức các buổi ra mắt sách tại Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới. Dù sao vấn đề tài chánh vẫn là một yếu tố quan trọng đã thúc đẩy tôi phải tìm cách làm sao có ngân quỹ để trang trải cho các chuyến đi xa.

Thế là trong một buổi "trà dư tửu hậu", có người bạn vui góp ý là tôi muốn đi làm nghề nhặt rác trong khu cư xá không, lương mỗi tháng 700 đô tiền mặt. Cơ hội đến là tôi đồng ý ngay. Thế là từ một sĩ quan cấp tá tôi trở thành một người lao công giống như anh chàng trong bản nhạc "Người Phu Quét Đường". Và rồi người nhặt rác Việt Nam đã gặp cậu bé Mỹ trong bài thơ "Cậu Bé và Người Nhặt Rác" mà tôi hân hạnh được giới thiệu cùng quý độc giả hôm nay.

Sau khi lập hồ sơ nhận việc, tôi bắt đầu hành nghề. Sáng sớm tinh sương lúc 6 giờ tôi đã phải  bắt đầu công việc. Một tay xách cái thùng đựng rác, một tay cầm cái kẹp nhặt rác. Khu vực đầu tiên phải dọn dẹp là vườn trẻ với bãi cỏ xanh và các phương tiện vui chơi cho trẻ em như xích đu, trèo cao tuột dốc v.v...  Sau đó phải đi loanh quanh trên các con đường trong khu cư xá, sân trước nhà, bải cỏ để nhặt rác rưới bỏ vào xô rồi đem đổ vào các thùng Connex đặt gần đó.

Khu cư xá khá rộng  phải mất nhiều  giờ mới làm xong công việc. Nhất là về mùa Đông lá vàng rơi từ các cây cao tỏa bóng mát, nên cần  thời gian cào lại từng đống rồi bỏ vào bao nylon lớn. Về mùa Hè nóng bức, lao động một hồi là mồ hôi nhễ nhại, tôi ngồi dưới bóng mát để nghỉ xã hơi.

Công việc nhặt rác này không có gì vất vả nặng nhọc, nhưng so sánh với các nghề khác như chạy bàn, bán báo, hoặc dọn dẹp làm sạch sẽ văn phòng, nhà vệ sinh trong bệnh viện hay các trường đại học, hoặc thợ điện, thợ hàn, thợ tiện, thì nó là cái nghề thấp nhất trong xã hội mà đồng lương chỉ có 700 đô một tháng.

Hoa Kỳ là một đất nước tự do, không phân biệt màu da, giàu nghèo, không phân biệt lao động trí óc và lao động chân tay, nghề nào cũng cao quý. Sĩ quan QLVNCH từ cấp úy đến cấp tá, cấp tướng khi di tản đến Hoa Kỳ đều có thể làm bất cứ nghề gì trong giai đoạn đầu mới đặt chân trên xứ lạ quê người để kiếm sống. Dần dà họ đã trở thành những thương gia giàu có, những triệu phú, tỷ phú, khoa học gia, bác sĩ, kỷ sư, tiến sĩ...

Cái nghề nhặt rác không mang lại chức tước, danh vọng hay tiền tài, nhưng nó đã đem lại cho chúng tôi một kỷ niệm đẹp nhất trong đời, đó là câu chuyện mà tôi xin kể hầu quí vị sau đây.

Một buổi trưa mùa Hè, trời nóng như thiêu đốt, tôi dừng chân nghĩ mát dưới bóng cây trước sân nhà của một căn chung cư. Bất ngờ một em bé khoảng 4 tuổi, tên Mc Kee từ  hiên nhà chạy ra, ôm lấy chân tôi và nói: "I love you". Rồi nhanh nhẹn bé lấy cái xô và cây gắp đi loanh quanh khu nhà gần đó nhặt rác bỏ vào xô. Cảm giác của tôi lúc đó thật bàng hoàng xúc động. Cậu bé mới tí tuổi mà đã biểu lộ được một cử chỉ đẹp, một tấm lòng yêu tha nhân quá tuyệt vời, như một thiên thần nhỏ bé mang lại tình yêu cho người trần thế.

Cảm kích trước hành động dễ thương của bé Mc Kee, tôi đã viết nên bài thơ "Cậu Bé và Người Nhặt Rác", và dịch ra tiếng Anh "The Little Boy and The Groundsman" đề tặng cháu bé và ba me của cháu. Tôi cũng đã tặng bài thơ này cho bà quản lý khu chung cư tôi làm việc. Bài thơ như sau.
Cậu Bé và Người Nhặt Rác
Thương về bé Mc Kee

Cơn nắng hạ chói chang/ Như thiêu như đốt/ Người nhặt rác âm thầm/ Từng bước từng bước một/ Kéo lê đôi giày mòn mỏi/ Như quá khứ gặm nhấm đời anh/ Trong chiến tranh, lao tù, bất hạnh.

Cơn giá buốt mùa Đông/ Cắt da xé thịt/ Người nhặt rác âm thầm/ Từng cử động chắc nịch/ Vung đôi bàn tay chai cứng/ Anh nhặt không ngừng.

Từ sáng sớm tinh sương/ Thiên hạ đang yên giấc/ Người nhặt rác âm thầm/ Từng bước từng bước một/ Lướt nhẹ qua những con đường/ Đầy xác lá vàng rơi rụng/ Cùng mãnh hồn anh vỡ vụn tan thương.

Rồi một ngày như mọi ngày/ Dưới nắng trưa hè gay gắt/ Người nhặt rác lau mồ hôi trán/ Đứng lặng nhìn trời suy tư miên man/ Bất ngờ một cậu bé/ Từ hiên nhà chạy ra/ Ôm lấy chân người nhặt rác/ Ngước nhìn lên đôi mắt sáng trong/ Hồn nhiên em nói: Cháu yêu ông – I love you/ Rồi đôi chân nhỏ bé/ Thoăn  thoắt trên thảm cỏ/ Bé nhặt rác bỏ vào xô/ Người nhặt rác bàng hoàng xúc động/ Nghe như từ trời tiếng hát yêu thương/ Xóa tan bao mệt mỏi chán chường.

