Saturday, 4 October 2014

“Mây, sao còn bay mãi không quay về đây?”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 28 mùa Thường niên năm A 12-10-2014

“Mây, sao còn bay mãi không quay về đây?”
“Sao còn lờ lững che ngang, rừng cây.
Sao còn hờ hững với tôi, từng giây.
Hay còn mơ nghĩ đến ai nào đây”?
(Nhạc Ngoại Quốc – Lời Việt: Mây Lang Thang do Nam Lộc viết)

(1Cor 15: 10-11)
            Mây bay mãi, không quay về đây, điều đó thật dễ hiểu. Nhưng nếu hỏi mây: “Sao còn hờ hững với tôi từng giây, hay còn mơ nghĩ đến ai nào đây?” thì bố ai mà trả lời cho đúng được. Còn khó hơn cả cái trò “Đố vui để …chọc” nữa, nếu bạn lại cứ hát và cứ hỏi những câu nghe phát khiếp, như sau:

“Mây, xin dừng chân đến bên tôi, một đêm.
Xin đừng bay chốn môi hôn, thật êm.
Xin đừng nghe gió dâng lên, thật cao.
Xin đừng ân ái với muôn, vì sao”.
(Nam Lộc – bđd)

Hát như thế, kể cũng khá ư là lấn cấn. Lấn và cấn hơn nữa, vẫn là câu hát đầy những xót xa suốt một đời, chỉ vì yêu! Thôi thì, hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ nghe xong bài hát đã, rồi sẽ biết.

“Đời tôi đã, xót xa nhiều cũng vì yêu!
Niềm thương nhớ, biết đến bao giờ làm mây quên lãng!
Chào mây nhé, mây bay về, về phía trời cao!
Ôi niềm ao ước, mối tình tha thướt, như làn mây lướt!”
(Nam Lộc – bđd)

Chao ôi, những lời là lời và cũng là lời lẽ, rất tiếng Việt! Lời Việt, nhiều lúc cũng thấy nói: “xót xa một đời, cũng vì yêu!” Ôi chao! nhạc và lời. Nhạc và lời đây, muốn nói lên một nhận-định gồm những nhắn nhủ gửi đến mọi người, mỗi khi yêu.
            Vâng. Có thể là như thế. Như thế, tức: nghệ-sĩ đời, nay vẫn cứ là hay hát những lời tình-tứ rất nhiều tình-tự như “lang thang” nhiều mây xám, xót xa nhiều, chỉ vì yêu! Ấy vậy mà, mây mưa vần vũ lại vẫn yêu hoài và yêu mãi, rất lang thang/lảng vảng giống như mây! Vâng. Một khi đã có tình-tự đầy những mây mưa, trăng gió, với bão lòng, thì nghệ sĩ nhà mình còn muốn hát, thêm một câu như sau:

“Mây, mây buồn mây khóc mỗi khi vào mưa.
Hay là mây nhớ mối duyên tình xưa.
Khi tình chưa biết đớn đau là chi,
Khi dòng nước mắt chưa hoen vào mi.”
(Nam Lộc – bđd)

Mây mà cũng biết buồn biết khóc sao? Biết cả đến nói đùa như những điều tai nghe mắt thấy được cả những chuyện tưởng như thật. Thật ra thì, không chỉ mỗi người nghe và người thấy là biết được điều ấy mà thôi, nhưng cả người hát những lời như thế đấy, cũng thấy thoải mái với những lời từ đấng bậc vị vọng ở trên cao, rất Giáo-hội! Những lời lẽ rất hài-hước rất đáng cười rộ như sau:

“Hôm ấy, ngày Tình-nhân năm 2014, Đức Giáo Hoàng Phanxicô có bài nói chuyện với các cặp vợ chồng, nam nữ thứ thiệt. Rồi, trong một thoáng rất nhanh, hầu như để minh-hoạ cho những điều tốt/xấu gặp phải trong đời chồng/vợ, Đức Phanxicô bèn có lời nhắn với người nghe như một sự thật, rằng: Anh chị em, đừng tỏ ra hãi sợ khi phải giáp mặt với các khó khăn trong đời vợ/chồng…

Mọi người chúng ta đều đã biết: chẳng bao giờ có cái-gọi-là gia-đình trọn-hảo hết. Cũng chẳng khi nào lại có cái-gọi-là người-chồng-lý-tưởng, hết. Người chồng hoặc người vợ lý-tưởng, chẳng bao giờ xuất hiện trên cõi đời này… Nói đến đây, Đức Giáo Hoàng bèn ứng-khẩu bằng câu nói: ‘Tôi đây, dù cũng có mẹ/có cha nhưng chả bao giờ có cái-gọi-là “bà già vợ” hết, nhưng trong suốt đời mình, tôi cũng từng chiến đấu không ngừng nghỉ với những Satan, rất đầy mình… giống như thế. Nói đến đây, tôi sực nhớ đến câu hỏi: có gì khác biệt giữa cái mà bên tiếng Anh người ta gọi là “Out-laws” (tức: những người sống ngoài vòng pháp-luật) và “In-laws” (tức: “xuôi-gia” hoặc “oan-gia” bên tiếng Việt). Nhưng, thực tế vẫn có câu: “The outlaws are always wanted, but not in-laws”.. (tức: người sống ngoài vòng pháp-luật luôn được chiếu-cố vẫn rất muốn, còn hai bên xuôi-gia thì không!). Nói đến đây, Đức Giáo Hoàng bèn nhớ lại câu chuyện khá buồn cười về các bà mẹ vợ/mẹ chồng rất “in-laws”, bèn kể lại như sau:

