Friday, 18 December 2015

“Gửi tới em! Gửi tới em! Gửi tới em!” Một hạt mưa lẻ loi.



Chuyện Phiếm đọc trong tuần Giáng Sinh năm C 25/12/2015

“Gửi tới em! Gửi tới em! Gửi tới em!”
Một hạt mưa lẻ loi.
Một hạt mưa trong đêm tối mưa bay dài.
Gửi tới em! Gửi tới em! Gửi tới em!
Một giọt mưa, hạt nước mắt.
Hạt nước mắt hiếm hoi trong đời này!”
(Nhạc: Phạm Duy/Thơ: Ngô Đình Vận – Tình Khúc Chiến Trường)

(Rm 11: 30-32)

Ừ thì, bạn muốn gửi gì thì cứ gửi. Gửi từ giọt mưa, nước mắt cho tới đốm lửa lạc loài hoặc bài hát hoặc thơ/văn đầy đủ nghĩa về bất cứ chuyện gì, như: chuyện thông-dịch, biên dịch và phiên-dịch được bàn nhiều, thời buổi này.
Nói gì thì nói, hễ bạn và tôi, ta lại cứ nói về những là thông-dịch, biên-dịch hoặc đơn-giản như phiên-dịch, thì: chỉ mỗi chữ “dịch” thôi, ta cũng có thể viết tràng giang đại hải thật nhiều trang giấy, cũng không chừng. Và, một khi đã nói hoặc viết về “dịch và thuật” thì có lẽ cũng phải nói đến chữ “thông”, ở cụm từ “thông-dịch”, tức: dịch cho thông, cho suốt, rất hoàn-thành trọng-trách của nguời luôn thông và dịch.
Nhưng, có vị này/khác lại cứ bảo: một khi ta đã gọi việc thông-ngôn/dịch-thuật bằng cụm-từ “thông-dịch” nghe qua đã thấy hơi bị lạc lõng chốn ngàn xưa.
Quả cũng đúng! Hồi thập-niên 1970, thì có thể là như thế. Nhưng ngày nay, có lẽ là “không thể” thế được. Chi bằng, ta cứ dịch động-từ bên tiếng Anh “to translate” hoặc động-từ “traduire” tiếng Pháp thành biên-dịch hoặc phiên-dịch nghe thanh-tao, dễ đọc.
Và, một khi đã “dịch” rồi, thì thông thường là ta cứ biên và cứ phiên-âm đến cõi vô-tận. Bởi, biên, là ghi và chép trên giấy trắng mực đen. Còn, phiên là biến âm-thanh, âm-vận để diễn-nghĩa thành âm, thành tự, có như thế mới là “thông” và “dịch”.
Dài dòng thế rồi, nay mời bạn đọc hãy cùng bầy tôi đây, ta đi vào vùng trời tìm hiểu ý-nghĩa của cụm-từ tiếng Anh có chữ “A year of Mercy”, được nhiều học-giả/học thiệt người Việt gọi là “Năm Lòng Thương Xót”, hoặc “Năm thánh Lòng Chúa Xót Thương”, vv… nghe cũng gần cận đến độ thân quen
Có vị lại diễn-tả cụm-từ này theo tâm-tư người Việt ở nhà vẫn cứ gọi “Jubilee Year of Mercy” là “Năm Đại xá Từ-bi” (25 năm một lần) hoặc “Năm Toàn-xá Thiện-hạnh” (50 năm một lần) tựa hồ người thường ở huyện vẫn gọi 25 năm kỷ niệm ngày thành-hôn là Ngân khánh, và 50 năm kim khánh có hôn nhau, (í quên hôn nhân)… Và “Mercy” có nghĩa là: Từ Bi, Hỷ xả, kiểu đạo Bụt.
Có đấng bậc lại chủ-trương diễn-giải dài hơn thế, cốt phân-biệt rõ ràng rằng: nếu bạn dịch chữ “Mercy” thành “Lòng thương xót” hoặc “Lòng Chúa xót thương”, hẳn người nghe sẽ nghĩ về Chúa nhật thứ hai sau Phục Sinh, cũng có chủ-đề như thế. Còn, diễn-giải lòng từ-bi/hỷ xả của Bề Trên thì nghe qua vẫn thấy có sự đóng góp sống đời thực-tiễn của mọi người.
Nói gì thì nói, hễ cứ tranh-cãi/biện-luận những chữ là chữ, thì: rồi ra ta cũng sẽ kéo dài câu chuyện chữ-nghĩa của người Việt đến thiên-thu, không dứt bỏ. Chi bằng, nay mời bạn/mời tôi, ta đi vào với ca-từ nhạc-bản ở trên, rồi hát thêm đôi lới rằng:

Gửi tới em! Gửi tới em! Gửi tới em!
Hơi thở này nồng nàn,
ta yêu nhau đắm say (a à à)

Gửi tới em! Gửi tới em! Gửi tới em!
Những gì còn sống sót trên đời.
Như hơi ấm tuyệt vời.
Như hơi ấm tuyệt vời.
Ta ôm em và tan loãng trong không gian
và tan loãng trong không gian lưu đày...

Gửi tới em! Gửi tới em! Gửi tới em!
Em có nghe xào xạc.
Tiếng lá bay xào xạc.
Tiếng gió đêm buồn buồn.
Lang thang trên muôn vàn đỉnh cây.
Hạnh-phúc nào không tả-tơi,
không đắng cay?”
(Phạm Duy/Ngô Đình Vận – bđd)

Vâng. Bạn có muốn hát những là “Gửi tới Em” như được cất lên trong buổi nhạc thính phòng “Hát Cho Nhau Nghe” hôm 7.11.2015, thì cũng là hát đề rồi sẽ chuyển tải những gì mà người anh em của mình cũng đã hát nhiều điều hơn thế, chỉ để nói lên thứ tình-tự yêu-thương của em, của anh với ai đó, thôi.
Vâng. Người mình muốn viết gì thì viết, nghệ-sĩ mình có viết nhạc hoặc làm thơ, cũng sẽ còn viết nhiều hơn thế. Về tình trang-lứa hoặc tình cha/tình mẹ, cùng tình-tự của mọi người ở đời thường dành cho nhau, đến với nhau.
Tình người đối với nhau và cho nhau, là tình rất lớn phản-ánh “từ” hoặc “về” một tình-tự rất “xót thương” của Chúa và cho Chúa. Nói khác đi, đó là thứ tình đời đầy trắc ẩn, luôn hàm-ẩn lòng tử-bi/hỷ xả như Đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo đã trần-tình khi ra tông-sắc đặc-biệt này:

“Năm Thánh là một lúc ưu tiên để Giáo Hội chỉ lựa chọn điều đẹp lòng Thiên Chúa nhất: đó là tha thứ cho các con cái Ngài, thương xót chúng, để đến lượt chúng, chúng cũng có thể tha thứ cho các anh em khác và chiếu toả rạng ngời như các ánh đuốc lòng xót thương của Thiên Chúa trong thế giới này. Việc canh tân các cơ quan và cấu trúc của Giáo Hội cũng là một phương thế dẫn đưa chúng ta tới kinh nghiệm sinh động làm sống lại lòng thương xót của Thiên Chúa.”

