Saturday, 16 July 2016

“Những con mắt tình nhân”,



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 17 mùa thường niên C 24/7/2016

“Những con mắt tình nhân”,
nuôi ta biết nồng nàn,
Những con mắt thù hận,
cho ta đời lạnh căm
Những mắt biếc cỏ non,
xanh cây trái địa đàng
Những con mắt bạc tình,
cháy tan ngày thần tiên.”
(Trịnh Công Sơn – Những Con Mắt Trần Gian)

(Mc 10: 41-43/Êphêsô 5: 23))

Nếu bảo rằng, “Những con mắt tình-nhân” nói ở đây , cũng đầy những “thù hận”, “nồng-nàn”, rất ư “đời lạnh căm”. Và rồi còn hát “mắt biếc cỏ non”, “bạc tình”, “cháy tan ngày thần-tiên”, vv..  âu đó cũng là những câu ca đáng để ta lưu-tâm/quan-ngại.

Hôm nay đây, bần đạo đang mải tìm lời thơ nhè nhẹ để có một dẫn-nhập cho bài “luận phiếm” rất bình-thường, bỗng chợt nghe thấy ở đâu đó, lố-nhố những bàn-bạc chuyện Giáo hội với các lỗi/tội của bậc trên cao vút định-danh bằng cụm-từ “Giáo chủ” hay “giám-quản” rơi rớt từ những tháng ngày xa xôi thời buổi trước, cũng bí mật/bật mí rất tưng bừng.

Bàn và bạc, chuyện bí mật nhà Đạo từng được “bật mí” ở đây đó, có lẽ ta nên hát thêm những ca-từ tuyệt-cú, như sau:

“Ngày ra đi với gió,
ta nghe tình đổi mùa.
Rừng đông rơi chiếc lá,
ta cười với âm u.

Trên quê hương còn lại,
ta đi qua nửa đời.
Chưa thấy được ngày vui,
đường trần rồi khăn gói.

Mai kia chào cuộc đời,
nghìn trùng con gió bay.”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

“Trên quê hương còn lại”
đã thấy mình “qua (được) nửa đời” người rồi, mà vẫn “chưa thấy được ngày vui”! Và rồi, lại cứ “đường trần khăn gói”, “mai kia chào cuộc đời”, “nghìn trùng cơn gió bay”... Chao ôi, là những lời ý-nhị quyện vào bên nhau như gió với rừng nghìn trùng, cũng không vui.

Hôm nay đây, bần đạo lại những muốn nói ra đôi ba chuyện trầm-kha ở bên dưới ít được “bật mí” mãi đến lúc đọc được bài báo có tiêu-đề là: “Ta phải xin lỗi cộng đồng người đồng-tính luyến-ái” qua đó, Đức Phanxicô đề-nghị:

Tín hữu chúng ta phải xin lỗi Chúa về cung cách mình xử-sự rất không phải, đối với người đồng tính luyến ái”

Hôm nay đây, một lần nữa, bần đạo lại cũng sẽ không bàn nhiều về chuyện “xử sự rất không phải” ở Giáo-hội mà chỉ nhân cơ-hội Đức Giáo-Tông vừa “bật mí” để rồi nhìn vào chốn cao sang vời vợi ở trên ấy. Và rồi, góp nhặt đôi ba ý/lực xem thực/hư ra sao, để sẽ sống đúng với chức-năng dân con Đạo Chúa, thời hiện-tại!

Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Số là, vừa rồi, bần đạo ngồi buồn giở lại vài trang sách/báo đọc được hôm trước, nay san-sẻ với bạn nào thích những chuyện “lỉnh kỉnh” nhà Đạo hoặc ngoài đời, để còn biết rõ. Biết, là biết những gì mình được học và được đọc qua sách vở hoặc bạn bè chuyền cho nhau đôi ba câu thuộc thể-loại mà người đời vẫn bảo: “biết rồi, khổ lắm ông bạn ạ”. Toàn những chuyện trời trăng/mây nước ở đâu đâu, ấy!

Vâng. Chuyện “trời/trăng” hôm nay vẫn chỉ là chuyện “tầm-phào”, thuộc loại “ngồi lê đôi mách”, thế mà nhiều người vẫn thích nói và thích nghe. Nhưng, trước khi nghe và nói những chuyện tương-tự, lại xin mời bạn/mời tôi, ta nghe thêm đôi câu hát rất như sau:

“Những con mắt trần gian,
xin nguôi vết nhục nhằn.
Những con mắt muộn phiền,
xin cấy lại niềm tin.