Có lần đi sở thú để tham quan/thư giãn, tôi chợt thấy tự dưng có người đàn ông cứ hớt-hơ hớt-hải chạy đến chỗ tôi yêu cầu một điều gì xem chừng quan-trọng lắm. Không để cho người này kịp phân-trần, tôi bèn hỏi trước:
-Chuyện gì thế anh?
-Dạ thưa cha. Cũng vẫn chuyện bà má vợ của con mà ra thôi!
-Cha chả, chắc anh đây lại gặp rắc rối với bà má vợ rồi phải không?
-Dạ không phải thế đâu, thưa Cha. Chả là: bà má vợ của con sơ ý thế nào đó, té ngay xuống chuồng nuôi nhốt mấy chú cá sấu ở đằng đó, mà thôi!…
-Thế, anh muốn tôi làm gì cho anh đây? Nhảy xuống đó để cứu cụ bà má vợ anh hả?
-Dạ, không dám đâu. Con chỉ xin Cha cầu nguyện nhiều cho mấy cá sấu đáng thương ấy, thôi!”
(Truyện kể trên mạng: Pope Francis meets lovers for St Valentine’s jokes about mother-in-laws, Philip Putella 14/2/2014)

Quả là, Tây với Ta hay Tầu, đâu cũng có khác-biệt trong đối-xử với xui-gia hoặc oan-gia, có bà má chồng/má vợ, ở nhà. Với người Việt, thì chỉ “bà mẹ chồng” mới thành chuyện. Còn bên Tây, người ta chỉ “ái-ngại” mỗi “Bà dzà dzợ” thứ thiệt, chứ chẳng chơi.
Lại cũng thế, điều khác-biệt giữa người thường ngoài đời và đấng bậc ở trong Đạo, là như câu hát: “Đời tôi đã xót xa nhiều, cũng vì yêu” thấy cũng “sợ”. Sợ ở đây, không chỉ mấy chú cá sấu dữ-tợn đang đói bụng, mà là: sợ ai đó chỉ vì mỗi chữ “yêu” hoặc “ghét”, thôi! Cũng vì, quá yêu vợ/yêu chồng, nên mới sợ?
Sợ hay không, những ai có kinh-nghiệm từng-trải về chuyện yêu-đương hay đương yêu, mới biết được. Sợ ở đây, thật ra cũng chẳng là sợ “sự-thật-mất-lòng”, ai nào biết.  Thôi thì, hôm nay, đề-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta cứ để đó mọi chuyện, hạ hồi phân-giải. Nay, hãy đi vào phần “phiếm loạn” cho mọi người nhờ.  Nhưng, trước khi đi vào đoạn “phiếm” khá tương-đối, lại cũng xin đề-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta nghe thêm đôi câu hát để nghĩ tiếp:

“Mây, mây còn phiêu lãng đến bao giờ đây?
Mây còn ngơ ngác lang thang về đâu?
Xin dừng chân nói với nhau một câu.
Xin đừng câm nín vơi nhau dài lâu”.    
(Nam Lộc – bđd)

Vâng đúng thế. “Xin đừng câm nín với nhau dài lâu” nhưng hãy cứ phiếm. Phiếm, bằng sự thể kể ra đây đôi điều vẫn cần bàn, ở chốn thị thành, như sau:

“Anh chị em thân mến,
 Hôm nay tôi viết thư này gửi đến anh chị em nhân ngày lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Vào Đền thờ. Thánh-sử Luca cho ta biết: đã từ lâu, Đức Mẹ và thánh Giuse vẫn tuân-giữ luật Môsê, nên đã quyết-định đem Hài Nhi Giêsu vào Đền thờ mà dâng Ngài lên Thiên-Chúa. Và khi ấy, có người đàn ông tên Simêôn, là người công-chính, mộ-đạo và có cả bà Anna được Thánh Thần Chúa thúc đẩy đã ra đi gặp các ngài, nên nhận ra được Hài Nhi Giêsu đích-thực là Đấng Thiên-Sai, Chúa gửi đến. Ông Simêôn lúc ấy đã xin bồng/ẵm Hài Nhi trên tay mà chúc tụng Thiên-Chúa rồi nói: cuối cùng thì ông cũng đã “thấy” được ơn cứu-chuộc tỏ ánh vinh-quang trên dân Người.

Và thánh Anna, dù đang ở tuổi cao niên, cũng thấy được nguồn sinh-lực mới giúp bà khởi sự nói cho mọi người biết về Hài Nhi Đức Chúa. Đây là hình-ảnh tuyệt đẹp: bậc cha mẹ trẻ hiệp cùng với hai vị cao niên được Chúa run rủi để gặp gỡ nhau. Hài Nhi Đức Chúa là Đấng đem mọi người đến với nhau và nối-kết mọi thế-hệ được hiệp-thông yêu thương lẫn nhau. Ngài là suối-nguồn tình-yêu đã vượt qua mọi giai-đoạn tự lôi kéo mọi sự về mình, bứt phá tâm-trạng lẻ loi, buồn bã. Bằng vào hành-trình rong ruổi theo cách của gia-đình đùm bọc, anh chị em vẫn cùng nhau san sẻ nhiều thời-khắc quý-báu trong đời, như: cùng ăn uống, ngơi nghỉ, làm việc lao động, giải-trí cũng như cầu-nguyện hoặc đi hành hương đây đó, vẫn là những giờ phút hỗ trợ nhau.

Đàng khác, nơi nào không có tình yêu-thương, ở đó chẳng bao giờ có niềm an vui,êm ấm. Và tình-yêu đích-thực chỉ đến với ta từ Đức GIêsu mà thôi. Ngài phú-ban cho ta lời lẽ chiếu sáng con đường ta rong ruổi trên đường đời và Ngài còn ban cả Bánh sự sống phụ giúp ta trong chuỗi ngày rong ruổi đường dài ấy.

