Tuesday, 2 January 2018

“Hoa phượng rơi đón mùa Thu tới.”



Chuyện phiếm đọc trong tuần sau lễ Hiển Linh năm B 07-01-2018

 

“Hoa phượng rơi đón mùa Thu tới.”
Màu lưu luyến nhớ quá, Thu ơi.
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi,
Xác tươi màu pháo vui, tiễn em chiều năm ấy.”
(Nguyễn Văn Đông – Sắc Hoa Màu Nhớ)


À thì ra, “sắc hoa màu nhớ” ở đây, lại là sắc màu phượng vĩ rất “đỏ lì” gợi nhớ nỗi niềm xa xưa, của ai đó phải chăng chỉ mỗi tác giả? Nỗi niềm ấy, còn được thu gọn bằng những ca-từ như sau:

“Xưa từ Khu chiến về thăm xóm.
Ngàn xác pháo lấp ánh sao hôm.
Chiều hành quân nay qua lối xưa,
Giữa một chiều gió mưa,
xác hoa hồng mênh mông.
Đời tôi quân nhân,
chút tình riêng gởi núi sông,
yêu màu gợi niềm thủy chung.
Nhưng rồi vẫn nhớ một trời, vẫn nhớ đời đời,
phượng rơi như rơi trong lòng tôi.
Thu vừa sang sắc hồng tô lối.
Tình Thu thắm thiết quá Thu ơi!
Nhìn màu hoa xưa tan tác rơi,
nhớ muôn vàn nhớ ơi,
hát trong màu hoa nhớ.
Tôi lại đi giữa trời sương gió.
Màu hoa thắm vẫn sống trong tôi.
Chiều Thu sau không qua lối xưa,
để đừng nhìn gió mưa,
xác hoa hồng mênh mông.”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)

À thì ra, nỗi nhớ/niềm riêng của người viết nhạc rất quân-nhân, lại là nỗi niềm nhung nhớ của người nghe, lẫn ca sĩ ở quê nhà rất mượt mà, mỗi thế thôi.

Thơ văn, âm nhạc, nay thì như thế, rất rối bời. Còn rối tơi bời hơn, lại là chuyện Đạo trong đời hoặc chuyện đời trong Đạo như có lời hỏi han cùng thắc mắc, rất như sau:

“Thưa Cha,
Con có người bạn nọ hiểu biết khá nhiều nên cô ta vẫn trích dẫn tên tuổi các vị Giáo-hoàng cùng bậc hiển-thánh dễ như cơm bữa. Nhưng điều trớ trêu ở đây, là cô cứ khẳng-định rằng: ở chốn trời cao thiên-quốc, chẳng bao giờ thấy mặt người đạo Hồi, Do-thái-giáo hoặc cả đến Thệ Phản, cũng không, bởi vì có lần Giáo hội dạy rằng ngoài Đạo Công giáo mình ra, không ai được cứu rỗi hết. Có đúng như thế không, xin cha cho biết để con chuẩn bị tranh-luận với người này. Cảm ơn cha rất nhiều.” (Câu hỏi không ghi xuất xứ)

Câu khẳng-định đại loại như trên, thiết tưởng chẳng cần ghi xuất-xứ do ai nói. Điều đó cũng không cần. Chỉ cần nghe xem đấng bậc ở Sydney trả lời thế nào cho tiện việc, kẻo lại mất lòng tôn-giáo bạn, cũng không nên. Vậy thì, mời bạn và tôi, hãy để tai nghe đấng bậc nhà Đạo ở Sydney trả lời/trả vốn như thế nào. Và đây là lời đức ngài từng bảo:

“Câu phán-quyết trên đây, lại cứ bảo rằng: “bên ngoài Hội-thánh, chẳng thể nào có được ơn cứu-độ, câu nói này khiến ta quay về với thời tiên-khởi khi ấy mọi người được dạy dỗ suốt nhiều năm tháng, cũng hệt thế. Tuy nhiên, tưởng cũng nên hiểu cho thấu đáo ý-nghĩa của câu nói ấy, bằng không e rằng sẽ lại đi đến kết-luận triệt-để như người bạn anh/chị lại cứ bảo: chỉ mỗi người Công-giáo mới đạt chốn thiên-đàng, mà thôi.

