Saturday, 14 June 2014

“Lướt theo chiều gió,”



Chuyện Phiếm đọc sau Lễ Mình Máu Chúa Năm A 22-6-2014

“Lướt theo chiều gió,”
Một con thuyền, theo trăng trong
Trôi trên sông thương, nước chảy đôi giòng.”
(Đặng Thế Phong – Con Thuyền Không Bến)

(Lc 6: 36)
Thuyền trên sông thương hay sông “mến” có nước chảy đôi giòng, mà lại không bến bờ, thì chỉ có nước cứ lênh đênh ba chìm bẩy nổi, rất long đong thôi. Thuyền/bè Giáo hội nhà, lại cũng là bè/thuyền trên sông Yêu-thương xưa nay vẫn có bờ/có bến, chẳng nghi ngờ một tình-huống long đong rất như thế.
Thuyền/bè Hội-thánh hôm nay, chắc cũng không giống như câu rày hát tiếp:

“Ðêm nay thu sang cùng heo may.
Ðêm nay sương lam mờ chân mây.
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng.
Như nhớ thương ai chùng tơ lòng.
Trong cây hơi thu cùng heo may.
Vi vu qua muôn cành mơ say.
Miền xa lời gió vang thông ngàn.
Ai oán thương ai tàn mơ màng.”
(Đặng Thế Phong – bđd)

Vâng. Thuyền không bến bờ, lại hát rất “ai oán thương ai tàn mơ màng” như thế, chắc mãi mãi sẽ chẳng thấy bến thấy bờ thương yêu, mỹ-miều ở đâu hết. Thuyền Hội thánh, tuy chẳng hát hò gì nhiều nhưng vẫn thấy nhà Đạo khẳng định tình thân-thương/xót xa rất thánh-hội, như ý-kiến của Hồng Y Kasper qua phỏng vấn báo/đài đặt ra như sau:

“Nhà báo: Thưa Hồng Y, trong sách do ngài viết có tựa đề là “Mercy: The Essence of the Gospel and the Key to Christian Life”, ngài có nói: “Tình Thương Yêu Xót Xa, là bản-chất của Thiên-Chúa. Vậy, làm sao người đọc hiểu thế nào là Lòng thương-xót của Chúa, chứ?

Hồng Y Kasper: Tín-lý Chúa gửi đến cho ta, là do ta hiểu/biết về bản-thể Ngài là như thế. Thiên-Chúa, đương nhiên là thế rồi. Và, Ngài còn hơn thế nữa. Điều này không có gì sai quấy hết. Nhưng, Kinh Sách nhà Đạo hiểu một cách sâu-sắc và tư riêng hơn. Chẳng hạn: trong chuyện kể về Bụi Cây Bốc Cháy ở Cựu Ước, thì quan-hệ giữa Giavê Thiên-Chúa và Môsê là ngang qua Lời Ngài khẳng-định, không chỉ mỗi: “Ta có”, mà còn: “Ta có với ngươi. Ta có là cho ngươi. Ta cùng đi với ngươi”. Trong bối cảnh như thế, lòng xót thương đã có cơ-sở rắt triệt-để nơi Cựu-Ước. Thiên-Chúa ở Cựu-Ước, không là Đức Chúa rất giận-dữ mà là Thiên-Chúa tỏ lòng xót thương, thôi. Và, Thánh vịnh còn cho thấy rõ điều này nhiều hơn nữa.

Hiểu-biết thâm-sâu về Thiên-Chúa, khi xưa cũng mạnh-mẽ đến độ Chúa được hiểu là Đấng Công-Chính, chứ không chỉ mỗi Đấng Đầy Lòng Xót Thương, mà thôi đâu. Thánh Tôma Akinô cũng có nói: tình thương-yêu còn mang ý-nghĩa căn-bản và triệt-để hơn, là bởi Thiên-Chúa không là lời đáp-trả cho đòi hỏi từ qui-định do con người đề ra. Lòng Xót Thương, là tính-chất rất đáng tin của Chúa với bản-thể đầy tính thương-yêu của Ngài. Bởi, Thiên-Chúa là Tình-yêu. Và, lòng xót thương là Tình-yêu tỏ lộ cho ta qua hành-động và lời nói cụ-thể. Nên, lòng xót thương trở thành không phải chỉ một “thuộc-tính” trọng-yếu của Chúa mà thôi, nhưng còn là “chìa khoá” mở cửa lòng Đạo rất hiện-hành, nữa.

Thành thử, hãy tỏ lòng xót thương mọi người như Thiên-Chúa đầy lòng thương-xót từng tỏ lộ. Và, ta vẫn phải học đòi bắt chước Lòng Chúa xót-thương như thế mới được.

Nhà báo: Thưa Hồng Y, sao hôm nay, Giáo hội cần nói cho mọi người hiểu điều đó?
ĐHY Kasper: Thế kỷ thứ 20 là thế-kỷ tăm-tối với 2 cuộc chiến thế-giới, từng qui-tụ nhiều hệ-thống độc-tài toàn-trị, những là quần-đảo ngục-tù kiểu “gulag”, những trại tập-trung, rồi đến nạn tiêu-diệt chủng-tộc Do-thái, vv...

Thế-kỷ thứ 21 đã khởi-sự một cách không tốt đẹp gì mấy so với thời trước. Chúng-dân cần được xót-thương, tha-thứ. Đó cũng là lý-do khiến Đức Gioan 23 từng viết trong tiểu-sử linh-đạo trong đó ngài có nói: “lòng xót-thương là “thuộc-tính” đẹp nhất của Đức Chúa”. Và, trong bài phát-biểu mở đầu Công Đồng Vaticăng thứ 2, ngài lại nói: “Hội-thánh Chúa luôn chống lại sai-sót của thời-đại, thường với tính nghiêm-túc cần có, nhưng ngày nay ta cứ phải dùng đến thang thuốc của lòng xót thương, để làm thế. Đây là bước nhảy rất lớn. Thánh Gioan Phaolô Đệ Nhị lại đã sống xuyên-suốt ngang qua đoạn cuối Thế Chiến thứ 2 và Ngài cũng đã trải-nghiệm sống với chế-độ Cộng-sản Ba Lan, nên ngài thấy rõ nỗi oan-nghiệt con dân ngài chịu và đó cũng là nỗi khổ ngài gánh chịu, nhiều năm trong đời. Đối với ngài, lòng xót-thương là yếu-tố quan trọng của đời người. Đức Bênêđíchtô thứ 16 lại cũng ra tông-thư đầu tay, qua đó rõ ràng ngài khẳng định: “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu!” Và nay, Đức Phanxicô, cũng từng trải-nghiệm sống với chúng dân ở Nam Bán Cầu, nơi đó có đến 2/3 người Công Giáo vẫn phải sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo nàn. Nên, ngài cũng coi “lòng xót thương” là trọng-điểm cho triều-đại giáo-hoàng của ngài. Theo tôi thì, đây là câu trả lời cho các dấu chỉ thời đại ta đang sống...” (xem Matthew Boudway và Grant Gallicho, Phỏng vấn Đức Hồng Y Walter Kasper, 7/5/14).