Cao đẹp thay tình yêu của bé/ Tình yêu không đổi trao/ Tình yêu không vụ lợi/ Tình yêu không lý luận/ Tình yêu bình an cho người/ Ôi! Tình yêu tuyệt vời!

Viết đến đây tôi nhớ lại một bài báo mà tôi đã cất giữ từ mười mấy năm nay trong tủ sách dưới nhan đề "Đời Nhặt Rác" trong mục Thư Sàigòn, xin ghi lại như sau.

Bạn,

Chuyện kể với bạn trong lá thư này là chuyện về những người nhặt rác ở thành phố Huế. Theo báo Giáo Dục Thời Đại, hễ đi đến bất kỳ bãi rác nào lúc chập choạng tối trong thành phố, phóng viên báo này đều nhận thấy có rất nhiều người đang dùng que đào bới rồi nhặt rác. Những người nhặt rác là những người nghèo khổ. Báo Giáo Dục Thời Đại viết về tình cảnh của những người kiếm sống bằng công việc nhặt rác ở Huế qua đoạn ký sự sau đây.

Bãi rác nằm ở đường Tùng Thiên Vương, thành phố Huế, chỉ là một bãi nhỏ nhưng cũng có từ bốn đến năm người tham gia nhặt rác ở đây mỗi tối. Dưới ánh đèn vàng hiu hắt và những hạt mưa bụi bay bay, những người này cần mẫn dùng que gạt đi gạt lại đống rác rưởi hôi thối mong tìm được cho mình một thứ rác có thể sữ dụng được để đem bán lại.

Dụng cụ lao động của họ khá đơn sơ và không an toàn chút nào. Mỗi người có một chiếc đèn pha trên đầu, một bao tải móc sau lưng cùng với một cái que dùng bới rác... Chẳng có một phương tiện nào bảo hiểm trên con người họ, dù chỉ là chiếc bao tay hay đôi ủng cao. "Kiếm cả buổi tối chưa chắc đủ ăn thì làm sao tụi tôi có tiền mua đồ bảo hiểm hở anh?" Câu trả lời của người có vẻ lớn tuổi nhất trong số những người ở đó khiến phóng viên lúng túng trong chốc lát. Rồi như không chú ý đến sự có mặt của tôi, họ vẫn tiếp tục làm việc.

"Nghề nhặt rác này vất vả và tủi hổ lắm anh ạ. Cứ nghĩ đến việc gặp người quen là mình đã lo ngại rồi, còn nếu lỡ gặp thì chỉ có việc độn thổ đi cho khuất mắt". Anh lớn tuổi nhất trong đám tâm sự nhưng vẫn không chịu cho tôi biết tên. Khi anh quay đi, Tèo – cậu bé nhỏ nhất trong số người nhặt rác thì thầm vào tai phóng viên: "Chú ấy có vợ con rồi nên không chịu nói thật tên và địa chỉ mô mà anh hỏi".

Tại một bải rác khác ở cuối đường Chế Lan Viên, trong khi các công nhân của Công ty Vệ sinh Môi trường đang tiến hành công việc của mình thì vẫn có mặt ba người nhặt rác. "Trung bình một đêm nhặt rác cũng kiếm được từ  bảy đến mười ngàn đồng. Nếu gặp đêm vớ bở thì cao hơn. Nhưng cũng có nhiều đêm cúi đến cong lưng cũng chỉ kiếm được một đĩa cơm bụi". Hoàng, một cậu bé thường xuyên nhặt rác ở bãi rác Phú Thượng (Phú Vang) cho phóng viên biết. Hai nỗi lo lớn nhất của người nhặt rác là tai nạn và không nhặt được rác. Tai nạn là chuyện thường xuyên xảy ra. Trong bất cứ bãi rác nào cũng ẩn chứa vô vàn nguy hiểm.

Phóng viên báo Giáo Dục Thời Đại viết tiếp: "Hình ảnh mà phóng viên nhìn thấy được vào buổi sáng ở đường Nguyễn Tri Phương làm tôi nhớ mãi. Có ba bé gái với ba bao tải đựng rác sau lưng đứng lặng nhìn các bạn đồng tuổi mình đang nô đùa trong sân trường với ánh mắt buồn bã. Không biết các người có trách nhiệm sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy cảnh tượng này, và cũng không biết tương lai của những em bé nhặt rác hôm ấy sẽ đi về đâu?"

Chúng tôi viết lại câu chuyện nhặt rác ở Việt Nam kể trên để chúng ta có một khái niệm về tình hình kinh tế và đời sống của người dân hai nước. Đành rằng không thể so sánh một nước lớn với một nước nhỏ, nhưng cái nghề nhặt rác là cái nghề tận cùng của xã hội dù văn minh hay nghèo khó, mà nó cũng không mang lại được cái hạnh phúc nhỏ bé nhất cho con người ở nước mình.

Từ một sĩ quan cấp tá QLVNCH, tôi đã trở thành người nhặt rác ở Mỹ. Nhưng nhờ một nghề nghiệp khiêm nhượng trong một xã hội văn minh giàu có mà tôi đã học được một bài học quý giá trong đời, đó là Tình yêu mang đến từ một cậu bé người Mỹ làm xúc động tâm hồn khiến tôi viết nên bài thơ "Cậu Bé và Người Nhặt Rác" thương tặng bé Mc Kee đáng yêu.

Xin cám ơn bé Mc Kee. Xin cám ơn Tình yêu bình an cho Người.” (trích truyện kể của tác-giả Lê Quang Sinh, Garland, 1.2018)

Đọc truyện kể về “Cậu bé Mc Kee và người nhặt rác, khiến bần đạo bầy tôi hôm nay lại liên-tưởng đến những câu chuyện nhà Đạo liên quan đến câu hỏi “Truyện Kể Chúa Phục Sinh đúng thực được bao nhiêu phần?”như tuần báo Công giáo Sydney mấy ngày trước có những lời hỏi/đáp như sau:

“Thưa Cha,
Con có đứa cháu con ông anh, là đứa thông minh cũng nhất mực, nhưng cháu lại có tính đa-nghi thách-thức niềm tin của người Công-giáo, cả chuyện “Chúa Sống lại” cũng không từ. Theo cha, con phải sử-dụng lý-sự nào để thuyết phục cháu đây?”

