Bàn tay tôi nắm đầu tiên là của ai, là bố hay là mẹ? Tôi chắc chắn không biết. Nhưng tôi biết đó là hai bàn tay tôi đã nắm nhiều nhất thuở ấu thơ. Những bàn tay to, thô ráp bởi cày cuốc ruộng đồng, những bàn tay như thần thánh có thể làm hết thảy mọi việc. Bàn tay bố dắt tôi chập chững bước đi. Bàn tay mẹ cầm tay tôi uốn từng nét chữ.
Saturday, 22 July 2017
“Chỉ chừng một năm thôi”,
CHuyện Phiếm đọc
trong tuần thứ 17 thường niên năm A 30/7/2017
“Chỉ chừng một năm thôi”,
Là quên lời trăn trối,
Ai nuối thương tình đôi,
Chỉ chừng một năm thôi.”
(Phạm
Duy - Chỉ Chừng Đó Thôi)
(Thư Êphêsô 4: 2-3)
Vâng.
Đúng thế. Ngày “N” hôm ấy, ở buổi Hát Cho Nhau Nghe tại Sydney đêm mùng 8 tháng
7 năm 2017, cả hát sĩ lẫn người đệm đàn đều đã nhè nhẹ nói lên những lời làm rụng
đôi cánh hoa, ít khi nghe.
Vâng.
Quả thật ở chốn văn chương/thi-tứ nhà Đạo, lại cũng thế. Cũng thấy đề-cập đến vấn
đề nóng bỏng, giật gân và thời-sự như chuyện “linh-mục có vợ” hoặc chuyện “phụ
nữ làm linh-mục” được phép thi-hành thừa-tác-vụ cao-siêu/nhiệm-mầu để rồi, cuối
cùng thì: “cũng chỉ chừng đó thôi”.
Vâng.
Đời người, vẫn thấy và vẫn nghe đâu đấy vang lên những câu ca thực-tế cứ bảo rằng:
“Chỉ
chừng một năm qua,
Là
phai gầy hương cũ,
Hoa
úa trong lòng ta,
Chỉ
cần một năm xa...
Khi
xưa em gầy gò đi ngang qua nhà thờ.
Trông
như con mèo khờ, chờ bàn tay nâng đỡ.
Ta
yêu em tình cờ, như cơn mưa đầu mùa,
Rơi
trên sân cỏ già, làm rụng đôi cánh hoa.
Chỉ
một chiều lê thê,
Ngồi
co mình trên ghế,
Nghe
mất đi tuổi thơ
Chỉ
một chiều bơ vơ.”
(Phạm Duy – bđd)
Vâng.
Thế đấy. Nếu biết rằng: cũng “chỉ chừng đó thôi”, thì đã làm gì có chuyện nhiêu-khê,
tơi bời, rất vời vợi! Nhưng, “chỉ chừng đó thôi”, còn có nghĩa thế này:
“Chỉ chừng một cơn mưa,
Để không ngờ chi nữa,
Đi dưới mưa hồng nghe
Giọt nhẹ vào tim ta...
Ta yêu em mù lòa, như Ađam ngù ngờ
Yêu Eva khù khờ, cuộc tình trinh tiết
đó.
Nhưng thiên tai còn chờ, đôi uyên ương
vật vờ
Chia nhau xong tội già, đày đọa lâu mới
tha!
Chỉ là chuyện đong đưa,
Đời luôn là cơn gió
Thay áo cho tình ta
Chỉ là chuyện thiên thu...
Chỉ cần một cơn mưa, chẳng ai còn yêu
nhau.
Nào ngỡ đâu tình yêu giăng bẫy nhau
còn nhiều.
Nghe lòng còn kho giáo, nghe tình còn
khát khao.
Nên gục đầu rất lâu, xưng tội cả kiếp
sau.
Cả chiều người yêu nhau,
Còn ai là không thấu,
Len giữa u tình sâu
Một vài giọt ơn nhau...
... Tia sáng thiên đường cao rọi vào
ngục tim nhau.”
(Phạm
Duy – bđd)
Vâng.
“Tia sáng thiên-đường”, vẫn cứ “rọi vào
ngục tim nhau”, “len giữa u tình sầu”,
“một vài giọt ơn nhau”. Ơn nhau đây,
là: huệ/lộc soi-sáng chốn “thiên-đường” như “đám
ngù ngờ” “yêu Eva khù khờ”, “cuộc tình trinh-tiết đó”…
Vâng.
“Thiên đường là đây”, vẫn thấy “thiên tai còn chờ, đôi uyên-ương vật-vờ”,
“chia nhau xong tội già”, đày đoạ lâu mới tha.”
Vâng.
Cũng như thế. “Chốn thiên đường” nhà Đạo ở Úc này, hôm nay, lại
thấy xảy ra cái-gọi-là “tội già”, “đày đoạ” đến độ bạn và tôi, ta không thể
bỏ qua cho được. Tội già/đày đoạ đây, là: những tin tức…mình về đấng bậc nọ thuộc
tầm cỡ thứ 3 ở triều-thần Vatican, vừa trải qua một thứ “đoạ đày” như báo/đài vừa
thông báo:
“Nhân-vật đứng thứ 3 của Vatican, là Hồng
y George Pell người Úc vừa được báo cho biết: ông phải ra hầu toà về một cáo-buộc
là: ông đã “lạm-dụng tình-dục thời buổi trước”, lúc còn trẻ. Tin cho hay: kể từ
ngày Hồng y được bổ-nhiệm làm Bộ trưởng Thánh-bộ Kinh tế-Tài chánh, với trọng-trách
dọn/dẹp các vụ bê bối về kinh-tế/tài-chánh, của Giáo-hội.
Hồng y George Pell đã cực-lực bác bỏ cáo-buộc
có luận-điệu như thế. Ông sẽ không nương bóng đứng đằng sau trách-nhiệm của
mình ở Vatican, nhưng đã lên kế-hoạch về lại Úc để nghe những đoạn nhạc vừa trổi
lên. Trong lần tiếp xúc với báo-giới, ông tuyên-bồ: Vấn-đề này, lâu nay, được
điều-tra có đến gần như hai năm trời rồi.
Thật ra thì, báo-giới đã bắt chụp những
tin rò rỉ từ đâu đó, khiến trở thành mưu-toan giết chết thanh-danh ông cách tàn-nhẫn
đến độ hơn tháng trời nay, tin cho biết toà án Bang Victoria Úc quyết định ra trát
buộc Hồng y Pell xuất-hiện trước công-đường để trả lời cho những cáo-buộc nói trên.
Và,
Hồng y George Pell lại cũng tuyên-bố:
“Cuối cùng ra, điều mà tôi tiên-đoán trước
đây, có nghĩa rằng: rồi ra, họ cũng sẽ buộc tôi hầu toà chỉ để công-khai kết tội
tôi, mà thôi. Nhưng, tôi nhắc lại một lần nữa: tôi hoàn-toàn vô tội trước những
cáo-buộc như thế. Cáo buộc này, hoàn-toàn sai sự thật; bởi, toàn-bộ ý-tưởng về
chuyện lạm-dụng tình-dục xưa/nay đối với tôi vẫn là chuyện ghê-tởm không thể tưởng
tượng nổi.”
Thật dễ hiểu. Tin tức loan đi khắp nơi
về những chuyện như thế đã làm chấn-động mọi người, đặc-biệt là những người
không hay/biết rằng Cảnh-sát Bang Victoria, Úc đã mở cuộc điều-tra về chuyện
này.