            Có thể nói mà không sợ sai lầm, rằng: Đức Hồng Y Kasper nhận-định về “lòng xót thương” mà dân con Đạo Chúatừng am-hiểu qua năm tháng ngày giờ rất không sai. Nhưng hỏi rằng: nhà Đạo mình có sống theo cung-cách “xót thương” như Chúa khuyên dạy không, đó lại là chuyện khác.
            Và, trước khi tìm-hiểu những gì là “chuyện khác” ấy, cũng nên về với thi ca mà hát rằng:

            “Biết đâu bờ bến,
Thuyền ơi! thuyền trôi nơi đâu?
Trên con sông Thương, nào ai biết nông sâu?
Nhớ khi chiều sương, cùng ai trắc ẩn tấm lòng.
Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng.
Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong.
Ánh trăng mờ chiếu, một con thuyền trong đêm thâu.
Trên sông bao la, thuyền mơ bến nơi đâu?”
(Đặng Thế Phong – bđd)

Nói gì thì nói. Hát gì thì hát, cũng nên hát và nói lời vàng được thánh-sử Luca từng ghi lại:       
         
"Anh em
hãy có lòng nhân từ thương xót,
như Cha anh em
là Đấng nhân từ xót thương.”
(Lc 6: 36)

Nay lại hỏi, “lòng nhân từ thương xót” được thánh Luca ghi ở trên có là khẳng-định “ắt và đủ” cho dân con Đạo mình không? Và, trên thực-tế, nhà Đạo mình có thực-thi điều đó không? Các nhà thần-học cùng các vị chú-giải Kinh thánh, nói thế nào về điều này?
Và dưới đây, là ý-kiến của đấng bậc nhà Đạo, từng giảng-giải về “lòng Chúa thương xót và cho đi trọn hết thân mình Ngài, như sau:

“Chúa cho đi, không phải chỉ sự sống của Ngài, cho bằng cả “tâm-thân” của Ngài, nữa. Ngài tặng ban “tâm-thân”, hiểu theo nghĩa “Lytron” tiếng Hy-Lạp, là từ-vựng chính-xác buộc ta phải so với tự-vựng bên tiếng Aram là ‘hoi polloi”, tức khối lượng người không mang bất kỳ tên gọi của ai hết. Đây là “tình yêu tha-nhân” hiểu theo cách không hạn-chế về sự chết của Ngài, nhưng lại bao gồm mọi thứ nơi con người của Ngài và toàn-bộ tất cả những gì Ngài làm trong đời, kể cả bản-thể cũng như những gì Ngài làm trong cuộc sống có trỗi dậy. Đây là sự “cho đi” chính Bản-thể của Ngài, chứ không chỉ mỗi cuộc sống xác-phàm của Ngài mà thôi. Đó là tính-cách rất “lytron” ban đầu sử-dụng để đưa ra ý-nghĩa về một “thế-chấp bảo-kê” cho những ai được vào với tương-quan giao-ước rất mien-trường. Họ là ai? Là chúng dân ở khắp nơi, bất cứ nơi nào cũng thấy họ có ở đó. Họ là những người bị bỏ rơi, quên lãng, tức những kẻ bị hạ giá, xuống cấp ở bất cứ xã-hội nào đặt mình dưới hệ-thống quyền-lực hoặc cơ-chế đế-quốc” (xem Lm Kevin O’Shea, CSsR Ơn Cứu Chuộc và nền thần-học lịch-sử từ Thánh Kinh, www.giadinhanphong.blogspot.com 01-4-2014).

            Và, một khi đã nói thì phải nói cho trọn, cho xuyên suốt ý-nghĩa thần-học về “lòng xót thương” của Chúa, hầu chứng-minh là Ngài chấp-nhận cái chết cho riêng Ngài, không để đền bù mọi lỗi tội của người phàm, mà để xác-chứng lòng xót-thương vô bờ bến của Ngài. Về điểm này, linh mục giảng-dạy được trích tên ở trên, lại viết như sau:

“Hỏi rằng: Đức Giêsu chết đi có phải để minh chứng Chúa yêu thương loài người không?

Câu trả lời, là: Đúng! Nhưng, không theo cách chung chung như ta nghĩ. Đức Giêsu minh-chứng cho thấy tình thương không-thể-tưởng-tượng của Thiên-Chúa đối với loài người, nhất thứ là với người nghèo hèn/bé nhỏ, bị áp-bức. Và, bằng vào tình thương-yêu thần-thánh của Ngài, Thiên-Chúa khước-từ mọi quyền-lực, dù để chống lại những kẻ từng bức-bách đám “thân-cô thế cô”, hay gì đi nữa cũng thế. Khi nói Đức Giêsu chết đi để chứng-tỏ tình thương-yêu của Ngài với con người, như thế không làm giảm-suy những gì Ngài thực-hiện. So sánh với ý-niệm về “tình yêu” ở đời, thì Tình Thương-yêu của Ngài đây, cần được thăng-hoa trải rộng thật lớn-lao”. (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Ơn Cứu-Chuộc và cuối cùng một giòng suy-tư, bđd 08/5/2014)

Lại có đấng bậc khác, cũng quan niệm “Lòng Xót Thương của Chúa” được diễn-tả rất rõ nơi truyện kể về “Người Con Đi Hoang”, từng nhấn mạnh thêm rằng:

“Điều dễ gây hiểu lầm, là nhiều người vẫn nghĩ rằng: dù ta có phạm-tệ thế nào đi nữa, thì cuối cùng rồi ra Chúa cũng xót thương, tha thứ cho ta. Vậy nên, cứ tha hồ làm điều xấu xa, tệ-lậu đi. Trong quan-hệ với chúa, có hai việc cần minh định rõ; trước nhất là: Chúa yêu thương hết mọi người. Tình Ngài thương-yêu không đòi điều kiện nào hết. Chẳng cần biết ta là ai, có làm gì chống Chúa, chống anh em không, Ngài vẫn cứ yêu cứ thương. Tình Ngài yêu-thương tuyệt nhiên vẫn không bao giờ suy xuyển, hết.

