Sunday, 2 February 2014

“Đêm qua ra đứng bờ ao,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 5 mùa thường niên Năm A 09-02-2014

“Đêm qua ra đứng bờ ao,”
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai.”
(Văn Phụng – Đêm Buồn)

(Lc 2: 21)
            Nếu bạn và tôi, ta thử tưởng tượng một tình huống trong đó có đấng bậc anh-hùng nọ xuất thân là người Do-thái nay trở về thăm quê nhà vời vợi, bèn “ra đứng bờ ao trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ”; thế rồi lại còn cất tiếng hát những câu lạ kỳ, như sau:     

“Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ.
Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà.
Ngôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn.
Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.”
(Văn Phụng – bđd)

Đã “buồn trông chênh-chếch sao Mai”, lại thấy nhớ thứ gì đó, ông bèn ới gọi: “Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ”, nhớ như thế không chỉ mỗi “Ngôi sao Tinh Đẩu” mà thôi, nhưng là nhớ rất nhiều thứ/nhiều chuyện hơn nữa. Nhớ cả chuyện “Tào Khê nước chảy, vẫn còn trơ trơ”, và những chuyện luật lệ căn bản để trở thành người Do-thái chánh hiệu, như nhận định của đấng bậc vị vọng là thày dạy, hôm nào khi giảng giải:

“Ngay từ đầu, thánh Phaolô đã được hai thánh tông đồ hàng đầu là Phêrô và Giacôbê đồng ý về nhiều chuyện; chí ít là chuyện không nên buộc các tân tòng vừa vào Đạo phải qua thủ tục ‘cắt bì’...

Có thể, thánh Giacôbê lúc đầu cũng chọn lập trường thứ hai, tức: người ngoài Đạo muốn trở lại, buộc phải qua thủ tục ‘cắt bì’ vì khi trước họ cũng đâu buộc phải chịu “cắt bì” khi sống chung với người Do-thái cho đến lúc cuối, trước khi vào Đạo...”
“Cả bên trong nội bộ Hội thánh ở Galát cũng như ngang qua các vị trước đây từng gia nhập đoàn/nhóm của thánh Giacôbê, khi đó đã thấy mọi người đều cổ võ lập-trường chủ-trương rằng: tân-tòng nào vừa hồi-hướng trở về, đều phải thông qua tục lệ “cắt bì”, như mọi người. Thế nên, chuyện dễ thấy nhất, là: sự việc ở đây đã đính kết với thói tục địa phương. Nhiều người hẳn sẽ hỏi: nếu ta cổ võ những chuyện như thế, thì tại sao ta lại có thể hội nhập với nền văn hoá sở tại được? Nhiều vị lâu nay từng gây khó khăn hoặc trực tiếp khuấy động ở nhiều vụ –tức các bạn đạo thuộc nhóm Giacôbê- đã đến Galát sau thời gian thánh Phaolô lưu lại nơi đây, lần chót. Họ được coi như tín hữu Đạo Chúa gốc Do-thái-giáo. Các vị chủ trương áp dụng luật Torah khá triệt để, và cả đến tục “cắt bì” cũng như luật ăn đồ cúng kiếng đối với người ngoại giáo vừa trở lại, nữa...”
Vấn đề đặt ra chẳng là chuyện thứ yếu, ít quan trọng. Nhiều vị –nếu không muốn nói là hầu hết- là thành viên của nhóm bạn đạo ở Galát trước đây kính sợ Chúa, tức những người ngoài Đạo nay trở thành dân con Thiên Chúa của Israel, nhưng lại không muốn thành người có gốc Do-thái-giáo vì họ chẳng ưa thích gì tục “cắt bì”, cũng vì thế. Họ là người được thanh tẩy là cốt để dấn thân vào với cộng đoàn dân con của Chúa nhưng lại không muốn chịu phép “cắt bì”, mỗi thế thôi. Hỏi rằng: như thế phải chăng họ vẫn là người ngoài Đạo? Họ có là con cháu Abraham cùng đấng thánh tổ phụ không? Họ có thực sự chung cùng một Giao ước lành thánh với Chúa chứ?” (Xem Lm Kevin O’Shea, Phaolô, Vị thánh của mọi thời, nxb Tôn giáo 2013, tr. 182-188).
Tiếp tục tưởng tượng người hùng Do-thái-giáo nói trên, giống bất kỳ tân-tòng nào vừa mới nhập Đạo Chúa, thời tiên-khởi cũng sẽ tự hỏi xem thói-tục “cắt bì” là gì, mà ghê gớm thế?
Giáo dân tân-tòng hôm nay, có thể sẽ không buộc phải như thế nữa. Nhưng, khi tiếp cận Kinh Sách của Đạo Chúa, hẳn cũng có những lần giáo dân của ta cứ tự hỏi mình/hỏi người những câu, giống dân con nhà Đạo ở Sydney, hỏi “ông” cha ở Tuần Báo The Catholic Weekly những câu tương-tự, như sau:

“Thưa cha,
Con nhớ: khi xưa phụng vụ Đạo mình cũng để ra một ngày đặc biệt như ngày Đầu Năm Dương Lịch để cử hành thánh lễ kính nhớ việc Chúa chịu phép “cắt bì”. Nay, ngày ấy được thay thế bằng lễ “Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa”, rất long trọng. Vậy hôm nay, con kính hỏi cha xem lý do tại sao Đạo Công giáo ta từng tổ chức thánh-lễ long trọng là thế, nay lại bỏ, như thể tức là Hội thánh của ta không còn muốn nhắc nhở gì chuyện ấy hết, sao?” (Câu hỏi của một người ở Sydney, biết rất ít về thần học và lịch sử Đạo).

Là thần dân đi Đạo mà lại nói “biết rất ít về thần học và lịch sử Đạo” nhưng nhớ nhiều về phụng vụ vào dạo trước, thì chỉ có thể là dân “ta ru” tức tu ra mà thôi. Nhưng, không sao. Tu ra hay tu vào, cũng vẫn là tu miễn đừng “tu hú” hoặc “tu huyền tù” ở thế giới tục trần, dần dần rời xa Đạo là được. Vậy thì, ta cứ thử nhín chút thì giờ mà xem đấng bậc vị vọng có trọng trách giải đáp thắc mắc của tuần báo trên giải quyết ra sao. Và, giải quyết là giảng giải và nhất quyết rằng:

“Đúng như anh/chị nói, khi xưa vào ngày Đầu Năm Dương Lịch, Hội thánh có thói quen cử hành Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì. Đây là ngày giờ rất thích hợp cho sự kiện xảy ra cách đích thực. Bởi lẽ sự kiện ấy xảy ra đúng một tuần lễ sau khi Chúa sinh ra đời đúng theo luật của tất cả bé trai Do-thái đều phải làm thế và khi ấy bé sẽ được đặt tên như mọi người. Thánh-sử Luca mô tả việc ấy rất rõ như sau:

“Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.” (Lc 2: 21)

Việc Chúa chịu phép cắt bì có nguồn gốc và ý nghĩa tuợng-trưng cũng rất hay. Tục lệ này bắt nguồn từ thời tổ phụ Abraham, tức chung quan niên-đại 1900 trước Công nguyên. Sách Sáng Thế Ký có ghi lại sự kiện khi ấy Abraham đã 99 tuổi, được Chúa lập Giao-ước hứa với ông là sẽ cho ông sinh con đàn cháu đống và ban cho đất Canaan làm sở hữu đến mãn đời. Cùng lúc ấy, Ngài đổi tên ông từ Abram thành Abraham (x. Stký 17: 1-8). Ngài còn dạy ông rằng:

“Đây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì.11 Các ngươi phải chịu cắt bì nơi bao quy đầu: đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với các ngươi.12 Sinh được tám ngày, mọi con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ này qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi các ngươi.13 Buộc phải cắt bì nô lệ sinh trong nhà cũng như nô lệ mua bằng bạc. Giao ước của Ta ghi dấu trong xác thịt các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cửu.” (x. Stký 17: 10-13)  

Kể từ đó, coi như dấu hiệu của Giáo ước giữa Chúa và loài người, tất cả các bé trai đều phải đem “cắt bì” vào ngày thứ 8 sau khi sanh; và việc này trở thành khuôn khổ để đi vào Giáo ước giống như việc người Kitô-hữu hôm nay lĩnh-nhận ơn thanh tẩy, vậy. Đến thánh Phaolô cũng lấy làm kiêu-hãnh về tục-lệ này của dân Do-thái khi thánh-nhân bảo: tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu”.(Phil 3: 5) Xem như thế, thì “cắt bì” làm cho người Do-thái khác với dân ngoại, tức những người chẳng bao giờ chịu tuân theo tục-lệ này hết.    

Vì thế nên, việc Chúa chịu phép “cắt bì” chứng tỏ Ngài là người thật, được sinh ra từ người nữ thuộc giống giòng Do-thái là xứ sở Ngài hạ sinh để cứu vớt họ. Chúa tuyển chọn dân riêng của Ngài như sách Cựu ước đã chứng mình là để chuẩn bị con đường cho Con Một Ngài Nhập thể làm người là Đấng Mêsia đã được xức dầu ngõ hầu giải-thoát mọi người khỏi mọi tội lỗi họ mắc phạm và kiến tạo Giao ước mới với họ một cách dứt khoát.