Thế nhưng, chuyện Hồng y Goerge Pell than-phiền
về một mưu-toan giết chết con người không thương tiếc; và lời than phiền ấy, không
có gì là quá đáng. Đài ABC Úc cùng các báo/đài có uy-tín như tờ Sydney Morning Herald và The Age, cũng đã nêu bật lời đồn khen/chê, và chưa từng
để luột mất cơ hội bôi nhọ tên tuổi Hồng y Goerge Pell.” (X. Michael Cook, Australia’s Cardinal Pell charged with
sex offences, MercatorNet 29/6/2017)
Thế
đó, là tin-tức được người chủ-trương trang mạng mang tên MercatorNet đã
loan-báo. Nhưng, lời nhận-định từ giới hiểu biết sự việc diễn ra ở giáo-triều
Vatican, lại như sau:
“Hồng y George Pell, nay đã hết thời ở
Vatican, rồi. Quí vị có thể đánh cá/cược về nền tài-chánh và tài-sản kếch-sù của
Toà Thánh mà nói rằng, trên thực-tế, ông ta đã chấm-dứt không còn giữ chức-vụ Bộ-trưởng
Thánh-bộ Kinh-tế/tài-chánh là cơ-quan chuyên giám-sát nguồn tài-sản to lớn ấy.
Các cáo-buộc về Hồng y Pell đã lan-truyền
nhiều năm nhưng chưa lần nào bị tắc nghẽn. Hồng y Pell luôn nhấn mạnh rằng ông
vô tội, và tuần rồi ông cam-kết sẽ bạch-hoá tên tuổi mình trong sự-vụ gọi là “mưu-toan
giết chết con người không thương tiếc. Rõ ràng là, ông đã mướn trạng sự nổi-tiếng
của Melbourne là Robert Richter nổi tiếng chuyên biện-hộ các vụ hình-sự cho các
nhân-vật kiệt-suất. Thế nên, đây sẽ là cuộc chiến tại toà kéo dài cả năm hoặc
hơn nữa; và cũng kéo dài ngày đối với Toà Thánh Vatican trống vắng vị thủ-trưởng
hoặc cánh tay mặt của ngài.
Sự vụ liên quan đến Hồng y Pell làm ta
liên-tưởng đến trường-hợp của Libero Milone, nhà tài-chánh người Ý sinh trưởng
tại Hoà Lan, nhưng ăn học ở Anh và Hoa Kỳ. Vị thanh-tra 68 tuổi đời này được
tuyển-dụng làm tổng Thanh-tra Toà thánh cho một thời-gian dài, nhưng ông này đã
từ-nhiệm chức-vụ này mà không nói rõ lý-do chỉ vài tuần trước khi Hồng y Pell lấy
ngày nghỉ. Cho đến nay, sự việc ông Tổng Thanh-tra này dừng bước trước công việc
còn bề bộn vẫn là điều bí-ẩn, chẳng ai rõ biết duyên-do. Thanh-tra Milone chỉ tồn-tại
có hai năm, trong khi Hồng y Pell lại chỉ làm có hơn 3 năm trong nhiệm-kỳ 5 năm.
Nay thì Libero Milone đã rũ áo ra đi một
lần là mãi mãi, trong khi Hồng y chỉ tạm thời ít năm thôi, và chức-vụ này hiện
đang do hai nhân-viên cấp thấp đảm-trách, một là Đức Ông Alfred Xuerev, một
linh mục người đảo Malta là thư ký riêng của Đức Bênêđíchtô 16 và làm cho Đức
Phanxicô một thời-gian rất ngắn. Vị kia, là Đức Ông Luigi Misto từng là
nhân-viên kế-toán làm việc tại Tổng Giáo-phận Milan dưới triều Hồng y Carlo
Maria Martini. Kế-toán-viên này hiện trông coi bộ-phận hành-chánh trực-thuộc văn-phòng
Kinh-tài của Toà thánh.
Nhiều quan-sát-viên và các bình-luận-gia
chuyện Toà thánh lại vẫn tiên-đoán rằng: sự việc xảy ra mới đây, nói lên thảm-trạng
đối với các cố-gắng của Đức Giáo-Hoàng nhằm cải-tổ hoạt-động kinh-tài của Vatican,
trên bình-diện tổng-thể. Thế nhưng, bình-luận-gia người Ý của nhật-báo Corriero
della Sera ở Milan là ông Massimo Franco lại tin rằng: việc đổi-thay nhân-lực mới
đây, sẽ là cơ hội mới để công-cuộc cải-tổ trở về đúng với đường lối họ từng đặt.
Trong vụ Hồng y George Pell, ông Massimo Franco còn cho biết: sự việc Hồng y
Pell vĩnh-viễn rời bỏ Vatican sẽ xúc-tiến cuộc cải-tổ tài-chánh nhiều hơn là khiến
họ dừng đứng. .
Ông Massimo Franco cũng cho biết thêm
rằng: cung-cách mà Hồng y George Pell xử-lý sự việc ờ Toà thánh, quả thật đắt
giá và chẳng chút hiệu-năng nào hết. Bởi, thánh-bộ của ông lâu nay đụng-chạm
nhiều với các thánh-bộ khác. Và, đặc-biệt trong các xung-đột này, sự việc thường
thấy nhất là: các hành-xử của Hồng-y Pell hơi quá đáng về văn-hoá. Ông vẫn có thành-kiến
chống bất cứ thứ gì mang tính-chất Ý-Đại-Lợi. Hồng y Pell còn đi xa hơn nữa, ở
việc: bắt buộc mọi người phải sử-dụng tiếng Anh làm ngôn-ngữ chính trong
thánh-bộ của ông. Và ông từng nói xa nói gần rằng: lâu nay, tham-nhũng là vấn-đề
cố-hữu tồn-tại mãi trong phương pháp mà người Ý quản-trị về tài-chánh! Và, Hồng
y Pell không ngần-ngại áp-đặt hệ-thống pháp-luật kiểu “bàn tay sắt” của người Anh-Cát-Lợi
trên toàn thế-giới mà ông ít biết đến, nhưng Hồng y Pell vẫn một mực bác-bỏ những
điều như thế.
Nói tóm lại, theo ông Massimo Franco thì:
lề-lối xử-sự cách “cộc cằn” và mặc-cảm tự-tôn văn-hoá đã là trở-ngại chính cho
các cố gắng của ông để tiến tới công cuộc cải-tổ tài-chánh lớn rộng của Toà
thánh.
Nói cho cùng, thì: chủ-trương và
cung-cách mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang thực-hiện nhằm cải-tổ nền tài-chánh của
Toà thánh đang gặp khó khăn, thiết nghĩ Đức Phanxicô có lẽ phải chấp-nhận việc
cải-tổ bất-toàn này sẽ không còn là cái giá mà ngài phải trả, nếu ngài muốn đạt
mục-tiêu quan-trọng này.” (X.
Robert Mickens, Cardinal George Pell’s
Out. Now what? MercatorNet 03/7/2017)
Nhận-định
này/khác từ giới quen biết ở truyền-thông Úc, thì như thế. Như thế, vẫn như thể:
loan truyền tin-tức hoặc ghi-nhận chuyện thời-sự, cũng chỉ để người đọc mọi rộng
tai/mắt mà xem xét thôi.
Truyền-thông
báo giới hôm nay “coi vậy mà không phải vậy”, chút nào hết. Coi như thể không
dính-dự vào bất cứ trường-hợp khó xử nào ở nhà Đạo; nhưng kỳ thật, lại cũng
loan và báo những tin giật gân, động trời, đầy vấy bẩn.
Truyền-thông/báo
giới hôm nay, lại cứ đóng vai-trò “tưởng-chừng-như-đứng-ngoài”, nhưng trái lại,
vẫn từng gây hại rất nhiều cho cả nạn-nhân lẫn người bàng-quan, đứng ngoài,
không cần-thiết phải “biết hết mọi sự”.
Truyền-thông/báo
giới hôm nay là thứ quyền-lực ngầm chuyên trị những sự kiện ngoài tầm đạo-đức/chức-năng
của chính mình. Bởi thế nên, tin dữ càng được hoặc bị loan-truyền đi xa, càng
làm người bàng-quan/vô-tư cứ bị lôi kéo vào vòng tròng/tréo rất khó xử.