Trong số các Tổ phụ từng xác quyết như thế, ta thấy có thánh Fulgentius của thành Ruspe từng quả quyết vào năm 500 với những câu như: “Không chỉ tất cả người ngoại đạo mà thôi, cả người theo Do-thái-giáo và các bè rối cùng đám người ly-giáo kết thúc sự sống ngoài Hội thánh Công giáo cũng đều rơi vào chốn lửa đỏ, đầy hoả hào.” (Về Niềm tin, nay gửi đến Phêro đoạn 38 câu 81)   

    

(X. Lm John Flader, Can non-Catholics be saved, or will they ‘go into the eternal fire’? The Catholic Weekley 12/4/2015, tr. 22)

Như trên, là câu đáp trả của “đấng bậc nhà Đạo” của Công giáo. Và dưới đây, lại là ý-nghĩ rất vô thường và cũng bình thường của người nhà Đạo, cũng tâm-linh/tâm tình như Đạo mình. Tâm và tình, vẫn cứ bình bình như câu truyện kể gọi là “Cây lá chuyển mùa” sau đây:

Bà Darlene Cohen, một vị giáo thọ của thiền viện San Francisco Zen Center, có chia sẻ như sau về những biến đổi của cuộc sống.

“Ba tôi, qua đời với chứng bệnh ung thư ruột già. Có lần trong lúc bị hành hạ với căn bệnh, ông quay sang bảo tôi, ‘Nhớ đừng bao giờ già nghe con!’ Câu nói ấy của ông mỉa mai ở điều là: làm như người ta có thể tránh được tuổi già vậy. Ba tôi thì lúc nào cũng thường hay tự châm biếm cái tuổi già của mình, ông nói ‘Ba già lắm rồi, Ba quen biết với cả cha mẹ của Thượng Đế!’

Khi tôi được 28 tuổi, tôi tìm đến thiền viện San Francisco Zen Center với một ý định duy nhất: để bước vào cảnh giới an lạc tuyệt vời của Niết bàn, và rồi sẽ không bao giờ bước ra nữa. Và tôi dự định là sau khi đạt được niềm an vui vĩnh cửu ấy rồi, tôi sẽ rời bỏ tu viện chán ngắt ấy, để làm một cái gì đó với cuộc đời mình, ví dụ như mở trường thiền, dạy giáo lý, giúp tham vấn… tôi sẽ tự tại đến đi mà chẳng có chút gì là bận tâm với cuộc đời.

Nhưng tôi lại không ngờ sự buồn chán trong đời sống ở tu viện đã giúp tôi khám phá lại được chính mình sâu sắc hơn, khiến tôi không còn muốn làm một điều gì khác hơn nữa. Và cuối cùng, tôi đã ở lại và sống trong thiền viện Zen Center trong suốt một thời gian dài. Bây giờ nhìn lại tôi mới thấy rằng, nhờ bỏ đi cái ý định hấp tấp ‘đánh rồi chạy’ ban đầu ấy, mà tôi cũng đã ngẫu nhiên dùng một phần lớn cuộc đời mình để chuẩn bị cho: bệnh, lão và tử.

Khoảng vài năm trước đây, tôi bắt đầu nhận thấy rằng, mỗi khi nhìn mùa xuân đến, tự nhiên tôi cũng có một cảm giác sầu muộn, tiếc nuối nhẹ nhàng nơi lồng ngực, như mỗi khi tôi nhìn ánh nắng chiều vàng óng trên những chiếc lá bắt đầu đổi màu, báo hiệu sự chấm dứt của một mùa hè. Tôi ghi nhận điều này với một chút mâu thuẫn trong lòng: một mặt tôi cảm thấy hạnh phúc vì vẽ đẹp thiên nhiên đã giúp tôi dừng lại, bước ra khỏi những bận rộn của cuộc sống hằng ngày, nhưng một mặt tôi lại cảm thấy có chút gì buồn lo trong sự đột nhiên chú ý đến những thay đổi của ngày tháng.