Những con mắt quầng thâm,
xin tươi sáng một lần.
Cho con mắt người tình,
ấm như lời hỏi han ...”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Trước khi đi vào chi tiết của sự/việc, hãy cứ “nhìn lại nhau có mắt lo-âu”, rồi sẽ thấy nhiều thứ chuyện tưởng chừng như không thể xảy ra ở nhà Đạo, nhưng vẫn có. Nhìn để thấy, những lo âu/quan-ngại như ca-từ gặp ở trên còn hát mãi, những lời sau đây: 

“Nhìn lại nhau có mắt lo âu,
Xin vỗ về muôn yêu dấu,
Nhìn lại nhau che những cơn đau,
Tìm dưới bóng ... ngọt ngào ...”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Nhìn lại nhau, nhiều lúc cũng chẳng có “mắt lo âu” là bao. Nhưng, vẫn cứ nhìn để biết rằng mình không sợ nhìn vào sự thật của người và của mình. Của, cả đấng bậc trên/dưới, già/trẻ hơn mình, bấy lâu nay.

Vâng. Hãy cứ nhìn nhau để thấy có nhiều điều mình nhìn mãi mà không ra, như những điều được nhà báo hoặc tác-giả viết bài viết báo nói về người mình/Đạo mình, rất cắc cớ như sau: 

“Đặc trưng/đặc thù của một số Đức Giáo chủ khi trước có khuynh-hướng định-danh/định-vị các ngài chỉ là những người kế-tục tiếp tay với các thày tư-tế, mục-tử của dân ngoại, hơn chỉ là đấng bậc đại-diện cho Đức Kitô hoặc đấng thánh Phêrô của thời trước.

Một số vị còn “bê-bết” đến độ có những hành-xử sa-đà, đồi truỵ, mất cả căn-tính, khiến con dân trong/ngoài Đạo ở dưới trướng thấy xấu hổ. Nếu căn-cứ trên các hành-vi đầy lỗi-phạm của các vị đại-diện Chúa ở thế-trần cũng thấy sửng-sốt. May thay, tất cả các vị kể ở đây đều không hẳn như thế…” (Xem thêm Ralph Woodrow, Papal Immorality, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodow Evangelistic Association Inc. 1996 edition, tr. 91-99) 

Không hẳn như thế, tức có nghĩa: không phải tất cả các vị cầm quyền ở bên trên đều lỗi đạo làm người và lỗi luật làm kẻ cả ở bên trên, nhưng lại tầm thường, hạ cấp thua cả những người ở bên dưới.   

Không hẳn như thế, còn có nghĩa: các ngài rày quên tuốt tuồn tuột những lời dặn của đấng thánh nhân-hiền ở Kinh Sách, rất như sau:

Đức Giêsu gọi các ông lại và nói:
Anh em biết:
những người được coi là thủ-lãnh các dân
thì dùng uy mà thống trị dân,
những người làm lớn
thì lấy quyền mà cai quản dân.
Nhưng giữa anh em thì không được như vậy:
ai muốn làm lớn giữa anh em
thì phải làm người phục vụ anh em;
ai muốn làm đầu anh em
thì phải làm đầy tớ mọi người.”
(Mc 10 41-43)

Và, ở một đoạn khác trong Tân-ước, thánh-nhân trụ-cột của Đạo Chúa, cũng từng minh-định vai-trò của đấng làm đầu Giáo-hội tương-tự như tương-quan chồng/vợ ở ngoài đời như sau:

“Vì lòng kính sợ Đức Kitô,
anh em hãy tùng-phục lẫn nhau.
Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa,
vì chồng là đầu của vợ
cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh,
chính Ngài là Đấng cứu chuộc Hội Thánh,
thân thể của Ngài.
Và như Hội Thánh tùng-phục Đức Kitô thế nào,
thì vợ cũng phải tùng-phục chồng
trong mọi sự như vậy.”
(Êphêsô 5: 21-24)  

Tùng-phục và phục-tùng rất “tương-kính như tân”, vẫn là và phải là việc “thường ngày ở huyện”. Huyện ngoài đời hoặc huyện Đạo rất Công-giáo. Dù huyện ấy, có những vị và nhiều vị nay đã “mải vui quên hết lời Em” dặn dò” đi nữa, cũng mặc kệ.

Và mặc kệ, lại là thái-độ “chẳng đặng đừng” dù ngày nay các vị cầm-quyền ở thánh-hội nhà Đạo ở trên hay ở dưới, ở trong hay ở ngoài đất nước mình đang sống, rất hôm nay.

Và hôm nay, bạn và tôi, ta vẫn mặc kệ, là bởi ở đây hôm nay, vào lúc này, bậc thang giá-trị về mọi sự việc ở xã-hội ngoài đời hoặc trong Đạo mình đã bị đảo-lộn đến mức cần cảnh-giác. Thế cho nên, cứ đà này, nếu không quan-tâm/cảnh-giác, thì rồi ra quyền-lực và quyền-uy của đấng bậc ở trên cao sẽ ra sao để còn làm gương cho đám dân con ở bên dưới xem đó mà bắt chước để sống cho phải lẽ, phải đạo làm người.