Anh chị em trong các Gia đình thân mến,
Lời lẽ và tâm tình anh chị em nguyện cầu cho Thượng Hội Đồng Giám mục sắp diễn ra nơi đây, sẽ là thứ vàng bạc/châu báu làm giàu Hội thánh ta. Tôi xin gửi lời cảm tạ và cũng xin anh chị em thêm lời cầu nguyện cho tôi , để tôi có sức phục vụ dân con của Chúa trong sự thật và tình thương-yêu. Cũng xin Mẹ rất thánh và thánh Giuse luôn tháp-tùng tất cả anh chị em và giúp anh chị em vững bước trong yêu-thương và chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau. Giờ này đây, tôi thật lòng khẩn nài Thiên Chúa đầy lòng xót thương đổ muôn ơn lành thánh xuống tất cả mọi gia-đình”. (x. tập san The Majellan Family số tháng 7-9/2014, trích dẫn thư Đức Giáo Hoàng Phanxicô gửi hết mọi gia-đình, tr. 1-3).

Thế đó, là lời lẽ của đấng bậc ở tít trên cao toà nhà Hội thánh diễn tả về tình gia-đình, và tình mọi người cần có với gia-đình và với nhau. Dù, người đó có là “mẹ chồng” hay “mẹ vợ”, cũng vẫn tốt. Miễn sao tình thương-yêu lành-thánh cứ đổ tràn lan sang với mọi người.
Thế đó, là tình-yêu vẫn được ấp-ủ trong gia đình. Gia đình sẽ không là gì cả, nếu không có tình-yêu. Bởi tình-yêu, là cột-trụ chống đỡ và gìn giữ mọi thứ tình của người đời. Cả với bạn bè/người thân. Cả với chòm xóm, nhóm-hội đoàn thể trong xã hội hoặc Giáo-hội.
Tình gia-đình trước hết và trên hết, vẫn được bậc mẹ cha trân-trọng và duy-trì bất chấp mọi hoàn-cảnh đau-đớn, khó-khăn có thể có. Điều này, được người viết không ghi danh viết xuống thành thơ, thành văn rất tâm-tình, như truyện kể nhè nhẹ, ở bên dưới: 

“Truyện rằng:
Cái nghèo cái đói thường trực trong ngôi nhà nhỏ này, nhưng dường như, nỗi cơ cực bần hàn ấy không buông tha họ. Cậu con bắt đầu cắp sách đến trường cũng là lúc nỗi mất mát lớn bỗng nhiên đổ ập xuống đầu họ. Cha qua đời vì cơn bạo bệnh. Hai mẹ con tự tay mình mai táng cho người chồng, người cha vắn số.

Người mẹ góa bụa ở vậy, chị quyết không đi bước nữa. Chị biết, bây giờ chị là chỗ dựa duy nhất cho con trai mình. Chị cặm cụi,chăm chỉ gieo trồng trên thửa ruộng chật hẹp, tài sản quý giá nhất của hai mẹ con chị. Ngày qua ngày, năm nối năm, những tấm giấy khen của cậu con trai hiếu học dán kín cả bức tường vôi nham nhở. Nhìn con trai ngày một lớn lên, ngoan ngoãn, học hành giỏi giang, nước mắt bỗng lăn trên gò má chị.

Học hết cấp hai, cậu thi đậu vào trường cấp ba trọng điểm của thành phố. Gánh nặng lại oàn lên vai người mẹ. Thế nhưng không may thay, khi giấy báo trúng tuyển về đến tay cậu cũng là lúc mẹ cậu ngã bệnh. Căn bệnh quái ác làm chị liệt nửa chi dưới. Vốn là lao động chính của gia đình, giờ chị chẳng thể đi lại bình thường như xưa nữa nói chi đến chuyện làm nông. Cậu bé vốn hiểu chuyện, thương mẹ vất vả, cậu xin nghỉ học:

- Mẹ này, con nghỉ học thôi, ở nhà làm ruộng thay mẹ. Đi học, tiền đâu mà đóng học phí, tiền sinh hoạt phí, lại còn mỗi tháng nộp 15 cân gạo nữa, nhà mình biết lấy đâu ra số gạo đó.
- Có thế nào con cũng không được bỏ học. Con là niềm tự hào của mẹ.Chỉ cần con chăm chỉ học hành, còn những việc khác, con không phải bận tâm.

Hai mẹ con tranh luận rất lâu, cậu kiên quyết không đi học nữa vì không muốn mẹ mình khổ. Cậu trở nên ngang bướng và lì lợm. Phải đến khi nóng nảy quá không kiềm chế được, mẹ cậu giơ tay tát cậu một cái vào má, cậu mới sững người lại.Đây là cái tát đầu tiên trong đời cậu con trai mười sáu tuổi. Mẹ cậu ngồi thụp xuống đất và khóc nức nỡ…

Nghe mẹ, cậu khăn gói vào trường nhập học. Lòng cậu nặng trĩu. Người mẹ đứng lặng hồi lâu, nhìn bóng con trai khuất dần… Ít lâu sau, có một người mẹ lặc lè vác bao tải dứa, chân thấp chân cao đến phòng giáo vụ. Chị nộp gạo cho con trai. Chị là người đến muộn nhất. Đặt bao gạo xuống đất, chị đứng thở hổn hển một hồi lâu rồi nem nép đi vào.
Thầy Hùng phòng giáo vụ nhìn chị, nói:
-Chị đặt lên cân đi. Mở túi gạo ra cho tôi kiểm tra.
Chị cẩn thận tháo túi. Liếc qua túi gạo, hàng lông mày của thầy khẽ cau lại, giọng lạnh băng:
-Thật chẳng biết nên nói thế nào. Tôi không hiểu sao các vị phụ huynh cứ thích mua thứ gạo rẻ tiền đến thế cho con mình ăn. Đấy, chị xem. Gạo của chị lẫn lộn đủ thứ, vừa có gạo trắng vừa có gạo lức lẫn gạo mốc xanh đỏ, cả cám gạo nữa, đây còn có cả ngô nữa… Thử hỏi, gạo thế này, chúng tôi làm sao mà nấu cho các em ăn được. Thầy vừa nói vừa lắc đầu.