Để tạo
cho người và cho mình một tình-huống dễ sống và dễ thở hơn, có lẽ bạn và tôi,
ta cũng nên bỏ mọi chuyện gây bứt rứt sang một bên, mà tìm về vườn hoa truyện kể
để thư-giãn. Thư-giãn bằng truyện kể cảm-động có tên là “những bàn tay để nắm”:
“Truyện rằng,
Một lần nọ, ông xã ngồi mân mê bàn tay tôi rồi hỏi: “Nói
anh nghe, bàn tay này đã nắm bao nhiêu bàn tay rồi?” Một câu hỏi không hề dễ
trả lời, thậm chí là không thể trả lời cho chính xác. Có những bàn tay ta nắm
rồi buông, và chẳng bao giờ còn nhớ lại. Có những bàn tay, nắm rồi nhớ mãi dù
năm tháng đi qua.
Bàn tay tôi nắm đầu tiên là của ai, là bố hay là mẹ? Tôi chắc chắn không biết. Nhưng tôi biết đó là hai bàn tay tôi đã nắm nhiều nhất thuở ấu thơ. Những bàn tay to, thô ráp bởi cày cuốc ruộng đồng, những bàn tay như thần thánh có thể làm hết thảy mọi việc. Bàn tay bố dắt tôi chập chững bước đi. Bàn tay mẹ cầm tay tôi uốn từng nét chữ.
Bất cứ khi nào tôi ngã, hay khi tôi buồn khóc, ốm đau, sẽ
có bàn tay rộng lượng chìa ra cho tôi nắm vào để biết rằng mình đang được vỗ về
an ủi. Sau này lớn lên, tôi lấy chồng xa, thỉnh thoảng đưa con về thăm nhà, ngủ
chung với mẹ. Những đêm chờ mẹ ngủ say, tôi cầm bàn tay mẹ áp vào ngực mình.
Bàn tay vẫn to, đầy những nốt chai sần và nay đã nhăn nheo gầy guộc. Và tôi
khóc, cảm giác nhớ tiếc một cái gì đó.
Tôi nhớ bàn tay người con trai đầu tiên mà tôi gọi đó là
mối tình đầu. Đôi bàn tay đẹp, dài với những chiếc móng được cắt gọt cẩn thận.
Người ấy thường nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi, dùng ngón tay mình vẽ vẽ vào lòng
bàn tay tôi rồi hỏi: “Đố em biết anh vừa viết gì?”. Tôi lắc đầu. Anh cười nói
anh viết rằng: “Anh muốn nắm tay em đi hết con đường đời dài rộng” .Nhưng rồi
mọi lời hứa hẹn đều như gió thoảng mây bay. Bàn tay ấy đã buông lơi, thôi không
còn nắm tay tôi mà tìm đến một bàn tay khác. Những lúc buồn, tôi vẫn vô thức tự
vẽ vẽ lên lòng bàn tay mình. Rồi lại tự cười một mình khi nhận ra mình giống
hệt một kẻ ngốc.
Ngày có người con trai cầm tay tôi nói lời cầu hôn, tôi
cảm nhận rõ sự gai góc xù xì trong bàn tay ấy. Cảm giác ấy khiến tôi liên tưởng
đến bàn tay mềm mại của mối tình đầu, rồi chợt thốt lên: “Sao bàn tay anh xấu
thế?”. Anh nhìn tôi, bật cười giải thích, vì nó không được lớn lên trong mượt
mà nhung lụa mà lớn lên bởi những gánh nặng mưu sinh, vì nó không được nâng niu
mà đã bao phen trầy da chảy máu. Rồi anh nhìn vào mắt tôi, bàn tay siết chặt
bàn tay: “Em cứ tin, nó không đẹp nhưng chẳng ngại khó khăn nào cả, hãy cứ vững
tâm mà nắm lấy, được không?”.
Cuối cùng thì tôi đã nhận lời nắm lấy bàn tay ấy, để anh
dắt lên xe hoa, để anh lồng vào ngón tay chiếc nhẫn cưới, để anh lau những giọt
nước mắt ngày tôi về nhà chồng. Bàn tay ấy đã tự vào bếp nấu cho tôi bát cháo
ngày tôi ốm, tự cắm hoa vào lọ những ngày kỷ-niệm yêu đương. Bàn tay ấy đã dắt
tôi đi qua bao nhiêu ngày tháng chông chênh đan xen những lo toan và niềm hạnh
phúc. Đôi bàn tay xù xì nhưng cứng cáp và ấm áp vô ngần.
Ngày tôi đau tưởng chừng xé ruột để cho chào đời một sinh
linh, đứa con gái bé bỏng của tôi sau khi được y tá tắm rửa sạch sẽ được đặt
nằm cạnh mẹ. Hai bàn tay nhỏ xíu yếu ớt. Tôi nhẹ nhàng chạm vào bàn tay con,
hạnh phúc đến ứa nước mắt. Đó là khi tôi biết rằng mình đã thực sự trưởng
thành, và tin rằng mình sẽ mạnh mẽ hơn để có thể che chở cho con, để dắt con đi
suốt những tháng năm thênh thang phía trước.
Những đêm nằm bên con, cầm lấy tay con đặt nhẹ lên môi
hôn, chợt nghĩ rằng có lẽ ngày xưa mẹ mình cũng nâng niu và yêu thương mình
nhiều đến thế. Rồi một ngày con gái mình sẽ lớn, sẽ lại đặt bàn tay vào một bàn
tay khác mà con thương yêu. Chỉ mong con gặp đúng người để tin, và bàn tay
không bị buông lơi trong nỗi đớn đau thất vọng.
Ngày ông nội mất, tôi nghẹn lòng nhìn bà nội cầm tay ông
kể lể về những tháng ngày xưa cũ khi ông bà còn trẻ. Hai người đã cùng nhau
sống chung hơn nửa thế kỷ với bao nhiêu yêu thương, giận hờn, khổ đau, hạnh
phúc. Vậy mà nay tay bà còn ấm, tay ông đã lạnh ngắt rồi. Chẳng ai cưỡng được
số mệnh, chẳng ai đâu. Ai rồi cũng sẽ một ngày về nằm trong lòng đất. Có người
ra đi trong ồn ào khóc lóc, có người lìa khỏi thế gian trong lạnh lẽo cô đơn.
Người ra đi bởi đã trả xong nợ cõi trần. Chỉ là người ở lại sẽ mang nhiều nuối
tiếc xót xa khi biết rằng bao nhiêu yêu thương lúc này cũng không thể sưởi ấm
cho người được nữa.
Thỉnh thoảng tôi vẫn đưa tay mình lên trước mặt rồi tự
hỏi lại câu chồng mình đã hỏi: Bàn tay này đã nắm bao nhiêu bàn tay? Nhiều,
nhiều lắm. Có những cái nắm tay khiến mình nhớ mãi, có những cái nắm tay buông
rồi là quên ngay. Có những cái nắm tay thật chặt, cũng có cái nắm tay buông lơi
hờ hững. Chợt nhận ra một bàn tay đẹp không phải là bàn tay thon dài mềm mại
với những chiếc móng được tỉa tót sơn màu. Một bàn tay đẹp là chìa ra đúng lúc
mình cần, nắm tay mình qua những đoạn đường đời chông chênh sỏi đá, dẫu mệt mỏi
cũng không buông, dẫu xa xôi cũng không nản.
Nếu chúng ta đang có những bàn tay để nắm, xin hãy trân
trọng từng phút giây. Đừng mơ mộng những bàn tay xinh đẹp của ai kia mà buông
lơi bàn tay gần gũi ấm áp ở bên mình. Nắm lấy tay nhau, cử chỉ ấy ấm áp hơn mọi
lời nói yêu thương đầu môi chót lưỡi.