“Thuyết-phục đứa cháu con ông anh”, thời nay không còn là chuyện dễ làm dù ta có làm rất nhiều lần trong đời. Bởi, con cháu các vị hôm nay không là những đứa trẻ nhẹ nhàng/dễ dàng tin nhiều thứ chuyện dù là chuyện tin-tưởng đã rõ như ban ngày. Đó là chuyện thường ngày, rất hay gặp ở đời. Thế nhưng, hôm nay, mời bạn và mời tôi, ta cứ để tai nghe xem đấng bậc ở Sydney biện-luận thế nào khả dĩ thuyết-phục được đám trẻ thời này, ra sao. Và đấng bậc nay biện và luận rằng:

“Theo tôi, ta cứ bắt đầu bằng những gì được Sách Tân Ước kể cho nghe về mọi dữ-kiện. Trước nhất, ta có đoạn Tin Mừng qua đó Đức Giêsu đã nhiều lần nói tiên tri về một số sự kiện các đến việc Ngài trỗi dậy từ cõi chết nữa.

Trong số những điều Ngài đề-cập, ta thấy cả lời báo trước cách thức Ngài sẽ chết và Sống lại, như sau: “Này chúng ta lên Giêrusalem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy.” (Mt 20: 18-19)

Hai nữa, chắc chắn một điều, là: Đức Kitô đã chết trên thập-tự trước mắt vị tông-đồ dấu yêu sau khi Ngài bị lính canh đập bể xương chân như Tin Mừng thánh Gioan đoạn 19 câu 32-34 đã ghi như sau: “Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Ngài đã chết, họ không đánh giập ống chân Ngài. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.”

Ngay đến sử-gia người La Mã là Tacitus (55-120 sau Công nguyên) cũng chép rằng: “Đức Kitô bị Pontiô Philatô tổng-trấn xứ Giuđêa, thời Tibêrius điệu xử Ngài đi vào chỗ chết. “ (Annals XV, 44).

Không ai lại chấp-nhận rằng Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, giả như Ngài không thực sự chết đi.
 
Thêm điều nữa, là: mộ chôn Ngài đã trống trơn sau ba ngày chôn cất Ngài, tức: vào sáng sớm hôm Chủ nhật. Cả bốn Tin Mừng đều đã chép điều này. Và, các tông-đồ cũng đã khởi sự rao giảng về sự việc Đức Kitô Sống Lại ngay tại Giêrusalem; và thêm nữa, không một ai tin vào Sống Lại nếu ta minh-chứng rằng thi-hài của Ngài vẫn còn trong mộ, ngoài thành-phố.

Thứ tư nữa, là: suốt 40 đêm ngày sau đó, Đức Giêsu đã hiện-diện rất nhiều lần với nhiều người khác nhau, cả năm trăm người cùng một lúc.

Vào ngày Sống Lại, chính Ngài đã tỏ cho bà Maria Magđalênna và nhiều phụ-nữ khác, cả với thánh Phêrô tông đồ, với hai tông-đồ trên đường đi Emmaus và các thánh tông đồ cùng nhiều vị khác đang trong buổi hội họp trên gác biết là Ngài. Khi ấy, Ngài có bảo: “Hãy coi tay Ta, chân Ta, chính là Ta đây! Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các người thấy Ta có”, và “Ngài đã cầm lấy mà ăn trước mặt họ.” (Lc 24: 39, 43)                  

Thành thử, chính Ngài đã sống lại bằng xương thịt, chứ không chỉ như thị kiến tâm linh về một người đã chết.

Điểm thứ năm, là: Đức Ki tô đã sống lại thật và các lần Ngài hiện ra lại đã hoán-cải toàn bộ các tông đồ. Từ trạng-thái hốt hoảng, nản lòng các ông đã trở thành người dạn dĩ ra đi rao giảng Tin Mừng. Ngoài trừ thánh Gioan ra, còn tất cả các tông-đồ đều chết cho Đạo, cho niềm tin vững chãi.       

Chẳng có cách nào khác diễn tả việc đổi thay nhanh chóng như thế ngoại trừ việc ta coi trọng sự kiện ấy như thực-tại Sống lại. Không ai sẵn sàng bỏ cả đời mình ra mà rao giảng để rồi chết cho sự việc nào đó mình không tin là có thật.

Thứ sáu, là: không chỗ nào kể rằng có ai đó chứng-tỏ mình đã tìm thấy hài-cốt Đức Giêsu rơi vãi ở đâu đó. Ta có thể chứng minh được hài cốt các thánh tông đồ còn sót lại ở đâu đó, chứ tuyệt nhiên không ai bảo rằng mình đã thấy được hài cốt của Đức Giêsu ở nơi nào đi nữa.

Thêm nữa, vào thế-kỷ thứ nhất người thời đó thường có tục lệ dựng lên khu di-tích ngay tại nơi tìm thấy hài cốt của các vị thánh; và thời Đức Giêsu, người ta cũng tìm ra rất nhiều khu di-tích như thế chung quanh Israel, vẫn dẫy đầy.

Nguyên sự kiện ta không tìm đâu ra được khu di-tích thiết-dựng cho đấng thánh nào mà mọi người đều biết và tìm đến như chính Đức Giêsu từng tuyên bố Ngài Sống lại từ cõi chết và Ngài về với Cha Ngài trên thiên-quốc.