-Nhận vào! Thầy nói, không ngẩng đầu lên, đánh dấu vào bảng tên của học sinh. Mặt người mẹ đỏ ửng lên. Chị khẽ đến bên thầy nói:
-Tôi có 5 đồng, thầy có thể bổ sung vào thêm cho cháu để phụ tiền sinh hoạt phí được không thưa thầy?
-Thôi, chị cầm lấy để đi đường uống nước. Thầy nói và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn người phụ nữ tội nghiệp đang loay hoay, khổ sở, mặt đỏ ửng, chân tay thừa thải vì chẳng biết làm thế nào. Chị chào thầy rồi lại bước thấp bước cao ra về.

Đầu tháng sau, chị lại đến nộp gạo cho con trai. Thầy lại mở túi gạo ra kiểm tra rồi lại cau mày, lắc đầu. Thầy có vẻ lạnh lùng, ác cảm:
- Chị lại nộp loại gạo như thế này sao? Tôi đã nói phụ huynh nộp gạo gì, chúng tôi cũng nhận, nhưng làm ơn phân loại ra, đừng trộn chung như thế này. Chúng tôi làm sao mà nấu cơm cho ngon để các em ăn được? Chị nghĩ thử xem, với loại gạo hổ lốn thế này, liệu chúng tôi có thể nấu cơm chín được không? Phụ huynh như các chị không thấy thương con mình sao?
- Thầy thông cảm. Thầy nhận cho, ruộng nhà tôi trồng được chỉ có thế! Người phụ nữ bối rối.
- Thật buồn cười cái nhà chị này! Một mảnh ruộng nhà chị có thể trồng đến hàng trăm thứ lúa thế sao? Nhận vào! Giọng thầy gằn từng tiếng và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn chị.
Người mẹ im bặt, mặt chị trở nên trắng bệt, nhợt nhạt. Chị lí nhí cảm ơn thầy rồi lại lặng lẽ bước thấp, bước cao ra về. Dáng chị liêu xiêu, đổ vẹo trong cái nắng trưa hầm hập như đổ lửa.

Lại sang đầu tháng thứ ba của kỳ nộp gạo. Chị lại đến. Vẫn dáng đi xiêu vẹo, mồ hôi mướt mải trên trán, ướt đẫm lưng áo của người mẹ trẻ. Bao gạo nặng dường như quá sức với chị.
Thầy lại đích thân mở túi gạo ra kiểm tra. Lần này, nét giận dữ in hằn trên mặt thầy. Thầy rành rọt từng tiếng một như nhắc để người phụ nữ ấy nhớ:
- Tôi đã nói với chị thế nào. Lần này tôi quyết không nhân nhượng chị nữa. Chị làm mẹ mà sao ngoan cố không thay đổi gì thế này. Chị mang về đi. Tôi không nhận!

Người mẹ thả phịch bao gạo xuống đất. Dường như bao nỗi ấm ức, đau khổ và bất lực bị dồn nén bao ngày đột nhiên bừng phát. Chị khóc. Hai hàng nước mắt nóng hổi, chan chứa trên gương mặt sớm hằn lên nét cam chịu và cùng quẫn. Có lẽ, chị khóc vì tủi thân và xấu hổ. Khóc vì lực bất tòng tâm.

Thầy Hùng kinh ngạc, không hiểu đã nói gì quá lời khiến cho người phụ nữ trẻ khóc tấm tức đến thế. Chị kéo ống quần lên để lộ ra đôi chân dị dạng. Một bên chân quắt queo lại rồi nói:
- Thưa với thầy, gạo này là do tôi... Tôi đi ăn xin, gom góp lại bao ngày mới có được. Chẳng giấu gì thầy, chân cẳng tôi thế này, tôi làm ruộng thế nào được nữa. Cháu nó sớm hiểu chuyện, đòi bỏ học ở nhà giúp mẹ làm ruộng. Thế nhưng tôi kiên quyết không cho, kiên quyết không để con tôi thất học. Có học mới mong thoát khỏi cảnh cơ cực này. Nhà chỉ có hai mẹ con, cha cháu mất sớm... Thầy thương tình, thầy nhận giúp cho. Không nộp gạo, con tôi thất học mất!

Người mẹ trẻ này đều đặn ngày nào cũng thế. Trời còn tờ mờ, khi xóm làng còn chưa thức giấc, chị đã lặng lẽ chống gậy, lê mình rời khỏi thôn. Chị đi khắp hang cùng ngõ hẻm bên xóm khác xin gạo. Đi mãi đến tối mịt mới âm thầm trở về. Chị không muốn cho mọi người trong thôn biết.

Lần này người bị xúc động mạnh lại là thầy Hùng. Thầy đứng lặng hồi lâu rôi nhẹ nhàng đỡ chị đứng lên. Giọng thầy nhỏ nhẹ:
- Chị đứng lên đi, người mẹ trẻ! chị làm tôi thực sự bất ngờ. Tôi đã có lời không phải với chị. Thôi thế này, tôi nhận. Tôi sẽ thông báo với trường về hoàn cảnh của em học sinh này, để trường có chế độ học bổng hổ trợ cho học sinh vượt khó.
Người mẹ trẻ đột nhiên trở nên cuống quýt và hoảng hốt. Chị gần như chắp tay lạy thầy. Giọng chị van lơn:
- Xin thầy. Tôi có thể lo cho cháu, dù không đầy đủ như các bạn nhưng tôi lo được. Khổ mấy, vất vả mấy tôi cũng chịu được. Chỉ xin thầy đừng cho cháu hay chuyện này. Đây là bí mật của tôi, mong thầy giữ kín giùm cho.

Chị kính cẩn cúi đầu chào thầy như người mà chị mang một hàm ơn lớn, đưa tay quệt mắt rồi lại nặng nhọc, liêu xiêu ra về. Lòng thầy xót xa. Thầy Hùng đem câu chuyện cảm động này báo với hiệu trưởng. Ban giám hiệu trường giữ bí mật này tuyệt đối. Nhà trường miễn phí toàn bộ học phí và sinh hoạt phí cho cậu học sinh có hoàn cảnh đặc biệt này. Ngoài ra, học lực của cậu rất khá, đủ tiêu chuẩn nhận được học bổng của trường.

