Saturday, 16 May 2015

“Bây giờ là thu rồi đó em”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần lễ Chúa Thăng Thiên năm B 17/05/2015

“Bây giờ là thu rồi đó em”
Ai qua áo lụa mắt nhung mềm 
Bước chân hè phố hoen vạt nắng 
Và mắt em gợi mùa lá xanh”.
(Thanh Trang – Nói Với Mùa Thu)

(Mc 9: 22-23)

            Người viết nhạc tên Thanh Trang lại cũng nói với mùa thu, rất nhiều điều. Những điều thấy ở thi-ca/âm-nhạc giòng chảy suốt, vẫn không thôi.
            Thơ/nhạc với mùa Thu còn đọng lắng ở giòng thác cũng không mềm nhưng lắng đọng một tâm-tư, như sau:

“Bây giờ là thu rồi đó em. 
Cây khô nghiêng lặng đứng bên thềm. 
Gió quen rừng cũ mây về thấp. 
Sương trắng giăng mù vây kín đêm.”
(Thanh Trang – bđd)

Thi ca và lời hát, lâu nay còn là phương-tiện để người người chuyển cho nhau những tư-tưởng đầy ắp một tình-tự xuyên suốt, còn hát thêm:

Mùa thu về những phố không đèn. 
Mùa thu về những lối đường quen. 
Mùa thu dịu như tóc nhung mềm. 
Mùa thu anh xót xa tình quê.

Bây giờ là thu rồi đó em. 
Xôn xao mây lạc bốn phương chìm. 
Nước xanh hồ lũng khơi mờ biếc. 
Và nắng thu nhạt màu lãng quên”…
(Thanh Trang – bđd)

Bây giờ là Thu (mùa) rồi đó em”, nay không chỉ là lời ngắn gọn chuyên chở nhiều ý-tứ và ý-từ mà người hát vẫn trân-trọng. Thu mùa rồi đó em, còn là và vẫn là những nhắc nhở về một tình-yêu đọng lắng nơi tâm-can của ai đó, cũng nhiều thời. Tâm tình đó, tình-tự đây vẫn trải dầy xuyên suốt những ý lời mà nhiều người ở trong Đạo cũng như ngoài đời, còn gửi gắm.
Hôm nay đây, nhà Đạo mình vẫn cứ gửi gắm nhiều ý/lời rất “lung khởi” để bạn và để tôi, ta đưa mắt hoặc ghé tai đặt vào mà nghe ngóng, với cảm-nhận. Ý/lời được bạn và tôi tức bạn mình hoặc bạn và mình, cần chú ý.
Hôm nay đây, ý/lời cùng tư-tưởng của nhà Đạo còn nhắc nhở và nhắc tôi cùng bạn, ta nghe thêm cho khỏi quên. Tất cả, cũng chỉ là sự việc và những điều từng là “điểm nhấn”, mà các đấng bậc vị vọng trong Đạo vẫn từng hứng khởi gởi đến mọi người bằng nhiều cách. Người thì giảng-thuyết, kẻ bàn bạc về những quyết-tâm. Riêng bầy tôi bần đạo, lại chỉ sử-dụng đôi ba chuyện phiếm kỳ-lạ rất nghe quan, như sau:

Một bà cụ nặng nhọc lê bước trên phố. Bà cụ đi chân đất, trên tuyết. 
Một đôi trẻ, tay xách lỉnh-kỉnh những túi to - vừa nói chuyện vừa cười đến nỗi không để ý thấy bà cụ. 
Một người mẹ dẫn 2 đứa con nhỏ tới nhà bà ngoại. Họ quá vội nên cũng không để ý. Một viên chức ôm một sách đi qua. Mải suy nghĩ nên cũng không để ý. Bà cụ dùng cả hai tay để cố kéo lại hai vạt áo ngoài đứt hết cả khuy. Dừng lại, nép vào một góc ở bến xe buýt.
Một quý ông ăn mặc lịch-lãm cũng đứng đợi ở bến xe buýt. Ông cố đứng tránh xa bà một chút. Tất nhiên là bà già rồi, cũng chẳng làm hại được ai, nhưng nhỡ bà ấy bị bệnh lây nhiễm thì sao... 
Một cô gái cũng đứng đợi ở bến xe buýt. Cô liên tục liếc xuống chân bà cụ, nhưng cũng không nói gì. Xe buýt tới và bà cụ nặng nhọc bước lên xe. Bà ngồi trên chiếc ghế ngay sau người lái xe. Quý ông và cô ấy vội vã chạy xuống phía cuối xe ngồi. Người lái xe khẽ liếc bà cụ và thầm nghĩ : " Mình không thích phải nhìn thấy cảnh nghèo khổ này chút nào!" 

            Một cậu bé chỉ vào bà cụ và kêu lên với mẹ: 
                        -Mẹ ơi, bà ấy đi chân đất! Mẹ bảo chỉ có ai hư mới đi chân đất, đúng không mẹ? 
                        Người mẹ hơi ngượng ngập, kéo tay con xuống: 
                        -Andrew, không được chỉ vào người khác! - rồi bà mẹ nhìn ra cửa sổ. 
                        -Bà cụ này chắc phải có con cái trưởng thành rồi chứ!

Một phụ nữ mặc áo choàng lông ấm, nói thì thầm một mình:  
-Con cái của bà ấy nên cảm thấy xấu hổ mới phải! 
Phụ nữ này bỗng cảm thấy mình quả là người tốt, vì mình luôn quan tâm đầy đủ đến mẹ mình. 
            -Đấy, ai cũng phải học cách tiết kiệm tiền!