Thế cho nên, nỗi-niềm quan-tâm/cảnh-giác về tương-lai mai ngày ở mọi nơi/mọi chỗ chốn có quyền-hành và hành quyền đã và đang được nghệ-sĩ viết nhạc xưa nay vẫn cảnh-báo bằng giòng nhạc tâm-tình, đầy quan-ngại, nên mới hát:

“Những con mắt trần gian,
xin nguôi vết nhục nhằn.
Những con mắt muộn phiền,
xin cấy lại niềm tin.

Những con mắt quầng thâm,
xin tươi sáng một lần.
Cho con mắt người tình,
ấm như lời hỏi han ...”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Và hôm nay, trong giòng đời truyện kể, lại cũng có những lời và những lẽ rất minh-bạch vẫn gửi đến mỗi người và mọi người để minh-hoạ một lời bàn rất để đời, sau đây:

Lời rằng:  

Ai làm chủ cái tâm của mình?
Chuyện cũ kể lại rằng:

Một hôm, học-giả Hứa Hành có việc phải ra ngoài, khí trời nóng bức khiến cho người ta khát nước không chịu nổi. Vừa khéo ở bên đường có một cây lê, người đi đường thi nhau đến hái lê để giải khát, duy chỉ có Hứa Hành chẳng mảy may động tĩnh gì. Một người thấy thế liền hỏi: “Sao ông không hái lê mà giải khát?”

Hứa Hành đáp: “Lê không phải của tôi, sao tôi có thể hái bừa?”. Người kia cười to bảo: “Thói đời hỗn loạn như vậy đó, ông còn quan tâm xem lê là của ai sao?”. Hứa Hành nghiêm mặt nói: “Lê tuy vô chủ nhưng tâm ta có chủ”.

“Tâm có chủ” là ý nói rằng một người có thể kiên trì chủ kiến cá nhân, tuân thủ nghiêm ngặt đạo đức của bản thân, gạt bỏ những can nhiễu và cám dỗ, không bị ngoại cảnh sai khiến, cũng không bị danh lợi làm cho khốn đốn, và có thể làm được “Nhất niệm chi phi tức át chi, nhất động chi vọng tức cải chi”, mMột suy nghĩ không tốt vừa xuất hiện liền ngăn chặn ngay, một hành động sai trái vừa thực hiện liền sửa chữa ngay.

Trong cuộc sống thực tế, có những người chỉ chạy theo danh lợi, tham nhũng hối lộ làm trái pháp luật, bị đồng tiền làm cho mờ mắt mà bất chấp đạo đức và nhân phẩm, họ lý giải rằng cả xã hội đang diễn ra như thế, việc xấu này họ không làm thì cũng có người khác làm.

Nguyên nhân căn bản là không coi trọng đạo đức, không có lý tưởng kiên định, thiếu đi cái nhìn đúng đắn về nhân sinh và giá trị làm người.

Trái lại, nếu như có thể làm được “tâm có chủ” thì sẽ ước chế được bản thân, không hùa theo số đông hỗn loạn, có thể giữ vững đạo đức và thành tựu được sự nghiệp của mình.

“Lê tuy vô chủ nhưng tâm ta có chủ”, đây là một loại nguyên tắc, một loại tu dưỡng, một loại cảnh giới, một loại tinh thần.
https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif
Thành ra, làm chủ cộng-đoàn hoặc nhóm hội/đoàn thể, trước nhất cần làm chủ cái tâm của mình trước đã. Bởi, như các cụ khi xưa từng khuyên bảo con cháu trong/ngoài nhà, một bí kíp vẫn bảo rằng: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”

Chưa tu-thân tề-gia, ắt hẳn không thể nghĩ chuyện trị quốc, huống chi bình thiên-hạ được. Chí ít, thiên-hạ ấy lại là thiên và hạ ở Nước Trời Hội-thánh, rất hôm nay.

Trần Ngọc Mươi Hai
Rất nhiều lần
vẫn nhắn nhủ lòng mình
ra như thế.    


    



    

Sunday, 10 July 2016

“Em ơi! quên đi bao nhiêu xót xa”,



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 16 mùa thường niên C 17/7/2016

“Em ơi! quên đi bao nhiêu xót xa”, 
Những chiều thiết tha bên nhau 
Em ơi! xin em, xin em nói yêu đương đậm đà 
Để rồi ngày mai cách xa.”
(Lê Uyên Phương – Lời Gọi Chân Mây)
(Mt 6: 22-23)
 
Quên đi ư? Quên để làm gì? Phải chăng để cứ thế mà yêu-đương như đương yêu chứ? Và rồi, để “ngày mai cách xa” ư? Điều đó, có là chuyện mê say, mê mệt và mê-tín không thế?

Bạn đọc chuyện phiếm của bần-đạo, một hôm sau nhiều ngày theo dõi các câu chuyện phiếm rất Đạo/đời, lại có lời phản-hồi rất như sau: “Anh viết Chuyện Phiếm Đạo Đời hay Đạo vào đời gì đó, mà sao toàn viết về chuyện Đạo nhiều hơn chuyện đời, vậy?”