Tại sao bây giờ tôi lại có những cảm xúc như thế này? Tôi đoán có lẽ tôi bắt đầu ý thức được rằng, cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu những mùa xuân xanh lá và mùa thu rực rở nữa, để làm cho tôi dừng lại trên con đường nhỏ mình đi? Rồi còn có bao nhiêu lần mà tôi sẽ bước ra khỏi những buồn lo của mình, khi dừng lại và ngữi mùi hương phảng phất trong không gian lành lạnh khi trời bắt đầu vào đông? Tôi có chia sẻ những cảm nghĩ riêng tư này với một vị giáo thọ trong khóa tu vừa qua, bà ta nói, ‘Phải rồi, thân này của ta hiểu được giáo lý vô thường sâu sắc hơn ai hết.’ ”

Bây giờ đang bắt đầu vào mùa hè, nhưng tôi cũng đã thấy bóng dáng của mùa thu đang về. Tôi không biết một chiếc lá bắt đầu “thu” từ lúc nào, chỉ biết một buổi sáng thức dậy nhìn sang khu rừng cạnh nhà, thấy toàn màu sắc. Và trong cuộc đời cũng vậy, chúng ta bắt đầu biết là mình “già” khi nào bạn hả? Khi nhìn đứa con của mình ra trường, đi làm, lập gia đình; hoặc khi thấy người chủ mới trong công ty, vị bác sĩ khám cho ta, người thầy trong lớp… chỉ đáng tuổi con cháu mình thôi.

Ở vùng tôi ở không gian rất đẹp khi những chiếc lá bắt đầu đổi màu. Tôi thích được đi dưới những cơn mưa của màu sắc, có tiếng gió lùa những chiếc lá khô chạy đuổi nhau lào xào trên mặt đường cuốn theo mỗi bước chân. Vòm cây bóng mát che ngang trên con đường nhỏ mình đi có muôn màu lá. Mỗi tờ lá cũng có một mùi thơm riêng của nó! Bạn có tưởng được trên vũ trụ này có biết bao nhiêu là màu vàng khác nhau không? Biết bao nhiêu là những màu cam, màu tím, màu đỏ khác nhau không? Một ngày ngồi yên trong rừng, ta có thể thấy và nghe được tiếng trời đất giao mùa.

Khi đến một tuổi mà ta chợt ý thức rằng “cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu những mùa xuân xanh lá và mùa thu rực rở nữa, để làm cho tôi dừng lại trên con đường nhỏ mình đi”thì ta cũng bắt đầu hiểu được những gì mình thật sự có chỉ là giây phút này mà thôi, ngoài ra không còn gì khác hơn nữa. Ta cũng biết được rằng, mình không bao giờ nắm bắt được một điều gì hết, chúng sẽ xảy ra và rồi sẽ qua đi, dù ta có mong cầu hay ghét bỏ.

Có lẽ cái Tôi của mình cũng không còn cứng nhắc như xưa, ta dễ tiếp nhận và sống thật với những gì xảy ra hơn. Và tôi cũng trải nghiệm rằng, trong cuộc đời, những lời nói dầu hay đẹp đến đâu cũng không có giá trị bằng cách ta đối xử với nhau: rằng sự cố chấp là gốc rễ của mọi thứ khổ đau, và biết xả buông là cánh cửa của hạnh phúc.” (Truyện kể trích từ điện thư trên mạng, mới vừa qua)

Thật ra, vấn đề ở đây không phải để tội và bạn, ta bàn về tuổi già hoặc tuổi trẻ thiếu mất sắc màu tươi tắn của thời còn nhỏ, mà là nhận-định làm sao để còn sống cả những ngày dài không còn như xưa, nữa.

Và, vấn-đề còn là và sẽ là: cuộc đời người, không đẹp ở thời quá-khứ hoặc tương lai mai ngày, mà là những ngày đời ngắn ngủi, rất hôm nay.

Đúng thế, hôm nay chính là sắc hoa màu mè rất đáng nhớ trong cuộc đời của mọi người, rất thức thời và hợp thời. Rất đoạn trường và miên trường. Cũng vĩnh hằng một tình thân thương, rất mến thương.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn suy tư
nghĩ ngợi nhiều
về những sắc hoa rất nhớ màu.      