Bởi cuộc đời nhiều bất trắc, ai biết được khi nào ai nhắm
mắt xuôi tay. Ai biết được khi nào tay mình vẫn ấm áp đây mà bàn tay ai kia đã
vô chừng lạnh lẽo. Vậy nên khi sống không đem đến cho nhau sự ấm áp, thì khi
lìa khỏi nhân gian có bịn rịn tiếc thương cũng còn ý nghĩa gì?” (Lê Giang - Dân Trí)
Truyện ở trên, là câu
chuyện về nắm bắt tay/chân người khác, chứ không phải tay chân của chính mình.
Trong việc nắm bắt ý-nghĩa mọi sự việc trong đời, đặc-biệt là đời đi Đạo, lại
cũng thấy có những lời vàng từng bảo ban, như sau:
“Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn,
hiền từ và nhẫn nại;
hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn
nhau.
Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp
nhất
mà Thần Khí đem lại,
bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với
nhau.”
(Thư
Êphêsô 4: 2-3)
Nhằm thực-hiện cuộc sống “thuận hoà/gắn bó”
với nhau ở đời thường, lại cũng đề nghị bạn/đề-nghị tôi, ta nghe thêm câu
truyện ngắn khác hầu vui sống những tháng ngày tràn đầy các giao-dịch với mọi
người ở trong họ, ngoài làng, rất như sau:
“Truyện rằng:
Có một anh chàng
dắt theo một con chó ngao Tây Tạng trị giá cả bạc triệu ra ngoài đi
dạo. Anh ta hễ gặp ai cũng đều đem con chó ra khoe, lại còn huyênh hoang
mà nói rằng: “Người không có bốn năm
trăm cân sức lực thì không thể kéo nổi chú chó của tôi”.
Lúc này, anh chàng
nhìn thấy một ông già bị hói đầu bên đường cùng với một con chó gần như đã rụng
hết lông đang ngồi bên cạnh. Con chó ngao Tây Tạng của anh ta hướng về phía con
chó đó kêu sủa ầm ĩ, nhưng con chó già kia không thèm để ý đến nó.
Chàng trai cảm thấy
không vui. Nói rằng: “Ông lão
này! Con chó của ông lớn thế kia, là giống chó gì vậy? Hãy để hai con chó của
chúng ta đấu với nhau thử xem? Nếu chó của ông thua hãy đưa cho tôi 500 đồng,
còn nếu chó ngao Tây Tạng của tôi thua thì tôi sẽ đưa cho ông 2000 đồng”.
Ông lão nói: “Tôi đang lo lắng về thức ăn tháng sau của
anh bạn già này đây! Nếu được thì hãy đánh cược lớn hơn một chút? Nếu chó của
tôi thua, tôi sẽ đưa cho anh 5 vạn, còn nếu chó của anh thua thì anh hãy đưa
cho tôi 3 vạn”.
Anh chàng cười lớn:
“Con chó này của tôi là giống chó ngao
Tây Tạng thuần chủng. Sau này, ông đừng có nói là tôi đã không nói cho ông biết
trước. Được thôi!” Hai con chó giao tranh chưa được hai phút, chó ngao
Tây Tạng kia đã bại trận, cũng không còn dám kêu sủa gì nữa.
Anh chàng thua mất
3 vạn đồng, vô cùng sầu não: “Ông
này, con chó đó của ông là chó gì thế? Sao lại dũng mãnh thế kia?” Ông
lão vừa đếm tiền vừa nói: “Đến bây giờ
tôi cũng không biết nó là chó gì nữa, trước khi chưa rụng lông thì gọi là sư
tử!”
Anh chàng nghe xong
thì cười không được mà khóc cũng không xong!!! Bất cứ lúc nào thì cũng đừng có
khoe khoang, hãy giữ khiêm tốn! Khiêm tốn! Khiêm tốn hơn nữa! Bạn khoe khoang
cái gì, điều ấy nói rõ bạn đang thiếu nó.
Những người có bản
lĩnh thật sự, luôn luôn bảo trì một trạng thái bình tĩnh ôn hòa, giống như ông
lão đó và “con chó già” của ông, chỉ là điềm đạm ung dung mà tồn tại.
Bạn đã là sư tử rồi, thì đâu cần phải chứng minh làm gì nữa? Đâu cần phải
khoe khoang làm gì nữa?
Con người sống ở trên đời, không phải là để so đo với người khác. Bản
thân hãy sống sao cho có ý nghĩa nhất, và làm ra những cống hiến vĩ đại nhất.” (Truyện kể
rút từ trang mạng gồm đầy những câu truyện để kể cho nhau nghe)
Phiếm-luận chuyện Đạo/đời ngày hôm nay, còn là
kể cho nhau nghe một cách phiến-phiến những truyện kể dù không đáng kể, chỉ để
minh-hoạ vấn-đề gì đó ta bàn, rày cũng đặng. Phiếm-luận chuyện nghiêm-túc ở
trong Đạo hoặc chuyện vẩn vơ ở ngoài đời, còn là công việc của bạn, của tôi vào
lúc này. Những lúc hoặc những ngày, ta có rất nhiều chuyện để bàn và để tán,
như hôm nay.
Thế nhưng, chuyện gì rồi cũng đi đến phần kết
dù hay hoặc dở. Và hôm nay, đi vào phần kết-luận một chuyện phiếm, tưởng cũng
nên đề nghị bạn và tôi, ta lại cứ ngước mặt lên cao, hát lại những ý/lời của
nhạc-bản mang đầu đề “Chỉ chừng một năm thôi”; để rồi sẽ coi mọi chuyện như
“không có gì để ầm ĩ”, không còn tán rộng ra như thế.
Quyết thế rồi, nay ta mọi mọi người hãy hát
những lời như:
“Chỉ chừng một cơn mưa,
Để không ngờ chi nữa,
Đi dưới mưa hồng nghe
Giọt nhẹ vào tim ta...
(Phạm
Duy – bđd)
Trần Ngọc Mười Hai
Và những tháng ngày nhớ lại nhạc-bản
“Chỉ chừng ấy thôi”
Mà người hát đã cất tiếng cũng đủ cho
bài phiếm
Suốt ngày dài.
Monday, 17 July 2017
“Cho nhớ thương về quê xưa,”
Chuyện
Phiếm đọc trong tuần thứ 16 thường niên năm A 23/7/2017
“Cho nhớ thương về quê xưa,”
Mùa Xuân không còn nữa
Muôn cánh hoa đùa phai úa
Lối cũ rơi hững hờ...”
Mùa Xuân không còn nữa
Muôn cánh hoa đùa phai úa
Lối cũ rơi hững hờ...”
(Nguyễn
Hiền – Hoa Bướm Ngày Xưa)
(Thư Rôma 15: 5)
Nếu bạn
và tôi, ta chỉ chăm chú đến đầu-đề của nhạc bản thôi, thì cũng chẳng có chuyện
gì đáng để mình bàn hết. Bởi, “Hoa bướm
ngày xưa” hoặc cả hôm nay nữa, nào có gì khác lạ? Có khác chăng, chỉ mỗi
điều là: cả hoa và bướm xưa và nay cứ ê hề tràn đồng, cả ở thôn quê lẫn thị
thành, đuổi không đi.
Nhưng đến
thời hôm nay, mà lại nói chuyện hoa với bướm, thì e rằng sẽ chẳng có ma nào
chịu nghe và hát đâu chứ! Cũng may là, ca-từ ở giữa bài cũng làm tôi và bạn lại
sẽ lai rai bàn hoài, cũng không chán. Chán sao được, khi người nghệ sĩ hôm
trước cứ kể lể những là: “Nhớ thương về
quê xưa”, “Mùa xuân không còn nữa”, và “Lối
cũ rơi hững hờ”, vân vân…
Ấy đấy,
hôm nay đây, hễ có ai cất lên tiếng hát đậm-đà những “Nhớ (và) thương về quê xưa”,
là y như rằng: sẽ có người phụ-hoạ ngay thôi. Và, nếu ta không hát theo, thì
cũng chẳng có lời bàn “Mao Tôn Cương”
sương sương vài ba giọng, cho đỡ nhớ, đỡ thèm.