Nghe hỏi, bần đạo bầy tôi đây, chả biết nói năng sao cho phải đạo làm người đi Đạo. Bởi, đối với bần-đạo, chuyện đi Đạo hoặc giữ Đạo vẫn cứ là “tin” vào Đạo. Thứ Đạo của tình thương-yêu vào đời, nhiều lúc cũng rất mê và rất tín.

Hôm nay, bần đạo xin được mạn phép nói về chuyện đời nhiều hơn  Đạo. Hoặc, cũng sẽ bảo: đi Đạo còn là và sẽ là: đi vào thứ Đạo rất mê và rất tín. Nói khác đi, như thế có nghĩa: “mê” say chuyện “tín” thác cho Đạo và vì Đạo. Bởi, Đạo của tôi và của bạn, lại là Đạo rất đáng mê/mệt chuyện tín-thác, rất tin-tưởng vào Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu rất mực và cũng rất mê-ly chuyện tin-tưởng, nên như thế.

Nói về chuyện “mê” và “tín”, hoặc những mê rồi sẽ tín-thác/tin-yêu trong đời người, bần đạo nhớ nhiều đến các sự hoặc các công việc mà người đời đi Đạo gọi là “mê-tín”. Mê-tín, có thể là chuyện tin và tưởng cách mê say, mê như điều-đổ. Mê, đến chết đi được. Hoặc, sống cho đến chết vẫn còn mê. Rất mê và cũng rất mệt vì Đạo.

Còn nhớ, khi xưa học chữ-nghĩa Tây/ta và tướng-mạo-học, các cụ thời ấy vẫn bảo: “Les yeux, mirroir de l’âme.” Tạm dịch là: “Con mắt, là cửa sổ của linh-hồn”. Và từ đó, các cụ còn đi xa hơn, đã nhập cuộc sự việc đầy những chuyện trời-trăng-mây-nước về dung-nhan, diện-mạo hoặc “tướng-mạo”, gì gì nữa.

Để tìm hiểu, học-hỏi hoặc nghiên-cứu dung-mạo của người đời, để rồi ta lại sẽ học và hỏi những chuyện về thần hồn, tưởng cũng nên tạt qua một số châm-ngôn/lời bàn của người xưa, để xem sao. Trước nhất, ta cũng nên đi vào với lời vàng ở Kinh/Sách có những câu, như:

“Đèn của thân thể là con mắt.
Vậy nếu mắt anh sáng,
thì toàn thân anh sẽ sáng.
Còn nếu mắt anh xấu,
thì toàn thân anh sẽ tối.
Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối,
thì tối biết chừng nào!”
(Mt 6: 22-23)

Xem thế thì, “mắt” là bộ-phận thanh-tao, lịch-lãm nói lên nhiều đặc-trưng/đặc-thù nơi tâm-thân/linh-hồn của con người. Về mắt, ta có: mắt láo-liên, mắt đỏ, mắt vàng, mắt bồ câu/lá liễu, mắt tinh-khôn lờ-đờ, hoặc “lờ-tờ-mờ” đủ mọi bộ. Thôi thì, có đến triệu triệu con mắt. Có, cả 7 tỷ cặp mắt trên thế-gian này, mà chẳng cặp nào giống cặp nào, hết!

Nhưng, vấn-đề là bảo rằng: con mắt hay cặp mắt, giúp ta được gì trong quá-trình đi Đạo và sống Đạo, đây? Ta có nên giữ con mắt như giữ cửa sổ của thần-hồn cho kỹ, không? Và, mắt là cái gì mà ghê-gớm thế vậy?

Câu hỏi về mắt, đặt ra thì nhiều. Nhưng lời đáp, chắc cũng không thiếu. Vâng. Mời bạn/mời tôi, ta đi vào chốn mê-hồn-trận có con mắt trần-gian vẫn đưa ta và mọi người vào chốn mê-say, mê-sảng, hoặc rất mê và rất tín, như tác-giả ở dưới đây, từng viết lên:

“Hẳn mọi người đều biết, khi xưa đã có sự hòa-trộn giữa ngoại-giáo và Đạo Chúa để rồi trở-thành Đạo Công-giáo La Mã. Người ngoài Đạo nguyện-cầu/thờ-phượng với mẫu-thần, nên giáo-hội của ta vừa thiết-lập lại đã du-nhập việc phụng-thờ mẫu-thần dưới tên gọi là: Đức Mẹ. Người ngoài Đạo đều đã có thần-linh, nữ-thần thuở trước nối-kết với tháng/ngày, nghề-nghiệp và nhiều sự-kiện trong cuộc sống thường-nhật.

Hệ-thống tín-ngưỡng này đã tháp-nhập và các “thần-linh” thánh-ái được gọi là “thánh-nhân”. Người ngoại-giáo sử-dụng các tượng đúc hoặc ngẫu-thần của họ đưa vào nghi-lễ phụng-thờ, và cũng thế Đạo mới lập cũng làm hệt như thế bằng cách gọi các đấng-bậc ấy bằng tên gọi khác nhau.