Cuối cấp, cậu dẫn đầu trong danh sách những học sinh xuất sắc của trường. Cậu thi đậu vào trường đại học danh tiếng nhất của thủ đô. Trong lễ vinh danh học sinh ưu tú, khi tên cậu được xướng lên đầu tiên, mẹ cậu lặng lẽ đứng ở một góc khuất, mỉm cười sung sướng. 

Có điều rất lạ, là: trên sân khấu hôm ấy, có ba bao tải dứa sù sì được đặt trang trọng ở một góc phía ngoài cùng, nơi mọi người có thể dể dàng nhìn thấy nhất. Ai cũng thắc mắc, không hiểu bên trong ấy chứa thứ gì.

Trong bầu khí trang nghiêm buổi lễ ấy, thầy hiệu trưởng rất xúc động và kể lại câu chuyện người mẹ trẻ đi ăn xin nuôi con học thành tài. Cả trường lặng đi vì xúc động.Thầy hiệu trưởng ra dấu cho thầy Hùng phòng giáo vụ đến mở ba bao tải ấy ra. Đó là ba bao gạo mà người mẹ với đôi chân tật nguyền lặn lội khắp nơi xin về. Thầy nói:
- Đây là những hạt gạo mang nặng mồ hôi và nặng tình của người mẹ yêu con hết mực. Những hạt gạo đáng quý này, Tiền, vàng cũng không thể mua nổi. Sau đây, chúng tôi kính mời người mẹ vĩ đại ấy lên sân khấu.
Cả trường lại một lần nữa lặng người đi vì kinh ngạc. Cả trường dồn mắt về phía người phụ nữ chân chất, quê mùa đang được thầy Hùng dìu tùng bước khó nhọc bước lên sân khấu. Cậu con trai cũng quay đầu nhìn lại. Cậu há hốc miệng kinh ngạc. Cậu không thể ngờ rằng người mẹ vĩ đại ấy không ai khác chính là người mẹ thân yêu của cậu.
- Chúng tôi biết, kể ra câu chuyện này sẽ khiến cậu học sinh ưu tú nhất trường bị chấn động rất mạnh về tâm lý. Thế nhưng, chúng tôi cũng mạn phép được nói ra vì đó là tấm gương sáng, tấm lòng yêu thương con vô bờ bến của người mẹ. Điều đó hết sức đáng quý và đáng được trân trọng. Chúng tôi muốn thông qua câu chuyện cảm động này, giáo dục các em học sinh thân yêu của chúng ta về đạo đức và lối sống, về tình người và những nghĩa cử cao đẹp. Hôm nay, một lần nữa chúng ta vinh danh những người cha, người mẹ đã cống hiến, hy sinh cả đời mình vì tương lai con em…

Giọng thầy hiệu trưởng đều đều, ấm áp và hết sức xúc động. Tai cậu ù đi, cậu chẳng nghe thấy gì nữa cả, mắt cậu nhòe nước. Mẹ cậu đứng đó, gầy gò, khắc khổ, mái tóc đã sớm điểm bạc, mắt bà cũng chan chứa niềm hạnh phúc và ánh mắt ấm áp, yêu thương ấy đang hướng về phía cậu với cái nhìn trìu mến.

Người phụ nữ ấy run run vì chưa bao giờ đứng trước đám đông. Run run, vì những lời tốt đẹp mà thầy hiệu trưởng đã giành cho mình. Với chị, đơn giản tất cả chỉ xuất phát từ tình yêu bao la mà chị giành cho con trai. Chị không nghĩ được thế nào là sự hy sinh hay đạo lý lớn lao ấy.
Cậu con trai cao lớn đứng vụt dậy, chạy lên ôm chầm lấy mẹ mà mếu máo khóc thành tiếng:
-Mẹ ơi ! Mẹ của con…(Linh Đan dịch từ truyện ngắn khuyết danh của Trung Quốc)

            Dịch từ bản nào cũng là dịch. Diễn từ bài ở đâu, cũng là diễn. Miễn là, văn bản và bài bản đều diễn-tả tình thương yêu từ người này đem đến cho người khác. Có thể, tình thương yêu đó do từ người mẹ. Cũng có thể từ người thầy, người cha tinh-thần ở chốn cao, nơi Hội thánh. Tất cả đều nói lên thứ tình cần cần diễn-đạt, như đấng thánh hiền-lành khi xưa từng ghi rõ, cho mọi người:

“Nhưng tôi có là gì,
cũng là nhờ ơn Thiên Chúa,
và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu;
trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác,
nhưng không phải tôi,
mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.
Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng,
thì chúng tôi đều rao giảng như thế,
và anh em đã tin như vậy.”
(1Cor 15: 10-11)

Quả có thế. Không có Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu đến với mọi người, thì bạn và tôi, ta có làm gì đi nữa cũng không xong.  Nghĩ thế rồi, hỡi bạn và tôi, ta cứ hát lên lời ca đầy tình-tứ có làn mây vẫn tràn đầy yêu-thương như tự bao giờ:

“Mây, mây còn phiêu lãng đến bao giờ đây?
Mây còn ngơ ngác lang thang về đâu?
Xin dừng chân nói với nhau một câu.
Xin đừng câm nín vơi nhau dài lâu”.   
(Nam Lộc – bđd)

Hát thế rồi, xin bạn và xin tôi từ nay đừng âm-thầm, câm nín như mây bay lơ lửng khắp tầng trời. Nhưng hát nói lên, hát lên những lời tình-tứ đầy tình-tự yêu thương, nồng thắm, khắp muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những đám mây vô tình
Cứ quanh quẩn bên mình
Suốt nhiều ngày.
Không chịu bay.