Một chàng trai ăn mặc bảnh bao thêm vào:
-Nếu bà ấy biết tiết kiệm từ khi còn trẻ thì bà ấy đã chả phải như bây giờ! 

                        Một doanh nhân hào phóng cảm thấy ái ngại. Ông lấy trong ví ra 1 tờ 10$, ấn vào                         bàn tay nhăn nheo của bà cụ, nói giọng hãnh diện: 
                        -Đây, xin biếu bà! Bà nhớ mua đôi giày mà đi nhé! 

Rồi ông ta quay về chỗ ngồi, cảm thấy hài lòng và tự hào về mình. Xe buýt dừng lại khi tới bến và một vài người khách bước lên. Trong đó có một cậu bé khoảng 16-17 tuổi. Cậu ta mặc chiếc áo khoác to màu xanh và đeo balô cũng to, đang nghe headfone. Cậu trả tiền xe búyt và ngồi ngay chiếc ghế ngang hàng với bà cụ, chiếc ghế đã bị bỏ trống từ khi xe buýt mới khởi hành. 
Rồi cậu chợt nhìn thấy bà cụ đi chân đất, bèn tắt nhạc đang nghe đi, rồi thấy lạnh cả người. Cậu nhìn vào chân bà cụ rồi lại nhìn sang chân mình. Cậu đang đi đôi giày cổ cao đầy lông ấm dành cho người đi trên tuyết. Đôi giày mới cứng và ấm thật. Cậu đã phải tiết kiệm tiền tiêu vặt cũng khá lâu mới mua được đôi giày này, bạn bè cậu đứa nào cũng khen đôi giày của cậu thuộc loại “chiến đấu”. 
Nhưng rồi, cậu cúi xuống và bắt đầu gỡ giây giày, cởi bí-tất rồi ngồi xuống sàn xe, cạnh đôi chân trần của bà cụ đang tím tái đi vì lạnh. 
-Bà, cháu có đôi giày này! cậu cẩn thận nói chậm rãi, rồi nhấc bàn chân lạnh cóng đang co quắp của bà cụ lên, đi tất và giày của mình vào chân bà. Bà cụ sững người, chỉ khe khẽ gật đầu và nói lời cảm ơn rất nhỏ. 
Lúc đó, xe buýt dừng lại trong giây lát. Cậu thanh niên chào bà cụ và xuống xe. Đi chân đất trên tuyết lạnh. Hành khách trên xe nhấp nhổm thò đầu ra cửa, nhìn đôi chân trần của cậu thanh niên, rồi xôn xao bình phẩm: 
                        -Cậu ta làm sao thế? một người lên tiếng hỏi. 
                        -Là thiên thần chăng? 
                        -Hay là con Chúa vừa xuống trần? 
Cậu bé con, lúc đầu có ý-kiến với mẹ nay chỉ vào bà cụ rồi quay sang nói với mẹ: 
                        -Không phải đâu mẹ! Con đã nhìn rõ, anh ta cũng chỉ là người bình thường thôi. 

Và công việc mà người thanh-niên trẻ vừa làm, thật sự cũng chỉ là chuyện bình-thường của một người bình thường vẫn thường làm mà thôi.” (truyện kể do St sưu tầm).

            Vâng đúng thế. Chuyện trong đời, chuyện nào cũng vẫn là chuyện bình thường do người rất bình-thường thực-hiện trong đời, để nói lên một ý-tứ nào đó, rất vui tươi.
            Vâng. Đời người, còn có những chuyện tươi vui để người người thấy vui và thấy tươi trong đời, mà vui sống. Vui và tươi, có thể là những truyện kể, hoặc chỉ là ý/lời rất đặc biệt trong đời, chí ít là niềm tin-yêu đi Đạo để ta nghĩ suy, nguyện cầu trong im ắng.
            Vâng. Nghĩ và suy, như tư-tưởng rất “lung” của đấng bậc thày dạy ở trời Tây, vào nhiều lúc. Tuy thế, trước khi đi vào những lúc và thời để suy-nghĩ, tưởng cũng nên quay về với lời ca tiếng hát, được nghệ-sĩ tỏ bày, rằng:

            Bây giờ là thu rồi đó em
Ru thêm cơn mộng đến êm đềm 
Mắt xưa sầu biết như ngày tháng 
Em đã xa và ta bỗng quên”…
(Thanh Trang – bđd)

Vâng. Hôm nay đây, lại cũng là lúc ta nghĩ và suy lời bàn về niềm tin-yêu, rất như sau:

“Mọi định-nghĩa về chữ “Tin” ở các từ-điển khác nhau, đều chia sẻ hai yếu tố quan-trọng. Trước nhất, Tin như tin-tưởng rằng thứ gì đó, tức lời tuyên-bố hoặc những câu nói nào đó, là đúng thực, trong đó có nhiều cường-độ chắc-chắn khác nhau.