Vào thời cổ, thập-giá được dựng theo nhiều hình-thức khác-biệt cũng đã du-nhập vào đạo mới theo nhiều đường-lối cũng mê-tín/dị-đoan. Một số ý-tưởng được du-nhập lại đã phối-kết với thập-giá gỗ tượng-niệm cái chết của Đức Kitô, ở trên đó. Và kể từ đó, thập-giá trở-thành hình-ảnh được tôn-sùng cả ở bên ngoài, nhưng sự hy-sinh thực-sự của thập-giá đã “hoàn-tất” lại bị mờ-khuất do nghi-thức của lễ Misa có sự hóa-bánh và rượu, bi-kịch nhiệm-mầu và có nguyện cầu cho người đã chết, nữa.” (X. Ralph Woodrow, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow Evangelistic Association, Inc. 1981, tr. 156)

Nói theo nhà Đạo hoặc những người có niềm tin vào đạo-giáo, thì như thế. Nói theo nghệ-sĩ ở đời, lại vẫn nói và hát theo thi-ca, âm-nhạc như sau:

“Anh ơi! bao nhiêu tang thương 
mỗi khi đã rời giấc mơ yêu đương. 
Anh ơi! xin anh,
xin anh cúi trên cơn mộng dài, 
Để chờ ngày mai lên nắng.
(Lê Uyên Phương – bđd)

 Như có hẹn ở đầu bài, hôm nay bần đạo đề-nghị: ta nói nhiều về chuyện đời hơn chuyện đạo. Chuyện đời về cái-gọi-là mê-tín hoặc tin vào tướng số, dung-mạo của thể xác, được người đời xác-định như sau:

“Một câu hỏi gắn liền với đời sống nhân-loại ngay từ khi loài người nhận thấy sự thọ/yểu của mỗi sinh-mệnh. Nói lại càng gây thắc-mắc hơn khi con người sống tụ thành xã-hội và nhận thấy lẽ cùng thông trong đời sống.

Phải chăng cùng thông thọ/yểu, là do sự an-bài của Đấng Tối-linh Trời, Phật, Thượng-Đế như các tín-ngưỡng/tôn-giáo từng lập-luận. Hoặc, ngược hẳn lại, theo triết-lý nhân-văn, khoa-học, phương-pháp học, ý-chí quyền-lực, tất cả là do con người định. Vũ-trụ quanh ta, không chống lại ta mà cũng không ban ân-huệ gì cho ta. Nó quay cuồng, đảo lộn, không hề có mưu-định gì cả. Trong quay cuồng đảo lộn, chính con người tự điều-khiển, tự cai-quản, vượt mọi trở-ngại để chiến thắng…(X.Vũ Tài Lục, Tướng Mệnh Học Khảo-luận, ấn-bản in lại ở nước ngoài tr. 7)

Hát và nói sơ qua về tướng-học diện-mạo như thế xong, tưởng cũng nên hát thêm đôi ca-từ rất để đời rằng:

“Nhớ đến ngày còn gần nhau. 
Nước mắt rơi khóc phút không ngờ. 
Nhớ thương ngậm ngùi cách xa, 
Biết đến bao giờ.

Em ơi! chim bay mang theo 
chút hơi nắng tàn giấu trong tim son. 
Em ơi! xin em,
xin em dấu trong cơn nghẹn ngào. 
Những chiều buồn mưa lẻ loi. 

Anh ơi! như chim say mê 
có khi rã rời cánh nhung thôi bay 
Anh ơi! xin anh,
xin anh lúc chân mây mệt nhoài, 
Trở về lồng êm thân ái…
 
Em ơi! quên đi bao nhiêu xót xa 
Những chiều thiết tha bên nhau 
Em ơi! xin em,
xin em nói yêu đương đậm đà 
Để rồi ngày mai cách xa 
Để rồi ngày mai .. cách xa"
(Lê Uyên Phương – bđd)
               
Về những gì, mà người nhà Đạo nhận-định rằng: người đời chỉ những dị-đoan/mê-tín cả trong môn tướng-mệnh-học, tác-giả họ Vũ ở trên, đã chẳng kể gì đến những lời phê-bình/bàn-luận về mê và tín, lại có thêm lời bình rải-rác bằng khẳng-định như đinh đóng cột, về “mắt”, như sau:

-Mắt đong đưa, đàn bà con gái dễ bị khêu gợi.
-Hai mắt trắng đen phân-minh, không tà-thị, nõn-nà nhưng vẫn có uy…
-Mắt đỏ, mắt vàng, mắt cực lớn, mắt tròn, mắt lồi, mắt bốn phía tròng trắng, mắt hình tam-giác, dưới mắt da thịt khô, dưới mắt có vết như tấm lưới… đều là tướng khắc-phu.
-Mắt có hung-quang, mắt nhỏ tí hí, lá dăm…, là tướng hung-hãn…
-Mắt dài, mi thanh mục tú, là tướng trợ-phu.
-Mi đầu giao nhau. Mắt như khiếp sợ,… là tướng không biết quản-cai gia-đình…
-Mắt lộ bốn phía tròng trắng, hung-hãn, vụng dại… đều là ác-tướng với đàn bà…” (X.Vũ Tài Lục, Tướng Mệnh Học Khảo-luận, ấn-bản in lại ở nước ngoài tr. 7)   