Đức Phanxicô nói với tín hữu và khách hành-hương tham-dự buổi triều-yết sáng thứ tư hàng tuần, hôm rồi. Hẳn mọi người đều biết, hôm trước đó, Đức Phanxicô đã chủ sự thánh lễ và nghi-thức “Mở Cửa” trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, sau khi đã mở cửa nhà thờ Bangui, thủ đô nước Trung Phi hạ tuần tháng 11/2015.
Trong huấn-từ, Đức Phanxicô yêu cầu mọi người hãy suy tư về ý nghĩa và lý do Giáo Hội cử hành Năm Thánh đặc-biệt này. Ngài nói thêm:

“Giáo Hội cần thời điểm đặc-biệt này. Tôi không nói lúc này là thời-điểm tốt cho Giáo Hội. Tôi nói: Giáo Hội cần thời-khắc đặc-biệt như thế này nhất là trong thời đại có đổi thay sâu rộng của chúng ta Giáo Hội được mời gọi đóng góp đặc-biệt từ phần của mình, bằng các dấu chỉ hiện diện gần gũi Chúa. Và Năm Thánh là một thời gian thuận tiện cho tất cả chúng ta, để khi chiêm ngưỡng Chúa vì đã xót thương nên Ngài vượt mọi giới-hạn con người và tỏa sáng lên lỗi tội đầy tăm tối tăm, và ta vẫn có thể trở thành chứng nhân xác tín và hữu hiệu hơn…

Năm Thánh Lòng Thương Xót đây là đặc-sủng Chúa ban cho Giáo Hội để ta học hỏi, lựa chọn “làm vừa lòng Ngài! Đó là tha thứ con cái của Ngài, thương xót chúng, để rồi đến lượt chúng, chúng cũng biết thứ tha anh em khác, bằng việc chiếu sáng mọi sự như ánh sáng của lòng từ bi trên khắp thế giới.

Năm Thánh là “dịp thuận” cho Giáo Hội, để ta chọn làm hài lòng Chúa, mà không nhượng bộ chước cám dỗ. Không gì quan trọng hơn việc chọn làm Chúa hài lòng bằng sự thương xót, bằng tình yêu, sự hiền dịu, vòng tay ôm mơn trớn, ủi an của Ngài!” (trích nguồn: TTXCGVN)

Và, đấng bậc chủ-quản giáo-phận nọ ở Melbourne, lại cũng có đôi giòng chảy xuyên suốt cốt thêm thắt một chút tình người vào tông-sắc “Năm thánh Từ Bi” như sau:

“Thực-thi năm thánh có truyền-thống lâu đời qua tập-tục của các vị theo Do-thái-giáo, thời rất cổ. Đọc sách Lêvi Cựu Ước, mọi người sẽ thấy: khi bắt đầu năm thứ 50 vào mỗi thế-kỷ, người đi Đạo lại sẽ mừng kính năm toàn-xá hỷ-xả ban cho những người nào quyết thực-thi một số việc lành như Giáo hội dạy.

Các việc lành thực-hiện trong năm thánh gồm những việc, như: giải-phóng tù-nhân khỏi cảnh đoạ-đày, đem ánh sáng đến với người mù loà và sự tự-do cho người bị áp-bức. Như Đức Giêsu khi xưa từng đi đây đó chữa lành cho người bệnh và thứ tha cho những người bị tội-lỗi dồn ép…

Năm 2015 đây, Đức Phanxicô tuyên bố thành-lập năm thánh đặc-biệt bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 cũng để kỷ niệm 50 năm ngày bế mạc Công đồng Vatican 2. Làm sáng-tỏ sự-kiện này, Đức Phanxicô nói Công-đồng này từng đánh dấu sự-kiện Thánh Thần Chúa đã thực-sự thổi hơi vào Giáo hội để các Giám-mục nghị-phụ thấy được nhu-cầu nói về việc Thiên-Chúa đối-thoại với chúng dân thời-đại họ sống bằng phương cách dễ tiếp-nhận hơn. (Tông-sắc “Misericordiae Vultus” đoạn 4)

Đức Phanxicô nhớ lại ngày khai mạc Công Đồng Vatican 2, thánh Giáo hoàng Gioan 23 có nói về “thang thuốc từ-bi” và lòng ước ao của Giáo-hội những muốn chứng-tỏ lòng mình như người mẹ hiền đối với mọi bệnh-nhân bằng lòng thương xót, sự tử-tế và ân-cần từng đối với mọi người.”

Và Đức Phanxicô cũng nhắc lại lời Đức Phaolô 6 có nói khi kết-thúc Công-đồng Vatican 2 rằng: Công-đồng từng được gợi hứng từ câu truyện về người Samaritanô nhân-hiền đã chứng tỏ lòng xót xa của ông ta đối với người lữ hành bị đột-kích trên đường từ Giêrusalem đến Giêrikhô.