Hôm nay
và mai ngày, chắc chắn sẽ còn thấy nhiều vị và nhiều bạn, lại cứ bàn tán lai
rai, dài dài mấy chuyện “buồn thế-kỷ” về cái-gọi-là chuyện cũ xào xáo lại cho
mới cứng, như chuyện “có nên cho phép linh
mục nhà mình lập gia đình hay không” và/hoặc có nên để phụ-nữ tham-gia hàng ngũ
linh mục hay không?”
Quả thật,
cứ nhắc tới chuyện này là y như rằng: bạn và tôi, ta lại có ý-kiến phản-hồi rất
nhiều điều. Trước hết, là: ý-kiến của giới trẻ, khi nhận được bài trích-dịch
của Lm Edward Schillebeeckx bàn về
vấn đề “Linh mục có vợ”, tức: ý-kiến “phản hồi nhưng không phản đối” của đám người
trẻ thuộc nhóm “Alphonse Family” mới đây,
như sau:
“Ở bài số 22 trong loạt bài
“Thần-Học-gia toại-nguyện” của Lm Edward Schillebeeckx, ta thấy nhà thần học
này có quan điểm cởi mở (cấp tiến) trong 2 vấn đề lớn gây tranh cãi trong Giáo
hội nhiều năm qua: Độc thân linh mục và phong chức linh mục cho phụ nữ.
Đáng hoan nghênh, theo quan điểm của tôi.
Ở đoạn phong chức cho phụ nữ (chủ đề
2), ngài này nói:” Không có luận cứ hay ho nào lại chống đối việc phong
chức linh mục cho phụ nữ cả.” Câu này có thể áp dụng cho cả ở chủ đề 1,
nếu xét cho cặn kẽ và thực sự khách quan ở Kinh Thánh.
Nhưng có 1 nguyên tắc chung: hễ cái gì
đã trở thành độc quyền và đi kèm là đặc lợi thì giới được hưởng sẽ không dễ
dàng gì từ bỏ mà cố bám víu lấy. Không thiếu gì các biện minh để làm việc này.
Và vì vậy, con đường canh tân theo chiều hướng này, nếu được mở, sẽ kéo dài lâu
và lắm chông gai.
Ở 1 đoạn khác, ngài này nói: “tôi
vẫn có thói quen mở đài nghe các đấng tranh luận tại Thượng Hội Đồng Giám mục
Anh hôm 11/11/1992. Tranh-luận này, thuộc cấp cao lại sâu sắc, dám đề cập đến
vấn đề mục vụ cho những ai thuộc phe đối lập, làm như thế là để duy trì sự hiệp
nhất trong Giáo hội.”
Nhân dịp này ta hãy xem qua quá trình
công nhận vai trò của phụ nữ ở giáo hội Anh giáo qua 1 bài khác tiếp theo. Minh
Sĩ” (trích điện thư của bạn trẻ Minh Sĩ gửi
trên mạng ngày 07/7/2017 qua địa chỉ AlphonseFamily@googlegroups.com)
Tiếp theo
đây, là bức thư của người viết là giới bạn bè trong nhóm thân quen, rất
chững-chạc của một đấng khoa-bảng trong cộng đồng mình, như sau:
“Tôi vẫn thường
xuyên nhận được loạt bài dưới tựa đề “Thần Học Gia Toại Nguyện” của Lm. Edward
Schillebecckx do Mai Tá dịch phổ biến trên tamlinvaodoi@gmail.com.
Tôi đã lướt qua tất cả các đề tài, và cẩn thận cất vào file dự trữ chờ khi có
dịp thì mang ra nghiên cứu. Nhưng đến đề tài hôm nay khi nghe tác giả bàn về
“Đời Sống Độc Thân Tự Nguyện, và Nữ Linh Mục”, tôi đã dành cho nó một chút thời
gian. Nhưng thú thật, tôi thấy thất vọng với cái lối suy diễn “chữ nghĩa” và
lập luận theo quan niệm, cái nhìn hoàn toàn “con người” của nhà thần học này.
Tôi hy vọng những tư tưởng ấy chỉ là những gợi ý cho những ai đang quan tâm đến
Giáo Hội, và họ sẽ có dịp suy nghĩ nghiêm túc hơn khi theo dõi những tư tưởng
này.
Chức linh mục không
phải là một thể chế do con người ban tặng và tranh nhau như Thánh Kinh đã viết:
“Không ai được tranh chấp chức linh mục ấy. Chính họ phải được tuyển chọn…” …
one who has become a priest not by a law of succession, but by the power of an
indestructible life. For it is testified: “You are a priest forever in the order of Melchizedek.” (Hebrews 7: 16-17)
Dĩ nhiên khi được
chọn xong thì có nhiều linh mục cũng chẳng còn biết quí, biết giữ cái ơn đặc
biệt ấy, vì vậy mà đã xẩy ra rất nhiều chuyện đau lòng cho Giáo Hội. Thí dụ,
linh mục phạm tội ấu dâm, linh mục lăng nhăng tình ái, linh mục ham mê tiền
tài, linh mục ham mê quyền lực… Tóm lại, họ đã hiện nguyên hình như một con
người với thất tình, lục dục; với tham, sân, si. Nhưng biết sao, vì linh mục
cũng chỉ là con người. Tôi tin là Chúa biết rõ điều này.
Nhưng đọc lập luận
của thần học gia này muốn mở cửa, để tự do cho các linh mục ai muốn sống độc
thân hay ai muốn có vợ tùy lựa chọn, tự nhiên tôi thấy “luật chơi” sẽ không
công bằng, sẽ bị phá vỡ. Và lúc ấy chỉ nguyên một việc “có vợ” hay không “có
vợ”, linh mục có vợ và linh mục không có vợ tự nó đủ gây ra biết bao khủng
hoảng, chia rẽ trong đời sống linh mục và trong Giáo Hội, trong đời sống tu
đức, đời sống gia đình, đời sống xã hội, và việc phục vụ ơn gọi. Hiện tại, chỉ
nguyên một việc linh mục không có vợ mà đã khiến cho Giáo Hội nhức đầu rồi, còn
cộng thêm việc linh mục có vợ thì không biết Giáo Hội sẽ điều hành, sẽ hướng
dẫn dân Chúa như thế nào? Lúc ấy, có thể Giáo Hội sẽ chia năm, xẻ bẩy, và lại
trở thành những cộng đoàn giáo dân nhỏ theo lối sinh hoạt của anh em Tin Lành.
Trên đây mới chỉ là
nhìn vấn đề dưới khía cạnh xã hội, khía cạnh điều hành chứ chưa bước vào những
tranh luận thần học, giáo hội học, và tu đức học.
Thêm vào đó, việc
phong chức linh mục cho phụ nữ. Không biết những nhà thần học suy nghĩ thế nào
khi đặt vấn đề này? Rõ ràng không ăn nhằm gì đến quan niệm và ứng dụng bình
quyền hay không bình quyền. Không có việc trọng nam khinh nữ trong việc truyền
chức hay không truyền chức linh mục cho nữ giới. Đó chỉ là Giáo Hội tuân thủ
những gì mà Đáng Sáng Lập là Chúa Giêsu đã làm. Và đây cũng chính là lý do để
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khóa sổ những suy diễn về vấn đề này. Tôi cảm
thấy đồng tình với Ngài về chuyện này. Tôi tin là Đức Maria và một số phụ nữ
đương thời của Chúa không đến nỗi tệ hơn các ông tông đồ là những người hèn nhát,
chối Chúa, ham hố danh vọng, chức tước. Nhưng Chúa lại chỉ tuyển chọn và truyền
chức cho những ông chài lưới, quên mùa, thiếu sót ấy!? Điều này phải hỏi lại
Chúa… Và tôi tin là Chúa Giêsu chắc có lý do của Người. Hành động của Người
mang rõ ý nghĩa và quyền năng của một Thiên Chúa làm người. Các thần học gia
nên đào sâu vào ý nghĩa và tư tưởng Phúc Âm hơn là chạy theo thị hiếu của con
người thời đại.