Có điều thêm nữa, là: Giáo hội tiên-khởi lưu lại đến hôm nay từng biện-luận bênh-vực sự việc Chúa sống lại từ cõi chết và mọi người đều đã tin. Ta còn nhớ câu chuyện viên Bách quản của Gamaliel từng có ý-kiến, chuyện người Pharisêu và vị Luật sĩ nọ đã nhắc các thành-viên trong Giáo-hội câu truyện về thừa tác-viên Theudas rằng:

“Bấy giờ có một người Pharisêu tên là Gamaliên đứng lên giữa Thượng Hội Đồng; ông là một kinh sư được toàn dân kính trọng. Ông truyền đưa các đương sự ra ngoài một lát. Rồi ông nói với Thượng Hội Đồng:

"Thưa quý vị là người Israel, xin quý vị coi chừng điều quý vị sắp làm cho những người này. Thời gian trước đây, có Thêuđa nổi lên, xưng mình là một nhân vật và kết nạp được khoảng bốn trăm người; ông ta đã bị giết, và mọi kẻ theo ông cũng tan rã, không còn gì hết. Sau ông, có Giuđa người Galilê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác…” (Cv 5: 34-37)


Sự việc này, chắc chắn đã xảy ra cả với những người dấn bước theo chân Đức Giêsu, vì Ngài đích-thực sống lại từ cõi chết.

Như đã biết, việc các thánh tông-đồ ra đi rao giảng khiến hàng ngàn tín-hữu hồi hướng trở về, vào lễ Thánh Thần Chúa Hiện Xuống. Vào ngày ấy, thánh Phêrô có nói với người Do-thái-giáo biết rằng chính họ đã đóng đinh Đức Giêsu trên thập-tự nhưng Thiên-Chúa Cha đã vực Ngài dậy, như có ghi ở sách Công vụ đoạn 2 câu 32 sau đây: “Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng.”       

Mãi về sau, ta lại cũng được biết rằng: rất nhiều vị trưởng-tế trong làng cũng đã hồi hướng trở về hệt như sách Công vụ Tông đồ đoạn 6 câu 7 từng ghi rõ. Các vị trưởng tế khi xưa từng lên án Đức Giêsu cho đến chết, giờ đây lại đã hồi hướng trở về làm thành viên bước theo chân Ngài đi rao giảng. Điều này, ta chỉ có thể cắt nghĩa được lý-do là nhờ có sự kiện Phục Sinh của Ngài mà thôi.” (X. Lm John Flader, Seven solid reasons for Resurrection’s reality, The Catholic Weekly 08/4/2018, tr. 21)

Nói cho cùng, thì chuyện Chúa Phục Sinh không chỉ là lý-do, nguồn hứng hoặc nhiều thứ khác từng tác động lên người đi Đạo bấy lâu nay, mà thôi. Nhưng, đây còn là ý-nghĩa cuộc sống người đi Đạo nữa. Bởi, như đấng thánh hiền nhà Đạo là Phaolô đã chẳng nói như thế là gì. Thánh nhân bảo rằng: nếu không có Phục Sinh, thì niềm tin của ta sẽ ra “hư-luống” (tức vô-ích hoặc vô bổ) mà thôi.

Lại nữa, cũng nên trích dẫn lời đấng thánh hiền nhà Đạo làm kim chỉ nam hoặc kết cục cho chuyện phiếm bàn chuyện đạo/đời hôm nay rằng:

“Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế
và kinh sư.
Họ sẽ kết án xử tử Người,
sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng,
đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và,
ngày thứ ba,
Người sẽ trỗi dậy."
(Mt 20: 18-19)

Công giáo, là người dấn bước theo chân Chúa nếu không sống lại như Ngài và theo Ngài được, thì cũng phải và cũng nên “trỗi dậy” mà làm cuộc đời mới như các cụ còn gọi là “người mới, việc mới” có thế mới xứng đáng gọi là dân con của Chúa, mà thôi.

Thế đó, là lời cuối xin được gửi đến bạn đọc như một quyết-tâm sống ở đời, mà thôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những quyết-tâm khác
Còn có trong đời
Rất dài ngày. 
   

                 
           



    

Tuesday, 3 April 2018

“Ƭình đã như mùɑ thu”,


Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 mùa Phục Sinh năm B 08-4-2018

“Ƭình đã như mùɑ thu”,
Ŋgàу quɑ tưởng như trong cơn mộng du
Hạnh ρhúc những thuở ấу nɑу quɑ rồi
Một mình thɑo thức νới đêm trôi.”
(Nguyễn Trung Cang – Dạ Khúc)
(Thư Rôma 12: 9-11)

“Trong cơn mộng du” mà sao lại cứ tưởng là “Tình đã như mùa thu”? Thôi thì, thi-ca và âm-nhạc lại vẫn tưởng và cứ tượng, tượng cả thanh lẫn hình rất thường tình một “thao thức”.  “Thao thức với đêm trôi”, nhưng vẫn thấy hạnh-phúc cả vào khi “lắng nghe những đêm dài”, như ở dưới:

“Ļắng ngh℮ những đêm dài.
Ƭừng đêm ρhiêu lãng ru hồn sɑу.
Hương xưɑ trên môi tình уêu dấu.
ßóng dáng thuở ấу nɑу còn đâu.
Ŋàу gió mɑng tình tɑ.
Ŋgười đi những уêu thương bɑo ngàу quɑ.
(Ŋgười đi câu cɑ, chuуện đồng xɑ).
ßằng tiếng hát thổn thức trong đêm dài.
Ϲhuуện tình sɑo lắm những u hoài.”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Chuyện tình vẫn rất trẻ theo kiểu của “Nguyễn Trung Cang” như ca-từ nhạc trẻ thời thập niên 1960s, còn mới cứng như bao giờ. Và tình rất trẻ lại cũng là thứ tình cả nhà Đạo lẫn người đời cứ luôn thúc bách mọi người hãy quyết-tâm thực hiện.

Chuyện tình, tưởng còn rất trẻ, như tình của người trẻ hôm nào, được nhà văn/nhà báo ghi lại cũng “cảm động” được dùng để gợi hứng viết “phiếm nhẹ” như sau:

“Thông thường, cứ 5giờ 30 phút chiều, hằng ngày là anh Chu – một lái xe taxi lại bàn giao xe cho người khác. Vì thế mà đúng 5giờ15 là anh sẽ lấy tấm bảng "dừng chở khách" ra, đặt phía trước xe.

Hôm đó là một ngày cuối tuần, một đoàn học sinh ùa qua ngã tư. Không nhịn được, phản xạ theo thói quen, anh Chu dừng xe lại ngắm các bạn nhỏ một hồi. Tất cả đều mặc đồng phục đơn giản, bạn nào cũng rạng rỡ nụ cười trên mặt.