Và Đức Phaolô 6 có nói: giáo-huấn của Công-đồng Vatican 2 hướng đến việc phục-vụ nhân-loại, phục-vụ mọi người, trong mọi hoàn-cảnh, tình-huống những đau yếu, có nhu-cầu rất thiết-thực.” (cũng trong Tông-sắc “Misericordiae Vultus” đoạn 4)

Nói tóm lại, mừng năm thánh Từ Bi, ta ước-ao sẽ đi vào cuộc đời mà tỏ bày lòng từ bi với mọi người. Đi vào đời, để mang sự dịu-hiền, tử tế của Chúa đến với mọi người. Để rồi, kẻ tin lẫn kẻ chưa tin sẽ thấy đây là dấu-hiệu của Vương Quốc Nước Trời đã hiện-diện bên trong làn khói mù của lòng người. Đó là lý-do và cũng là ước-vọng của “Tin báo hỷ” đang đến với ta.” (Gm Paul Bird, CSsR - A Year of Mercy, The Majellan Family số tháng 10-12/2015, tr. 11-16)

Cũng chuyện “từ-bi/hỷ xả” ở ngoài đời, của người đời thường có nét vẻ diễn-tả tuy đơn-điệu nhưng dễ hiểu và dễ thấm vào lòng người như truyện kể ở bên dưới:

“Trước cổng một nghĩa trang nọ, người ta thấy có một chiếc xe Roll Royce sang trọng dừng lại. Người tài xế tiến lại người giữ cổng và nói: xin anh giúp một tay cho người đàn bà này xuống xe vì bà ta yếu quá không đi được nữa.

Vừa ra khỏi xe, người đàn bà tự giới thiệu và nói với người giữ cổng nghĩa trang:
-Từ hai năm qua, mỗi tuần, tôi là người đã gửi cho anh 5 đô-la để mua hoa và đặt trên mộ con trai tôi, nhưng nay các bác sĩ bảo rằng, tôi không còn sống được bao lâu nữa, nên tôi đến đây để chào từ biệt và cảm ơn anh đã mua hoa giùm tôi.

Thế nhưng, người đàn bà không ngờ rằng người giữ cổng nghĩa trang trả lời như sau:
-Thưa bà, tôi lấy làm tiếc rằng bà đã làm công việc ấy!

Người đàn bà cảm thấy như bị ai đó vả vào mặt. Nhưng bà vẫn còn đủ bình tĩnh hỏi lại người thanh niên:
-Tại sao lại lấy làm tiếc về cử chỉ đẹp như thế?

Người thanh niên giải thích:
-Thưa bà, tôi lấy làm tiếc vì những người chết như con trai bà, chẳng bao giờ còn thấy được một cánh hoa nào nữa!

Bị chạm tự ái, người đàn bà liền cao giọng:
-Anh có biết anh đã làm tổn thương tôi không?

Người thanh niên bình tĩnh trả lời:
-Thưa bà, tôi xin lỗi, tôi chỉ muốn nói với bà rằng có rất nhiều người đang cần đến những cánh hoa của bà hơn. Tôi là hội viên của một tổ chức chuyên đi thăm những người già lão, các bệnh nhân trong viện dưỡng lão, các bệnh viện. Chính họ mới là những người đang cần đến những cánh hoa của chúng ta, họ có thể nhìn thấy và ngửi được cánh hoa ấy.

Nghe thế, người đàn bà ngồi bất động trên chiếc xe sang trọng một lúc, rồi ra hiệu cho tài xế mở máy. Vài tháng sau người đàn bà trở lại nghĩa trang. Nhưng lần này không cần ai giúp đỡ, bà tự động bước xuống xe với một dáng vẻ vui tươi nhanh nhẹn hơn, và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, một nụ cười rạng rỡ, bà nói với người thanh niên giữ cổng:
-Chú đã có lý, tôi mang hoa đến cho những người già lão, bệnh tật. Quả thật, điều đó đã làm cho họ được hạnh phúc. Nhưng người thực sự hạnh phúc chính là tôi. Các bác sỹ không biết được bí quyết làm tôi khỏe mạnh lại. Nhưng tôi đã khám phá ra cái bí quyết ấy, tôi đã tìm ra lẽ sống.

Lời bàn của người Kể truyện, lại như sau:

“Giúp đỡ người khác là giúp đỡ chính mình”. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc của Thượng đế “cho thì có phúc hơn là nhận lãnh” Bởi vì, trao ban cho người tức là trao ban cho mình. Một ngạn ngữ Anh cũng nói một cách tương tự: “điều tôi tiêu đi là tôi có, điều tôi giữ lại là tôi mất, điều tôi cho đi là tôi được”.

Đó là lý luận của tình yêu. Tình yêu lớn lên theo mức độ của sự trao ban. Có biết yêu thương thì con người mới thực sự triển nở, và tìm gặp lại chính mình. Có biết yêu thương thì con người mới biết vui sống, và tìm được hạnh phúc đích thực trong cuộc sống.”

            Nói thế, tức bảo rằng: có mừng và có kính Lòng Từ Bi/Thương Xót bằng hình-thức nào đi nữa, cũng là cơ-hội để bạn và tôi, ta lại sẽ thực-hiện hành-động yêu-thương/tha-thứ hết mọi sự cho mọi người.
            Từ-bi/Thương-xót như thế, là để đề-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta về với Lời Vàng của bậc hiền-nhân rất thánh, từng nhủ-khuyên như sau:

Thật vậy, trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa,
nhưng nay anh em đã được thương xót,
vì họ không vâng phục;
họ cũng thế:
nay họ không vâng phục Thiên Chúa,
vì Ngài thương xót anh em,
nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót.
Quả thế,
Thiên Chúa đã giam hãm mọi người
trong tội không vâng phục,
để thương xót mọi người.
Ca tụng thánh ý nhiệm mầu.”
(Rôma 11: 30-32)

Nghe khuyên và nhủ thế rồi, nay ta lại sẽ trở về với giòng thi-ca/âm-nhạc mà hát những tình-tự từ-bi/hỷ-xả như từng hát ở bên trên, bằng những lời ca vang, rằng:

Em có nghe xào xạc.
Tiếng lá bay xào xạc.
Tiếng gió đêm buồn buồn.
Lang thang trên muôn vàn đỉnh cây.

Hạnh-phúc nào không tả-tơi,
không đắng cay?”
(Phạm Duy/Ngô Đình Vận – bđd)

Hát như thế, tức tự nhủ lòng mình, rằng: đời người sẽ còn đó nỗi buồn, nếu không ai thấy được lòng từ-bi/thương-xót hiện-diện ở trong mình và nơi mọi người.
Để minh-hoạ cho ý-tưởng này, đề-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta đi vào vùng trời truyện kể về tình thương-yêu hiền-dịu cả trong tờ giấy bạc được xếp thành hình tam giác như quà tặng cho nhau, đầy ý-nghĩa, như sau:

“Truyện rằng:

Vài năm trước, mỗi ngày đi làm, Jim đều được ông Jake, một người hàng xóm đã cao tuổi đưa cho một tờ tiền mặt 5 đôla. Ông nhờ Jim ghé qua một quán cà phê trên đường để mua hộ ông một gói cà phê có giá 4 đôla.