Saturday, 27 September 2014

“Khi em nhìn anh,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 27 mùa Thường niên năm A 05-10-2014

“Khi em nhìn anh,”
Từ đôi mắt đen dịu dàng
Như trăng hồ thu
Đợi thuyền tình anh ghé thăm
(Y Vân – Khi Anh Nhìn Em)
(Lc 9: 62)
            Nhìn Em bằng đôi mắt nào đi nữa, cũng vẫn là nhìn, là ngó hay ngắm nghía và ngưỡng mộ, rất chân tình. Câu này cũng nghe quen từ hồi đó. Thời, mà các bậc chân-tu như thánh-nữ Têrêxa Hài Đồng thành Lisieux từng ngắm nhìn Chúa qua Thánh Thể hoặc qua người mẹ, người chị cùng một Dòng.
Câu hỏi hôm nay được gửi đến bạn và đến tôi, không chỉ là câu vẫn hỏi: anh/chị có còn nhìn thế nữa không, mà là câu hát rất thân-tình, còn hát tiếp:

Ánh mắt em u buồn,
mái tóc anh ươm sầu
Đã thấy trong thiên hạ
Ai buồn, ai buồn bằng...
Đôi lứa.. chúng ta ?!
(Y Vân – bđd)

Thế mới biết: người đời nhìn nhau vẫn thấy buồn, giống như thế những chuyện buồn trăm năm. Một thứ buồn rười rượi, u hoài về chuyện “đôi lứa chúng ta”.
Thế mới lạ. Bởi cũng lạ nên cứ hỏi: chuyện nhà Đạo mình có chăng những tình-tự thế?
Thế nhưng, trước khi trả lời cho câu hỏi hơi kho khó này, hỡi bạn và tôi, ta lại xin nghe tiếp một câu khác, để xem sao. Câu hát ấy, như thế này:  

“Em là chim yến nhỏ,
anh khoác áo vân du
Đường xa em có ngại,
áo mây anh ấp ủ
Ta tìm lên núi tình,
ta đến suối yêu đương
Rồi đi thăm bến Mộng,
sẽ qua đồi ái ân.
Khi em nhìn anh
Sầu đong mấy Đông cho vừa
Như trăng vừa lên
Đầu ghềnh mờ pha tuyết sương.”
(Y Vân – bđd)

            Nhìn em hay nhìn anh, thì ai cũng đều nhìn/đều ngắm ít là một lần trong đời. Thế nhưng, trong đời người hỏi rằng: có chăng một lần nhìn nào đó vẫn cứ hỏi: “Có phải em đó không em, hay ai khác?” hệt như truyện kể để cười vui trước khi ta đi vào chuyện đứng-đắn rất thần-học sau này. Truyện kể về cái nhìn của người chồng, sau khi “nhìn em” mãi một hồi, rồi thì chuyện xảy ra mà bần đạo đoán là ở xứ Hàn, như sau:

            “Vừa nhìn thấy vợ hiền đang từ từ bước vào nhà, ông bố bèn hét bảo với đứa con còn nhỏ:
            -Này con, chạy ra mà xích con chó nhà mình lại.
Cậu con rất đỗi ngạc-nhiên bèn hỏi lại:
-Bộ, nhà mình có khác từ xa tới hay sao, hả bố?
Không chần chừ, người bố đáp ngay:
-Không đâu! Mẹ mày đang từ mỹ-viện đi về kià…”
(trích truyện kể lền khên, không ký tên!)

            Thế đó, một cái nhìn, rất chưa quen, từ bố con. Thế còn, cái nhìn từ nhà Đạo có gì khác không thế? Câu trả lời, cũng khó đoán. Bởi lẽ, nhà Đạo mình có người nhìn, có người không, nhất thứ là khi đi lễ về, nhiều người chẳng còn muốn nhìn nhau, dù vừa mới chào bình an cho nhau.
            Thêm nữa, nhà Đạo mình, lại cũng thấy rất nhiều người cũng đã nhìn và còn nhìn mãi, rất khôn nguôi. Nhưng, có khi là nhìn ai, nhìn cái gì cũng không chắc lắm. Bởi cứ chừng chừng nhìn mãi, làm sao biết. Cũng lắm khi, bạn đạo mình cứ mải nhìn chính mình hoặc nhìn người khác, rồi lại hỏi: “Tôi đây là người Công giáo, đấy chứ nhỉ?”
Hỏi như thế, tức có nhìn cho lắm cũng khó mà biết người biết mình, trăm phần trăm. Chi bằng, ta cứ nhờ bạn/nhờ tôi, nhờ mọi người xem thử ra sao, việc khó nói ấy. Khó hay không, bần đạo đây cũng chẳng biết. Chỉ biết có lần nọ, Đức Giáo Tông Phanxicô cũng từng có lời phán bảo rất gay go/gay cấn, và cũng lấn cấn như sau:

“Những ai cứ muốn người khác nguyện cầu và tin chắc là mình có thể đưa ra những điều thay thế cho giáo-huấn của Hội-thánh và những ân-nhân từng sử-dụng hội-thánh như tấm phủ bọc nối-kết cho thương-vụ của họ cũng có thể tự gọi mình là Công-giáo, nhưng những người như thế vẫn chỉ là người chân trong chân ngoài ngưỡng cửa mà thôi. Với những người như thế, Hội-thánh không là mái-ấm cơ-ngơi của họ, mà chỉ là chốn được họ dùng như tài-sản thuê mướn để tá-túc mà thôi!” Lời Đức Phanxicô giảng ở nhà nguyện nơi ngài trú ngụ phản-ánh Tin Mừng theo thánh Gioan đoạn 17 câu 20-28.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô còn giảng tiếp: Có ba nhóm người vẫn tự gọi là Công giáo, nhưng thật ra không phải thế. Đó là: những người chủ-trương thuần-nhất rất đồng dạng, thứ đến là những người thích sống khác lạ và những người chỉ biết đến doanh thương mà thôi.