"Bác ơi, cháu, cháu muốn ngồi xe của bác." Bất giác, một cô bé có khuyết tật ở chân, đeo ba lô đi đến, nhìn trước nhìn sau rồi hỏi giọng rất vội.

Anh Chu nói mình phải giao xe, nên chỉ dừng lại một lát rồi phải đi ngay. Cô bé cúi đầu, vài giây sau, em cất giọng hết sức khẩn thiết: "Cảm ơn bác. Nhưng cháu chỉ ngồi 1 trạm thôi, một trạm có được không ạ?"

Tiếng cảm ơn của cô bé đã khiến bác tài xế động lòng. Nhìn chiếc áo đồng phục cũ cùng với chiếc ba lô trên lưng không thể cũ hơn của vị khách nhí, anh Chu nén tiếng thở dài: "Lên xe đi".
Cô bé vui mừng lên xe. Đến chỗ đường vòng, cô bé lý nhí nói:
-Bác ơi, cháu chỉ có 3 đồng, vì thế bác chở cháu nửa trạm cũng được ạ.

Qua gương chiếu hậu, anh Chu thấy nét mặt cô bé có vẻ ửng đỏ. Anh không nói gì. Ở cái thành phố của anh, giá mở cửa xe đã là 10 đồng rồi. Lái xe đến trạm xe buýt gần nhất, anh Chu cho xe dừng lại. Lúc đóng cửa, cô bé vui vẻ nói:
-Cháu cảm ơn bác, thực sự cảm ơn bác nhiều ạ."
Nhìn cô bé thậm thọt bước đi, bất giác, người lái xe cảm thấy xót xa. Cũng từ hôm cuối tuần đó, cuối tuần nào anh Chu cũng nhìn thấy cô bé đứng đợi ở cổng trường. Vài chiếc taxi chạy qua nhưng cô bé đều không để ý. Lẽ nào cô bé đợi mình? Anh Chu đoán như vậy, trong lòng tự nhiên cảm thấy ấm áp đến lạ.

Rồi anh lái xe tiến về phía "vị khách quen". Từ xa, cô bé đã giơ tay vẫy. Anh Chu cảm thấy ngạc nhiên lắm. Chiếc Santana màu đỏ anh và xe của những người khác chẳng khác nhau là bao, sao cô bé vừa nhìn đã nhận ra nhỉ?

Vẫn là 3 đồng tiền, vẫn là một trạm xe buýt. Anh Chu không hỏi tại sao cô bé lại chỉ đợi xe của mình, cũng không hỏi tại sao cô bé lại chỉ ngồi một trạm xe buýt. Trẻ con luôn có những bí mật nhỏ của riêng mình, anh biết rõ điều này nên không hỏi gì.

Một lần, hai lần rồi ba lần... dần dần, anh Chu hình thành thói quen cứ đến cuối tuần, trước khi giao xe, vị khách cuối cùng mà anh đón chính là cô bé khuyết tật đó. Anh dựng tấm biển "không chở khách" lên, lái xe thẳng đến cổng trường.

Cô bé đó chắc chỉ tầm 14-15 tuổi. Nhìn thấy anh, cô bé hệt như con hươu con, vui vẻ chào các bạn thật to rồi chạy lên xe. Đi chừng 5 phút, vị khách nhí xuống xe và câu cuối cùng cô bé đó nói là:
-Cảm ơn bác!

Dường như vì chờ đợi câu nói này mà anh Chu dù có đang bận trả khách ở rất xa cũng cố gắng lái xe đến đón cô bé theo lịch. Có những lúc quá giờ giao xe bị phạt tiền, anh vẫn chấp nhận, miễn sao có thể đón được vị khách đặc biệt này.

Thời gian trôi thật nhanh, sự việc trên kéo dài suốt 1 năm, chẳng mấy chốc, họ đã bước sang mùa hè thứ hai. Nhìn cô bé xách cặp sách nặng trịch bước lên xe, anh Chu cảm thấy mình giống như đang mất một thứ gì đó, bởi anh biết vị khách của mình đã sắp tốt nghiệp trung học cơ sở. Không biết nó sẽ học trung học phổ thông ở đâu?
-Bác tài, cảm ơn bác. Đây có thể là lần cuối cùng cháu ngồi xe bác, cháu đã mang thêm rắc rối cho bác rồi. Cháu đã thi đỗ vào trường chuyên nên sau này chắc nửa năm cháu mới về nhà một lần thôi, cô bé nói.

Nhìn vào mắt cô bé qua gương chiếu hậu, anh Chu cảm thấy buồn vô hạn. Cô bé thật xuất sắc, thi đỗ vào trường chuyên số một của tỉnh.
-Vậy ta đưa cháu về nhà nhé", anh Chu nói.
Thế nhưng cô bé lắc đầu, nói mình chỉ có 3 đồng.
-Lần này ta không lấy tiền", anh Chu nói và nhìn đồng hồ. Đưa cô bé về nhà chắc chắn sẽ muộn giờ giao xe, nhưng phạt vài đồng có sao đâu, ở bên cô bé thêm một chút dù sao lần này cũng là lần cuối rồi.
Cô bé nói địa chỉ cho bác tài. Đường về nhà cô bé quả thực khá xa. Lúc cô bé định ôm cặp sách xuống xe, anh Chu liền lấy ra một chiếc hộp và nói:
-Đây là quà bác tặng cho cháu.
Cô bé vô cùng ngạc nhiên, nhận quà và cúi đầu cung kính nói:
-Cháu cảm ơn bác, bác tài.
Nhìn cô bé thọt chân đi lên nhà, anh Chu thở dài buồn bã:
-Cô bé, từ nay không được gặp con nữa rồi.
Anh thậm chí còn không biết tên nó là gì. Chẳng mấy chốc, 10 năm đã trôi qua. Anh Chu vẫn làm nghề lái taxi. Hôm đó rảnh việc nên anh giẻ lau ra lau xe. Đúng lúc đó, anh nghe trên kênh đài âm nhạc giao thông có thông tin tìm người, người được tìm là một bác tài lái xe mang biển số XXX của hãng taxi Thắng Lợi 10 năm trước.