Việc Chúa chịu phép cắt bì còn có giá trị tượng-trưng rất lớn. Đó là việc Ngài chấp-nhận đổ máu Ngài lần đầu tiên song song với việc tên lính hầu La Mã đã đâm thủng “nương long” Ngài khi Ngài kêu “khát nước” trên thập tự/khổ giá (x. Ga 19: 34). Việc này còn cho thấy trước giòng thanh-tẩy nhờ đó mọi Kitô-hữu cũng được chung phần đi vào với Giao ước của Chúa. Về việc này, thánh Phaolô còn viết thêm, như sau:

“Trong Người, anh em đã được chịu phép cắt bì, không phải phép cắt bì do tay người phàm, nhưng là phép cắt bì của Đức Ki-tô, có sức lột bỏ con người tội lỗi của anh em.12 Anh em đã cùng được mai táng với Đức Ki-tô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết.(Col 2: 11-12)

Khi Chúa chịu phép cắt bì, Ngài được đặt tên bằng danh-tánh mà thần-sứ đã báo cho cả thánh Giuse (Mt 1: 2) lẫn Đức Mẹ nữa (Lc 1: 31). Danh-tánh Chúa Giêsu có nghĩa: Ngài là Đấng Cứu Thế, cho nên thần-sứ mới báo cho thánh cả Giuse rằng: Trẻ này sẽ được gọi là Giêsu, bởi “Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ". (Mt 1: 21)

Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì khi xưa được cử-hành vào ngày thứ 8 sau Giáng sinh, tức đúng nhất vào ngày 1 tháng Giêng Dương lịch, kể từ các thế kỷ đầu đời. Lễ Giáng Sinh lần đầu được mừng vào ngày 25 tháng Chạp sớm nhất vào thế kỷ thứ 4. Bởi lẽ, ngày 1 tháng Giêng là ngày đầu năm mới của Tây Lịch, nên Lễ mừng dành cho Kitô-hữu khi ấy đụng phải lễ hội của người ngoại giáo cũng mừng cùng một ngày, như người đời vẫn giữ tập-tục này cho đến hôm nay. Theo nghi-thức của người Gals thì Lễ Cắt bì khởi sự được cử hành từ thế kỷ thứ 6 và theo lịch của người sắc tộc Byzantin là vào thế kỷ thứ 8 và thứ 9. Từ thế kỷ thứ 7 ở Rôma, mọi người ở đây cũng có thói lệ mừng ngày Bát Nhật Giáng Sinh cũng vào dịp ấy.

Dù lễ này được gọi là Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì, nhưng nội dung phụng vụ thánh lễ lại bao gồm nhiều điều nói đến Đức Mẹ. Cho đến năm 1960, lịch Công giáo La Mã vẫn có thói quen cử hành lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì vào ngày 1 tháng Giêng dương lịch và Bát Nhật Giáng Sinh trong cùng một ngày như thế. Sau lần duyệt xét lịch Đạo từ năm 1960, ngày 1 tháng Giêng được gọi một cách đơn giản là Lễ Bát Nhật Giáng Sinh, thôi. Nhưng cuối cùng thì, theo Lịch Công giáo La Mã ấn hành từ năm 1969, lễ này trở thành Lễ trọng gọi là Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng vẫn được qui chiếu làm Lễ Bát Nhật Giáng Sinh. Điều này phù hợp với sự việc ta cử hành mừng kính vai trò làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Mẹ rơi vào đúng Bát Nhật Giáng Sinh, khi ta cử hành Sinh Nhật của Con Thiên Chúa làm người. Và thêm nữa, lễ mừng Tên thánh của Chúa Giêsu được cử hành vào ngày 3 tháng Giêng mỗi năm, như sự thường.” (xem Lm John Flader, The Circumcision of Christ, Question Time, The Catholic Weekly 29/12/2013)

Xem thế thì, “Cắt Bì” hay cắt “da qui đầu” theo cổ lệ của người đi đạo Do-thái-giáo, là như thế. Như thế, tức như thể: mỗi khi gia-nhập nhóm hội/đoàn thể nào đó ở xã-hội, người người đều thấy người gia-nhập buộc phải tuân theo một số qui-định hoặc qui-luật nào đó, cho thuận lợi. Thuận lợi càng nhiều, thì xã-hội ấy/đạo-giáo ấy càng có cơ phát-triển và nổi tiếng.
Tuy nhiên, càng nhiều luật-lệ hoặc càng bó buộc nhiều vào qui-định này khác, thì đạo ấy/xã-hội nọ lại sẽ có cơ bị nhiều người có lập-trường hoặc quyết-tâm đối chọi, rồi từ từ cũng sẽ từ-bỏ hoặc lơ là cả luật-lệ hoặc tục-lệ, giống như thế.
Tương tự như thế, vừa qua, toà thánh La Mã lại đã đề cao cảnh-giác một số tục-lệ được nhiều người ở trời Tây “đổ xô” hoặc rủ rê nhau tìm đến với lý lẽ để duy trì lòng tin/yêu hoặc “lòng đạo” xưa nay vẫn có. Lời cảnh-báo, có ghi rõ như sau:

“Bộ trưởng Thánh Bộ Tín Lý đã cảnh-báo người Công-giáo Hoa-Kỳ về việc các vị này hay tham dự các lễ lạy mừng kính điều mà nhiều người cho rằng Đức Mẹ cũng đã hiện ra ở Medjugorje, xứ Bosnia-Herzegovina.