Thói quen này của ông Jake đã duy trì đến mấy năm nay rồi. Và để đáp trả lòng tốt của Jim, ông Jake sẽ nhận làm cỏ, tỉa cây trong vườn nhà anh ấy.

Sau một thời gian lâu, bà chủ quán cà phê cũng đã quen với Jim. Bà ngày nào cũng chuẩn bị một gói cà phê và một đồng đô la tiền lẻ để trả lại.

Đôi lúc, Jim cũng rất tò mò và hỏi ông Jake: 
-Cà phê có hạn sử dụng rất lâu, tại sao ông không mua một lần nhiều nhiều một chút?
Ông Jake lắc đầu và cười nói: 
-Không, tôi thích như thế này hơn, mỗi ngày một gói cà phê mới tốt.

Có một lần, Jim vội vã tới nhà bạn để tụ tập cùng bạn bè nên anh liền mua cà phê ở tạm một cửa hàng khác. Không ngờ, ông Jake khi nhận được cà phê dù còn chưa mở ra đã nói: 
-Đây không phải loại cà phê mà tôi muốn.

Jim cảm thấy bất ngờ, anh liền thử mấy lần sau đều mua ở nơi khác, nhưng dù cà phê đã được đóng gói y như vậy, mà ông Jake chỉ liếc mắt qua đã phát hiện ra rồi. Từ đó, Jim không còn thử ông nữa.

Mấy năm sau, sức khỏe của ông Jake đã không còn được tốt như trước đây. Nhưng hàng ngày ông vẫn đều nhờ Jim mua cho mình một gói cà phê. Mỗi lần khi đưa 5 đôla cho Jim, hai ánh mắt của ông lại chất chứa đầy sự chờ mong.

Cho đến một hôm, khi Jim lại sang nhà ông Jake mua cà phê giúp ông. Ông Jake sức khỏe suy yếu nằm trên giường bệnh đưa tay ra, rồi nhẹ nhàng cầm tờ một đôla và hỏi Jim: 
-Thời gian lâu như vậy, chẳng lẽ cậu không biết gì sao?”
Jim nhìn ông lão hàng xóm và lắc đầu.
Ông lão nói tiếp: 
-Tôi luôn luôn muốn mua cà phê ở cửa hàng đó, là vì người bán cà phê cho cậu là Elina.”
Giọng nói của ông Jake trầm xuống rất nhiều: 
-Bà ấy là người mà tôi yêu nhất. Năm đó, mẹ của bà ấy chê tôi là một kẻ nghèo nàn, nên đã chia rẽ chúng tôi…Tôi cũng chỉ có thể đau lòng mà rời đi. Nhiều năm sau này, vợ tôi bị bệnh qua đời, các con cũng đã trưởng thành có gia đình.

Tôi đã quay trở lại nơi đó tìm hiểu và biết bà ấy bán cà phê ở cửa hàng đó. Bà ấy cũng đã sớm mất chồng. Cả hai người chúng tôi đều không quên ước định của tình yêu đầu năm xưa. Nhưng tôi không muốn quấy rầy đến cuộc sống bình yên của bà ấy, nên lặng lẽ sống ở đây. Cũng từ đó, tôi nhờ cậu mua cà phê hộ tôi.”

Jim đứng im lặng nhìn ông lão hàng xóm rồi bất chợt hỏi với vẻ khó hiểu: 
-Chẳng lẽ, ông chưa từng đến thăm bà ấy sao?”
Ông Jake lắc đầu.
-Năm đó, lúc chúng tôi yêu nhau thường không có cách để gặp mặt nên đã đặt ra một ám hiệu. Đó là lấy tờ một đô la gấp thành một hình tam giác, để trong một bì thư, rồi nhờ người gửi thư đưa đến đối phương, ngụ ý nói rằng mình vẫn bình an. Cho nên, mỗi lần nhờ cậu mua cà phê, tôi đều gấp tờ tiền thành một hình tam giác. Còn Elina, mỗi lần trả lại tôi tờ một đô la, bà ấy cũng đều gấp thành một hình tam giác.

Cứ như thế, dù chúng tôi không gặp lại nhau nhưng đều biết người kia vẫn bình an, khỏe mạnh… Bây giờ, tôi sắp phải đi gặp thượng đế rồi, nhưng nếu Elina không nhận được tin tức của tôi, bà ấy hẳn sẽ rất lo lắng. Dưới giường của tôi có một chiếc hòm, bên trong đều là những tờ tiền tôi đã gấp thành hình tam giác rồi. Xin cậu hãy giúp tôi tiếp tục mua cà phê …Tôi xin nhờ cậu…”

Ông Jake nói xong, liền nhắm mắt lại và ra đi. Không ngờ, trong đám tang của ông Jake, Jim đã mang đến một chiếc hòm khác. Trong chiếc hòm ấy, toàn là những gói cà phê đã được đóng sẵn và còn có rất nhiều những tờ tiền một đôla được gấp sẵn thành hình tam giác.

Vào nửa năm trước, bà Elina đã bị bệnh nặng mà qua đời. Trước khi rời đi, bà đã giao chiếc hòm này cho Jim để nhờ Jim thay thế mình chuyển lời nhắn bình an đến ông Jake….

Đây hẳn là một tình yêu đích thực! Có thể quý trọng tất cả những người bên cạnh mình, thì đó chính là một loại hạnh phúc! (Mai Trà biên dịch)
Nghe kể thế rồi, việc còn lại với bạn và với tôi, là: thực-hiện hiệu-lệnh của Đức Chúa khi xưa vẫn từng bảo:

“Anh em hãy ra đi
và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,
làm phép rửa cho họ
nhân danh Cha, Con và Chúa Thánh Thần,
dạy bảo họ tuân giữ
mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.
Và đây,
Thầy ở cùng anh em
mọi ngày cho đến tận thế."
(Mt 28: 19-20)

Ra đi mà thực-hiện tính từ-bi, hiền-dịu trong cuộc sống đầy thương xót. Rất nhiều năm. Nhiều tháng, suốt đời mình. Đó chính là lệnh-truyền của Đức Chúa với mọi người, mọi thời chứ không chỉ trong mỗi năm thánh Từ bi hay thương xót.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những quyết-tâm để đời,
rất không rời
lòng người.