Khẳng-định về kinh-nghiệm sống rất thực ở đời, ai cũng muốn làm được như thế. Lại có vị, tuy không khẳng-định về bất cứ trải-nghiệm nào hết, nhưng vẫn thích đi vào vùng trời truyện kể để nói lên điều gì đó, rất đời thường, như sau:

“Nếu như nói học vị, chức vụ đại biểu cho thân phận một người… thì tu dưỡng và thói quen, chính là thân phận thứ hai của người đó. Và điều này cần được ươm mầm từ những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống.

Anh Nam du học từ Anh quốc trở về, mấy người bạn chúng tôi đã tổ chức một buổi tiệc ‘tẩy trần’ chào đón anh. Trong bữa tiệc, lời lẽ khiếm nhã của một người bạn khiến anh ấy cảm thấy không vui, mấy lần thể hiện rõ ra sự chán ghét. Tiệc tan, trên đường tiễn Nam về nhà, tôi thay người bạn kia giải thích, thay người bạn kia giải thích, nói rằng những lời lẽ đó bất quá chỉ là nói quen miệng thôi, không ám chỉ đến ai, nghe quen rồi cũng không cảm thấy gì.

Nam im lặng một lúc rồi nói: “Mình sẽ kể cho cậu một chút về kinh nghiệm mà mình học hỏi được từ lúc mới đến Anh”.

Cũng như đại đa số du học sinh khác ở Bristol, mình cũng ở nhờ một hộ dân cư nơi đó, vừa tiết kiệm, điều kiện đời sống cũng tốt.Chủ nhà tên là Campbell, là một đôi vợ chồng già. Vợ chồng họ đối xử với mọi người nhiệt tình, hào phóng, họ chỉ thu của mình mấy Bảng Anh coi như tiền cho thuê nhà, họ còn kiên quyết “đoạt” mình khỏi tay nhà hàng xóm về nhà của họ. Có một du học sinh ngoại quốc ở trong nhà, đối với họ mà nói là một sự việc rất đáng tự hào. Họ không chỉ nói cho cả cộng đồng ở đó biết, mà còn gọi điện báo cho con gái xa ở Manchester và London.

Để mình thực hiện được giấc mơ xuất ngoại du học, cha mẹ đã mắc khoản nợ mấy trăm triệu. Mình đương nhiên vô cùng quý trọng cơ hội học tập không dễ gì mà có được này. Ngày nào cũng vậy, buổi tối ở thư viện một mạch cho đến khi thư viện đóng cửa mới chịu quay về.

Cũng may là gặp được chủ nhà tốt bụng, mình có thể tập trung tinh thần học tập, không phải lo lắng nhiều tới cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Mỗi ngày mình về “nhà”, những món ăn ngon lành đang chờ đợi mình; cách bốn năm ngày, bà Campbell bắt mình thay quần áo, sau đó đem quần áo bẩn đi giặt ủi sạch sẽ. Có thể nói, họ đối đãi với mình giống như con cái trong nhà vậy.

Thế nhưng, không lâu sau, mình cảm thấy ông Campbell đối với mình có chút lạnh nhạt, ánh mắt nhìn mình có chút khác thường. Nhiều lần ăn cơm, ông Campbell dường như muốn có lời gì muốn nói với mình, nhưng khi nhìn vợ, ông lại nuốt những lời ấy vào trong. Lúc đầu mình đoán rằng, họ có phải là chê tiền thuê nhà của mình quá ít, muốn tăng thêm nhưng ngại không biết nói sao.

11 giờ một đêm nọ, mình từ trường học trở về, rửa mặt xong vừa định thay đồ đi ngủ, ông Campbell rón rén bước vào phòng mình. Sau khi hỏi chuyện đôi ba câu, ông Campbell ngồi vào ghế, trong tư thế nói chuyện có vẻ nghiêm túc. Xem ra rốt cục ông ấy cũng muốn nói những lời cất giấu trong lòng. Trong đầu mình đã sớm có sự chuẩn bị, chỉ cần mình có thể chấp nhận được, ông ấy tăng tiền thuê nhà lên mình cũng đồng ý, dù sao người chủ nhà như vậy cũng không phải dễ mà tìm được.

Con trai“, ông Campbell bắt đầu nói, “Ở nhà con bên kia, lúc con nửa đêm về nhà, mặc kệ cha mẹ con có ngủ hay không, con đều dùng sức mà đóng cửa ầm ầm và cất tiếng ho lớn tiếng sao?”
Mình ngẩn cả người, chẳng lẽ đây là những gì nghẹn trong lòng ông ấy muốn nói sao?Mình nói: “Con không rõ, có lẽ…”
Thật sự, lớn nhường này chưa từng có người nào hỏi mình vấn đề như vậy, chính mình cũng không chú ý những “chi tiết” này.