Nghe xong, anh Chu ngẩn người. Ai tìm mình nhỉ? 10 năm trước mình đã lái chiếc xe có biển số như vậy. Anh quyết định gọi điện thoại đến tổng đài. Người dẫn chương trình đã rất vui, giao cho anh một số điện thoại lạ. Anh Chu không khỏi băn khoăn, đoán già đoán non không biết đó là ai. Bao năm qua, ngày nào cũng bận rộn vì đồng tiền bát gạo, ngoài vợ anh ra anh dường như chẳng quen biết mấy người. Nhấc điện thoại lên gọi, anh Chu nghe thấy một giọng nữ khá vui vẻ từ đầu dây bên kia. "Là bác phải không, bác tài?"
Anh Chu ngạc nhiên đến đờ người. Tiếng nói này, giọng điệu này thật quen nhưng bác chưa kịp nghĩ ra đó là ai.
-Cảm ơn bác, bác tài, giọng cô gái lại cất lên. Đến lúc này, bác mới nhớ ra cô bé bị thọt chân năm nào. Là cô bé đó! Thật không ngờ 10 năm rồi, cô bé đó vẫn nhớ tới anh!
Hai người hẹn gặp nhau trong một quán cà phê. Lúc gặp lại, anh Chu gần như không nhận ra gười quen cũ. Cô gái trước mặt là cô bé đi xe chỉ với 3 đồng đó sao? Cô gái đứng dậy, cung kính cúi người chào:
-Từ tận đáy lòng, cháu thành thực cảm ơn bác.
Vừa uống cà phê, cô bé năm nào vừa nhắc lại chuyện cũ. Hơn 10 năm trước, bố của cô bé cũng là một người lái xe taxi. Cô bé được bố hết mực yêu thương. Mỗi dịp cuối tuần, dù bận đến đâu người bố cũng lái xe đón con gái về nhà.
Năm đó là dịp Tết Nguyên Đán, cả nhà cô bé về quê ăn tết. Vì muốn chở thêm đồ về quê nên bố cô bé đã mượn chiếc xe tải nhỏ của bạn, vừa chở đồ, vừa chở các thành viên trong gia đình. Thế nhưng đi được nửa đường, vì trời có tuyết dày, trơn trượt nên chiếc xe đã gặp tai nạn. Bố cô bé tử vong tại chỗ, cô bé bị thọt chân sau vụ tai nạn đó.

Ma chay cho bố xong, mẹ cô bé phải bồi thường một khoản tiền xe cho bạn của chồng, lại phải lo tiền làm phẫu thuật cho con gái nên bận rộn suốt từ sáng sớm đến tối khuya. Còn bản thân cô bé, sau tai nạn, cô vùi đầu vào học để sớm vượt qua chuyện không vui này. Cô bé kiên cường lắm, chuyện gì cũng có thể chịu được trừ việc người khác thương hại mình. Thế nên, cô không nói với ai chuyện buồn mà gia đình mình gặp phải. Tan học về nhà, khi bị bạn bè hỏi tại sao lại ngồi xe buýt, cô bé đã nói dối rằng bố bận đi làm xa.

Nói dối được nửa năm thì cô bé gặp anh Chu. Nhìn thấy chiếc xe đỗ bên đường, cô bé có cảm giác bố đang đến đợi mình. Cô bé chỉ có 3 đồng để đi xe buýt song đã lấy hết ra trả tiền taxi nên phải mất cả tiếng đồng hồ để đi bộ về nhà. Mặc dù đường xa nhưng cô bé đi rất thản nhiên, vì sẽ không ai đoán ra bố cô đã mất.
-Chắc bác không thể biết một điều, chiếc xe ngày xưa bác chở cháu chính là chiếc xe bố cháu từng chạy. Biển số xe đó đã in sâu vào đầu cháu rồi, cô bé nói với bác tài xế tốt bụng của mình, vừa nói vừa rơi nước mắt.
-Vì thế nên dù xe đỗ ở xa, cháu vẫn nhận ra.
Anh Chu cảm thấy sống mũi cay cay, suýt chút nữa rơi nước mắt. Tấm huy chương đó luôn ở bên cháu. Cháu không biết nếu không có nó, liệu cháu có ngày hôm nay không. Còn nữa, tiền xe mà bác trả lại cho cháu, cháu vẫn giữ đến giờ". 
-Có số tiền đó, cháu cảm thấy khó khăn gì cũng có thể khắc phục được. Mặc dù bố cháu không còn nhưng cháu cảm giác như mình vẫn nhận được tình yêu thương của bố vậy.

Nói xong, cô gái rút ra một tấm huy chương từ trong túi, đeo lên người. Tấm huy chương đó đã chuyển màu, mặt sau của nó có đề dòng chữ:
-Chúc cuộc đời cháu cũng giống như tấm huy chương vàng này.
Và tấm huy chương vàng đó chính là món quà mà người lái xe đã tặng vị khách nhỏ của mình từ 10 năm trước. Tiễn nhau ra khỏi quán cà phê, cô gái đi xa rồi, anh Chu mới dừng lại bên đường, để mặc nước mắt rơi thật thoải mái. Không chỉ bởi cô bé bị thọt chân ngày nào mà bởi cô con gái bé nhỏ của chính anh. Hơn 10 năm trước, cô bé đã mất vì căn bệnh ung thư quái ác.

Lúc con còn sống, cuối tuần nào anh cũng đưa đón cô bé đi chơi. Và mỗi lần lên xuống xe, nó đều "cảm ơn bố" rất đáng yêu, khiến anh cảm nhận được niềm hạnh phúc ngọt ngào vô bờ bến.
Tấm huy chương vàng mà anh tặng cho vị khách quen của mình chính là phần thưởng mà con gái anh đã giành được trong một cuộc thi ở trường. Nó từng là niềm kiêu ngạo và hi vọng của anh.
Nhưng rồi con gái ra đi đột ngột đã khiến anh tiều tụy. Thế nên cứ đến cuối tuần, anh lại đi qua ngã tư, dừng xe lại để ngắm các em học sinh qua đường, cảm giác như con gái mình vừa đi ra từ cổng trường vậy...