Saturday, 12 December 2015

“Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 4 Mùa Vọng năm C 20/12/2015

“Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời,”
Người hẹn cùng tôi: “Ngày về khi đất nước yên vui”.
Quỳ lại Mẹ MARIA, lòng Mẹ từ bi bao la.
Tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam.”
(Nguyễn Văn Đông – Mùa Sao Sáng)
(Cv 17: 11-12 )
            Đành rằng, khi viết giòng nhạc này, có thể người viết cũng từng nghe biết hoặc tin tưởng chuyện trăng sao soi sáng đêm đen dày đặc ngày Đức Giêsu giáng hạ làm người, nữa đấy.
            Đành rằng, người thường ở huyện, chí ít là huyện nhà rất Việt-Nam chẳng bao giờ đặt vấn-đề về sao sáng dẫn lối chỉ đường cho ba bốn vua/quan/đạo-sĩ ở đâu đó, kéo đến xứ sở nhỏ bé của Do-thái để mừng chúc với dâng quà cho Hài-nhi Chúa rất Giêsu.
            Đành rằng, các bổn đạo và kẻ tin vào sự việc Đức Chúa giáng-hạ-làm-người vẫn cứ tin và tưởng những chuyện sao băng/sao xẹt soi-sáng thôn-làng Bê Lem là chuyện rất “thật như đếm”. Nhưng, cũng nên thêm một lần để kể về các sự-kiện loanh quanh việc Thiên-Chúa Giáng-hạ, có đúng lịch sử hay không, cũng chưa biết.
            Nhưng trước khi đi vào chi tiết, tưởng cũng nên nghe thêm đôi ca-từ rất quen tai cứ nghe hoài nghe mãi ở trên đài hoặc dĩa nhựa, vi-tính rất trữ-tình như sau:

“Từ mùa Đông trước qua mùa Đông tiếp theo sau này.
Người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi.
Giặc tràn về quê hương tôi, giặc diệt niềm tin Kitô.
Lớp lớp đàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao.

Đêm nay tôi nhớ người chưa trở lại, chênh chếch mùa sao lạc loài.
Ôi những mùa sao lẻ đôi.
Cho tôi thương nhớ mùa sao ngày nào, thương những mùa sao hồng đào.
Ôi những mùa sao cách xa.

Một mùa Đông giá hang Bê-Lem Chúa sinh ra đời.
Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao.
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn, người Việt càng thương nhau hơn.
Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao.”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)

            Nghe thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta đi vào phần biện-giải về những chuyện có nên hay không nên tin vào dụ-ngôn/truyện kể ở Sách thánh, để còn học hỏi thêm nhiều điều về sau. Cả về chuyện Hài-nhi Giêsu sinh ra trong “Hang Bê-Lêm” được “Ba bốn Vua/quan lãnh-chúa hoặc đạo-sĩ” ghé viếng, thực hư thế nào, hay chỉ mỗi thế này, mà thôi:

“Nếu hỏi rằng truyện Đức Giêsu sinh ra làm người có dính gì tới lịch-sử nhân-loại không? Thì xin trả lời rất ngắn gọn, như thế này:

Bằng vào cụm từ “Đức Giêsu Lịch Sử”, tôi có ý nói đến một người từng lữ-hành trên các đường đất gồ ghề đầy cát bụi, ở Galilê. Đức Giêsu lại cũng rong ruổi đường trường, từng ăn uống với nhiều người; và, Ngài lại đã giảng-dạy nhiều điều về Vương Quốc Nước Trời, nữa.

Cuối cùng, Ngài đã bị bắt và đem đi xử tử, đó là điều mà các nhà nghiên-cứu lâu nay từng xác-quyết một chứng-thực về Ngài, theo sử-tính.

Tuy nhiên, có một số truyện mà nhiều người từng nghe/biết về Đức Giêsu, lại thấy không có chút ánh sáng nào soi-rọi để ta có thể coi Ngài như Nhân-vật Lịch-sử trổi bật, hết.

Tôi muốn qui-chiếu các truyện về thời thơ-ấu và việc sinh-hạ Hài Nhi mà ta vẫn nghe biết vào mỗi dịp lễ trong đó có nhân-vật chính là Đức Maria và ông Giuse lại đã đặt Hài Nhi Giêsu nằm trong máng đựng cỏ dành cho bò lừa ăn. Hiện-trường diễn-tiến việc Đức Giêsu xuất hiện với đời thường còn có các mục-đồng chăn cừu, thêm các nhà thông-thái từ phương Đông đến, và cả đến thiên-thần tả/hữu vẫn ở quanh Ngài.

Truyện Đức Giêsu sinh hạ làm người, là một dụ-ngôn giả-tưởng mang tính-chất rất tôn-giáo, nếu ta muốn gọi thế cho gọn nhẹ. Riêng tôi, sẽ tìm cách trưng-dẫn các dấu-chỉ cho thấy điều này không có ý bảo rằng: những chuyện như thế không phải là không có giá trị.

Nhưng, điều tôi muốn nói ở đây, chỉ có ý bảo là: ta không nên hiểu các truyện kể như thế theo “từng chữ” có tính lịch-sử, đã minh xác. Đúng hơn, ta chỉ nên coi đó như khúc nhạc dạo đầu cho toàn-bộ vở nhạc-kịch diễn-tấu trên sân-khấu Broadway, NewYork mà thôi.