Và Đức Phanxicô đã giải-thích về ba nhóm người ấy như sau: “Nhóm người thứ nhất tin rằng mọi người trong Hội-thánh phải giống như họ. Họ là những người cứng-ngắc, không có được sự tư-do mà Thánh Thần Chúa phú ban cho họ. Những người này lẫn lộn những gì Đức Giêsu rao giảng với chủ-thuyết đồng-dạng riêng của họ. Thật sự thì Đức Giêsu chẳng bao giờ muốn Hội-thánh của Ngài trở nên cứng-ngắc hết. Những người thuộc nhóm này vẫn tự gọi mình là Công giáo, nhưng thái-độ cứng-ngắc của họ làm họ xa cách Hội-thánh Chúa.   

Nhóm thứ hai, là những người cho rằng có thể thay thế cho giáo-huấn và tín-lý của Hội-thánh, nên họ chỉ tùy thuộc một phần vào Hội-thánh mà thôi. Những người này nữa, lại cũng chân trong chân ngoài đối với Hội-thánh. Họ thuê mướn Hội-thánh và không công-nhận giáo huấn của Hội-thánh mình được dựa căn-bản trên lời rao giảng của Đức Giêsu và truyền-thống của các tông-đồ.

Nhóm người thứ ba cũng tự gọi mình là Công-giáo nhưng họ không đi vào tâm-can của Hội-thánh. Họ sử-dụng Hội-thánh vì lợi-ích riêng-tư của họ, thôi. Ta vẫn gặp những người này trong cộng-đoàn giáo-xứ, giáo-phận hoặc các dòng tu. Một số người trong nhóm họ là ân-nhân của Hội-thánh nên nhiều lúc cứ nghênh-ngang tự-cao tự-đại và tự-hào vì là ân-nhân, nhưng cuối cùng vẫn móc ngoặc/đi đêm tìm lợi nhuận cho riêng mình, thôi.

Hội-thánh gồm dân con mọi người có khác-biệt về nhiều thứ và nhiều quà tặng, nên những ai muốn thuộc về Hội-thánh, đều phải có động-lực là tình-yêu thúc đẩy và phải đi vào lòng Hội-thánh bằng tất cả tấm lòng mến thương của mình. Hãy mở lòng mình với Thánh Thần Chúa là Đấng bảo-dưỡng tính hài-hoà trong khác-biệt, Ngài sẽ đem đến tính hiền-hoà dễ dạy chính là đặc-tính cứu vớt ta ra khỏi cảnh-huống “chân trong chân ngoài với Hội-thánh” (x. Cindy Wooden, Pope: Half-hearted Catholics aren’t really Catholics at all, Catholic News Service 05/6/2014)

Về những ngó và nhìn cũng có nhiều nhận-định và/hoặc câu nói rất để đời, đã nghĩ tới. Chẳng hạn như, câu nói mà thánh-sử Luca từng đặt nơi miệng Đức Giêsu như sau:

            “Đức Giê-su bảo:
Ai đã tra tay cầm cày
mà còn ngoái lại đàng sau,
thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."
(Lc 9: 62)

Như Chúa nói, đã ra đi làm gì đi nữa, cũng đừng “ngoái” lại đằng sau mà nhìn mà ngó, cũng không nên. Trong đời người đi Đạo, cũng có nhiều sự-kiện qua đó nhiều người vẫn cứ ngó, cứ nhìn vào nhiều thứ. Ngó và nhìn, cả những sự và những việc không liên-quan đến việc sống Đạo và giữ Đạo, cho phải phép.
Ngó và nhìn, ở ngoài đời, còn được thi-ca/văn-học diễn tả bằng nhiều cách. Có những lúc, ngó và nhìn cho kỹ để còn thấy được tình-hình rất đích-thực mà người bàng-quan chỉ nhìn loáng thoáng không thể thấy. Tự như ý/lời của truyện kể ở bên dưới.

“Truyện ở đây, có khi chỉ là “CHUYỆN ĐỜI...” như người kể, từng muốn nói, như sau:               
Con tàu du lịch nọ gặp nạn trên biển, trên thuyền có một đôi vợ chồng rất khó khăn mới lên đến trước mũi thuyền cấp cứu , trên thuyền  chỉ còn... thừa duy nhất 1 chỗ ngồi. Lúc này, người đàn ông để vợ mình ở lại, còn bản thân nhảy lên thuyền cấp cứu.
Người phụ nữ đứng trên con thuyền sắp chìm, hét lên với người đàn ông một câu…………..
Kể đến đây, thầy giáo hỏi học sinh: “Các em đoán xem, người phụ nữ sẽ hét lên câu gì?”
Tất cả học sinh phẫn nộ, nói rằng: “Em hận anh, em đã lấy nhầm người rồi.”
Lúc này thầy giáo chú ý đến một cậu học sinh mãi vẫn không trả lời, liền hỏi cậu bé.
Cậu học sinh nói:
-Thầy ơi, em nghĩ người phụ nữ sẽ nói: Chăm sóc tốt con của chúng ta anh nhé!”
Thầy giáo ngạc nhiên hỏi:
-Em nghe qua câu chuyện này rồi ư?”
Học sinh lắc đầu:
-Chưa ạ, nhưng mà mẹ em trước khi mất cũng nói với bố em như vậy.
Thầy giáo xúc động:
-Trả lời rất đúng.”
Người đàn ông được cứu sống trở về quê hương, một mình nuôi con gái trưởng thành. Nhiều năm sau, anh ta mắc bệnh qua đời, người con gái lúc sắp xếp kỷ vật, phát hiện quyển nhật ký của bố. Hóa ra, lúc mẹ và bố ngồi trên chiếc tàu ấy, người mẹ đã mắc bệnh nan y, trong giây phút quyết định, người chồng đã dành lấy cơ hội sống duy nhất về phần mình. Trong nhật ký viết rằng: “Anh ước gì anh và em có thể cùng nhau chìm xuống đáy biển, nhưng anh không thể. Vì con gái chúng ta, anh chỉ có thể để em một mình ngủ giấc ngủ dài dưới đáy đại dương sâu thẳm. Anh xin lỗi.”