Hai nữa, có điều chắc chắn là: không phải vì ta hiền lành và thánh-thiện nên Ngài mới yêu-thương ta hơn; hoặc nếu ta có sơ-xuất lỗi-phạm điều gì đó, thì Ngài sẽ yêu ít bớt đi. Thiên Chúa là Tình yêu. Ngài yêu ta rất trọn vẹn, dù tình đó có được thể-hiện ra với các thánh cả như Mẹ Têrêsa thành Calcutta; hoặc với kẻ độc tài, hình sự này khác đi nữa. Bởi nếu không, thì Ngài cũng thiên vị, giống như ai đó ở thế-trần. Chính vì thế, Ngài mới bảo: “Có là người bệnh mới cần đến thầy lang.”
           
Dầu sao đi nữa, việc Chúa thứ tha mọi lỗi/tội, là hành xử vô điều kiện. Điều này thấy rõ nơi dụ ngôn “Người Con Đi Hoang”, tức người con thứ đã có hành-xử dại-khờ “thích lang thang, ngổ ngáo với đời” hoặc cứ “thích rong chơi phiêu bạt”, như nhiều nhà thơ từng diễn tả. Dù có là người con khở dại đi nữa, bậc Cha Nhân-Hiền vẫn yêu-thương đứa con “hoang tàng”, ngổ ngáo ấy. Cha không mang thành-kiến, hoặc kỳ-thị với các con, nên: “mãi từ xa trông thấy, Cha đã chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ người con, và hôn lấy hôn để…” Tình yêu của Bậc Cha Nhân Hiền là như thế. Nhưng tình thương-yêu/tha-thứ của Cha sẽ nên trọn vẹn, khi con biết tỉnh giấc, quay về lại. Nói khác đi, chỉ mội thứ tha cách trọn vẹn khi có hoà giải, khi vết thương chia-cách được lành lặn, thôi. Đây chính là ý nghĩa của bí-tích hoà-giải, thứ tha của ta.
           
Trong hòa-giải với Chúa, bước dấn-thân đầu-tiên như “người con đi hoang” những tưởng, lại là bước quan trọng. Quan trọng, vì biết chắc Bậc Cha Nhân Hiền sẽ giang rộng đôi tay già chào đón ta trở về. Sẽ chẳng còn chữ “nếu”, hoặc chữ “nhưng” nào hết. Cũng chẳng điều-kiện này/khác, cũng không mảy may dè chừng, thủ thế gì hết. Và chắc chắn, sẽ không có hình phạt, đền bù, cũng chẳng đòi bồi thường điều gì cả. Điều này, thánh Phaolô từng mạnh dạn nói rõ: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu người tội lỗi, mà kẻ đầu đàn là tôi”. (1Tm 1: 15)
           
Cũng thế, đường lối Chúa đón nhận “người em đi hoang” trở về, phải được chứng xác bằng tương quan ta có với người khác nữa. Trong lời cầu Chúa dạy, rõ ràng ta vẫn quyết: “Xin tha cho con mọi lỗi lầm trót phạm, cũng một kiểu như con đã làm cho người anh em.”
           
Cuối cùng ra, khi đã được tha thứ, cũng nên nhớ thêm Lời Ngài đã phán: “Hãy trở nên trọn lành, vì Cha của chúng ta trên trời là Đấng trọn lành”. Điều này mang ý nghĩa rất sáng tỏ: hãy yêu thương hết mọi người, một cách vô điều kiện, như Chúa hằng yêu ta. Và, hãy sẵn sàng tha thứ cũng như hòa giải với từng người như Ngài đã từng làm như thế, với từng người một.
           
Việc này không dễ. Nhưng không phải là chẳng thể làm được. Nhưng với sự trợ giúp của Cha, ta luôn hy vọng. Vào tiệc lòng mến  hôm nay, ta cứ hân hoan và hy vọng. Hy vọng là Chúa vẫn thứ tha. Hy vọng là ta cũng sẽ tha thứ hết mọi người. Từ “người em đi hoang” thích phiêu bạt giang hồ, cho chí người anh “vẫn hầu hạ Cha, chẳng khi nào trái lệnh”, và tất cả mọi người.” (xem Lm Richard Leonard sj, Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 thường niên năm C, www.suyniemloingai.blogspot.com 15/9/2013)

Hiểu theo ý-hướng thần-học thì như thế. Còn lại, là tâm-tưởng của dân thường ở huyện thì nghĩ sao? Để trả lời, thiết tưởng bạn và tôi, ta cũng nên đi vào vùng trời truyện kể để lắng nghe câu chuyện diễn tả ý-hướng và ý-nguyện của dân thường, như bên dưới 

“Có người thợ mộc già nọ làm việc rất chuyên cần và hữu-hiệu lâu năm cho hãng thầu xây cất nọ. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu để vui thú với gia-đình. Tuy không còn lãnh lương nữa, nhưng ông muốn nghỉ ngơi để an-hưởng tuổi già. Hãng đề-nghị ông cố-gắng ở lại giúp hãng xây một căn nhà chót trước khi thôi việc. Ông nhận lời. Nhưng, vì biết mình sẽ giải-nghệ lại bị miễn-cưỡng làm việc, nên ông làm một cách tắc-trách qua quít, xây nhà bằng vật-liệu tầm thường kém phẩm-chất, miễn có bề ngoài đẹp là được.