Nhạc dạo đầu, bao giờ cũng bắt kịp chủ-đề được trình-tấu mà các nghệ-sĩ diễn-tả cách trọn-vẹn ở tuồng kịch. Và ở đây, hai tác-giả Mát-thêu và Luca, lại đưa ra hai phiên-bản dị-biệt trong truyện Đức Giêsu chào đời. Bởi thế nên, nhạc “dạo đầu” bao giờ cũng khác nhau, ở nhiều chỗ.” (Xem Gs John Dominic Crossan, Giêsu Hỡi Ngài là Ai? Chương 2 nxb Phương Đông 2016)

            Bần-đạo nay nhân dịp nghe lại vài nhạc-bản Giáng-sinh rất đời, bèn thấy hoảng. Hoảng, vì thấy nghệ-sĩ ngoài đời cứ đặt nặng vào giòng chảy ướt-át, uỷ-mị rồi lôi kéo người nghe bằng những lời thêm thắt cho hấp-dẫn mà quên đi khía-cạnh chính-đáng, rất thật/hư. Rồi từ đó, đã vội kết tội, là: người Đạo Chúa cũng tin vào những chuyện dân-gian, thần-thoại không có thật.
            Người ngoài Đạo, lâu nay cứ bị mang tiếng là dị-đoan/mê-tín nhiều quá sức, nên đôi lúc cũng muốn quay ngược trở lại tố-cáo người Công-giáo cũng như vậy.
Hôm nay, bần đạo đây vốn thuộc giới thấp hèn còn ngu dốt nhiều về nhiều chuyện, không dám múa bút bon-chen chuyện cãi vã/đấu-tranh ở đời thường về chuyện tin rất mê, như mê-tín hoặc chuyện đoan chắc những chuyện di-kỳ, được gọi là dị-đoan. Nhưng, chỉ muốn ngồi buồn kể chuyện cho đám “trẻ người non dạ” có đầu óc tinh-thông khoa-học, không còn thiết-tha chuyện thần-học tu-đức nữa.
Vốn là dân ngu-muội nhiều thứ chuyện, nên bần-dạo vẫn phải chạy vạy tìm đến các đấng-bậc tinh-thông rất nhiều chuyện để giúp đỡ hầu suy-tư cho phải lẽ, đúng cách. Bởi thế nên, cũng cứ xin bạn bè người thân đọc những giòng này cứ là tha cho bần-đạo, thật biết ơn.
Nói xa nói gần, chi bằng nói thật về những tâm-tưởng của một số vị từng khuyến-cáo chức-sắc kẻ tin hãy cẩn-thận kẻo cũng bị mang tiếng là dị-đoan mê-tín rất nhiều điều.
Số là, cách nay không lâu bần-đạo đây được một bạn chí-thân “quẳng” cho cuốn sách nói về những chuyện bí-nhiệm nơi đạo-giáo xuất từ xứ miền Babylon, bên đó, có đầu đề là “Babylon Mystery Religion” cũng rất ngắn, nhưng lời lẽ lại chắc nịch như đinh đóng cột, như một với một là hai.
Nay không dám nói dài, nói dai và nói dở. Chỉ dám trích/dịch đôi ba đoạn để bầu bạn khắp nơi có cơ-hội giết thì-giờ rảnh-rỗi không biết làm gì, bèn nghĩ quanh nghĩ quẩn, thế thôi.
Rào đón thế rồi, nay lại mạo muội xin phép bà con cho bần-đạo được trích và dịch đoạn văn rất “nổi cộm” ít thấy trên thị-trường chữ-nghĩa, rất như sau:

“Đạo-giáo huyền-nhiệm của Babylon, lâu nay được mô-tả một cách đầy biểu-tượng ở sách Khải-huyền là sách cuối của Tân Ước có những giòng như sau: ‘tôi thấy một người đàn bà, ngồi trên một Con Thú đỏ thẫm, con Thú ấy mang đầy những danh-hiệu xúc-phạm đến Thiên Chúa, và có bảy đầu mười sừng. Người đàn bà mặc áo đỏ tía và đỏ thẫm, trang sức toàn bằng vàng, đá quý và ngọc trai, tay cầm một chén vàng đầy những thứ ghê tởm và ô uế, tức là sự gian dâm của nó. Trên trán nó, có viết một tên mang ý nghĩa huyền bí: "Babylon vĩ đại, mẹ đẻ ra các gái điếm và các thứ ghê tởm trên trần gian.” (Kh 17: 2-6)

Khi Kinh-thánh dùng ngôn-ngữ biểu-tượng chẳng hạn như, ở đây là cụm-từ “người đàn-bà”, thì ta hiểu rằng tự-vựng ấy biểu-trưng cho Hội-thánh của chúng ta. Ở một số các đoạn sách khác như Êph 5: 27, Kh 19: 7, 8, Hội-thánh thực của ta, lại rất giống các nàng trinh-nữ, các cô dâu không tì-tích, hoặc phụ-nữ không một vết nhơ.

Còn,  sách Khải-huyền đây, lại đưa ra ảnh-hình phản-chống, đối-chọi lại Hội-thánh thực-thụ khi nói đến “người đàn bà” ở trong Sách, là nói về người nữ-phụ nhơ-uế/không trong-sạch, một gái điếm.

Và, nếu là điều đúng đắn để gán-ghép lối biểu-trưng này cho một hệ-thống nào đó của Giáo-hội, thì rõ-ràng là tác-giả Gioan Tin Mừng muốn nói đến một Giáo-hội ô-uế từng ngã-gục, mà thôi. Và, Sách thánh gọi đó là Đạo huyền-nhiệm của Babylon.

Khi tác-giả Gioan Tin Mừng viết lên sách KHải-huyền, thì Babylon, một thành-phố, khi ấy đã bị tàn-phá chỉ còn là đống gạch vụn, như các ngôn-sứ ở Sách Cựu Ước đã nói tiên-tri về một Babylon rất đạo-giáo. Và, cho dẫu thành-phố Babylon từng bị huỷ-diệt đi nữa, thì các ý-niệm và tập-tục trong Đạo phát-xuất từ Babylon vẫn tiếp-tục tồn-tại và được truyền-lan sang nhiều nước trên thế-giới như một đạo-giáo tốt đẹp.

Thành ra, vấn-đề là hỏi rằng: đạo-giáo xuất tự Babylon, là đạo nào? Đạo đây, khởi đầu ra sao? Với thời hiện-đại, sự việc như thế có nghĩa gì với người thời-đại? Việc ấy có gắn chặt vào với những gì được mô-tả ở sách Khải-huyền do tác-giả nọ được gán cho ông Gioan Tin Mừng không?

Ngược trở về với quá-khứ, chỉ ít lâu sau ngày “Đại Hồng Thủy” xảy đến, thì mọi người đã bắt đầu chuyển từ các vùng đất phía Đông và rồi đi về vùng đồng bằng được gọi là “vùng đất Shinar, rồi định-cư tại đó.’ (Stk 11:2). Và cũng chính trên phần đất Shinar này, thành-phố Babylon được dựng-xây, sau trở thành đất nước Babylonia hoặc về sau còn gọi là Miền Tiểu Á...