“Ngày xưa ngày xửa ngày xưa”

Chuyện phiếm đọc trong tuần sau lễ Thánh Gia năm B 31-12-2017

“Ngày xưa ngày xửa ngày xưa
Chiều mơ chiều nắng đẹp khoe mầu tơ
Hai đứa mình còn trẻ thơ
Rủ nhau ngồi ngưỡng cửa chơi thẩn thơ.”
(Phạm Duy – Quán Bên Đường)

(Gioan 6: 45-46)
Quán xá bên đường, đâu kể gì ngày xửa ngày xưa. Quán xá hôm nay, ở nhiều nơi/nhiều chốn, rất bên đường. Chỉ câu hát “mái tóc bánh bèo” hoặc “da mét vì nghèo” được cất thành tiếng vào buổi Hát Cho Nhau Nghe hôm 18/11/2017 ở Sydney, mới thành chuyện. Chuyện hôm nay, hay ngày xưa cũng đều có những tình-tự như sau:

“À a a nhớ nhớ em còn mái tóc bánh bèo
À a a nhớ má chưa hồng da mét vì em nghèo
Đầu anh còn húi trọc, còn húi trọc
Khét nắng hôi trâu thèm đi học, thèm đi học
Thèm đi học...
Em cầm một củ khoai
Ghé răng cạp vỏ rơi
Xong rồi mình chia đôi
Khoai sùng này lượm mót
Sao ngọt lại ngọt ghê
Giờ đây kỷ niệm ngày xưa
Giờ đây cảnh cũ chìm xa mù khơi
Gặp nhau một chiều lạnh mưa
Nhìn nhau quần áo bảnh bao mừng sao.
Nhìn em còn xinh còn tươi
Đời em tưởng đâu là vui
Nhà em phải chăng là đây
Dè đâu chẳng may là quán
Em bẹo hình hài đem bán
Rồi em hỏi anh: làm chi
Cầm bút để viết ngày đêm, viết gì
Đời thối phải nói là thơm
Ngòi bút là chiếc cần câu miếng cơm.”
(Phạm Duy – bđd)

Ngày xưa hay hôm nay, vẫn còn những câu những kéo rất mê hồn, như con người vào mọi thời. Và, con người hôm nay lại sẽ hỏi những câu hơi ngớ ngẩn để rồi câu trả lời cũng không ngẩn ngơ/ngơ ngẩn, rằng: 

“Em hỏi nghệ thuật là chi.
Là đui, là điếc, là câm mà đi.
Nhìn nhau lặng lẽ nhìn nhau.
Nào có ai đánh mà sao lòng đau.

Bánh ngọt cùng mời ăn.
Nhớ chăng củ khoai ngon.
Bánh tươm vàng như nắng.
Bánh này mình chưa cắn.
Sao mà miệng cay đắng.
Rồi xin một nụ cười thôi.
Cười ư?
Anh đã vùi quên nụ cười.
Thì xin vài giọt lệ rơi.
Lệ em cạn đã từ lâu, người ơi.
Trước khi từ giã hỏi nhau
buồn hay là vui.
Thì cứ hỏi ngay cuộc đời...
(Phạm Duy – bđd)

Đó là chuyện xảy ra ở ngoài đời. Một đời rất thơ, văn, nghệ thuật, rất đẹp. Còn, chuyện xảy đến với nhà Đạo, lại cũng có những điều khá lơ mơ, vẩn vờ như câu hỏi/đáp với đấng bậc ở Sydney, rằng:

Thưa Cha,
Nhìn vào giáo-huấn của Đạo mình, con thấy rằng bất cứ ai thuộc bất kỳ tôn-giáo nào cũng đều được cứu vớt hết. Vậy thì, làm người Công giáo có gì lợi lộc hơn những người thuộc các Đạo khác, không? Phải chăng làm Phật tử, tín-đồ Ấn-giáo hoặc người Thệ Phản có dễ hơn không là bởi vì niềm tin trong Đạo của chúng ta đòi hỏi nhiều thứ hơn các Đạo khác chứ, phải không thưa Cha?” (Lại vẫn là câu hỏi nghe khá quen của một người)

Bảo rằng đây là “câu hỏi nghe khá quen của một người” hay nhiều người, thiết tưởng đó vẫn là những câu nhiều người hỏi, cần có giải đáp trung thực, và sâu sắc. Đấng bậc trả lời câu hỏi này, hôm nay, dù có sâu sắc/chắc nịch  hay không, vẫn là đấng bậc ở Sydney vị vọng không ngại ngùng một vương-vấn hoặc khúc-mắc nào hết. Và, đấng bậc hôm nay, lại đã đáp trả như thế này:

“Vấn-đề không phải là làm sao tìm cho ra một đạo-giáo nào khả dĩ có ít đòi hỏi gửi đến thành-viên đạo-hữu của mình, mà thôi đâu. Các đạo-giáo tương-tự vẫn ở đây đó, rất không xa.