Chính nhờ có khoảng thời gian cô bé thọt chân đi xe mỗi tuần, anh Chu đã tìm được cảm giác con gái đang trở lại bên anh, cuộc sống của anh vẫn còn hy vọng, giúp anh tìm lại được niềm vui trong cuộc sống!
(theo Trí Thức Trẻ)

Có câu hỏi từ đâu đó, bảo rằng: tình-tự mà anh Chu ở đây vẫn cảm-kích có là thứ gọi-là “Tình đã như mùa thu” không? Và, tình đó có giống như thứ tình “tự sự” của nhà Đạo từng được các đấng bậc vị vọng diễn nghĩa “dông dài” ở bục giảng, như lời của bậc thày thần-học khi xưa từng nói:

“Đức Giêsu không là thần sứ linh thiêng gồm thiên binh/âm tướng chốn thiên đường. Mà, Ngài sống như một tiên tri cao cả thời Cựu Ước vẫn thể hiện nơi mình Ngài trong nhận thức đích thực về sự sống. Nhận thức ấy, Chính Chúa Cha đã tặng ban cho riêng Ngài. Nhưng, Ngài lại không giống như ngôn sứ/tiên tri có bản vị tựa như thế. Nơi Ngài, là sự thanh sạch ở nội tâm, chẳng mang nơi tâm địa cái gọi là “hội chứng xấu”. Ngài thích nghi trọn vẹn với thực tại loài người. Thực tại ấy, nằm gọn nơi niềm vui của bản vị “người”.

Ở đồng hoang chóp núi hôm ấy, Ngài biết rằng: Ngài hoàn toàn được Cha chấp nhận và trọn vẹn yêu thương như “người” thật cũng rất “người”. Với Chúa Cha, Ngài không là kẻ lạ đến từ hành tinh khác. Và Cha cũng chẳng tỏ ra xa lạ, đối với Ngài. Nói nôm na, thì bảo: đối với Cha, Ngài không là “bạn lâu lắm mới gặp”. Và, Chúa Cha cũng chẳng là “bạn lâu năm xa cách” nay trở lại với Ngài.

Quan hệ giữa Ngài với Cha và giữa Cha với Ngài, không là tương quan khi còn/lúc mất, khi trầm/lúc bổng. Nhưng là sự thật thể hiện nơi nhận thức giữa Ngài và Cha. Đức Giêsu nhận rõ Cha và muốn trở nên như Chúa. Chúa biết rõ Đức Giêsu và muốn trở nên như Ngài. Đây, đích thực là đổi thay/biến hình đang diễn tiến. Và, là diễn tiến hai chiều, rất thuận tiện. Bởi, Đức Giêsu đang mang trong mình đầy Thiên tính như Chúa và Chúa đang trở thành người thực như Đức Giêsu. Gọi đó là gì? Một biến hình, hiển thị hoặc nhập thể/nhập thế, đều rất đúng. Điều đúng ấy, nay biểu hiện nơi tiếng phát tự đám mây cho đồ đệ nghe được, rằng: “Ngài là Con Chí Ái Ta, các ngươi hãy nghe lời Ngài.” (Mc 9: 9)
    
Và, khi ấy, đồ đệ của Thày chưa nắm được ý của câu nói. Nhưng cuối cùng, sau nhiều tháng ngày dài dõi bước theo chân Ngài, đồ đệ Chúa mới nhớ ra và nhận thức điều ấy có nghĩa gì. Và một lần nữa, Đức Giêsu lại đã nhắc dân con/đồ đệ đừng loan truyền thông tin hoặc bàn luận gì về việc ấy cho đến Phục Sinh, quang vinh. Và cuối cùng, các thánh cũng nhận ra được sự thực, rất hiển thị.

Nhận ra được điều ấy, cũng phải mất nhiều tháng ngày dài trong Chay tịnh. Có khi còn lâu hơn nữa. Kịp đến khi các vị tin vào Lời của Chúa và của Cha, các vị mới cảm nhận được kinh nghiệm quý báu này, là: cảm nghiệm quí giá mà chính Chúa cùng Cha Ngài đã chấp nhận yêu thương các thánh cách trọn vẹn. Yêu thương, tận hưởng tư thế đồng hành với các ngài, nên các thánh mới hiểu và yêu thương Chúa theo cung cách rất khác biệt. Và, các ngài lại cũng nhận ra được cuộc sống có kết quả, tức: đã biến hình/hiển thị như chưa bao giờ biết đến.

Cuối cùng ra, các thánh đã nhận ra rằng: các ngài có thể làm thế cho nhau và cho mọi người. Mỗi khi các ngài chấp nhận nhau và/hoặc yêu thương bất cứ ai trong cộng đoàn mình, thì động lực xúc tác cũng sẽ bắt đầu như thế. Chính đó là lúc, mối quan hệ giữa các ngài và mọi người cũng biến hình/hiển thị giống như Chúa. Và, các ngài trở nên người anh, người chị biến đổi, thành người mới.

Xem thế thì, biến-hình/hiển thị như Chúa Phục Sinh sẽ là biểu hiện chợt thấy trước một Phục sinh quang vinh. Một thứ thư giãn, buông lỏng không còn sợ chay kiêng nặng nề với nhiều người. Đó là sứ điệp và cũng là sứ vụ quyết được rằng: vì Đức Giêsu, nên dân con mọi người phải đổi thay. Và rằng: nếu tin tưởng vào Đức Giêsu, ta là người có thể biến hình/hiển thị thành người khác. Chỉ cần thật sự chấp nhận, thật tình yêu thương quyết chí vui hưởng sự hiện diện của nhau, cách thực tình, là đạt.