Dựa trên các kết-luận rút từ nhiều nguồn thông-tin dẫn đến ta ở lịch-sử, truyền-thuyết và huyền-thoại, tác-giả Alexander Hislop đã ghi xuống từng chi-tiết cách-thức đạo-giáo của Babylon đã triển-khai ngang qua nhiều truyền-thống dân-gian trong đó có kể về thần Nimrod, về người vợ phàm-nhân của ông là Semiramis và người con trai của họ là phân nửa thần có tên là Tammuz…

Người mẹ của thần Tammuz có lẽ cũng đã nghe được lời tiên-tri đoán trước việc Đấng Thiên-Sai được sinh-hạ từ một nữ-phụ (Stk 3: 15), bởi sự thật về chuyện này được mọi người biết từ thời nguyên-sơ. Nên, bà mẹ Tammuz cho rằng con trai bà được thụ-thai một cách siêu-nhiên và con của bà từng là hạt-nhân chính-yếu đã được hứa ban, sẽ trở thành “Đấng Cứu Chuộc”. Và đạo-giáo này cứ thế lan rộng, đến độ người người thời bấy giờ không chỉ phụng-thờ Người Con là Đấng Cứu-độ thôi, mà cả người mẹ sinh hạ ra ngài nữa…

Kịp đến lúc, Đạo Chúa đã đến phải giáp mặt với đạo “ngoài luồng” của Babylon theo nhiều hình-thức nhau do Đế-quốc La Mã thiết-lập. Kitô-hữu thời Giáo-hội tiên-khởi đã chối-bỏ bất cứ thứ gì có liên-quan đến tập-tục và niềm tin của đạo. Từ đó, dẫn đến nhiều cuộc quẫn-bức, bách-hại những ai tin-tưởng vào Đạo của Chúa. Nhiều tín-hữu bị kết-án tử và bị ném cho thú dữ ăn thịt, hoặc đốt xác làm đuốc sống và/hoặc nhiều cách dã-man khác, cho đến chết.

Kể từ khi, hoàng-đế La Mã tuyên-bố hồi-hướng trở về với Đạo Chúa, mọi cuộc bách-hại được lệnh chấm dứt. Các giám-mục được tôn-trọng và kính-nể. Giáo-hội bắt đầu được chính-thức công-nhận và ban cho quyền-lực trải rộng trên khắp thế-giới. Nhưng, để được như thế, Đạo Chúa đã phải giá rất đắt và cũng phải nhượng-bộ rất nhiều thứ với ngoại-giáo. Và cuối cùng, thay vì Giáo-hội tách rời khỏi thế-giới trần-tục, lại trở nên thành-phần của thế-giới ấy...

Cũng từ ngày đó trở đi, đã có sự lẫn lộn/hoà trộn giữa Đạo của Chúa và ngoại-giáo cũng rất nhiều, chí ít là tại Rôma. Và cũng từ đó, đạo của ta trở-thành Giáo-hội Công-giáo La Mã. Dĩ nhiên, có rất nhiều điều chứng-tỏ người đi Đạo của ta rất thánh-thiện, và sốt-sắng đạo-hạnh, nhưng ta cũng không thể nào bài-bác hoặc chối-bỏ gốc-gác mang tính-cách rất dân ngoại, có từ thời này…” (Xem Ralph Woodrow, Babylon-Source of Falso Religion, Ralph Woodrow Evangelistic Association 1966, 1981 edition tr. 7-12)    
 
            Trích và dịch các đoạn văn ấy rồi, nay xin thay-đổi bầu khí bằng cách mời bạn và mời tôi ta lại ngâm nga hát nhạc đời có những ca-từ về Đạo-giáo cũng như sau:
   
“Một mùa sao sáng
ôi mùa sao chói chang muôn đời.
Vạn lời truyền rao
nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao.
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn,
người Việt cùng thương nhau hơn.
Đất nước này đây
sáng đức tin Chúa trên trời cao.”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)

Thế đó là chuyện Đạo ở trong đời. Chuyện Đạo ở đây, có thể là chuyện đạo-đức, đạo-hạnh và có lẽ cũng rất cương-thường đạo-lý của đời người, dành cho người đời.
Lại có câu chuyện không mang tính đạo-mạo hoặc đạo nghĩa của đạo-giáo nào hết, nhưng vẫn là chuyện rất đạo cốt để giúp mọi người sống tốt đạo làm người, như sau:  

“Lúc còn là một thiếu niên, một lần, tôi được cha dẫn đi xem xiếc. Khi nhập vào hàng người đang xếp dài trước quầy vé, tôi chú ý đến một gia đình đứng ngay trước chúng tôi. Họ có đến những 8 đứa trẻ mà đứa lớn nhất có lẽ chưa đến 12 tuổi. Nhìn dáng vẻ những đứa bé ấy có thể đoán được gia đình chúng không giàu có.

Quần áo chúng không phải loại đắt tiền nhưng sạch sẽ và tươm tất. Và đó là những đứa trẻ biết cách cư xử. Cứ nhìn cái cách từng 2 đứa một nắm tay nhau xếp hàng sau bố mẹ chúng thì rõ. Chúng nói huyên thuyên một cách đầy phấn khích về những chú hề, những con voi và những trò xiếc khác mà chúng sẽ được xem tối nay. Rõ ràng chúng chưa từng đến rạp xiếc bao giờ. Buổi tối ngày hôm nay thật sự rất đặc biệt với cả 8 đứa trẻ ấy.

Cha mẹ chúng đang đứng ở đầu hàng với vẻ mặt hãnh diện nhất mà họ có thể. Người phụ nữ nắm lấy tay chồng, nhìn ông một cách dịu dàng. Ngay lúc ấy, người bán vé ngẩng lên và hỏi người đàn ông số vé ông ta cần. Người đàn ông trả lời đầy hứng khởi: “Cho tôi 8 vé trẻ con, 2 vé người lớn để tôi có thể dẫn cả nhà mình vào xem xiếc.”

Nhưng, khi người bán vé báo giá của 10 chiếc vé, bàn tay người vợ đột ngột rời khỏi tay chồng, đầu bà ta gục xuống. Mặt người đàn ông hơi tái đi. Ông ta tiến lại quầy vé gần hơn và hỏi : “Anh nói giá bao nhiêu?”