Cứ tưởng tượng (chỉ
tưởng tượng thôi), trong một giáo xứ có 3 linh mục, một nữ, hai nam, thì nguyên
cái chuyện xây phòng vệ sinh, nơi ăn chốn ở cho “mẹ linh mục” cũng phiền phức
rồi. Rồi bà bếp, ông bếp nấu cơm, dọn bữa ra sao bởi vì các mẹ linh mục nhiều
người rất sành chuyện bếp núc? Rồi những khi dâng lễ, khi đồng tế mà các “mẹ”
son phấn lòe lẹt, môi đỏ choét, nước hoa thơm ngát đứng giữa các “cha” linh mục
giáo dân nhìn lên sẽ như thế nào? Các linh mục đồng tế sẽ phản ứng ra sao!!!
Những buổi họp mặt các linh mục trong giáo phận nữa… Ôi! Chỉ mới tưởng tượng
đến đây là đã muốn “xỉu” rồi. Không chừng lúc đó còn xẩy ra cái chuyện “ông”
linh mục dê “bà” linh mục hay ngược lại “bà” linh mục tương tư “ông” linh mục,
hoặc chuyện đức giám mục lại quan tâm đến linh mục nữ này hơn những linh mục nữ
hoặc nam khác… Không chừng có chuyện đánh ghen giữa các linh mục với nhau. Đó
là chưa bàn tới việc tuyển chọn, huấn luyện, và truyền chức… Phiền phức quá!
Tóm lại, việc mấy
nhà thần học nghĩ sao, cắt, chẻ chữ nghĩa như thế nào để phù hợp với quan điểm
và nhận thức thời đại là chuyện của mấy ông, mấy bà ấy. Nếu không họ cũng chẳng
phải là “thần học gia” đâu. Nhưng chọn lựa, và đi tới quyết định chúng ta chắc
chắn phải nhờ đến Chúa Thánh Thần. Tôi tin là Chúa Thánh Thần sẽ làm công việc
của Ngài, và con thuyền Giáo Hội vẫn là nơi an toàn nhất cho những ai ở trong
đó trên đường vượt biển trần gia.
Tôi muốn dành cho
phụ nữ sự kính trọng nhất của tôi. Nhưng tôi sẽ không bao giờ bỏ phiếu đồng ý
cho phụ nữ làm linh mục, nếu như tôi được hỏi ý kiến. Câu truyên xẩy ra cách
đây cũng đã lâu khi tôi còn là một sinh viên đang học thêm tiếng Anh. Nữ tu
Lilian là giáo sư và là một nữ tu có cái nhìn, có suy nghĩ cấp tiến. Bà rất
muốn làm linh mục, nên cổ võ đặc biệt việc phong chức linh mục cho nữ giới. Một
hôm bà đưa ra vấn đề này để bàn thảo trong lớp, và bà hỏi ý kiến của tôi. Không
ngần ngại tôi trả lời bà: “Nếu bà là linh mục, chắc tôi sẽ lội bộ dưới trời mưa
tuyết qua xứ bên cạnh để xin xưng tội.” Bà cũng không vừa: “Nếu vậy thì anh sẽ
chết mất linh hồn trước khi đến được xứ bên cạnh.”
Tôi rất kính trọng
thiên chức linh mục, nhưng tôi cũng không bao giờ đồng ý cho linh mục lập gia
đình nếu như tôi được hỏi ý kiến. Vấn đề độc thân thì các ứng viên linh mục đã
tự chọn. Không ai cưỡng bức hay bắt buộc. Vậy nếu có sự xét lại thì chúng ta
phải đặt vấn đề với con người linh mục ấy. Đặt lại đời sống tâm lý, đời sống
nội tâm của linh mục ấy. Nó không phải là lý do để đưa đến một tháo gỡ hoàn
toàn “luật chơi” của Giáo Hội.
Có người sẽ cho đây là những quan
niệm cố chấp, thủ cựu, hay lạc hậu. Nhưng đó là cái nhìn, và quan niệm cá nhân
của tôi với những ưu tư về Giáo Hội mỗi khi đọc, hoặc nghe đến hai phạm trù
linh mục có vợ và phụ nữ làm linh mục.” (trích điện thư của Ts Trần Mỹ Duyệt ngày 08/7/2017
gửi các trang mạng như Thanh Linh; Tâm Linh Vào Đời; Ả Siêu; Khổng Đức Nhuận; Vui Sống Trên Đời; Nguyệt San
Hiệp Nhất với chủ
đề SINH HOẠT CỦA GIÁO HỘI)
Và
nhận-định từ người chủ trang “TâmLinhVàoĐời.net”, rày lại khác:
“Bấy lâu nay việc không phong chức cho
phụ nữ đơn-giản chỉ là vấn-đề văn-hoá đơn-thuần, mà thôi. Hoàn toàn đúng như vậy.
Trong khung cảnh trọng nam khinh nữ của Do Thái thời đó, nên các đấng bậc đều
là nam..
Nhưng hiện nay, đặc biệt là Hoa kỳ,
đàn ông đã bị xếp hạng 4 sau cả con chó!! "phụ nữ, trẻ em, con chó rồi đến
đàn ông" Thêm vào đó, việc này Không có nền tảng Kinh Thánh. Phaolo đã khẳng
định:
“Không còn chuyện phân biệt Do-thái
hay Hy-lạp,
nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà ;
nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức
Ki-tô.”
(Gl
3:28)
Nếu trong hoàn cảnh văn hóa đã thay đổi
ngày nay.. mà Giáo hội vẫn chưa chịu thay đổi.. vẫn còn kỳ thị phụ nữ…!!!! Thì
có khi bị mang tiếng là chưa nên một trong Đức Kitô !!!! Vì thế Giáo hội cần
nghiêm chỉnh đề cập đến chuyện này. Trên tòa giảng, khi có dịp thuận tiện, quý
linh mục cũng nên chuẩn bị tinh thần giáo dân một cách khéo léo, tế nhị với tất
cả lòng tôn-trọng, tử-tế và thanh-thản… (trích điện thư của Khổng Đức Nhuận ngày 07/7/17 gửi người
dịch Mai Tá ở Sydney)
Nói
đi thì lại nói lại, chung qui cũng là nói loanh quanh về trang sách của tác-giả
là Lm Edward Schillebeeckx trong cuốn
“I am a Happy Theologian”, SCM Press
Ltd 1994, tr. 75-77) do Mai Tá dịch như sau:
“Có lần ông nói sơ qua về đời sống độc-thân
tự-nguyện. Nay, ông có muốn nói thêm điều gì không?
“Đây là vấn-đề lớn, theo tôi, đang đặt
ra cho các Giám-mục là đấng bậc từng yêu cầu Đức Giáo Hoàng suy-tư nghiêm-túc về
chuyện ấy. Lại cũng có một số Hồng-y và Giám mục đã công-khai yêu-cầu xét lại
luật lệ về chuyện này. Về nhiều mặt, có một số nhu-cầu đòi hỏi là: chuyện độc-thân
phải tuỳ thuộc chọn lựa của mỗi người, mỗi trường-hợp.
Trong tương-lai/mai ngày, nếu như độc-thân
là việc ta có thể chọn lựa, thì: sẽ có nhiều vấn-đề đặt ra cho Giáo-hội. Nhiều
linh-mục từng chấp-nhận đời sống độc-thân lại sẽ tiếp-tục lập lại chọn lựa của
mình; nhưng, cũng có một số vị khác sẽ không còn chấp-nhận những chuyện như thế
nữa; và có thể là, các vị ấy cũng sẽ có tương-quan với nữ-giới nhiều hơn trước.
Điều này, thật dễ hiểu đối với một Giáo-hội
độc-tài/toàn-trị. Sẽ là điều thẳng-thắn tốt đẹp, nếu ta xử-sự một cách cởi mở
hơn. Cả hai bậc, một đằng đã lập gia đình, còn bậc kia là những vị không thể
làm ứng-viên cho thừa-tác-vụ linh-mục, được. Chế-độ độc-thân là một đặc-sủng.