Thật ra thì: tin-tưởng vẫn thường dính-dấp đôi điều không chắc chắn; bởi nếu không có gì chắc chắn, thì động-từ “Tin” sẽ là “Biết”, chứ không phải là “Tin”. Hai nữa, trong bối-cảnh đạo-giáo của ngôn-ngữ, tất cả những thứ ấy đều định-dạng “Tin” với những gì ta thường nói: Có niềm tin…

Thời buổi hôm nay, ý-nghĩa của chữ “Tin” lại rất khác với ý-nghĩa mà các tín-hữu thời tiên-khởi vẫn thường dùng mãi đến thế kỷ thứ 17. Ở tiếng Anh mọi người sử-dụng trước năm 1600, thì động từ “Tin” luôn luôn có túc-từ trực-tiếp là con người, chứ không là lời tuyên-bố. Khi ấy nói chữ “Tin”, không có nghĩa bảo rằng mình “Tin” rằng lời tuyên-bố ấy đúng-thực, dù có đôi chút chắc chắn, nhưng lại giống như trường-hợp ta vẫn nói vào thời buổi này: “Tôi tin Anh/chị”…

Có lần mục-sư Tin Lành nọ ở Tô-Cách-Lan có viết cho tôi một đoạn thư ngắn minh-định rằng ông không còn tin vào các yếu tố chính của nền tín-lý và giáo-điều trong Đạo nữa. Ông còn viết tiếp:

“Tôi từng đọc nhiều sách do thày viết, trong đó có cuốn “Trọng Tâm của Đạo Chúa” khiến tôi thấy mù mờ lẫn lộn không ít về những gì ông diễn-tả về “niềm tin” như thứ gì khác với tin-tưởng. Thày lại bảo: niềm tin là chuyện của con tim hơn là cái đầu. Thế nhưng, có hẳn là như thế không? Theo lịch-sử thì điều đó có đúng không? Tin-tưởng có là vấn-đề hay không thế? Phải chăng các tín-hữu Đạo Chúa từng suy nghĩ cũng khá nhiều vào thời đó: Tin tưởng vẫn là những chuyện phải lẽ để ta tin, không? Há chẳng phải, bao thế kỷ nay, các vị tử vì Đạo lại không chết vì các ngài có được lòng tin chính-đáng hay sao? Thế có phải là Đạo Chúa chính-đáng đã từng nói tin-tưởng là con đường dẫn đến ơn cứu-chuộc hay sao?...”       

Câu trả-lời của tôi khi ấy bao gồm công việc minh-bạch-hoá những gì tôi từng viết trên các sách để bảo rằng: Niềm tin Kitô-giáo trước tiên là có được sự tin-yêu đối với Chúa và là sự tin-tưởng vào Chúa từng thấy được ở Đức Giêsu Kitô.

Tôi cũng nói: lập-trtrường của tôi không phải bảo rằng “sự tin-tưởng” không thành vấn-đề. Tin-tưởng rất thành vấn-đề lắm chứ. Nhiều tin-tưởng “xấu xa” đã xảy đến qua cung-cách ta có được niềm-tin, và có khi còn tồi-tệ hơn. Tin-tưởng xấu xa rất thường là nguồn-gốc gây ra tính-thú bất khoan-dung, ác-nghiệt, bất công, tàn-bạo, bức-hại và man-rợ.

Thành thử, sự tin-tưởng “tốt-lành” lại vẫn thành vấn-đề đối với mọi người. Tin-tưởng có thể giúp ta quăng bỏ những vật chướng-ngại ngăn cản việc ta trở-thành Kitô-hữu, và quan-trọng hơn, sự việc ấy lại có thể định-hình con người chúng ta để trở-thành những con người đầy lòng trắc-ẩn hơn, công-chính và bình-an hơn.

Thành-thử, tin-tưởng rất thành vấn-đề. Nhưng ta cũng không nên tưởng-nghĩ rằng “tin-tưởng những điều tốt lành” đều có tầm quan-trọng rất chính-yếu. Niềm tin lại là động-tác sâu-sắc hơn của con tim, của chính con người mình ở mức-độ đậm-sâu nhất. Niềm-tin Kitô-giáo là lòng trung-tín và tin cậy hết mình vào Thiên Chúa như ta đã biết nơi Đức Giêsu Kitô”… (x. Marcus J. Borg, Speaking Christian, HarperOne 2011, tr.115-124)

Tin-yêu, đương nhiên là thế. Yêu thương và tin-tuởng cùng một lượt, lại vẫn không là chuyện của trí-óc, tinh-thần hoặc tư-tuởng ở tâm-thức. Tin và yêu, còn là và chính là động-thái của con tim phát tiết ra ngoài bằng trí-lực và hành-động rất đương yêu. Tin, lại mang tính sáng-lạn của hữu-thể “người” rất tiêu-biểu, từng được các đấng bậc, đã hơn một lần xác-quyết. Một trong các xác quyết ấy, được tóm gọn bằng lập-trường sau đây:

“Tác giả De Certeau đã khá ư là vất vả khi ông muốn gỡ bỏ kinh nghiệm về niềm tin ta có, ra khỏi lãnh-vực “hiểu biết”. “Tin”, không là động-thái “hiểu” và “biết”. Cũng không là sản-phẩm ta có, do từ bản-chất của những gì được kể là sẽ định-đoạt niềm tin, nơi ta.

Tin, không do ngôn-ngữ hoặc từ-vựng tạo thành hình-thái của công-thức. Cũng chẳng là sự việc ban đầu ta thoạt nhìn vào những gì diễn-lộ ra ngoài như sự thể đáng để mọi người tin. Nó không là động-thái qui về nội-dung khiến ta đặt tin-tưởng vào đó và nó lại cũng không được hỗ-trợ từ các định-nghĩa/diễn-giải không tùy-thuộc một cách trực-tiếp, cấp-bách vào “đối-tượng” ta vẫn tin; và nhiều người lại cứ cho rằng: đó là cung-cách diễn-đạt theo khoa học. Và, nó cũng không là kết-cuộc có được từ văn-bản đáng tin cậy.