Người bán vé bình thản lập lại giá của 10 chiếc vé, nhưng người đàn ông không có đủ tiền. Làm sao ông ta có thể quay lại và bảo với 8 đứa con của mình rằng ông ấy không đủ tiền để dẫn chúng vào xem xiếc?

Chứng kiến tất cả những gì xảy ra, cha tôi lặng lẽ lấy từ trong túi ra tờ 20 đô và thả xuống đất. Sau đó, ông cúi xuống nhặt lên và vỗ vai người đàn ông, nói rất tự nhiên: “Xin lỗi, thưa ông, cái này vừa rơi ra từ túi ông”.

Người đàn ông hiểu những gì đang diễn ra. Ông không cầu xin của bố thí nhưng rõ ràng ông có thể đoán đây là sự giúp đỡ trong một tình huống ngặt nghèo. Bối rối trong giây lát rồi ông ấy nhìn thẳng vào mắt cha tôi, chụp lấy tay cha bằng cả hai bàn tay như muốn vắt kiệt tờ 20 đô, một giọt nước mắt rơi lặng lẽ xuống má, đôi môi mấp máy một cách khó khăn:
-Cảm ơn, cảm ơn ông rất nhiều. Điều này thật sự ý nghĩa với gia đình tôi lúc này.

Sau khi nhìn cả gia đình người đàn ông khuất sau cánh cổng rạp xiếc, tôi và cha đón xe buýt về nhà, đơn giản bởi vì số tiền còn lại trong túi cha không đủ để mua vé cho hai cha con. Thật sự thì chúng tôi cũng chẳng dư dả gì! Nhưng tôi không hề giận cha. Những gì cha đã làm lúc đó đáng giá hơn cả ngàn buổi xem xiếc.” (truyện kể về đạo làm người trên mạng vi-tính, cũng rất đạo)

Sống theo lẽ đạo làm người ở đời, không hẳn là “chuyện nhỏ” dễ làm hoặc dễ nhớ để làm. Làm cho người và cho chính mình. Trong đời người, cũng có những lúc, những thời mà người đời thường vẫn cứ quên sót. Quên chuyện chính, mà chỉ nghĩ chuyện phụ.
Cũng hệt thế, có những lúc, những buổi mình và người cứ đọc Kinh Sách hay kinh kệ, chỉ lấy lệ, cốt cho qua. Hoặc, đọc rất nhiều nhưng chỉ theo thói quen tốt và lành. Cũng có lúc người mình kể về chuyện Đạo rất hay mà chẳng hiểu được ý người viết dụ-ngôn/truyện kể muốn nói gì, huống chi là Lời Chúa, rất dễ hiểu.
Sống theo lẽ Đạo của người đi Đạo, nhiều lúc cũng không khác mấy. Sống và giữ Đạo, chừng như người và mình vẫn chỉ như sống sao đó để chứng-tỏ là mình thuộc Đạo gốc, đạo “ròng” mà quên mất rằng mình chỉ đi Đạo lòng vòng, có thế thôi.
Nói xa nói gần chi bằng nói rất thật bằng câu ca, truyện kể cũng đáng nể, để khỏi quên. Nói và kể bằng những lời hoặc câu chuyện kể rất “tếu”.

“Truyện rằng:
Có ông thói bói không mù nhưng chuyên nói những chuyện rất thật, trên đời cho một người đàn ông đến hội ý với ông ta rằng:
-Nửa phần đầu của cuộc đời, ông sẽ phải khổ tâm rất nhiều vì thiếu tiền bạc/của cải hoặc những gì mình ước-muốn, nhưng sau đó, ông sẽ đỡ hơn nhiều.
-Ơ kìa, tại sao thế? Có phải vì tôi sẽ kiếm ra được nhiều tiền và giữ mãi của cải mình kiếm được, không thầy?
-Không phải thế đâu! Chỉ vì, ông sẽ quen với việc ấy thôi….”

            Cũng có thể, nhiều người nghe kể như thế, sẽ không đồng ý cho lắm. Bởi, trên thực-tế, làm gì có thầy bói mù hay bói “mu rùa” nào lại tuyên-bố với thân-chủ mình những chuyện như thế.
            Cũng có thể, đó chỉ là truyện kể để bầu bạn nghe cho vui, rồi minh-hoạ cho những điều mình chứng-xác với người khác hoặc quyết-tâm với chính mình.
            Cũng có thể, đây chỉ là chuyện đời thường chỉ để dẫn đưa bạn và tôi đi vào với lời vàng do bậc thánh-hiền xưa nay, từng xác-quyết về việc tiếp-cận Lời Chúa, như sau:

Những người Do-thái ở đây cởi mở
hơn những người ở Thessalônikê:
họ đón nhận lời Chúa với lòng nhiệt tâm,
ngày ngày tra cứu Sách Thánh
để xem có đúng như vậy không.
Và nhiều người trong nhóm họ tin theo;
về phía người Hy-lạp,
cũng có nhiều phụ nữ thượng lưu
và nhiều đàn ông cũng tin theo như thế.”
(Cv 17: 11-12)

Xác-quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hiên ngang hước thẳng về phía trước. Để rồi, quyết sẽ làm như lời dặn ở trên. Hiên-ngang thực-hiện điều tốt-lành ngang qua lời ca, tiếng hát vẫn nhủ rằng:

“Một mùa sao sáng
ôi mùa sao chói chang muôn đời.
Vạn lời truyền rao
nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao.
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn,
người Việt cùng thương nhau hơn.
Đất nước này đây
sáng đức tin Chúa trên trời cao.”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)

Nghệ-sĩ đời, mà còn viết và hát được như thế, sao ta lại không làm như thế? Vậy thì, hỡi bạn và tôi, ta hãy hát những lời tương-tự, để rồi “Người Việt cùng thương nhau hơn, sáng đức tin Chúa trên trời cao!”
“Sáng đây”, không chỉ mỗi đức tin rất trừu-tượng hay tưởng-tượng. Mà, còn sáng cả tâm-tình thương-yêu nhau, hơn bao giờ hết. Rất Giáng Sinh.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn muốn mừng Giáng Sinh
Trong tâm-tình sáng láng
Nhiều hơn sao.