Vậy thì, mùa chay hay mùa nào cũng thế, hãy tự hỏi xem mình đã và sẽ làm gì cho người khác? Có nên làm cho người khác hiển thị thành người mới không? Và, có nên đổi mới chính mình, như hiển thị công minh, định hình, trong sáng? Đó chính là vấn đề của mọi thời, thời của hiển thị rất hôm nay.” (X. Lm Kevin O’Shea, CSsR Lời Chúa Sẻ San, nxb Hồng Đức 2014, tr. 72)

Hiển thị hoặc định hình hoặc gì gì đi nữa, cũng nên kể lại một chuyện vui để kết thúc cho có hậu. Kể, một câu truyện nhè nhẹ ở bên dưới, từng được người sử-dụng “Facebook” tên là Nguyễn Hải Lam san sẻ về hai bạn già vất vả mưu sinh, trong đó một người khiếm thị. Đôi bạn chí thân, đã đồng hành mưu sinh với nhau 20 năm trên chiếc xe máy. Bạn sáng mắt chở người khiếm thị đi khắp nơi hát rong để kiếm sống vào buổi tối.

“Truyện rằng:
Gần 12:00 giờ đêm, hai người ngồi cạnh nhau đếm tiền, một người ôm cây đàn, hốc mắt lõm xuống, một người tóc muối tiêu, mở tiền trong cái túi nhỏ bỏ vào nón và đếm. Tiền 2.000đ, 5.000đ, 10.000đ, 20.000đ và thi thoảng có vài tờ 50.000đ hay 100.000đ. Khách bộ hành đi ngang cứ nghe và thấy vài điều, và vài câu nói cũng hơi lạ:
-Hôm nay người ta đi nhậu nhiều ông ạ!
-Ừ, gần Tết cho nên họ ăn Tất niên thật vui vẻ.
-Có lẽ vì vui, nên có khách cho cũng sộp lắm.
-Ừ, tôi cũng mong có kha khá để mua quà Tết cho xấp nhỏ!
Tò mò, nên khác bộ-hành dừng chân ghé hỏi : 
-Hai chú là anh em hả?
-Không, hai chú đây là bạn bè, ông bạn này bị tật nguyền từ hồi nhỏ.
-Thế, chú chở chú này đi hát bao lâu rồi thế?
-Chú đi làm ban ngày, đến đêm chở bạn này đi hát rong, ai thương thì cho, ổng không chịu ngồi lề đường chờ mọi người bố thí, cũng không chịu ở nhà cho bà con nuôi.
-Thế, hai chú làm thế bao lâu rồi vậy?
Đến lúc này chú mù mới nói:
-Cũng hăm mấy năm rồi con, ổng là đôi mắt, đôi chân đưa chú đến nơi chú có thể hát cho mọi người nghe. Xưa, ổng chở chú bằng xe đạp, sau này mua được xe máy thì chở chú bằng xe máy.
-Mỗi ngày làm việc xong hai chú chia tiền cho nhau thế nào?
-Được bao nhiêu đều cưa đôi, chú chịu tiền xăng…
-Thôi, xin chúc hai chú thật nhiều sức khoẻ. Tết nhất thật ấm áp bên gia đình.
-Cám ơn cháu, cháu cũng vậy nhé!

Người bàng quan thấy cảnh chia tiền cũng hơi lạ, bèn dừng lại ghé mắt xem sao. Người sáng mắt dúi vào tay bạn mình một sấp tiền, đa số là tiền 100.000đ, 50.000đ và 20.000đ. Còn trên tay vị kia là tiền 10.000đ và một số là tiến 5.000đ, 2.000đ.
-Đây phần của ông, tôi chia đôi đó.
-Cám ơn ông, bao nhiêu năm nay ông đều giúp tôi đi và vẫn chia đều cho tôi.

Người dừng lại quan sát, chợt thấy mắt mình hơi cay cay, dụi mãi cũng không thấy giọt nước nhỏ lăn tròn trên má. Cứ suy mãi "Chia đôi" đâu có nghĩa đồng đều, hai phần bằng nhau. Người mù thì tin bạn hoàn toàn tốt bụng. Người sáng, cứ muốn trao cho bạn phần tiền hơn hẳn.” (Truyện kể tích tụ từ nhiều nơi chừng như là trang mạng, rất vi-tính)

Truyện kể tuy chỉ mỗi thế, nhưng lời bàn của người kể lại không chỉ thế, vẫn cứ là: “Sống ở đời, phải chăng nhiều người có rất nhiều tiền, nhưng không giàu. Và ở đây, 2 vị này lại là những người thật sự giàu có, vui tươi và phúc-hạnh. Và, cuộc sống con người vẫn còn quá nhiều điều tốt đẹp để ta trân-trọng. Bởi, tim can con người vẫn rộn rã đập mãi một nhịp thương yêu, sống với nhau và trao cho nhau tình thương yêu nồng thắm, vẫn rất nhiều.

Thế đó là lời bàn mà bạn và tôi, ta có thể áp-dụng ở nhiều nơi, nhiều lúc hoặc khắp mọi lúc. Những nơi và lúc tưởng chừng như câu hát của người xưa, những hát rằng: “Tình đã như mùa thu” còn đó nỗi buồn. Nhưng, sự thật không phải thế. Vẫn hơn thế rất nhiều, nếu ta qui về lời thánh hiền khi xưa cũng đã bàn nhiều về thứ “Tình đã như mùa thu” của nhiều người như sau:

“Tình yêu không được giả hình giả bộ.
Anh chị em hãy gớm ghét điều dữ,
tha thiết với điều lành;
thương mến nhau với tình huynh đệ,
coi người khác trọng hơn mình;
nhiệt thành, không trễ nải;
lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.”

Nói như thế, cũng tựa như người nghệ sĩ từng kể nhiều điều về “Tình đã như mùa thu” ở âm-nhạc, rằng:

“Ŋgười đi câu cɑ, chuуện đồng xɑ.
ßằng tiếng hát thổn thức trong đêm dài.
Ϲhuуện tình sɑo lắm những u hoài.”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Câu ca, chuyện đồng xa”, có thể là chuyện của “mùa Thu” hôm ấy có những người không còn tiền lẻ để đi xe như cô bé nọ, nhưng vẫn còn trí nhớ và tình thương yêu người đồng loại, để nhớ đời. Nhớ một người. Nhớ hết mọi người. Ở mọi nơi.    


Trần Ngọc Mười Hai
Không nghĩ xấu về người đời
Nhưng vẫn trân-trọng mọi người
ở mọi nơi
rất trong đời.