Khi niềm tin được trình-bày theo cách-thức như thế, ta lại bảo: không hẳn thế! Trên thực tế, chẳng làm sao có được tính khách-quan đệ-tam-nhân về những chuyện như thế. Không thể có được thứ nối-kết nào khả dĩ đưa ta vào ‘thực tại’ này”... (x. Lm Kevin O’Shea,CSsR Tin, Động-tác phát tự con tim, www.giadinganphong.blogspot.com, 25-8-2013)

Và thêm nữa, đấng bậc thày dạy ở Úc lại khẳng-định thêm bằng xác-quyết khác không thiếu sự chắc-nịch cần có, rất như sau:
  
“Tin, là cung-cách khác-biệt quyết trở nên con người. Đây, là cung cách thực hành nghệ thuật sống rất khác biệt. Ở đây, nó tạo cho kẻ tin có được khả-năng nhận lãnh một lệnh-truyền hiện-hữu khác, đã biến thành chủ-thể tự-do dành cho chính mình. Đây, đích-thực một nguyện cầu/ới gọi; là: “nói với” chứ không phải là “nói cho” hoặc “nói về” ai đó. Là, đối ứng/đáp trả những chuyện mình nghe/biết. Và là: ứng-đáp lại giọng nói chứ không phải tuyên-ngôn.

Ở đây, có thứ gì đó thật khó có thể giản-lược được niềm tin. Đây, là nghệ-thuật “nghe” với cung-cách rất mới. Niềm tin, mang tính hư-vô vốn từ-khước sự thể tách-bạch khỏi lĩnh-vực từng mang tính khác biệt và nó những muốn ở lại trong đó, bất kể hiểm nguy có thể xảy đến.

Nói cách khác, rõ ràng là: nó như thể đang chuyển động về nơi nào đó chẳng ai biết rõ đó là chốn nào. Điều này nghe như thể có sự thể thích-ứng với tư-tưởng của Heidegger mãi về sau, như tác giả Rahner từng đề cập. Tác giả là người từng nói đến “hiện-tượng” niềm tin đang dần dà biến dạng...

Diễn-trình đúng cách của niềm tin như thế, là diễn và trình theo kiểu ngụ ngôn, thơ văn. Nó mang tính chất khá bí-nhiệm. Nó vốn dĩ là thi ca. Là, thứ ngôn-từ của sự việc truất-hữu. Thứ ngữ-vựng của sự thể chẳng-bao-giờ-nắm-bắt được toàn bộ sự việc. Chính đây là cung-cách cho thấy: tại sao và làm thế nào mà các văn-bản huyền-nhiệm lại quan trọng đối với sức sống của niềm tin. Huyền-nhiệm này, là “thực-thể tư duy” dìu dắt mọi hình-thái thần học.

Thế nên, mới có lời lẽ huyền-nhiệm chưa đến được tới tai người nghe, nhưng vẫn mang tính hữu-hiệu. Kẻ tin tưởng vào tính huyền-nhiệm có nguyện cầu rằng: Xin để con xa tránh những gì chúng con không thể quay lại mà quan-hệ”. (x. Lm Kevin O’Shea, CSsR, bđd)

Như mọi lần, nay bầy tôi đây lại xin mời bạn và mời tôi, ta quay về vườn thượng-uyển có những lời vàng để đời như hoa đẹp từ Đức Chúa Nhân-Hiền từng dặn-dò, và nhắc nhở. Những nhắc-nhở dặn-dò từng phổ biến khắp nơi, như sau:

“Đức Giêsu nói với ông ta:
‘Sao lại nói: nếu Thầy có thể’?
Mọi sự đều có thể đối với người tin.
Lập tức, cha đứa bé kêu lên:
"Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi!"
(Mc 9: 22-23)

Hôm nay đây, nhân nghe lời dặn-dò, nhắc-nhở từ ĐỨc Chúa Nhân Hiền và các bậc vị-vọng trong Đạo, bầy tôi bần-đạo đây thấy lòng mình hưng-phấn hẳn lên, bèn âm-thầm cất lên lời ca vang trên, nhưng hát rằng:

Mùa thu về những phố không đèn. 
Mùa thu về những lối đường quen. 
Mùa thu dịu như tóc nhung mềm .
Mùa thu anh xót xa tình quê.
Bây giờ là thu rồi đó em. 
Xôn xao mây lạc bốn phương chìm. 
Nước xanh hồ lũng khơi mờ biếc. 
Và nắng thu nhạt màu lãng quên”…
(Thanh Trang – bđd)

Hát thế rồi, lại những mong rằng: lời dặn dò đó sẽ ở lại với bạn và với tôi, suốt một đời.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ mong cho riêng mình
Thực hiện được lời dặn dò nhắc nhở
trở thành lời khuyên-nhủ
sẽ ở lại mãi với chính mình.   
  