Vấn-đề ở đây, là bảo rằng: ta cũng nên tìm cho ra một đạo-giáo đến từ chính Thiên-Chúa và đạo-giáo này phải răn dạy qua tư-cách và thẩm-quyền thánh-thiêng con đường dẫn đến thiên-quốc. Thật ra, ta chỉ có duy nhất một đạo như thế mà thôi; và đây là thứ Đạo được chính Đức Giêsu tặng ba cho ta, là Hội thánh rất Công giáo.

Vâng. Chính thế. Hội thánh ta cũng từng đưa ra các đòi hỏi tương-tự gửi đến với chúng ta, nhưng đồng thời các đấng cũng tặng ban cho ta mọi giùm giúp/hỗ trợ ta cần đến ngõ hầu sống thực các đòi hỏi ấy. Hội thánh kỳ-vọng là ta tham-dự thánh lễ ngày Chúa Nhật và lễ các đấng thánh này khác hầu tuân-giữ ngày/mùa sám-hối mà thương-yêu người đồng-loại như chính mình; tôn-kính sự sống của hài nhi chưa sinh không bằng hành-xử phá thai, nhưng trung-thành trong hành-xử cho phải lẽ với người phối-ngẫu của mình, đến hơi thở cuối cùng.

Đành rằng, điều này càng làm cho cuộc sống của ta thêm bận-rộn. Thế nhưng, đó chính là con đường, là sự thật và là sự sống dẫn dắt ta đến hạnh-phúc ở nơi đây, trong hiện tại và mai ngày.

Hơn nữa, giáo-huấn của Hội-thánh ta còn dạy về các vấn-đề, như: phá thai, an-tử và tính keo sơn, trường-tồn của hôn-nhân không là những gì được các Giáo hoàng hoặc Công đồng thời Trung-cổ kỳ vọng, và rồi áp-đặt lên ta, từ đó đến thiên-thu. Đó là giáo-huấn đặt nền-tảng trên luật tự-nhiên, trên bản-chất rất nguyên-thuỷ của con người. Và, bằng vào tư-cách rất như thế, nên toàn thể nhân loại bất luận ta có là người Công-giáo hay không cũng đều áp-dụng cho mọi người.

Vốn dĩ mang bản-chất nền-tảng cho việc triển nở của con người, chúng giúp ta sống thực như người đoan-trang hợp khuôn phép biết tôn-trọng lẫn nhau, và khiến cho xã hội trong đó người người cùng sống lại sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Chính vì lý-do này, mà ta tỏ lòng biết ơn Đức Giêsu đã mang đến cho ta một Giáo-hội tốt đẹp có được sự trợ-giúp của Thánh Thần Chúa dạy ta biết sống trung-thành qua nhiều thời-kỳ con đường dẫn đến hạnh-phúc ở đây và mai ngày, vào đời sau.

Quả thật là, các đạo-giáo khác không rõ ràng đưa ra giáo huấn nào đòi người đi theo phải có hành-xử này khác, nhưng đòi hỏi này càng làm cho đạo-hữu của thấy khó lòng giúp họ thực-hiện cuộc sống theo cách tốt đẹp như bao giờ.

Thêm vào đó, Hội thánh không chỉ răn dạy ta đường-lối đúng đắn hầu đạt phúc hạnh mà thôi, nhưng còn tặng ban cho ta các Bí tích tràn đầy nhiều ý-nghĩa mà ta cần để có thể sống thực các giáo huấn này. Bí tích Thanh-tẩy tặng ban cho ta sự san sẻ đi vào cuộc sống của chính Thiên-Chúa bằng việc trú ngụ trong Ba Ngôi Thiên Chúa nơi linh hồn và bằng ơn thánh-hoá để rồi khiến ta nên thánh mà làm đẹp lòng Chúa.