Ta tin là con không cố ý”, ông Campbell mỉm cười nói, “Vợ ta có chứng mất ngủ, mỗi buổi tối con đi về nhà đều đánh thức bà ấy, mà bà ấy một khi tỉnh lại sẽ rất khó ngủ tiếp; vì vậy, về sau nếu con có về trễ như thế, nếu như có thể chú ý nhẹ nhàng một chút, ta sẽ rất vui”.

Ông Campbell dừng lại một chút rồi nói: “Kỳ thực, ta đã muốn sớm nhắc nhở con chú ý, chỉ là vợ ta sợ sẽ làm con tự ái, một mực không cho ta nói; con là một người hiểu chuyện, con sẽ không vì thiện ý nhắc nhở của ta mà thấy tổn thương chứ?”

Mình miễn cưỡng gật đầu. Không phải là mình thấy ông ấy nói không đúng, cũng không phải là mình tự ái, mà chỉ là cảm thấy ông ấy có chút tính toán chi li nhỏ nhặt. Mình sống cùng cha mẹ hơn 20 năm nay, họ chưa bao giờ so đo với mình chuyện này. Nếu như vì vậy mà mình quấy rầy họ, họ cũng sẽ nhất định dễ dàng bỏ qua, nhiều nhất cũng đóng chặt cửa phòng ngủ của mình mà thôi. Trong lòng mình nghĩ: Rốt cục cũng không phải nhà của mình!
BcKCN8
Đương nhiên, cho dù trong lòng mình có chút bực tức, nhưng mình vẫn tiếp nhận lời nhắc nhở của ông Campbell, mỗi buổi tối trở về đều rất chú ý nhẹ nhàng mọi thứ.

Thế nhưng, một buổi chiều không lâu sau, khi mình từ trường học trở về, vừa vào đến chỗ của mình, ông Campbell lại bước vào. Mình chú ý thấy mặt ông ấy có chút sa sầm.
Con trai, có lẽ con không vui, nhưng mà ta vẫn phải hỏi; lúc con đi tiểu, có phải là không nhấc cái đệm lót bồn cầu lên không?”

Trong lòng mình “lộp bộp” một tiếng. Mình thừa nhận, có lúc mình đi tiểu gấp, hoặc là lười biếng, khi tiểu cũng có không xốc miếng đệm lót bồn cầu lên”.
Dạ… thỉnh thoảng…” mình lúng túng.

Như vậy sao được?” ông Campbell lớn tiếng nói, “Chẳng lẽ con không biết như vậy sẽ làm nước tiểu văng tung tóe lên đệm sao? Cái này không chỉ là vệ sinh, mà còn là không tôn trọng người khác, nhất là đối với người phụ nữ”.

Mình giải thích: “Con hoàn toàn không có ý không tôn trọng người khác, chỉ là không…”
“Ta đương nhiên là tin tưởng con không có ý đó, nhưng điều này không nên trở thành một lý do như vậy”.

Nhìn ông Campbell đỏ mặt lên, mình lầm bầm: “Chuyện nhỏ như vậy, không đến nỗi làm cho ông tức giận như vậy”.

Ông Campbell càng thêm kích động: “Nghĩ cho người khác, để trong tâm và tôn trọng người khác, đây là điều tu dưỡng tối thiểu nhất, mà chân chính của việc tu dưỡng là thể hiện từ việc nhỏ nhất.
Con trai, thi đậu học vị hay có một chức vị gì đó tuy trọng yếu, nhưng những thói quen tu dưỡng khi ở cùng người khác cũng vô cùng quan trọng. Nếu như nói học vị, chức vụ đại biểu cho thân phận một người… thì tu dưỡng và thói quen, chính là thân phận thứ hai của người đó, cũng như thế, mọi người sẽ từ đó mà phán đoán một con người”.

Mình không thể nào kiên nhẫn lắng nghe, tiện tay cầm một quyển sách lật lung tung cả lên. Mình cảm thấy ông Campbell vô cùng hà khắc, việc này nếu như là ở trong nước, cũng có thể bị để tâm đến như vậy sao?

Buổi tối, nằm trên giường, mình cân nhắc rất lâu và quyết định rời khỏi nhà của ông Campbell. Họ đã không vừa mắt với mình, thì mình tìm một nhà khác có thể “khoan dung” hơn mà ở.
Ngày hôm sau, mình liền nói lời từ biệt với vợ chồng ông Campbell, hoàn toàn không để ý rằng họ cực lực muốn giữ mình lại. Thế nhưng, chuyện xảy ra tiếp sau đó làm cho mình chuẩn bị không kịp.

Mình liên tiếp đi đến 5, 6 gia đình, họ đều tiếp đãi mình với một câu hỏi giống nhau: “Nghe nói cậu lúc đi tiểu không xốc cái đệm bồn cầu lên phải không?”