Đức Tổng Giám Mục Carlo Maria Vigano, sứ thần Toà thánh, có viết cho ngài Ronny Jenkins, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ và nhắc nhở ông về chuyện Đức Mẹ hiện ra ở đây lâu nay vẫn chưa được Toà Thánh La Mã xác-chứng coi đó là việc đúng thực.

Sau đó, Đức Tổng Giám Mục Vigano có viết trong thư luân-lưu của ngài những điều như sau: “Hàng giáo sĩ cũng như giáo-dân của ta không được phép tham-dự bất cứ buổi họp mặt, hội-thảo, mừng kính công-khai nào có dụng đích khiến mọi người tin rằng việc Đức Mẹ hiện ra ở nơi đó, là sự việc được Hội thánh công nhận”. Thư nhắc nhở của Đức Tổng Giám Mục Vigano cũng được gửi đến Đức Tổng Giám Mục Gerhard Muller, Chủ Tịch Thánh bộ Tín Lý trong thư ghi rõ: “đến nay chưa có khả năng để cam kết rằng có sự việc Đức Mẹ hiện ra ở đây hoặc Mẹ có mặc-khải điều gì rất siêu nhiên”.

Cùng lúc Toà thánh La Mã nói rằng: các giáo-phận không được phép tổ chức bất cứ cuộc hành-hương nào đến Medjugorje, nhưng vẫn thêm rằng: người Công giáo vẫn có tự do đến thăm thị trấn này và/hoặc đến đó mà nguyện cầu và có điều nữa là: Giáo phận Mostar-Duvno và thủ phủ do các tu sĩ Dòng Phanxicô trông nom vẫn có bổn phận trông nom chăm sóc về mục vụ cho giáo dân ở đây.” (xem Bản tin có tựa đề: Don’t attend Medjudorje meetings, Vatican warns,  The Catholic Weekly 17/11/2013 tr. 4)             

Hôm nay, bần đạo cũng có dịp “ra đứng bờ ao” nào đó, nhưng không là ao nhà, mà là ao người mãi tận xứ Ba-Tư cứ suy-tư rất ư là vô tư-lự rất nhiều giờ về câu nói của cụ hướng-dẫn-viên du lịch người Iran đã nói trong lúc diễn-giải lịch-sử của đất nước từng được gọi là “ngàn đêm lẻ xứ Ba-Tư” rằng: phụng-vụ trong Đạo Công-giáo ta cũng đã vay mượn một số tập tục của đạo thờ thần lửa khi xưa gọi la Zoroastrian...”
Tiếc một điều, là vị ấy không đan-cử trường hợp nào làm chứng-cứ hỗ trợ lời khẳng định của mình. Nay, khi ra đứng bờ ao của xứ lạ quê người, bần đạo lại cũng nhớ có lần bậc thày dạy Kinh thánh từng nói Khi xưa các bậc thánh-sử của Đạo mình khi viết Kinh-thánh cũng có đưa một vài tập tục dân gian ở đời vào bài viết của mình. Và sau này, Hội thánh dùng đó đưa vào Cựu Ước và một số vào Tân-ước. Lại rất tiếc, hôm ấy cha giáo Kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn không nói rõ đọan ấy là đọan nào.
Nay suy nghĩ nhiều bên bờ ao, hôm nào, bần đạo đây lại quay về bài ca trên mà hát thêm:

“Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ.”
(Văn Phụng – bđd)

“Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ” chắc chắn không phải là và cũng không giống như câu nói của ai đó vẫn cứ bảo mình “trông gà hóa quốc”. Hôm nay đây, bần đạo cũng đã trông và thấy, một bài thơ rất “mờ mờ” của ai đó, có giòng chữ như sau:

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui.
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi.
Lợi danh như bong mây chìm nổi.
Chỉ có tình thương để lại đời.
Còn gặp nhau thì hãy cứ thương.
Tình người muôn thuở vẫn còn còn vương.
Chắt chiu một chút tình thương ấy.
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường...”
(x. thơ Tôn Nữ Hỷ Khương tìm gặp trên điện thư và trang mạng, ở đâu đó)