Bí tích Thêm sức, lại cũng xác-nhận với ta huệ lộc Thanh Tẩy và ban cho ta thêm sức mạnh hầu sống xứng đáng như người Công-giáo thực-thụ. Thân Mình Chúa ta có thể nhận được mỗi ngày nếu muốn, vẫn kết-hợp ta một cách trọn vẹn với Đức Kitô và khiến ta dễ dàng trở nên giống Đức Kitô hơn, qua hành-xử. Thêm nữa, Bí tích Xá giải lại thứ tha các lầm lỡ, tội phạm của ta rồi sẽ gửi ta đi vào con đường sạch sẽ có bổ dưỡng hầu khởi sự cuộc chiến đấu linh-thiêng nhiều hơn nữa.

Bí tích xức dầu Kẻ liệt, làm cho ta mạnh hơn lên mỗi khi ta gặp nguy hiểm có thể chết. Đời sống vợ chồng trong hôn-nhân chính đáng tặng ta ân-huệ thỷ chung với quyết-tâm của mình trong hôn-nhân. Và, Bí tích truyền chức thánh tặng ban cho ta các thừa-tác-viên lành thánh có khả-năng thực-hành bí tích, cử-hành thánh-lễ và hướng-dẫn ta trong công-cuộc thánh-hoá bản thân, của mỗi người.                

Không có được sự trợ-giúp như thế, tín-hữu chúng ta sẽ đi về đâu? Cũng nên nhớ, rằng: tất cả mọi người trên thế-giới, dù có là người Công-giáo hay không, đều phải chiến-đấu tránh phạm tội. Không một ai là miễn-nhiễm trước các cơn cám dỗ hoặc phạm lỗi trước mặt Chúa.

Thế nhưng, còn gì dễ hơn là chiến thắng khi ta có được giáo-huấn rõ ràng của Hội thánh về những chuyện tốt/xấu và ta có được các Bí tích giúp ta mạnh mẽ thêm và tẩy sạch khi ta ngã quỵ. Tất cả mọi sự sẽ phán xét cung-cách ta sống các lời răn căn-bản về luân-lý/đạo-đức và khi ta có được sự trợ giúp của Hội thánh rồi, mọi sự sẽ trở nên dễ dàng hơn với ta.

Lại nữa, tham-dự thánh lễ các ngày Chúa nhật không phải là gánh nặng ta phải chịu mà là trợ giúp rất lớn để ta sống cuộc sống tốt đẹp. Trong Tiệc Thánh, ta có cả cộng-đoàn xung quanh luôn cầu nguyện với ta và cho ta trong chiến đấu. Ta được nghe Lời của Chúa vốn nhắc nhớ ta các sự thật căn bản về Thiên-Chúa, về sự sống và nỗi chết, và về cuộc sống ở đây, dưới thế-trần này.

Tham-dự thánh lễ, ta còn được nghe các bài giảng khuyến-khích ta cung cách tích-cực mà thực-thi những gì ta đã nghe được trong các bài đọc hầu giúp ta chiến đấu sống xứng-đáng bậc thánh-hiền.

Ta cùng nhau nguyện cầu với vị linh-mục và cộng-đoàn giáo-dân đưa nhau đến gần Chúa là Đấng ta phụng thờ hầu cảm tạ mọi ơn lành Ngài tặng ban, lâu nay. Trên hết mọi sự, ta còn được rước Mình Máu Chúa để trở nên một trong Đức Kitô.    

Nói tóm lại, làm người Công-giáo tức là ta có đủ mọi lợi lộc trong đời mình. Mỗi năm có cả trăm ngàn người gia-nhập Hội-thánh vào lễ Phục Sinh không phải để chơi giỡn, và nhiều người trong họ đến từ các đạo-giáo đòi hỏi nơi thành-viên ít thứ, ít chuyện hơn Đạo ta.