Mấy tháng sau, khi xây dựng xong căn-nhà cuối cùng ấy, ông được chủ hãng mời tới, đưa cho ông chìa khoá nhà và nói: “Ông đã tận-tụy phục-vụ hãng rất nhiều năm, để trả công cho những đóng góp của ông cho sự thịnh-vượng của hãng, nay xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong!” Thật bàng hoàng. Nếu người thợ xây như ông biết là mình sẽ xây căn nhà cho chính mình, thì ông đã làm việc cẩn-thận và chọn vật-liệu có phẩm-chất tốt hơn. Lối làm việc tắc trách cho căn nhà ấy chỉ mình ông là biết tới, và nay thì ông đành phải sống trong căn nhà mà chỉ riêng ông mới biết là nó kém phẩm-chất.” (trích truyện kể từ điện-thư vừa mới nhận hôm rồi)

Truyện kể vỏn vẹn chỉ mỗi thế. Không thêm hoa lá cành và cũng chẳng lý-luận, phân bua gì. Nhưng, người kể hôm nay, lại muốn chia sẻ một bài học rút từ câu chuyện ở đây: Chuyện kể đây, cũng giống chuyện đời người của mọi người. Mọi người đều giống ông thợ già ở trên, tạo cuộc sống xa hoa/hào nhoáng, rất tạm bợ, lại đua đòi nhiều thứ, chứ không chú tâm vào phẩm-chất của mọi sự.
Nhiều lúc nghĩ về hành-xử của mình trong quá khứ, ta thấy mình cứ phải cam chịu hậu-quả do việc mình làm. Đời người, là công-trình kiến-trúc do mình tạo. Đời hiện-tại, là kết-quả mọi tạo-dựng ta làm nên trong quá-trình sống. Cuộc sống tương-lai, lại là kết quả của những gì ta tạo ra từ hôm nay. Hãy xây dựng đời mình cho đúng, để rồi không hối-hận gì, cho mai ngày.
Quyết thế rồi, giờ đây mời bạn và mời tôi, ta cứ thế hiên-ngang, đứng thẳng người lên mà tuyên-bố với mọi người, rằng: lòng Chúa xót thương là gương-lành để ta bắt chước, chứ không để ta chiêm-ngưỡng theo cung-cách bái lạy, đưa lên bàn mà thờ phượng, như thần tượng. Một thứ tượng-thần mới, khi xưa ít thấy, nhưng nay lại thấy ở khắp mọi khung trời mở ngỏ của nhà Đạo.
Chuyện còn lại, là chọn lựa của tôi, của bạn và của mọi người trong sống đời thương yêu, thương xót hết mọi người như Lời Chúa từng căn dặn ở nhiều nơi.
Nhận định thế rồi, sá gì một vài phút giây để tôi cùng bạn, ta lại hát lên câu ca ở trên làm đoạn kết một cuộc tình, rất xót thương và thương xót, như sau:

“Nhớ khi chiều sương, cùng ai trắc ẩn tấm lòng
Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng
Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong
Ánh trăng mờ chiếu, một con thuyền trong đêm thâu
Trên sông bao la, thuyền mơ bến nơi đâu?”
(Đặng Thế Phong – bđd)

Vâng. Sự thật là thế. Như thế, như thể cuộc đời người cứ như con thuyền không bến không bờ, nếu thiếu đi tình xót thương vô bến bờ, thiếu đợi chờ và vấn vương.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ nhủ người
Và tự nhủ
Đừng quên sót
Lòng xót thương vô bến bờ
Với mọi người.      

Wednesday, 11 June 2014

“Em gắng chờ khi nào anh về,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Chúa Ba Ngôi Năm A 15-6-2014

“Em gắng chờ khi nào anh về,”
Dù cho bao năm bao tháng có lê thê.
Xuân đến Hè sang rồi Thu lạnh lùng,
Vẫn bên lòng một nỗi nhớ nhung.”
(Văn Phụng – Chung Thuỷ)

(RTm 12: 12-13)
            Kể ra thì cũng lạ. Lạ ở chỗ, là: tác giả viết lên nhạc bản ở trên lại cứ nhắn với người “em” của mình: hãy “gắng chờ khi nào anh về”, dù đời người có lê thê, hay gì gì đi nữa, người vẫn “bên lòng một nỗi nhớ nhung”. Nhớ nhung đây, chỉ một nỗi mà thôi, chứ không đếm tới hai, ba bao giờ. Chao ôi là âm nhạc! Ối dào, là thi ca! Những là, tình tứ, mong chờ nhiều nỗi nhớ.
            Hát thế vẫn chưa xong, người anh của đàn “em” trong làng nhạc lại cứ hát thêm:

            “Em vẫn chờ khi nào anh về,
Về thôn xưa nghe tiếng sáo đê mê. 
Bên mái nhà tranh hàng cau thơm vàng,
Vui êm đềm đời sống mơ màng.”
(Văn Phụng – bđd)

Thế đó, là thuỷ chung/chung thủy, ở thời trước. Còn hôm nay, nếu có ai hỏi rằng: còn chăng những người anh và “em” như thế nữa không? Thì đây, câu trả lời xin dành cho bạn và cho tôi, là bầu bạn đang nghe ý-kiến rất phản hồi này như câu tiếp “phê” hơn, vẫn bảo rằng:

“Nhớ chăng bên giàn hoa?
Vẫn còn chim yến vẫn còn sơn-ca.
Nhớ chăng bên bờ ao?
Vẫn hòn đá cũ vẫn hàng cây cao.”
(Văn Phụng – bđd)