Bần đạo nhớ: bài thơ trên cứ ghi thêm các câu có những vận như: “hãy cứ chơi”, “hãy cứ cười”, “hãy cứ chào”, “hãy cứ say” và “hãy cứ đi” ... để rồi người luận thơ kết luận bằng một ý nghĩ vẫn cứ bảo: “Khi vui, luôn có nhau trong tình tri kỷ. Lúc buồn, cũng có nhau trong tình thương ái tương thân, nói với nhau những lời yêu thương dịu ngọt, cho nhau những nụ cười, những niềm vui, những ngọt bùi, để khi theo quy luật tự-nhiên, luật vô thường, mọi vật đều có thể mất đi, thì “chỉ có Tình Thương để lại đời”... (người luận thơ ký tên: GS TS Trần Văn Khê)
Trong giòng chảy suy tư giống như thế, bần đạo lại bắt gặp câu truyện của ai đó có nhan đề “Họa và Phúc” do bạn bè gửi đến, như sau:

“Có một vị quốc vương, khi ra ngoài đi săn không may bị đứt một ngón tay, mới hỏi vị đại-thần thân-cận nên làm thế nào? Đại-thần nói với giọng lạc-quan nhẹ nhõm: Đây là việc tốt! Quốc vương nghe vậy giận lắm, trách ông hí-hửng khi thấy người khác gặp nạn, vì thế ra lệnh nhốt ông vào đại lao.

Một năm sau, quốc vương lại ra ngoài đi săn, bị thổ-dân bắt sống, trói vào đàn tế, chuẩn bị tế thần. Thấy phù-thủy đột nhiên phát hiện quốc vương khuyết mất một ngón tay, cho rằng đây là vật tế-thần không hoàn chỉnh, bèn thả quốc-vương ra, thay vào đó lấy viên đại-thần tùy-tùng làm vật hiến-tế.

Trong niềm vui thoát nạn, quốc vương nghĩ tới viên đại thần vui vẻ từng nói rằng: mất ngón tay là việc tốt, liền ra lệnh thả ông, và xin lỗi vì đã vô cớ bắt ông chịu nạn một năm trong ngục tối. Vị đại thần này vẫn lạc quan nói: “Cái họa một năm ngồi tù cũng là việc tốt, nếu như tôi không ngồi tù, thì thử nghĩ vị đại thần theo người đi săn mà bị lên đàn hiến tế kia sẽ là ai?

Bởi vậy, việc tốt chưa chắc đã tốt hòan tòan, việc xấu cũng chưa chắc xấu hoàn toàn. Mọi việc trên đời đều có thể trở thành tốt xấu. Người bi quan mãi mãi nghĩ đến mình chỉ còn một triệu đồng mà buồn lo; người lạc quan vẫn cảm thấy hạnh phúc vì mình vẫn còn mười ngàn đồng...”

Họa là gốc của Phúc. Phúc là gốc của Họa. Họa-Phúc luân chuyển và tương sinh. Sự biến đổi ấy không thể nhìn thấy được, chỉ thấy cái kết quả của nó. Hai điều Họa-Phúc cứ xoay vần với nhau, khó biết được, nên khi được Phúc thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái Họa sẽ đến, khi gặp điều Họa thì cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh-thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, nên cần giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm, trong cuộc sống...” (trích bài viết của một người không ký tên, trên mạng về “Họa & Phúc”)

Bần đạo đây, nay trích dẫn đôi điều ở trên là để phiếm khi gặp vấn đề này khác, như: “cắt bì”, “tri kỷ”, “họa-phúc” xuất hiện ở bài thơ, bài báo lẫn câu nhạc đây đó giúp mình có được những suy nghĩ cho riêng mình. Rồi từ đó, hiên ngang sống đời còn lại để cùng với bạn đạo khác thực hiện một vài động-tác gọi là “tái rao giảng Phúc Âm” theo cương vị của mọi người như đề nghị của Đức đương kim Giáo Hòang mới đây từng đề xuất.
Nghĩ thế rồi, bần đạo bắt chước người nghệ sĩ trên, dù có hát như sau, nhưng không buồn:

“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá,cá lặn; trông sao, sao buồn.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai.”
(Văn Phụng – bđd)

Những mong rằng: mối nhện ấy không là mối tơ vương của nhện buồn, nhưng lại là mối nhện rất thân thương của tình thương yêu trầm lắng, vẫn cứ giăng.

Trần Ngọc Mười Hai
Dám học hỏi nhiều điều
Từ chú nhện giăng tơ
Lẫn mạng lưới tình thương
Vẫn đang chờ. 