          
                                                 








Monday, 4 May 2015

“Nếu xa nhau anh xin làm mây thu”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ VI Phục Sinh năm B 10/05/2015

“Nếu xa nhau anh xin làm mây thu”
Khóc em... dài những tháng mưa ngâu
Mưa thu buồn... buồn đời anh bấy lâu
Gió thu sầu... hát bài ca nhớ nhau”.
(Đức Huy – Nếu Xa Nhau)
(Galát 3: 26-29)
            Đã xa nhau rồi, sao lại hát xin làm “mây thú”, mây thu chứ? Mây thú hay mây thu rất thú vẫn vần vũ cũng đâu vừa, hỡi người viết nhạc, rất nghệ sĩ. Vâng. “Làm mây thu” ở đời người, cũng đâu là chuyện dễ. Chí ít, là “làm mây thu” rồi lại có cái thú khác làm mây mưa dây dưa nhiều chuyện để thế-trần cứ lần-chần, tức chết được.
            “Mây thu” hôm nay, lại sẽ thấy nhiều điều trải dài nơi lời ca cũng âu sầu, như sau:

            Nếu xa nhau, anh xin làm dòng sông
Nhớ em nhiều những thoáng mênh mông
Khúc sông buồn... buồn trôi bao lá rong
Tiếng mây chiều lạc loài vương nhớ nhung.”
(Đức Huy – bđd)

Thì ra, “làm mây thu” là làm rất nhiều thứ, và cả những thứ/những điều khiến cho người và cho mình, như ca-từ còn xác-chứng. Xác chứng hay làm-chứng cho ai/điều gì, vẫn không là chuyện quan-trọng. Điều quan-trọng hôm nay, chỉ mỗi việc là: làm chứng cho Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu, không thấy mệt.
Thật thế. Trong cuộc đời người, vẫn có nhiều người từng thấy chán-nản rất nhiều thứ, nên tự dưng muốn được làm “mây thu” hoặc cái thú làm mây vơ-vẩn đường bay tận chân trời, nhiều tưởng tượng. Trong số những người dễ chán nản và ngán-ngẫm đủ mọi thứ, là đám “trẻ người non dạ” cứ luôn miệng bảo: “Sao con chán mấy đồ chơi này quá, mẹ à!”; hoặc “buồn thấy mồ tổ đấy, mẹ ơi!” vv..
Trong cuộc đời trẻ tuổi, nhiều em bé vừa chơi đồ chơi mẹ mới sắm/tậu, hoặc trò chơi “games” điện-tử mới cài đặt trên ipad, media player, đã thấy buồn. Tóm lại, cuộc đời người, tiếng “chán” hoặc “buồn”, là từ-vựng thấy ở già trẻ lớn bé, ai cũng có thể nói vào lúc nào đó.
Có bé em học sinh, đang trong kỳ nghỉ học-kỳ hoặc nghỉ hè khá nhiều tuần, thế mà mới chỉ có vài ngày đã thấy chán hoặc kêu buồn rồi. Em thấy thế, là bởi lâu nay thiếu nghỉ ngơi, thư-giãn hoặc thiếu sáng-tạo trong cuộc chơi, học-hành hoặc tạo ra tư-tưởng, nên không thấy chuyện gì hấp-dẫn, hoặc thích-thú cả đến kẹo bánh/cây trái lẫn trò chơi cũ/mới ê-hề đủ loại.
Cũng có thể, em thấy chán/ngán, vì suốt ngày chỉ dán mắt vào màn hình lớn/nhỏ xem phim truyện xong lại chơi trò chơi này khác, riết rồi quá nản bèn than van: “Chẳng gì mới!” hoặc: “Ghêm gì toàn những thứ xem rồi, chán bỏ xừ!”        
Những câu nói “chán/ngán” lại đã khiến bậc cha mẹ thêm lo lắng, hãi sợ. Bởi quá lo, nên có bậc mẹ cha tìm đủ mọi cách, cả việc đổ xô tìm các đồ/hàng mới cứng để mua/sắm cho bé em bớt buồn, nhưng vẫn không làm các bé hài lòng, hoặc bớt sầu.
Thành thử, kỹ-thuật cao hoặc mới mẻ, có lẽ, sẽ chỉ là giải-pháp/đáp số tạm-thời cho bài toán khó giải với người đời. Bởi thế nên, nhiều vị ở các nơi mới cố nặn óc mình ra mà tìm tòi, sáng-chế, hoặc chỉnh-sửa những gì có sẵn, đôi lúc lại đã khám-phá ra đôi điều làm mọi người phải suy-nghĩ.
Thực-tế đời người đi Đạo, cũng hệt thế. Nhiều thứ hoặc nhiều chuyện, lâu nay từng khiến người nhà Đạo suy-nghĩ rất “lung” vào mọi lúc/mọi thời, lại trở-thành vấn-đề để ta sẻ san,  tư-duy, hoặc suy-nghĩ. Một trong các vấn-đề khiến mọi người suy-tư không ít, ở nhà Đạo, là vấn đề phụ-nữ. Nói rõ hơn, là: vai-trò của nữ-phụ trong Đạo đã và đang được nhiều vị đặt lại.
Đặt lại vấn-đề trong Đạo, giống hệt người ngoài đời vẫn từng hát:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời
Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,
Em có nghe chăng bài tình ca?
Hôm nào... anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng
những đêm dài mơ ước gió trăng
Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng
Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.
(Đức Huy – bđd)

Người ngoài Đạo, thường hát thế là để tự an ủi mình vào lúc thấy cuộc đời mình cũng chán và nản, không ít. Thế nhưng, các đấng bậc trong Đạo lại tư-duy theo cách chững-chạc, đạo-mạo, rất bài bản như ta thường thấy ở đây đó, chốn Nước Trời.   
Nuớc Trời hôm nay, lại có bậc vị-vọng trong Đạo Chúa, đã nhìn ra vấn-đề khả dĩ gây nản lòng nơi một số bạn đạo, ở đây đó. Đấng bậc nhà ta, đã hình-dung ra được vấn-đề hệ-trọng cả ở trong Kinh Sách, nên đã tỏ lộ như sau:

“Huyền-thoại Do thái xưa, được phản ánh trong sách Sáng Thế đã diễn-tả tầm hiểu của người thời đó về nhiều thứ. Chủ-đích của người ghi chép các huyền-thoại ấy, là để giải-thích thứ đó có nghĩa gì. Rõ ràng là, chỉ mỗi nam-nhân thời cổ mới dám đóng khung các huyền-thoại này và cuối cùng ghi chép lại thành sách, thành truyện. Nói thế là bởi, bậc nữ-lưu thời cổ trong xã-hội không được phép tiếp-cận quyền-lực để giải-thích về Thiên-Chúa và/hoặc cũng chẳng có khả-năng để viết lách nữa. 

Và hơn nữa, phụ-nữ được mọi người coi như không dính-dự gì vào những chuyện như thế, hoặc có dính dự cũng chẳng hiểu biết, chẳng thể-hiện được thế nào là thực-tại đời người. Vì thế nên, phụ-nữ chẳng bao giờ tạo ảnh-hưởng cách trực-tiếp lên nền văn-hoá này khác, hoặc cũng chẳng tạo bất cứ quyết-định ban đầu nào về bản-chất của bất cứ sự gì và cũng chẳng tham-gia vào bất cứ tiến-trình nào khả dĩ đưa ra một quyết-định. Thành thử, chẳng lạ gì khi các truyển kể trong Kinh Sách đều do nam-nhân viết ra hoặc định-hình cả đến sự việc nhằm giải-thích cách-thức ác-thần/sự dữ len lỏi vào công cuộc tạo-dựng của Thiên-Chúa Đấng Tác-tạo mọi sự. Và Kinh Sách làm thế, bằng việc tuyên-bố việc ấy như yếu-điểm của tạo-vật chưa thành người do Thiên-Chúa thực-hiện để đáp-ứng nhu-cầu của nam-nhân. Và người nữa đó tên là Evà.

Nói tốm lại, ở thế-giới do nam-nhân thống-trị, thì phụ-nữ bị chê-trách đủ mọi thứ kể từ ngày ấy, đến hôm nay. Chẳng hạn như: nếu người đàn ông nào lại hiếp-đáp một phụ-nữ, thì lại nói do người nữ ấy quyến-rũ anh ta bằng cách ăn mặc lố lăng, khêu gợi. Nếu nam-nhân đánh đập một nữ-phụ nào, thì lại bảo: việc ấy là do y-thị khiêu-khích anh ta nổi giận. Thậm chí, nếu nam-nhân ly-dị người nữa nào, lại đổ lỗi cho người nữ ấy sống sao đó nên nam-nhân này không còn chịu đựng nổi để chung sống nữa…

Nói tóm lại, chính người nữ đầu đời con người là Evà chính là duyên-do khiến nam-nhân đầu tiên ngã quỵ. Bà chịu trách-nhiệm trong việc dẫn nhập mọi ác thần/sự dữ, và/hoặc mọi sự ngán-ngẫm, cho gian-trần…” (x. Tgm John Shelby Spong, The Sins of Scripture: Woman as the Source of Evil, HarperCollins Publishers 2005, tr. 87)   

            Sống thực đời đi Đạo, các đấng bậc vị vọng là những người thấy được điều chán/ngán, còn gọi là ác-thần/sự dữ cũng hơi lạ ở Kinh Sách. Còn, người thường đi Đạo sống thực cuộc đời lý-tưởng sẽ ra sao? Hãy nghe đấng bậc có nhiều năm kinh-nghiệm giảng dạy về niềm tin và mục vụ tại trường Đạo ở Melbourne, Úc Châu lại có giòng chảy như sau:

“Mới đây, tôi có sinh-hoạt với một nhóm người trẻ để giúp các em hiểu thêm về căn-tính linh-đạo của họ. Thật ra, cũng chỉ như chuyện xếp hình kiểu Nhật Bản gọi là Origami, mà thôi.

Ý tôi muốn nói là: ta chỉ cần làm mỗi việc như xếp mẩu giấy vụn theo chiều dọc thành hai cột, cũng đơn-giản…. nghĩa là, chỉ việc đưa vào cột dọc này các ơn phúc Trời ban cho con người, tức: các huệ-lộc áp-dụng cho mỗi người và mọi người. Nay, cũng chỉ nên ghi-nhận xem ân-phúc nào được Chúa đem đến cho cuộc sống của mình, chứ không ai khác ngoài mình ra.

Nghĩ thế rồi, tôi bèn bắt đầu làm công việc ấy cách đây 3 ngày và dưới đây là một vài mảnh vụn từ đó nảy ra:

1.    Sáng thứ Hai. Bé trai đầu tiên tôi gặp ở trường học tôi vẫn dạy, có nói với tôi rằng: “Thấy thày lại đến như thế này, thật rất tốt.” Thế tức là, tôi có được nghị-lực làm việc để bớt thấy chán nản trong cả tuần lễ, là do em bé này chúc mừng tôi.

2.    Trưa thứ Hai hôm ấy. Cùng với 4 em học sinh đi đến trung-tâm giúp người vô gia-cư có thức ăn vào buổi sáng, tôi có dịp chuyện gẫu với một nhân-viên thiện-nguyện mà tôi chưa từng gặp mặt. Bà này trạc 6o, thất-nghiệp suốt 18 tháng trời, tức là bà từng trải-nghiệm một thời-gian dài rất chán-ngán. Bà có nhiều bằng cao-học hoặc phó tiến-sĩ gì đó, lại có kinh-nghiệm quản-trị xí-nghiệp rất nhiều năm.