Hôm nay đây, bần đạo sẽ thôi không còn hỏi câu tương-tự, với ai hết. Nhưng, chỉ dám thưa với bạn đọc và bạn nghe đọc ở đây rằng: ta nên đi dần vào chốn lan-man tình-tứ, cũng rất “phiếm”. Phiếm nhiều điều, cả về đạo lẫn đời, để cho qua đi những tháng ngày vất vả vật-lộn với giòng tư-tưởng những là thần-học và học rất thần (sầu) mãi về sau.
Hôm nay nữa, sau những ngày rong chơi tản-mạn rất nhiều chốn miền xa xôi có nền văn-minh gần gũi với người mình, bần đạo thấy mình thật nhỏ bé cả về hình tượng lẫn tâm-thân, đành im hơi lặng tiếng, không còn dám hứa hẹn viết lách gì nhiều về các cuộc rong chơi với bất cứ ai.
Cảm tạ Ơn Trên, bần đạo được đi đây đó cũng khá nhiều, không những chỉ biết được nhiều thứ của xứ người, lại còn thưởng-thức cái hay cái đẹp cũng như những cái còn chưa đẹp của người ở xứ khác. Tuy nhiên bần đạo lại chẳng có được năng-khiếu ghi chép thành ký-sự, nên chỉ dám mời bạn/mời tôi, ta vào xem các bài tường-thuật do cây viết có tên là Anthony Trần ở “Duc in Altum” trên trang mạng Gia Đình An Phong, sẽ biết về các chuyến đi xa của bần đạo, rất nhộn-nhạo. Ở đó, bầu bạn sẽ gặp thấy các thiên phóng-sự “nóng hổi” của cây viết rất trẻ này.
Nói thế rồi, nay bần đạo bầy tôi lại xin “đổi đề tài”, để mời bà con ta đi xa hơn chút nữa mà vào vườn cây khô khan những học thần/thần học quả thật sơ-cứng. Vườn này, bạn và tôi ta sẽ thấy toàn những cây khô đét-đèn-đẹt được gọi là “triết-thần”, hoặc học về thần cho lắm rồi chỉ nói toàn chuyện triết-lý viển vông, lông ngông không bông đùa.
Quả thật rất đúng. Trong lúc bần đạo thấy “lúng túng” đặt mãi vấn đề cốt lõi là: làm sao ta đi Đạo cho vui tươi, sung sướng, nhẹ nhàng, lại đã bắt gặp ngay câu dặn dò của chàng trai nào đó có kinh-nghiệm yêu-thương vợ hiền mình đến độ ly-dị vợ rồi mới thấy cần thiết thương-yêu “bà xã” mình nhiều hơn nữa. Biết rồi, chàng mới có câu nói mà bần đạo đây thấy có thể áp-dụng chuyện đạo rất triết/thần như sau:

“Đừng có mà khùng điên/dại khờ mà tự hành-hạ mình một cách quá ư là nghiêm-khắc. Hãy cười cho thật nhiều và hãy làm mọi cách để người-mình-yêu-dấu cũng cười thành tiếng, giống như mình. Bông đùa/cười vui, sẽ khiến mọi việc trở nên nhẹ nhõm, dễ chịu.”

Dĩ nhiên, những người hoặc những điều mình thương-yêu hôm nay không hẳn là chuyện đạo những triết/thần rất “thần-học”, mà học mãi vẫn chỉ thấy vẩn vơ lưng chừng, mà thôi. Nói cách khác, nếu đi vào địa hạt thần-học rất Thánh-kinh mà không mang tính vui tươi/bông đùa chút nào, hẳn người học thần và triết sẽ không bị khùng điên/dại khờ là may lắm rồi.
Nay, bần đạo mời bạn và tôi, ta đi vào địa-hạt thần-học và triết-lý hoặc thánh kinh với một đề-nghị đừng dở khùng dở điên nữa, nhưng hãy vui tươi, nhẹ nhàng một khẳng-định đầy quyết tâm, như khẳng-định mới đây của vị cựu Giám-tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Úc từng viết như sau:

“Đức Giáo Hoàng Phanxicô vừa tạo một tầm nhìn mới cho Giáo hội mình. Ngài muốn tặng cho Giáo-hội một thứ “đổi-thay dáng vẻ bề ngoài” cho dễ nhận. Dễ nhận diện, ở chỗ: nay ta phải ra khỏi tính nghiêm-khắc khó lay-chuyển để về với Đạo Chúa từng biết tự kỷ, ngõ hầu chuyển lay/thay đổi cho đúng nghĩa. Đức Giáo-hoàng Phanxicô muốn Giáo hội mình trở-thành “hiền-thê” mang dáng vẻ trong sáng, nổi bật, nhiều sắc mầu tươi vui hơn trước. Dáng vẻ này, không chỉ là vẻ là dáng có thoáng chốc hiện-diện trước ống-kính máy hình, có đèn nháy chỉ một chốc lát để bắt mắt thiên-hạ thôi. Nhưng, một Giáo-hội được thêu-đan cẩn-thận bằng đường nét tinh-tế mà Đức Kitô muốn Giáo hội phải như thế, với thế-giới thời hậu-cận-đại.

Bằng vào tông-thư “Niềm vui Tin Mừng”, Đức Phanxicô đã phác-hoạ nên chiến-lược cho Giáo hội tương-lai mai ngày. Chiến-lược đây, không để chinh-chiến hoặc đấu-tranh giành lợi-lộc mà đưa ra lời chỉ-dẫn để Giáo-hội sống Phúc Âm giữa thế kỷ 21 đầy thách-thức. Đức Giáo Hoàng Phanxicô còn căn-dặn Giáo-Hội ta phải mãi mãi đi vào trạng-thái thừa-sai/mục-vụ rất phục-vụ. Là Kitô-hữu, mỗi người và mọi người sẽ quyết-tâm ra ngoài để đến với những người từng xa rời Giáo-hội và cả những người bị xã-hội bỏ bê, chê-bai, vùi dập. Không ai được phép loại-trừ bất cứ người nào khỏi Giáo-hội, tức: cộng-đoàn tình-thương của muôn người. Mỗi người và mọi người có bổn-phận tỏ-bày với tất cả chúng-dân gần xa niềm thương-yêu xót xa, đầy trìu mến. Và, cho phép mình tự-do trở thành người cận thân và cận lân với tất cả mọi chúng-dân. Ta làm thế, vì Chúa đã và đang hướng-dẫn ta mang Tin Mừng vui-tươi hạnh-đạo đến với mọi loài. Ta làm thế với xác-tín rằng: Tin Mừng lành thánh, vẫn cống-hiến cho nhân-loại cung-cách lành-đẹp để cùng sống. Và, Tin Mừng đối với ta là những kẻ rất tin-tưởng chuyện ấy, đã và sẽ là nguồn hoàn-thành chức-năng lớn của con người” (Xem Lm Michael Gilbert, A Joyful Church, The Majellan Family, April-June 2014, tr. 1-5).