              
 







Tuesday, 28 January 2014

“Đêm nay khi em đi rồi,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 4 mùa thường niên Năm A 02-02-2014

Đêm nay khi em đi rồi,”
Đường khuya riêng một mình tôi.
Đêm nay khi em đi rồi
Tôi về đếm bước lẻ loi
.”
(Nguyễn Ánh 9 – Ai Đưa Em Về)

(Lc 2: 1-2)                  
Nếu câu hát trên đây, là một khẳng định nào đó gửi đến đấng bậc chủ quản ở trên cao, hẳn rằng câu trả lời cũng rất khó. Khó, không vì sự kiện người Em ấy hoặc người Anh đây nay đi rồi, mà vì sự thể cho thấy bọn tôi ở lại cũng đơn côi, sầu buồn, khó sống? Buồn, vì những lo rằng: tương lai mai ngày chẳng biết sẽ ra sao? Xấu/tốt thế nào? Bền đỗ không, vv...?
Dẫn nhập dài dòng như trên, có lẽ là câu nhập và dẫn cũng rất mạnh, cốt bảo rằng: vào tháng ngày hôm trước, khi dân con Đạo Chúa nhận được tin tức rất dị-thường cho biết: Đức Bê-nê-đích-tô 16 đã quyết-định từ-nhiệm chức-vụ tối-cao ở nhà Đạo, thì: ngay khi ấy, đã có bạn đạo của bầy tôi đây, lại nhớ đến tình-huống hôm nào của riêng mình, rồi áp dụng chuyện chung vào lời hát ở câu tiếp, rất da diết như sau:

“Người yêu ơi trong tình muộn!
Người yêu ơi trong tình buồn!
Trọn tình yêu ta đã cho nhau.
Hãy quên niềm đau.
Thời gian ơi xin dừng lại!
Thời gian ơi xin dừng lại!
Cho đôi tình nhân.
Yêu trong muộn màng.
Đừng khóc ly tan.”
(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Thật ra, có ới gọi tình nhân hay tình bạn thân đến như thế, thì: lời ca trên so với tình hình nhà Đạo mình, khi ấy, cũng chẳng có gì phải hát thế. Nhưng hôm nay, sau “9 tháng 10 ngày” ngồi nghĩ lại mà suy về sự thể xảy ra trong Đạo, hẳn bạn đạo và bầy tôi đây, ta thấy cũng khác nhiều.
Nhiều đấng bậc nhà Đạo, lâu nay tuy tài giỏi và thánh-thiện, nhưng khi đã rũ áo ra đi, chắc chắn sẽ có vị khác đến nối tiếp con đường do Hội thánh đặt ra, có khi còn tốt đẹp hơn trước cũng rất nhiều. Thế nên, bọn tôi đây công nhận rằng: với Hội thánh, Thần Khí Chúa vẫn không ngừng hoạt động hầu đỡ-nâng thánh Hội mình, vào mọi lúc.
Thế đó, là tình hình của Hội thánh rất Công giáo, ở đây/bây giờ. Chí ít, là khi Đức Giáo Tông tân-cử lại là đấng bậc tươi mát, cởi mở và sung sức. Tươi và sung, về nhiều thứ. Mới và cởi, về nhiều sự. Chí ít, là những thứ và những sự được báo đài/truyền thông đã và đang bình luận cũng khá nhiều. Có vị lại đã hứng chí hát thêm đôi câu ghi bên trên, như thể bạn mình đã tìm ra lời giải-đáp cho tình hình cụ-thể, mà rằng:
    
“Đêm nay tôi đưa em về.
Đường khuya sao trời lấp lánh.
Đêm nay tôi đưa em về.
Mắt em sao chiếu long lanh.
Đêm mai ai đưa em về.
Mình em trên hè phố vắng.
Đêm mai ai đưa em về.
Mắt em lệ ướt long lanh.”
(Nguyễn Ánh 9 – bđd

Hoặc:
  
“Đêm mai không ai đưa về.
Người ơi xin đừng hờn dỗi.
Đêm mai cô đơn đi về.
Xin người hãy nhớ tình tôi.”
(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Quả thật, hôm nay, một bạn đạo khác của bần đạo lại dõng dạc tuyên bố những điều rất “quá sức mình”, rằng: giả như ai đó cho phép bạn so sánh và bình “loạn” về tình-hình rất riêng của đấng bậc “chóp bu” của Đạo, thì bạn ấy sẽ có giòng-chảy tả cảnh/tả tình, tả cả thế-thái nhân-tình thời hôm nay, luôn cho tiện.      
Vâng. Có thể là như thế, với người đời. Có thể sẽ như vậy, với chốn tịch-liêu sầu buồn của nhà Đạo hôm trước, nay có khác. Khác ở chỗ: nay lại thấy xuất hiện Đấng bậc Chủ quản thật siêu-đẳng khiến dân con mọi người còn nhớ: ngài vốn dĩ một thân một mình, dám đưa lưng ra mà gánh chịu cả một giáo hội trong tình trạng khá rối rắm cả trong lẫn ngoài, khiến người người rồi sẽ tung hô ngài bằng danh xưng hiền-từ, lành thánh rất “Phanxicô”.
Chẳng thế mà, vừa qua, nhiều vị ở đâu đó lại cũng tưng-bừng “bốc” lên nhiều lời tụng-ca/xưng hô coi ngài là bậc vĩ-nhân hiền-từ ít thấy vào thời cách mạng truyền thông/vi tính, như tin tức từng đăng tải như sau: 
 
“Tạp chí Time vừa công bố Đức Giáo-Hoàng Phan-xicô là “Nhân Vật Trong Năm 2013” và ca ngợi ngài là tiếng nói lương-tâm mới cho toàn-thể thế-giới...