Thừa-tác-vụ linh-mục mở cửa rộng rãi
cho mọi Kitô-hữu. Tôi hiểu rằng, mọi người nay đang suy-tư như thể bảo là: “Nếu
chuyện ấy xảy đến, mọi sự rồi cũng gãy đổ, và sẽ có thảm-hoạ tiếp theo sau.” Nhưng,
hỏi rằng: sao lại như thế? Giáo-hội Thệ-phản đâu đã sụp đổ, cả Giáo-hội
Chính-thống hoặc Giáo-hội Công-giáo theo nghi-thức Đông-Phương đâu đã như thế.
Phải chăng, các Giáo-hội như thế, các
thành-viên ấy ít tốt-lành/hạnh-đạo ư? Tôi thật không rõ. Việc như thế, quả thật
chỉ làm mất thêm thời-gian của mọi người. Rất nhiều linh-mục đã rời bỏ Giáo-hội
vì mỗi chuyện độc-thân thôi. Hàng ngàn và hàng ngàn vị đã ra như thế. Thế thì,
tại sao lại để mọi người không có được Tiệc Thánh Thể vào mỗi tuần? Công Đồng
Vatican 2 há chẳng nói: “Tiệc Thánh Chúa Nhật, là trọng tâm, là linh-hồn đời sống
của Kitô-hữu, cả đấy sao? Thế, tại sao ta lại để cho toàn-bộ cộng-đồng Kitô-hữu
không có được Tiệc thánh vào ngày của Chúa?
Đây, là câu hỏi rất sâu sắc mà đến nay
chưa ai đưa ra câu trả lời thoả-đáng chút nào hết! Về “Phong chức cho nữ phụ”,
trên thực tế, ta đều thấy: phụ-nữ dấn thân vào cuộc sống Giáo-hội nhiều hơn
nam-giới. Thế nhưng, các bà các cô lại không có được quyền-uy, pháp-chế nào hết.
Đó quả là chuyện kỳ-thị khiến đảo lộn.
Đức Kitô khi xưa từng chọn các nữ-phụ,
tức các tông-đồ thực-thụ dám dấn bước trên đường con đường mà các vị ấy chọn lựa.
Ngay đến chứng-nhân đầu tiên nhận-biết được việc Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết
lại là một người nữ.
Loại-trừ phụ-nữ ra khỏi công-cuộc thừa-tác-vụ,
việc đó đơn-giản chỉ là vấn-đề văn-hoá đơn-thuần, mà thôi. Nay, thì chuyện ấy
không còn mang ý-nghĩa gì nữa. Vậy thì, tại sao nữ phụ lại không thể chủ-trì Tiệc
Thánh Thể được thế? Phải chăng, vì họ không được tấn-phong ư? Không có luận-cứ
hay ho nào lại chống-đối việc phong-chức linh-mục cho phụ-nữ, cả.
Ở xã-hội bên ngoài hôm nay, phụ-nữ có
thể đảm-trách bất cứ vai-trò nào cũng có thể được, các bà/các cô đều có thể ở bất
cứ vị-trí công-tác nào cũng được hết thậm chí thủ tướng, tổng thống!! Thế thì,
tại sao ta lại không cho phép các sự việc ấy được xảy ra trong Giáo-hội
Công-giáo của ta?
Dĩ nhiên là, ta cần chuẩn-bị dư-luận mọi
người.
Một khi họ đã không được chuẩn-bị kỹ-lưỡng
rất có thể lại sẽ xảy ra chia rẽ trầm-trọng, tức: những sự việc ta không thể lẩn
tránh được. Bản thân tôi, trong các bài viết khi trước, tôi vẫn quyết tâm cho mọi
người biết trọn vẹn về các vấn-đề này. Thế thì, tại sao ta lại không đề-cập
chuyện ấy trong các bài chia-sẻ/giảng phòng với tất cả lòng tôn-trọng, tử-tế và
thanh-thản, sẵn có chứ?
Dạo trước, tôi vẫn có thói quen mở đài
nghe các đấng tranh-luận tại Thượng Hội Đồng Giám mục Anh hôm 11 tháng Mười Một
năm 1992. Tranh-luận này, thuộc cấp cao lại sâu sắc, dám đề-cập đến vấn-đề mục-vụ
cho những ai thuộc phe đối-lập, làm như thế là để duy-trì sự hiệp-nhất trong
Giáo-hội. Theo nghĩa này, tôi rất vui lòng khi thấy có quyết định đề-cập cả
chuyện phong-chức linh-mục cho phụ nữ nữa. Và với tôi, đây là bước tiến rất lớn
chứ không là trở-ngại cho việc đại kết các Giáo-hội, bởi vì nhiều người Công
giáo khác lại cũng đang đi về hướng này.
Xin hãy cho tôi nói thêm đôi điều về đời
sống tốt-lành/hạnh-đạo, luôn ảnh-hưởng trên tôi, kể từ khi tôi là sĩ tử Dòng Đa
Minh này. Đó, không là cuộc sống tách rời khỏi cuộc đời người tín-hữu Đức Kitô.
Trong mọi sự kiện, tất cả đều do ta chọn-lựa đường-lối nào thích-hợp với mình,
để rồi mình chính mình lại sẽ tuyên-bố tuân-giữ những việc như thế bằng lời khấn
hứa, có thế thôi.
Nói chung thì, lời khấn hứa của các
tu-sĩ đều là sự/việc rất khả-thi trong đời người. Ngay đến những người không phải
là tu-sĩ hoặc nữ-tu đi nữa, họ cũng có thể sống cuộc đời độc-thân, vì có chọn-lựa
khác biệt như ở địa-hạt chính-trị, chẳng hạn.”
Về lại
với đề tài của bài hát “Hoa Bướm Ngày Xưa”, thiết tưởng cũng nên nghe thêm đôi
lời ca cũng rất “Ngày xưa” ấy để cảm kích hơn tranh-luận chuyện “Sinh Hoạt
Giáo-hội”
“Nơi ấy
ngày xanh qua
Hồn thơ mơ mộng quá
Yêu những khung trời hoa bướm...
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi.
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Hồn bướm hoa xưa còn đâu?
Vườn cũ quê nhà yêu dấu
Màu nắng xưa còn lưu luyến
Hương sắc ngừng trôi trước thềm
Còn nhớ hay chăng người ơi!
Chiều nào thầm nghe lá rơi
Ta nhắc cung đàn u sầu
Thương ngàn cánh hoa phai mầu
Cho nhớ thương về quê... phai
Tìm thấy đâu ngày thơ êm ái. “
Hồn thơ mơ mộng quá
Yêu những khung trời hoa bướm...
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi.
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Hồn bướm hoa xưa còn đâu?
Vườn cũ quê nhà yêu dấu
Màu nắng xưa còn lưu luyến
Hương sắc ngừng trôi trước thềm
Còn nhớ hay chăng người ơi!
Chiều nào thầm nghe lá rơi
Ta nhắc cung đàn u sầu
Thương ngàn cánh hoa phai mầu
Cho nhớ thương về quê... phai
Tìm thấy đâu ngày thơ êm ái. “
(Nguyễn Hiền – bđd)
Cũng theo
chủ-trương của tiết mục vẫn-cứ-gọi-là “Chuyện Phiếm Đạo Đời” bàn cả chuyện Đạo
lẫn truyện kể ở đời, thì nay lại cũng xin bạn và xin cả tôi, ta lại lắng nghe
đôi ba tình-tiết của truyện kể không “Hoa bướm ngày xưa”, cũng chẳng là chuyện
“bướm hoa ngày nay”, mà chỉ là truyện để phiếm cà kê cho qua ngày đoạn tháng
khi nghe quá nhiều cuộc tranh-luận ở đời về tình-tiết cũng như tâm-tình, xưa và
nay.