Kể xong câu chuyện, phòng học trở nên im ắng, các em học sinh đã hiểu được ý nghĩa câu chuyện này: Thiện và ác trên thế gian, có lúc lắm mối rối bời, khó lòng phân biệt, bởi vậy đừng nên dễ dàng nhận định người khác.

Nghe kể truyện, người kể bèn có lời bàn như sau:
* Người thích chủ động thanh toán tiền, không phải bởi vì người ta dư dả, mà là người ta xem trọng tình bạn hơn tiền bạc.
* Trong công việc, người tình nguyện nhận nhiều việc về mình, không phải bởi vì người ta ngốc, mà là người ta hiểu được ý nghĩa trách nhiệm.
* Sau khi cãi nhau người xin lỗi trước, không phải bởi vì người ta sai, mà là người ta hiểu được trân trọng người bên cạnh mình.
* Người tình nguyện giúp đỡ người khác, không phải vì nợ người đó cái gì, mà là vì người ta xem người đó là bạn. (Một bạn vừa sưu tầm trên mạng, thấy có truyện này bèn kể cho nhau nghe).

            Nghe kể xong, người nghe lại sẽ hát theo giọng người nghệ sĩ những câu rằng:

            “Ánh mắt bao la tình
Với ý thơ thưa rằng:
Chí lớn trong thiên hạ
Không đầy, không đựng đầy...
Đôi mắt.. mỹ nhân!!”
(Y Vân – bđd)

Thế mới hay. Khi nhìn em với “ánh mắt bao la tình”, lại mới thấy em là tất cả. Tất cả, không chỉ mỗi ánh mắt, làn môi đẹp nhất mà thôi, nhưng còn cả tấm lòng, đẹp đến như thế.
“Nhìn em với anh mắt bao la tình” có khi chỉ là nhìn mà không thấy. Chẳng thấy được thứ “tình mình bây giờ” như bài hát nọ để diễn-tả chuỗi ngày hai người ở bên nhau, vẫn quen biết nhau, thương nhau như hồi nào.
Có những “Ánh mắt nhìn nhau” như hồi nào, nhưng lại không thấy được những ý, những tình của nhau trong nhiều lúc. “Ánh mắt nhìn nhau” như hồi nào hay mọi hồi/mọi lúc vẫn cứ nhìn, mà chỉ thấy được những cái hay/cái đẹp ở người và vật được nhìn, cả trong đời đi Đạo và sống Đạo, cho phải lẽ.
Lại cũng có những “Ánh mắt nhìn nhau” rất “bao la tình” lại vẫn không thấy “Chí lớn trong thiên hạ, không đong đầy trong đôi mắt”, tựa như ca-từ mà nghệ-sĩ vừa mới hát. Kể cũng lạ, nhìn nhau thì cũng nhìn, nhưng làm sao thấy được “chí lớn” trong thiên-hạ đựng đầy trong cặp mắt? Có chăng, đôi lúc chỉ thấy cái  “chí nhỏ nhoi” của nhiều người, không đáng thấy.
Kể cũng lạ một điều, là người đời cứ nhìn và chỉ nhìn thấy “cái chí nhỏ nhặt” nơi người khác, không bằng mình. Thế mới thành chuyện. Thế mới là chuyện lạ ở đời. Chí ít, là trong Đạo. Có lẽ, cũng nên nhắn nhủ cả những người trong Đạo hay ngoài đời rằng: hãy cứ nhìn nhau cho lâu, rồi cũng sẽ hát những câu như người nghệ sĩ vẫn còn hát như sau:

“Ta tìm lên núi Tình,
ta đến suối yêu đương
Rồi đi thăm bến Mộng,
sẽ qua đồi ái ân.
Khi em nhìn anh
Sầu đong mấy Đông cho vừa
Như trăng vừa lên
Đầu ghềnh mờ pha tuyết sương.”
(Y Vân – bđd)

Nói chung và nói cho cùng, thì: có nhìn nhau thật nhiều, cũng nên như người viết nhạc, những bảo rằng: “Sầu đong mấy Đông cho vừa”. Nhìn như thế, tức: nhìn rất nên thơ . Thế nên, đừng nhìn, đừng ngó và ngoái lại về cõi trời Đông những sầu muộn, như đấng thánh hiền-lành từng cảnh-giác.
Cuối cùng thì: có nhìn anh/nhìn em cách nào đi nữa, xin bạn và xin tôi ta hãy nhìn theo kiểu nhà Đạo hoặc người đời từng có lời nhắn nhủ ở Kinh Sách rất như sau:

“Sao anh nhìn thấy cái rác trong con mắt của người anh em,
mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không thấy?
Sao anh lại nói với người anh em:
Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn,
trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh?
Hỡi kẻ đạo đức giả!
Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã,
rồi anh sẽ thấy rõ,
để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em.”
(Mt 7: 3-5)

Và ở đoạn khác, thánh-sử nhân hiền còn ghi rõ về “tầm nhìn” mà con người đừng nên có:

“Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã,
thì hãy móc mà ném đi;
thà chột mắt mà được vào cõi sống,
còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hoả ngục.”
(Mt 18: 9)

Và nhất là câu nói đần dặn dò như sau:

"Anh em hãy coi chừng,
chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này;
quả thật, Thầy nói cho anh em biết:
các thiên thần của họ ở trên trời
không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy,
Đấng ngự trên trời.
Vì Con Người đến để cứu cái gì đã hư mất.
(Mt 18: 10-11)

Xem thế thì, bạn và tôi hay ai khác, ta vẫn cứ hiên ngang ngước mắt lên mà nhìn. Nhìn lên chứ đừng nhìn xuống, kẻo lại coi thường người khác, chí ít là những kẻ bé mọn ở Hội thánh hay ngoài đời, rất con người.

Trần Ngọc Mười Hai
Xưa rày có mắt thật đấy
Nhưng vẫn chưa biết nhìn đời
Cho đúng cách
Của người đi Đạo
Sống ở đời.