Thế nhưng, công-việc lại không mấy thích-hợp với một người giỏi dang, thiện chí đầy mình. Dù sao thì, hôm ấy, bà đã tập thể-dục chuẩn bị sạch sẽ để gặp mặt những người lê lết ngoài đường phố, rất hôi bẩn. Tôi xúc-động khi thấy phụ-nữ như bà có tinh-thần cao, lại quyết tâm làm những việc rất cần cho người sống lề đường/xó chợ, dù bà vẫn ưa-thích văn-chương nghệ-thuật hơn thứ gì khác. Tôi phấn khởi không ít, và biết ơn các nữ-phụ như bà dám bỏ tất cả ra chỉ để lân-la/gần gũi những con người rất chán đời, nhưng vẫn trân-trọng cử-chỉ đẹp do bà thực-hiện.

Điều hay hơn, là bà chẳng bao giờ tỏ ra là kẻ cả, trịch-thượng và đó là ân-phúc tôi có được vào ngày hôm ấy.

3.    Trưa thứ Ba. Hôm nay, tôi được tin người bạn rất thân đã hưu-dưỡng từ lâu, vẫn tạm-trú ở khu dưỡng bệnh dành cho những người bị ung-thư giai-đoạn cuối. Công việc thường ngày của ông, là giúp các bệnh-nhân đồng cảnh-ngộ viết lên chuyện đời của mỗi người, để họ san sẻ với bạn bè/người thân, trước khi quá vãng. Ông thấy: phần đông những người sắp lìa đời, vẫn muốn để lại các câutruyện đời đủ mọi loại, không có được cơ-hội như mình, hoặc đôi lúc chỉ cần viết ra vài ba giòng chữ trước khi chết, cũng được. Ông đã trở thành một thứ không phải “con ma viết lách” mà là “thần-nhân viết truyện”. Và hôm ấy, tôi lại được chúc phúc vì đã quen biết ông.

4.    Chiều thứ Ba. Tôi vừa được một bạn già khác là linh-mục vừa mới gọi cho biết ông đã có báo cáo thật tuyệt-vời. Nghe chữ tuyệt-vời tôi cứ ngỡ rằng đó là báo-cáo học-trình của ai đó, thì ra là “báo cáo về bệnh-tình của ông, do bác-sĩ trao cho ông. Mấy lâu nay ông bị ung-thư đến giai-đoạn rất nặng, suốt những năm gần đây. Thế nên, chính ra đây phải là tin buồn mới  đúng.                             
 
5.    Sáng thứ Tư. Một đồng-nghiệp rất thân của tôi, có lần nói là: anh rất thích nhất câu thơ của Shakespeare để cho nhân vật Polonius nói với Laertes trong “Hamlet”, rằng: Bạn bè ông, nếu họ thử đủ mọi cách khác nhau mà không thuận được gì, thì hãy túm lấy họ bằng móc mắt đem vào hồn là xong… Nghe thế, tôi lại cảm thấy mình được chúc phúc vì có bạn bè thân quen mình có thể túm lấy mà đưa vào hồn mình.      

6.    Chiều thứ Tư. Một em học sinh của tôi từ Phi Châu trở lại trường, sau khi nhận thanh-tẩy trong nước, có nói: việc quan-trọng đối với em là về để thấy được mọi người còn sống sót, chứ không phải để nhìn tận mặt sự đói nghèo là thế nào. Em còn nói về châu Phi, như sau: “Đến đó quý đã thấy lạ kỳ rồi, khi rời khỏi nơi đó, lại vẫn thấy kỳ lạ như lúc đến, nhưng ở mức độ còn cao hơn.” Điều này, là loại chóp đỉnh băng đá tảng trôi trên biển mà thôi. Nhưng, cũng có thể là tôi vẫn cần miếng đá ấy mỗi ngày cho mình. Bởi, cuộc sống không chỉ là những sự việc và sự kiện xếp thành nhiều lớp trồi lên trên mà là để cho chúng không bị xếp lớp, mà thôi.” (x. Michael McGirr, Origami Blessings, The Majellan 10/2013-12/2013, tr. 15-16)

Đời người chỉ như băng tảng xếp lớp, mà thôi. Ôi! Còn gì chí lý bằng. Thế tức là, trong chuổi ngày dài cuộc đời, có lớp xếp hướng lên cao, có lớp lại chìm xuống để trôi tan cùng giòng nước. Bạn bè Đấng bậc mô-phạm trường lớp thuờng nghĩ thế. Chứ còn, nghệ-sĩ ở đời thường lại nghĩ khác, nên cứ hát những lời, như:  

            “Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời
Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,
Em có nghe chăng bài tình ca?
Hôm nào... anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng
những đêm dài mơ ước gió trăng
Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng
Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.