            Chính đó là vấn đề của thế hệ ngày hôm nay. Thế đấy, là bận tâm của con người hiện tại, cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Bận-tâm chính, là: làm sao “đem vui tươi vào chốn sầu buồn”, cả đời người. Nghĩ thế rồi, nay mời bạn/mời tôi ta đi thêm vài bước nữa mà phiếm cho sâu cho sát, để rồi ở cuối con đường tăm tăm-tối, sẽ thấy loáng thoáng ngọn đèn suy-tư,hầu tìm ra chút ánh sáng của niềm vui.
            Suy tư, là suy-nghĩ rất tư-lự bằng vào ý-kiến của nhiều người như tôi, như bạn trong cõi đời đầy những “phiếm”. Nhưng, trước khi “phiếm loạn” điều gì, lại cũng xin đề-nghị bạn và tôi, ta nghe câu tiếp ở nhạc-bản về những đợi chờ, thuỷ chung, lung linh tình tứ như sau:

“Khi nắng chiều hôm ngả chân đồi
Lòng bâng khuâng em trông ngóng xa xôi
Mơ thấy nhạc vang lừng khúc khải hoàn
Tim rộn ràng tưởng bóng anh về (anh đã về).”
(Văn Phụng – bđd)

            Hát thế rồi, nay ta dõi-theo ý-kiến của một đấng-bậc khác từng có vai vế, nay chỉ muốn những vế và vai kéo dài đến mọi người bằng cảm-kích viết thành lời, rằng:

            “Bạn Homer Simpson thân mến,
Tôi vẫn nghĩ là bạn sẽ chẳng nề-hà gì khi tôi viết cho bạn những giòng chữ sau đây với tư-cách một người cha gửi đến một người cha khác, để trao-đổi.

Trước tiên, phải nói ngay ở đây rằng: tôi cần ý-kiến bạn để tư-vấn. Bởi, con cháu tôi chúng bỏ quá nhiều giờ ra nghe bạn nói chuyện hơn ngồi nghe cha mẹ chúng dạy dỗ. Cả tôi nữa, tôi từng chào thua và nhận ra được là: bạn có nhiều cái mà tôi không thể nào tạo ra cho mình được. Tôi cũng có máy truyền-hình và ghế bành để ngả dài ra mà thưởng ngoạn chương-trình cười vui của bạn. Nhưng, chỉ có bạn mới là người khiến nhiều kẻ giống như tôi đã xài tối-đa hai thứ đó, mà không tiếc tiền. Bạn từng bảo với người nghe, rằng: “Thật khó đánh lừa được các bà bầu hoặc các đứa trẻ đang gặp rắc rối với nhiều nhiều chuyện; nhưng, tôi có thể lấp kín 8 tiếng đồng hồ một ngày dài bằng chuyện tiếu-lâm trên truyền-hình!” Thêm vào đó, nếu bạn không ngại để cho tôi nói thêm đôi lời, thì: tôi sẽ bảo với bạn rằng: bạn không là người để lại ấn-tượng của kẻ lanh-lợi nhất hành-tinh này từng sống hoặc không sống giống tôi hoặc làm bất cứ thứ gì thích-hợp để vẽ lên cá-tính của nhân-vật trong hoạt-hình. Tôi nhớ cái lần gặp tình-trạng khẩn-cấp hôm ấy, bạn cứ ới gọi người quay phim mà hét lên rằng: “Ấy ông thu hình ơi, gọi gấp cho tôi số điện-thoại khẩn-cấp 911 ngay được không?”...

Đa số các bậc cha mẹ sống thực trên đời, đang phải sống khổ sở vì chứng căng-thẳng thần-kinh mình gặp phải và cứ mong đợi mãi mà chẳng thấy được cái ngày giờ họ ở vào địa-vị thực để mà sống. Trong khi đó, thì bạn lại quay về hướng đối nghịch với họ, để rồi cứ khơi khơi nói rằng: chẳng cần phải làm như thế mới sống vui, sống khoẻ.  Bạn thuộc loại bậc thày chuyên đi đường tắt, vẫn không ngừng khai-thác chỗ nước cạn của đời sống để biết được đâu là chiều sâu của đời sống. Biếng nhác như bạn là thế, mà bạn cũng sản-sinh được đến hơn 500 phim tập. Mỗi tập phim Simpsons đưa ra là để bạn có thể giảng và dạy dỗ rất sâu rất sát, cả chuyện đạo đức của tôn-giáo nữa, cũng không gờm.

Homer bạn hiền quí mến,
Tôi đây rất thích cung-cách làm cha làm mẹ của bạn khi bạn ứng-xử với bọn trẻ con trong xóm. Bạn chẳng bao giờ thiếu lời khuyên-nhủ dành cho chúng, thế mà một số nhỏ trong bọn chúng lại toả ánh vượt xa cả gia đình chúng nữa, là khác. Có lần bạn có nói với Lara, con gái yêu của bạn, rằng: “Nếu con không thích các công-việc mình làm, thì đừng phấn-đấu nữa mà làm gì. Hãy cứ bước vào đó mỗi ngày, rồi chỉ cần làm phân nửa công việc thôi, là được rồi. Và, đó là cung-cách mà người ở Mỹ vẫn làm thế đấy”.

Tôi dám cá rằng: người từng dàn dựng nên chương-trình này thường vẫn sử-dụng lời tư-vấn của bạn để châm-chích cung-cách làm cha làm mẹ cách tuyệt-hảo mà lâu nay vẫn được cổ-suý. Điều này khiến một số cha mẹ đâm nghi-ngờ và lo-ngại cho khả-năng của họ nữa, ít ra, thì bạn cũng từng làm mẫu cho một ông bố tồi-tệ đến là thế. Bọn tôi đây vẫn thấy mình ở “trên cơ” của bạn rất nhiều. Còn nhớ, có lần bạn còn nói với vợ mình rằng: “Em à, em đừng làm thằng bé nhà mình nó nản-chí nam-nhi đấy nhé! Như như con chồn chui ống với những việc quan trọng hơn cả chuyện học hành, nữa là khác. Đó là điều tách bọn mình ra khỏi giống vật, ngoại trừ con chồn chui ống, thôi.”

Dưới đây, còn nhen-nhúm cả một chỉ-dẫn rất “bá-đạo” hơn thế nhiều, như câu nói mà bạn từng bảo với con mình: “Con à, nếu con thật sự muốn có thứ gì trên đời này, thì phải làm việc cho cật-lực để đạt được điều con muốn. Nay, thì hãy câm mồm lại! Kìa, họ đang công bố số lô-tô trúng giải độc-đắc kia kìa!...”