Bà Nancy Gibbs, chủ-bút báo Time, công bố về sự bình-chọn như sau: “Dựa vào sự việc ngài đã đưa chức-vụ giáo-hoàng ra khỏi chốn cung-điện mà đi vào các đường phố, đã quyết-tâm đưa một Giáo hội lớn nhất thế-giới đối-diện với những nhu-cầu sâu-xa nhất của nhân-loại và đã cân bằng giữa sự phán xét với lòng thương xót, Đức Thánh Cha Phanxicô là “Nhân vật Trong Năm 2013 của báo Time.” (xem Trần Mạnh Trác, Phản ứng trước việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô là Nhân Vật Trong Năm của báo Time, Vietcatholic 12/1/2014)

Xem thế thì, thế giới ta đang sống, nay có thêm nhận-định rằng: chỉ trong vòng có hơn 9 tháng trời vỏn vẹn, thế giới nay thấy xuất-hiện một nhân-vật lỗi-lạc nhất năm 2013. Nói thế có nghĩa: đức “thánh-là-cha” của Đạo, đã có tất cả và là tất cả, tự bao giờ.
Góp giọng cùng với báo đài/truyền thông khắp nơi, riêng tại Úc đã thấy đấng bậc vị vọng cấp cao ở Sydney, cũng cùng cương vị Tổng Giám Mục mang tên “George” lại đã tham-gia ý-kiến tỏ-bày về sự lỗi lạc của “đức-thánh-là-cha-Phanxicô” bằng giọng nhẹ nhàng, rằng:

“2013 là năm tuyệt vời đối với người Công giáo ở khắp nơi. Tháng hai năm này, lần đầu tiên kể từ 1294 đến giờ, ta lại thấy một Đức Giáo Hoàng ở tuổi 85 nhất-quyết từ-nhiệm chức-vụ tối-cao trong Giáo hội.

Vào dạo đó, Đức Bê-nê-đích-tô 16 có nói rằng: sức khoẻ của ngài không còn thích-hợp để dẫn-dắt một Giáo-Hội tầm cỡ hơn 1 tỷ hai trăm triệu thành-viên nữa. Ít ngày sau, Mật-hội Hồng-y đã bầu Đức “Tổng” George Bergoglio của Argentina, một sĩ-tử Dòng Tên tròm trèm 76 tuổi đời chọn danh-tánh thánh Phanxicô Assisi chứ không chọn thánh Phanxicô Xaviê của bổn Dòng làm danh-xưng chính-thức cho tên gọi Giáo Hoàng của ngài. Nói tóm lại, ngài là tu-sĩ Dòng Tên đầu tiên và cũng là vị giáo chủ đầu đời của Đạo muốn mọi người gọi mình bằng tên tục nhẹ nhàng của vị thánh hiền-lành, khiêm hạ nhất trong hàng ngũ các thánh nam nữ, là thế.

Là linh-mục Dòng Tên từng tuyên-hứa sống đời nghèo-khó, ngài đã nghiêm chỉnh giữ lời thề kể từ ngày thụ-phong linh-mục và suốt thời gian làm Tổng Quản thành Buenos Aires, nước Argentina. Ngài không thích sống trong lâu-đài quyền quí, và chẳng muốn ở lại mãi trong phòng-ốc cao sang dành cho các Giáo-hoàng đương-nhiệm; nhưng, lại ưa dùng nơi đó làm chốn tiếp-tân các vị thượng-khách từ xa đến viếng toà thánh La Mã. Và, ngài chọn sống trung-thực với quyết tâm của ngài trong căn hộ nhỏ ở Vatican và chỉ chấp-nhận di-chuyển bằng chiếc xe gọn/nhỏ của do lễ-tân cung cấp, mà thôi.