À thì ra, “Biết bao giờ đời anh thôi dở dang” thật cũng chán. Thấy chán, là bởi anh thật chẳng biết “bao giờ tình yêu thôi lỡ làng”.
À ra thế. Tất cả, chỉ vì tình yêu mà thôi. Yêu người, yêu vật yêu cả trò chơi, đồ hàng lại thiếu mất tình-yêu, làm sao khá.
Tất cả vì Tình-yêu. Bởi, có tình yêu, là có tất cả. Cho đời mình. Chỉ Tình-yêu, mới làm cho mình/cho người sống cuộc đời đáng sống. Chỉ Tình-yêu, mới là lý-tưởng cuộc sống, không thấy chán. Và, Tình-yêu lại là và vẫn là ý của Đấng Thánh Nhân Hiền, từng dạy dỗ, bảo ban như sau: 

“Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy
để thuộc về Đức Kitô,
đều mặc lấy Đức Kitô.
Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp,
nô lệ hay tự do,
đàn ông hay đàn bà;
nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô.
Mà nếu anh em thuộc về Đức Kitô,
thì anh em là dòng dõi ông Ápraham,
những người thừa kế theo lời hứa.”
(Galat 3: 26-29)

            Và, một khi đã ở cùng và ở với “Thiên-Chúa-chính-là-Tình-Yêu” rồi, mỗi người và mọi người sẽ thấy đời mình nhẹ nhàng, thư-giãn, rất đáng sống. Sống thảnh-thơi, như lời đấng bậc hiền-triết từng răn dạy người đời bằng câu truyện kể để lại đời như sau:

“Có một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học cầu mong kiếm được con đường giải thoát. Nhà triết học chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:
-Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.
Người này bắt đầu làm theo, còn bậc hiền-riết bước nhanh đến mút đường. Được một lúc, người kia mới đến được chỗ đó. Bậc hiền-triết hỏi anh thấy thế nào. Người kia nói:
-Tôi thấy càng lúc càng nặng.

Đây chính là nguyên-nhân giải thích tại sao anh thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Bậc hiền-triết nói:
-Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi bước đi trên đường đời anh ta đều nhặt thứ gì đó từ thế giới này để bỏ vào sọt, nên càng đi càng cảm thấy mệt.
            Người kia lại hỏi:
-Có cách nào giảm bớt gánh nặng này không ?
Bậc hiền-triết hỏi ngược lại anh:
-Vậy anh có đồng ý vứt bỏ một trong các thứ như công việc, tình yêu, gia đình hay tình bạn không? Người kia nghe xong im lặng. Bậc hiền-triết bèn nói tiếp:
-Nếu thấy khó có thể vứt bỏ đi, thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa, mà nên nghĩ đến niềm vui nó mang lại. Cái sọt của mỗi người chúng ta không những chứa đựng ân-huệ Trời ban, mà nó còn gồm cả trách nhiệm và nghĩa vụ nữa. Khi anh thấy nặng nề, anh cũng đừng vội buồn, có thể cái sọt của người khác còn to hơn, nặng hơn của anh nhiều. Nếu nghĩ như thế, chẳng phải sọt của anh sẽ bớt được nỗi buồn, hay sao?” Trong đời, có biết bao nhiêu thứ nặng nề hằng ngày vẫn “hành hạ” ta, nếu ta cứ “để tâm” đến nó, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng, nhiều lúc ta cũng quên một điều khá quan trọng, là cuộc sống có hai mặt, mặt nổi và mặt chìm. Một mặt được phơi bày và một mặt vẫn ẩn khuất. Nếu ta chỉ thấy mỗi mặt nổi của sự việc, và vì nó vừa ý hay không vừa ý ta, ta sẽ có kết luận vội vàng, và từ đó, ta cũng vội buồn, vội vui.

Ở đời, cái vừa ý ta thì ít, còn cái không vừa ý ta thì nhiều, nên nhiều lúc ta dễ “chán đời” ! Làm sao “yêu đời” được, khi nhìn chung quanh, ta thấy toàn những điều làm ta mệt mỏi, cô đơn, nặng nhọc?

Bình tâm suy nghĩ, ta sẽ thấy sự việc nào xẩy ra, có thể đối với người này là quá sức tồi tệ, nhưng với người khác, nó lại là chuyện “bình thường”, có khi còn mang ý nghĩa tích cực nữa.

Vậy nên, gánh nặng cuộc đời còn tùy ta nhìn nó từ góc cạnh nào. Nếu ta chỉ nghĩ tới mình, thì làm sao có được niềm vui vừa ý, chắc chắn quang gánh cuộc đời càng nặng trĩu. Chính vì tha nhân, vì người thân yêu, và vì tình người đồng loại, mà gánh nặng cuộc đời được thăng hoa thành niềm vui cao cả, tuyệt vời. Những gì ta cứ tưởng chỉ là nước mắt khổ đau, hóa ra, chúng biến-hóa một cách nhiệm mầu thành nụ cười hạnh phúc.” (truyện kể do St gửi lên mạng)


Truyện kể thế rồi, nay để-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta hãy hiên ngang hát tiếp câu ca người nghệ-sĩ viết cho đời trươi lên. Hát rằng:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời
Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,
Em có nghe chăng bài tình ca?
Hôm nào... anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng
những đêm dài mơ ước gió trăng
Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng
Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.
(Đức Huy – bđd)

Vâng. “Trời đã sang đông thôi anh làm im vắng” để “những đêm dài mơ ước với gió trăng”… Vâng. Hãy cứ mơ ước rằng đêm dài cuộc đời mình sẽ không còn “tình yêu lỡ làng”, đời anh, đời em sẽ thôi không còn dở dang nữa. Và khi đó, ta sẽ yên hàn vui hưởng cuộc đời rất thương yêu, có Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu luôn ở cùng, sẽ nâng đỡ ta và mọi người suốt một đời.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn tin tưởng
Và hy vọng
Mãi như thế.
Suốt đời mình.