Nay, ta hãy cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban cho ta Hội thánh của Ngài rất lành thánh, rất tốt đẹp. (X. Lm John Flader, Is there any advantage in being Catholic, given the demands on us, the Catholic Weekly 19/4/2015, tr. 18)

Người đi Đạo nào cũng thế, kể cả Công giáo, Phật Giáo lẫn Đạo Hồi đều có một tâm-điểm rất giống nhau, là cứ men theo cuộc đời người. Điểm going giống ở đây, còn là mẫu sỗ chung giống hệt câu truyện kể ở bên dưới:

Đàn ông luôn tỏ ra bất mãn với “Tật nói nhiều" của Phụ nữ, thậm chí coi đó là một giấc mộng kinh hoàng nhất trong cuộc đời! Trong khi đó, hầu hết Phụ nữ lại cho rằng: Họ buộc phải nói nhiều để "chiến đấu" với tật xấu của bạn đời.

Theo các Chuyên gia về gia đình, thì không có gì hoang tưởng hơn, là chỉ dùng lời nói mà có thể cải tạo được một người Đàn ông. Trái lại, không ít cuộc ly hôn đã là hậu quả trực tiếp, hay gián tiếp, của những cuộc tra tấn bằng ngôn ngữ triền miên ....

Người ta kể rằng:
Có một người Đàn ông bị đi tù 2 năm vì tội đánh vợ. Sau khi mãn hạn được tha về đoàn tụ với gia đình mới có một tuần lễ, anh ta lại khăn gói đến xin Ban quản lý nhà tù cho được tiếp tục cải tạo đến hết đời. Hỏi vì sao anh không thích ở nhà mà lại muốn vào tù? Anh ta thú thật rằng: Tuy ở trong tù mất tự do thật, nhưng còn sướng hơn ở nhà, vì không bị vợ nói ra rả suốt ngày đêm!

Một cuộc điều tra 3.000 người đàn ông ở Thượng Hải với câu hỏi: 
- "Tính xấu của vợ mà anh ngán nhất?" thì 86% người trả lời: 
-Nói nhiều! 

Các nhà Tâm lý học cho rằng: Hầu hết đàn ông đều sợ cái tính nói dai của các bà vợ. Nỗi sợ này có nguồn gốc sâu xa từ hồi nhỏ khi anh ta bị mẹ mắng mỏ. Đàn ông lẩn tránh các lời khuyên của vợ cũng giống như khi còn bé họ lẫn tránh lời dạy bảo của mẹ.   

Hóa ra, Đàn ông rất hay bị Đàn bà rầy la: 
Lúc bé thì mẹ mắng.
Lớn lên một tí bị chị mắng. 
Lớn tí nữa, bị người yêu chê trách. 
Lấy vợ bị vợ đay nghiến. 
Về già lại bị con gái kêu ca ....

Có phải Đàn ông bị vợ nói nhiều là đáng đời vì họ lắm tội? Tiếc rằng thực tế cho thấy: Khó mà có ông chồng nào thoát khỏi những "tội lỗi” ấy: 
-Người làm việc trí óc bị rầy la về đóng cái đinh không nên hồn! 
-Người khéo léo chân tay lại bị chê là viết cái đơn không xong! 
-Người giỏi cả chân tay lẫn trí óc lại bị tra tấn, vì không bao giờ biết mua vé đưa vợ đi xem một bộ phim ...

Giải thích tại sao Phụ nữ nói nhiều, có nhà Khoa học cho rằng: Vì khả năng sử dụng ngôn ngữ của họ mạnh hơn Nam giới. Lại có người cho rằng là từ thời tiền sử, Phụ nữ trồng trọt hái lượm nên tha hồ nói chuyện, trong khi đàn ông đi săn bắt phải ẩn nấp không nói được. Thật ra, Đàn bà cũng chẳng thích lắm điều, nhưng vì đa số việc nhà vẫn rơi vào tay Phụ nữ mà những việc đó thì không mấy khi được vừa lòng, do chồng con gây ra, vì vậy Phụ nữ không nói cũng không được.

Tuy nhiên, các nhà Tâm lý cho rằng: Người vợ khôn ngoan nói cái gì chỉ nói một lần thôi. Nếu điều đó không theo ý mình, thì cũng không nói đi nói lại, mà hãy làm thay anh ta. Bởi vì, cũng theo các Chuyên gia về gia đình, thì không có gì hoang tưởng hơn chỉ là dùng lời nói mà có thể "cải tạo" được một người Đàn ông đâu! 