“Này bọn con trẻ, phải chăng bọn con vẫn muốn làm tốt hết mọi sự, chứ? Nhưng, tất cả sẽ thất-bại một cách thảm não, cho mà coi! Hãy học nơi đây bài học này, là: đừng bao giờ thử thời-vận như thế hết.”
“Nay ta muốn truyền cho các con ba điều ngắn ngủi, con cần phải giữ suốt đời mình. Thứ nhất, là: Hãy bảo vệ lấy chính mình! Thứ hai, là: Ý-kiến hay đấy, ông chủ à! Và, thứ ba, là: Cái đó giống như khi ta tới đó, rồi cũng biết thôi.”

“Này Bart, với 10 ngàn đô-la, ta sẽ trở-thành triệu-phú chỉ mấy hồi! Nghĩa là, ta có thể mua tất cả mọi thứ rất hữu sự, như: tình yêu! Đấy à nghen”

“Sách vở là những thứ vô-tích-sự, chẳng lợi lộc. Ta đây, lâu rày, chỉ đọc mỗi cuốn: “Hãy giết con chim nhại tiếng người! mà thôi; nhưng rồi sách-vở cũng chẳng mang đến cho ta ý-tưởng gì để giết những con chim nhại tiếng người kia ấy. Đúng rồi. Nó dạy ta, không chỉ có mỗi cách-thức phê-bình người khác qua màu da của họ..., nhưng bằng những gì tốt đẹp mà người ấy đem đến cho ta, thôi.”

Homer à,
Đôi khi tôi đây lại cũng nghĩ, rằng: lý do khiến con cháu của tôi chúng thích nghe lời bạn hơn cả tôi nữa, chỉ vì bạn chuyên môn tìm phương-cách nào dễ chịu để mọi người thực hiện, cho thoải mái. Trong khi đó, bọn tôi cứ buộc phải nói,đó cũng là thách-thức không nhỏ, đối với bọn trẻ. Thế đó, là công việc tôi phải làm. Và tôi đây, sẽ khiến bọn trẻ chúng nó chán ngấy cả tôi nữa, khi tôi chỉ thích dán mũi vào màn ảnh truyền hình hơn là lo chuyện giáo-dục bọn trẻ con. Nhưng tôi chẳng nề-hà gì khi phải cho chúng biết là: đi học về đến nhà, là phải bỏ bao bị xuống, sắn tay áo ra mà rửa bát dĩa, rồi tự tổ-chức sắp xếp hầu chuẩn-bị cho ngày mai lại lên trường, và làm bài tập ở nhà cho xong rồi cả nhà mới được xem chương-trình “The Simpsons” nửa tiếng, cũng không sao...” (xem Michael McGirr, A Letter to Homer Simpson, Australian Catholics số Summer 2014, tr. 8).

            Điều mà nhà mô-phạm Michael McGirr muốn nói với tay hài thời đại là Homer ở phim hoạt hoạ nhiều tập The Simpsons mỗi điều này: không biết tại sao nhà-giáo chúng tôi học bao nhiêu thứ trên đời, để rồi cố truyền lại cho đám trẻ nhà mình, mà sao bọn chúng chẳng thích thứ nào do bọn tôi đưa ra hết. Phải chăng: bọn tôi vẫn còn thiếu chất “hài” là cái hấp-dẫn nhất trên đời? Phải chăng đó là món thời-thượng cho mọi người được dễ sống chuỗi ngày đáng nản?
            Hỏi thế, khác nào trở về với câu của con trẻ từng đưa ra với cha cố bé ở nhà thờ hôm đó, rằng: Thưa cha/thưa cố, giữ đạo Chúa và đi nhà thờ hôm nay cũng là một thứ, phải không ạ? Và hôm nay đi nhà thờ có gì vui không mà sao người lớn cứ bắt con đi như thế tối ngày, vậy?        
Thật ra thì, câu hỏi của trẻ bé nghe qua cứ tưởng chỉ là chuyện của con trẻ, chẳng cần suy-nghĩ làm gì cho bận trí óc với tâm-can. Nhưng, thời đại hôm nay, nếu diễn rộng, có thể đó cũng là câu để đời, khiến ta suy-tư mà tự cật vấn. Cật và vấn, để rồi tự mình tìm ra câu trả lời cho thoả-đáng, rất hữu-dụng.
            Hỏi thế, có là hỏi nhau những câu hỏi rất thường-thức, trong Đạo/ngoài đời rất như sau: 

            -Danh hài nào là người mà bạn thích nhất, trên sân khấu cuộc đời?
            -Những gì trong đời làm ta cười vui, nhiều nhất? Bạn có giống thế không?
            -Tại sao cứ bảo: vui tươi/cười đùa là quà tặng mình tạo cho đời?
-Cười vào chính mình có là chuyện dễ làm hơn cười vào người khác?
-Hãy thử lấy ví-dụ thế nào là vui tươi/cười đùa dù xấu/tốt?
-Có bao giờ ta nghĩ: Chúa cũng hóm hỉnh, cười vui như con người?