Rào đón
thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ để lòng mình chìm đắm trong giòng chảy
những kể rằng:
“Một người không rõ về vận mệnh, đem thắc mắc của mình đi
bái kiến vị thiền sư nọ.
-Thầy nói xem trên đời này có vận mệnh không?
-Có.
-Nhưng, vận mệnh của con ở đâu?
Vị thiền sư kêu anh ta xoè tay trái ra, chỉ anh ta xem và nói:
-Con thấy rõ chưa? Đường này là đường tình cảm, đường này là đường sự nghiệp, còn đường kia là đường sinh-mệnh.
Sau đó, vị thiền sư kêu anh ta từ từ nắm tay lại, cho thật chặt. Thiền sư hỏi:
-Con nói xem, những đường đó nằm ở đâu rồi?
Anh ta mơ hồ bảo:
-Trong tay con này.
-Con hiểu vận mệnh của con ở đâu rồi chứ?
Anh ta mỉm cười nhận ra, thì ra vận mệnh nằm trong tay mình.”
-Thầy nói xem trên đời này có vận mệnh không?
-Có.
-Nhưng, vận mệnh của con ở đâu?
Vị thiền sư kêu anh ta xoè tay trái ra, chỉ anh ta xem và nói:
-Con thấy rõ chưa? Đường này là đường tình cảm, đường này là đường sự nghiệp, còn đường kia là đường sinh-mệnh.
Sau đó, vị thiền sư kêu anh ta từ từ nắm tay lại, cho thật chặt. Thiền sư hỏi:
-Con nói xem, những đường đó nằm ở đâu rồi?
Anh ta mơ hồ bảo:
-Trong tay con này.
-Con hiểu vận mệnh của con ở đâu rồi chứ?
Anh ta mỉm cười nhận ra, thì ra vận mệnh nằm trong tay mình.”
Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ
bảo:
-Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên
cảm thấy khổ, mà những người độc ác lại cứ sống tốt như vậy?
Thầy thông-thái hiền hòa nhìn tôi rồi trả lời:
-Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên
rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương-ứng. Nếu một người trong
nội-tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm-giác
thống-khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo-lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là
nội-tâm của con vẫn tồn-tại điều ác, con không phải là người lương-thiện thật
sự. Và, những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.
Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này
không phải là người ác thật sự.
Có cảm-giác như bị xúc-phạm, tôi không phục, liền
nói:-Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương-thiện mà! Thầy
trả lời:
-Nội-tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy
khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn-tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của
con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn-tại trong con.
Tôi nói:
-Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền
lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác
thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải-mái, cũng hy-vọng
mau chóng có thể cải-biến tình-trạng này; trong xã-hội, không ít người căn-bản
không có văn-hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một
trí-thức văn-hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu-nhập, thật sự là không
công-bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy
không thoải-mái…
Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi
thống-khổ của mình. Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân-từ, đôn-hậu,
người từ-tốn nói với tôi:
-Thu-nhập hiện-tại của con đã đủ nuôi sống chính con và
gia-đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn-bản là đã không phải lưu-lạc nơi đầu
đường xó chợ, chỉ là diện-tích hơi nhỏ một chút, con hoàn-toàn có thể không
phải chịu những khổ-tâm ấy.
-Nhưng, bởi vì nội-tâm con có lòng tham đối với tiền tài
và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có
thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.
Trong xã-hội có nhiều người thiếu văn-hóa nhưng lại phát
tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố-kị. Tâm đố-kị cũng là
một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn-hóa, nên cần phải có thu-nhập cao,
đây chính là tâm ngạo-mạn. Tâm ngạo-mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn-hóa thì
phải có thu-nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn-hóa không phải là
căn-nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên-nhân cho sự
giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!
Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy
không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ
vẫn có tư-tưởng và quan-điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư-tưởng và
quan-điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng-lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi.
Tâm hẹp-hòi cũng là ác tâm.
Sư phụ tiếp tục mỉm cười:
-Lòng tham, tâm đố-kỵ, ngạo-mạn, ngu-si, hẹp-hòi, đều là
những ác tâm. Bởi vì nội-tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những
thống-khổ mới tồn-tại trong con. Nếu con có thể loại-trừ những ác tâm đó, những
thống-khổ kia sẽ tan thành mây khói.”
Con đem niềm vui và thỏa-mãn của mình đặt lên tiền
thu-nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn-bản con sẽ không chết đói và
chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết
cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh-phúc hay không, không dựa trên sự giàu
có bên ngoài, mà dựa trên thái-độ sống của con mới là quyết-định. Nắm chắc từng
giây phút của cuộc đời, sống với thái-độ lạc-quan, hòa-ái, cần cù để thay thế
lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay
đổi để thanh thản và bình an hơn.
-Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại
giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có
nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính
là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới
được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu
vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt,
phải kiên quyết tiêu trừ!”
-Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây
chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy”
(nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi
đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà
không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có
thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng
sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần
dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn
bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.
-Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho
sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người
thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại
muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật
Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật
tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để
từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù
hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui
hướng đến yên vui.”
-Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên,
ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn
vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường
hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm
cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ
người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.
-Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao
dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?
Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn
tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng. Ngồi im lặng hồi lâu… xưa nay
tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến
lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc
ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau
khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ?
Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo,
con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong
con!” (Theo VNE)
Dù truyện
kể hôm nay chỉ nói và kể toàn những chuyện như: vận mệnh, hoạ/phúc, sướng vui
trong cuộc đời. Nhưng, suy cho kỹ, giả như người kể trong truyện lại hỏi về
chuyện lứa đôi, giới tính hoặc chọn lựa đời sống độc thân/tu-trì, ắt cũng sẽ
nhận được những lời khuyên tương-tự.
Hôm nay
đây, có phiếm hoài/phiếm mãi chuyện gái/trai, hoặc “Hoa bướm ngày xưa” cho nhiều cũng chẳng hội ra được điều gì, ngoại
trừ một quyết tâm cho riêng mình, mà thôi. Vậy thì, bằng vào quyết tâm riêng
của mình, hỡi bạn và tôi, ta hãy cứ “bình chân như vại”, “mọi chuyện để ngoài
tai” để rồi lại cứ hát những câu như:
“Nơi ấy
ngày xanh qua
Hồn thơ mơ mộng quá
Yêu những khung trời hoa bướm...
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi.
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Hồn bướm hoa xưa còn đâu?
Vườn cũ quê nhà yêu dấu
Màu nắng xưa còn lưu luyến
Hương sắc ngừng trôi trước thềm
Còn nhớ hay chăng người ơi!
Chiều nào thầm nghe lá rơi
Ta nhắc cung đàn u sầu
Thương ngàn cánh hoa phai mầu
Cho nhớ thương về quê... phai
Tìm thấy đâu ngày thơ êm ái. “
Hồn thơ mơ mộng quá
Yêu những khung trời hoa bướm...
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi.
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Hồn bướm hoa xưa còn đâu?
Vườn cũ quê nhà yêu dấu
Màu nắng xưa còn lưu luyến
Hương sắc ngừng trôi trước thềm
Còn nhớ hay chăng người ơi!
Chiều nào thầm nghe lá rơi
Ta nhắc cung đàn u sầu
Thương ngàn cánh hoa phai mầu
Cho nhớ thương về quê... phai
Tìm thấy đâu ngày thơ êm ái. “
(Nguyễn Hiền
– bđd)
Đi vào
kết cục, ta hãy để tai nghe lại lời đấng thánh-hiền nói hôm trước mà hiện-thực:
“Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và
an ủi,
để anh em được đồng tâm nhất trí với
nhau,
như Đức Kitô Giêsu đòi hỏi.”
(Thư
Rôma 15: 5)
Trần Ngọc Mười Hai
Cứ hát hoài hát mãi những câu ca ở trên
khiến đời mình trẻ trung và vui vẻ mãi đến mai
ngày.
Subscribe to:
Posts (Atom)