Cái khẩu khí ấy, thần sắc ấy…Mình đâu thể nào tưởng tượng nổi sự việc này lại nghiêm trọng đến như vậy đối với bọn họ. Cuối cùng, mình chỉ biết xấu hổ đầy mình mà bỏ đi.
Đến tận giờ, mình mới hiểu được lời của ông Campbell nói: “Thói quen và tu dưỡng là thân phận thứ hai của một con người”.

Trong mắt mọi người, mình chính là đang tiếp thụ trình độ giáo dục cao đẳng, vậy mà lại nông cạn, thiếu khuyết tu dưỡng hàng ngày.

Mình tuyệt nhiên không trách vợ chồng ông Campbell đã đem “thói xấu” của mình truyền khắp nơi, trái lại, lâm vào tình cảnh như vậy, đối với mình, oán giận lại biến mất, thậm chí còn vô cùng cảm kích. Nếu như không có họ, không có đoạn kinh nghiệm xấu hổ kia, mình cũng không thể biết được làm như vậy sẽ khiến người ta khó chịu đến thế. “Không câu nệ tiểu tiết”, câu này ngoài miệng có vẻ là tốt nhưng cũng cần chú ý biết chừng nào.

Kể xong câu chuyện, Nam trầm mặc một lúc… Bồi dưỡng những sinh hoạt tập quán hàng ngày… những điều này vốn nên nằm trong chương trình học tập của thiếu niên thời đại này, nhưng tại sao lại để đến lúc trưởng thành về sau, khi đến một quốc gia khác tha hương mới học được chứ? Thậm chí, nếu như Nam không nghe được những lời của ông Campbell thì cả đời cũng không học được những thứ “nhỏ nhặt” ấy. Giáo dục bên trong chúng ta, quả là thiếu thốn biết bao nhiêu thứ!” (Mai Mai, dịch từ kannewyork)

Bàn về “con mắt, là cửa sổ của linh-hồn” mà lại cứ tản-mạn về những điều xảy ra ở ngoài đời và do người đời nói lên, như thế cũng đã đủ. Nay hỏi rằng, người nhà Đạo hiểu thế nào về: con mắt người đời?

Về con mắt trần-gian, lời vàng kinh thánh có nói rõ về mắt như sau:

“Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã,
thì hãy móc mà ném đi;
thà chột mắt mà được vào cõi sống,
còn hơn là có đủ hai mắt
mà bị ném vào lửa hoả ngục.”
(Mt 18: 9)

“Mắt là cửa sổ của linh-hồn”, mà lại ném vào lửa hỏa-ngục, tức vào những chỗ chỉ gây hận-thù đằng đằng, mất yêu-thương, thì cũng đáng. Bởi, “cửa sổ của linh-hồn” nay chỉ làm cớ cho mình sa-ngã, thì còn gì là đời sống, rất sáng chói làm đèn soi cho mọi người.

Nhà Đạo hôm nay, xảy ra rất nhiều tình-trạng có đấng bậc vị-vọng sử-dụng không được “sáng-suốt” cho lắm nên đã dẫn đưa các vị ấy vào với “lửa hỏa-ngục” của ghét ghen, hận thù, khổ đau.

Xem thế thì, cũng nên quay về với thi-ca âm-nhạc có những lời ca tiếng hát bàn về “con mắt trần-gian” để bạn và tôi ta suy-nghĩ thêm về chuyện “con mắt là cửa sổ của linh-hồn” rồi từ đó, tự định-đoạt cho đường-lối của chính mình. Lời ca ấy như thế này:

“Những con mắt tình nhân, 
Nuôi ta biết nồng nàn. 
Những con mắt thù hận, 
Cho ta đời lạnh câm. 

Những mắt biếc cỏ non, 
Xanh cây trái địa đàn. 
Những con mắt bạc tình, 
Cháy tan ngày thần tiên. 

Ngày ra đi với gió, 
Ta nghe tình đổi mùa. 
Rừng Đông rơi chiếc lá, 
Ta cười với âm u. 
Trên quê hương còn lại. 
Ta đi qua nửa đời, 
Chưa thấy được ngày vui. 
Đường trần rồi khăn gói, 
Mai kia chào cuộc đời, 
Nghìn trùng con gió bay. 

Những con mắt trần gian, 
Xin nuôi vết nhục nhằn. 
Những con mắt muộn phiền, 
Xin cấy lại niềm tin…”
(Trịnh Công Sơn – Những Con Mắt Trần Gian)

Cuối cùng còn một câu hỏi, vẫn bảo rằng: “những con mắt trần-gian” như thế có phải và có còn là “cửa sổ của linh-hồn” của mỗi người? Cả người đi Đạo lẫn ngoài đời? Câu trả lời xin dành để cho bạn, và cho tôi, trong đời người, rất hôm nay.

Trần Ngọc Mười Hai.
Cũng có lần
đặt ra cho mình và cho người
những câu hỏi
rất như thế.