Trả lời cho các câu hỏi này, nhiều vị cũng không ngại đưa ra thêm câu trả lời, rất để đời. Như, Đức Bênêđíchtô thứ 16 có lần nói: “Tôi tin một cách chắc-chắn rằng Thiên-Chúa của ta cũng đầy tính hóm-hỉnh, cười vui như mọi người. Ngài vẫn muốn mọi người coi mọi sự nhẹ nhàng, dễ chịu để còn sống” (x. Anne Rennie, The Life of the party,  Australian Catholics số Summer 2014, tr. 15).
Nhìn vào Kinh Sách, hẳn người người đều thấy rõ: Đức Giêsu cũng từng lân-la ăn uống với tất cả mọi hạng người, từ giới bê tha, thấp hèn, phường đĩ điếm, cũng đâu sao! Ngài chắc cũng là nghệ-sĩ rất đáng kể mới lôi cuốn cả ngàn người đến nghe Ngài giảng dạy đến độ bụng đói cồn cào mà vẫn cứ đi theo. Ngài còn có tài kể chuyện ngụ ngôn, nhẹ nhàng, dễ nghe khiến giới “mày râu nhẵn nhụi” như Kinh Sư Biệt Phái, phải khó chịu?
Đức Giêsu phải là người vui vẻ hết mình mới dám “khuyến mại” về Vương Quốc Nước Trời của Ngài đã gần kề? Mới khuyên bảo được mọi người hãy hối cải, đổi đời và trỗi dậy làm cuộc sống mới. Ngài phải là Đấng có tài ăn nói cuốn hút mọi người quyết tâm đi vào cuộc sống triệt-để có hồi tâm, canh cải để “chui qua lỗ kim nhỏ” của Nước Chúa, đầy vui tươi?
Trả lời được các câu vấn-nạn cho đời mình như thế, ắt hẳn người người sẽ hồi-tâm biến đời mình thành những chuỗi ngày vui có bạn bè vây quanh, mỗi ngày đều là ngày của Chúa, chứ?
Và, khi người người đi Đạo đã có thể biến cuộc sống mỗi ngày của mình thành những ngày vui có Chúa, có anh có em ở với mình rồi, thì khi ấy tha hồ mà kể cho nhau nghe những câu truyện tưởng rằng đứng-đắn, khó khăn, nhưng dễ cười như truyện đời được kể, như sau:

“Tôi và bạn gái tôi đã hẹn hò được hơn một năm. Và, chúng tôi đã quyết-định đi đến hôn-nhân trong thời-gian tới. Mọi thứ đều tươi đẹp đối với tôi trong thời-gian này, chỉ duy có một điều làm tôi phân tâm, đó là... cô em gái dịu dàng, xinh đẹp của vị hôn-thê của tôi.

Cô em vợ tương lai của tôi năm nay 22 tuổi, có “gu” ăn mặc gọn gàng, lại rất “chuẩn” về tính đài-các, nết na, lẫn sắc đẹp. Ngoài những điều ấy ra, cô còn tỏ ra rất dễ chịu với mọi người kể cả những vị rắp ranh làm anh rể của cô nữa.
  
Một ngày đẹp trời nọ, cô em vợ tương-lai bé bỏng đẹp xinh của tôi đã gọi điện-thoại cho riêng tôi và mời tôi đến nhà để kiểm-tra giấy mời và thiệp báo hỷ cho đám cưới của tôi và chị cô. Khi tôi đến, thấy chỉ có mình cô ở nhà. Cô đến gần bên tôi rồi thì thầm đôi điều rằng: chính ra cô cũng rất yêu tôi và không thể cưỡng lại được tình-cảm riêng-tư của mình... Cô còn nói: cô muốn gần-gũi tôi dù chỉ một vài phút phù-du trong đời, trước khi tôi làm đám cưới với người chị của cô.

Lúc ấy, tôi không thốt ra được lời nào và càng lung-túng hơn nữa, khi cô nói: “Bây giờ em lên phòng riêng của em trên gác, nếu anh không ngại thì hãy lên đó với em một chốc lát, nhé.

Tôi đứng im như pho tượng gỗ và nhìn cô thoăn thoắt bước lên gác, trước một mình. Tôi cứ đứng đó một lúc, không biết phải làm gì cho xứng hợp với thân-phận mình. Cuối cùng, tôi quyết-định thẳng bước tiến ra cửa trước. Tôi mở cửa và đi thẳng đến chiếc xe của mình, dự tính lấy cái gì đó làm bằng, cho xong.

Vừa quay lại, thì lạ chưa, trước mắt tôi là cả gia đình nhà vợ chưa cưới của tôi đang đứng đó vỗ tay cười. Với đôi mắt hơi rơm rớm nước mắt và bằng một giọng nói xúc động, bố vợ tương-lai của tôi bảo với tôi, rằng: “Gia đình ta cảm-thấy rất vui khi con đã vượt qua được bài kiểm-tra nhỏ của ta. Ta sẽ không thể tìm đâu ra được một người rể tốt lành và xứng-đáng hơn cho con gái ta. Chào mừng con đến với gia-đình!” Tôi đã vượt qua được bài “kiểm” trước đám cưới. Thật hú vía và ... tôi quả là người may mắn nhất trong đời. Đời của con người cố sống tốt lành với... nhà vợ!” (trích bài chia-sẻ tâm-tình của một người trong buổi “Thăng Tiến Hôn-Nhân”, rất tận tình).

Truyện kể ở trên cũng “tếu”, cũng “buồn cười” và cũng “bé cái lầm” nhưng không “buồn” và “cứng” như bao câu truyện kể của đấng bậc giảng dạy vào các Tiệc Thánh Thể ở nhà Đạo.
Nói cho cùng, suốt đời đi Đạo nghe giảng dạy mà không vui tươi, cười đùa thì cũng chưa hẳn là đã tuân theo lời dặn dò của bậc thánh-hiền cho đúng cách, khi thánh-nhân từng bảo ban:

“Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng,
cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân,
và chuyên cần cầu nguyện.
Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh
đang lâm cảnh thiếu thốn,
và ân cần tiếp đãi khách đến nhà.”
(Rm 12: 12-13)     

Nói cho cùng, thì: để ra một đời đi đạo, mà chẳng có được giây phút vui tươi, bông đùa, cười giỡn thì cũng uổng. Uổng, cho những tháng ngày có cầu mà không nguyện, cũng không biết. Vậy thì, hỡi bạn và tôi, ta hãy vùng đứng, trỗi dậy mà hát lên những câu ca nhè nhẹ, ngăn ngắn có chút vui, như sau:

“Khi nắng chiều hôm ngả chân đồi
Lòng bâng khuâng em trông ngóng xa xôi
Mơ thấy nhạc vang lừng khúc khải hoàn
Tim rộn ràng tưởng bóng anh về (anh đã về).”
(Văn Phụng – bđd)

Hát thế rồi, bạn và tôi, ta cứ ra đi mà truyền-bá những điều vui đi Đạo, để người người mãi rồi sẽ phấn-chấn với tháng ngày nguyện cầu rất chuyên-chăm. Hạnh đạo.

Trần Ngọc Mười Hai
Và một quyết-tâm
Cũng nhẹ nhàng như thế.
Để sống đạo.