Bây giờ ta hãy đi ngược thời gian xem khi mới quen hơi bén tiếng nhau, Phụ nữ có thói quen ấy không. Nếu có, có lẽ số cuộc kết hôn phải giảm đi 90%. Vậy khi mới yêu nhau, phụ nữ cư xử với đàn ông thế nào? Thường lúc đó họ khen không ngớt. Nào là: "Anh giỏi quá!"; Anh tài quá!"; "Anh thông minh quá!"... 

Thì ra, mọi chuyện chỉ bắt đầu từ khi kết hôn. Hãy thử nghe một đoạn băng ghi âm xem một cuộc xung đột vợ chồng thường diễn ra như thế nào? Ăn xong, người vợ nhẹ nhàng bảo:
-Bữa nay, anh rửa bát nhá!

Chồng vừa dán mắt vào tivi vừa trả lời:
-Được rồi, cứ để đấy!
Mươi phút sau vợ hỏi;
-Anh có rửa bát không nào?
Anh ta vẫn không dời mắt khỏi ti-vi, miệng trả lời:
-Có!

Nhưng đa số Phụ nữ không chấp nhận như thế! Họ muốn chồng phải làm ngay, nếu không thì hoặc họ sẽ tự làm, hoặc họ sẽ "trình diễn" một bộ mặt hình sự, mà những người đàn ông yếu bóng vía có thể bị chấn thương tâm lý, đến mức thấy mình đúng là một tên tội phạm. Bộ mặt ấy sẽ tiêu diệt hết cả mọi thú vui của anh ta trong ngày hôm đó.

Suy cho cùng, ai chả muốn nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, nhưng nếu vì thế mà đánh đổi cả bầu không khí gia đình êm ấm có nên không? Không ít cuộc ly hôn đã là hậu quả trực tiếp, hay gián tiếp, của những cuộc tra tấn bằng ngôn ngữ triền miên này. Để kết thúc bài viết, xin kể một câu chuyện có thật về một đôi vợ chồng người Nga.

Sergei Ivanovich kết hôn với Lena Xeramova và chỉ còn mấy hôm nữa là đến ngày kỷ niệm đám cưới vàng. Bỗng nhiên bữa nọ đang ăn thì bà vợ phát hiện chồng đánh rơi miếng thịt ra sân nhà, bà ta nghiến răng gầm lên:
-Ông ăn uống cái kiểu gì thế?

Sergei sửng sốt rồi ánh mắt từ từ lạnh lùng nhìn vợ, không nói một lời đứng dậy thu xếp khăn gói ra đi.

Về sau có người bạn thân của ông kể lại lần gặp cuối cùng, ông ta nói:
-Lúc nào bà ấy cũng đay nghiến tôi! Bà ấy nói tôi suốt đời không làm được một việc gì ra hồn! Lần này, ít nhất tôi cũng làm được một việc ra hồn, là ... ra đi vĩnh viễn! (Truyện kể trích từ trên mạng)

Trích đâu thì trích, chỉ cần bạn trích câu chuyện đời người đúng thực-tế để người nghe còn nể phục và cho rằng mình nói đúng và kể cũng không sai. Còn, cung-cách kể lể có nể-phục hay không, đều tuỳ mỗi người và mọi người.

Thế đấy, câu chuyện phiếm Đạo/đời cần kể nhiều, kể mãi không thôi. Nhưng, hôm nay đây, kể như thế cũng đã nhiều. Nay, xin bạn và tôi, ta kết thúc câu chuyện những kể lể, để tạm ngơi nghỉ, hầu kéo dài cuộc sống cần nghe chứ không cần kể nhiều như các cụ vẫn khuyên mọi người, trong đời.

Cần nghe nhiều, và chỉ nên nghe lời vàng của bậc thánh hiền lâu nay, vẫn dạy rằng:

“Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ:
Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ.
Vậy phàm ai nghe
và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha,
thì sẽ đến với tôi.
Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu,
nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến,
chính Đấng ấy
đã thấy Chúa Cha.”
(Gioan 6: 45-46)

Trần Ngọc Mười Hai
Xưa nay vẫn thích nói nhiều hơn nghe kể
Nên mới gọi đó là Chuyện Phiếm Đạo Đời
Rất buồn cười.