Ngài chủ-trương sống chân phương, bình-dị, có lòng thương xót dân con tầm-thường như những người trẻ ở Assisi bị chứng tâm thần ngặt-nghèo mà ngài từng hạ giá ghé thăm...” (x. ĐHY George Pell, Francis defies the conventional, The Catholic Weekly 12/01/2014, tr. 2)

Chân phương/bình dị, không se-sua nổi-trội như dân làng hèn kém ở Assisi, đó mới là đặc-trưng/đặc-thù của Đức-thánh-(là)-cha ở Rôma quyết sống khó nghèo, trầm lặng theo kiểu cách Phanxicô Assisi. Đàng khác, đường đường là Giáo Chủ/Giáo Tông của Đạo Chúa rất “Rôma” ai cũng biết, thế mà ngài lại cứ sống khác thường/khác kiểu với các vị tiền-nhiệm, thế mới khó. Khó hơn nữa, là: làm sao thuyết-phục được cả một thánh Hội rộng lớn sống sao cho đúng tôn-chỉ của Đức Giêsu khó nghèo, hèn mọn xuất từ thôn làng vừa nghèo/vừa khó, rất túng thiếu như thôn làng Nazarét trầm lặng.
Thôi thì, hôm nay, bần đạo đây đề-nghị bạn/đề nghị tôi, ta thử ngang qua một vài chi-tiết có tình-tiết gói gọn trong các bản tin/bài viết này khác cho rõ lý lịch của đấng bậc rất “thánh cha”, mới được. Quyết thế rồi, nay bần đạo mời bà con tham gia tản mạn vào “miệt vườn” truyền thông có những điều được nói rõ bằng giòng chữ nhỏ, để thấy được tình hình thực tế khá khó và nghèo buộc Hội thánh phải sống cũng rất nghèo và rất khó, như sau:

“Đức Giáo Hoàng Phanxicô vừa hứa tặng $5 triệu Mỹ Kim giúp đỡ Tổng Giáo Phận Rio De Janeiro thanh-trả món nợ “nhỏ” theo sau Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, ở đây. Toán thanh-tra tài-chánh có tên là ERNST & YOUNG vừa xem xét các chi tiêu của Đại Hội ngày 31/8/2013, thấy là: Ban Tổ chức Đại Hội đã thua lỗ đến $43 triệu Mỹ kim, cả thảy. Sau tính-toán thương thảo với các công-ty chức năng và sau khi đã bán đi một số tài-sản do Giáo-hội sở-đắc, Toà Tổng Rio de Janeiro đã giảm-thiểu món nợ đầm đìa hơn $18 triệu Mỹ kim. Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2013 ở Rio de Janeiro, là chuyến công-du đầu của Đức Phanxicô, sau khi ngài được bầu làm Giáo Hoàng. Thực tế, thì Đại Hội nói trên đã thu hút đến gần 3 triệu khách hành-hương khắp nơi đến Bãi biển Copacabana, Ba Tây kể từ ngày 23 đến 28 tháng 7 năm 2013, vừa rồi.” (xem Bản Tin Ngắn đăng ở cột 4 trên tuần báo The Catholic Weekly ngày 12/1/2014, tr. 4)

Bằng vào nhận xét của người đứng ngoài khi nghe tin trên, nhiều vị lại đã nhận ra rằng: bên cạnh các sự-kiện xôn xao/nổi cộm thường vẫn có những mặt tiêu cực/yếu kém ở trong và ở bên dưới. Yếu kém và tiêu cực, đôi lúc còn kéo theo nhiều đề-nghị bà con hãy đề-cao cảnh-giác cách trực-tiếp hoặc gián-tiếp, tức đề-nghị của một số người đứng ở ngoài hoặc thiết thân mới có thể giải-quyết được vấn đề những khó và nghèo.
Xét thế rồi, lại có vị cũng nhân cơ-hội có sự-kiện đình đám/nổi trội ở vài nơi, lại đã đưa ra một số câu hỏi khá “tréo cẳng ngỗng” gửi đến đấng bậc vị vọng, theo hình thức hỏi/đáp như sau:

“Thưa Cha,
Con đây vừa nghe một vị thức-giả nọ giải-thích chuyện các thần-sứ thánh-thiêng khi xưa được tạo-dựng để gần gũi Chúa, nhưng lại đã sa-ngã vấp-phạm nên trở thành một thứ ác-thần/quỉ dữ. Câu hỏi của con, vỏn vẹn chỉ thế này: sao lại thế được? Sao các thần-sứ ấy không có cơ-hội để tự sửa-đổi và được cứu-vớt như đám người phàm thấp bé là chúng ta? (Người hỏi không đề tên trên thư, nên chẳng rõ là nam hay nữ).

Nhận được câu hỏi nào cũng thế, đấng bậc có trọng trách giải đáp, cứ việc lấy giấy bút ra mà đáp-giải, chẳng cần biết người hỏi là ai, gái trai, già trẻ, lớn bé, ở đâu đến. Và, câu trả lời như sau:

“Muốn có câu trả lời cho thích-hợp, tôi thiết nghĩ: ta cũng nên đưa chuyện này vào đúng bối-cảnh của nó để nhớ rằng: thủy tổ loài người chúng ta khi xưa bị mê-hoặc, dụ-dỗ đến mê-hồn về sự cao sang/hào nhoáng theo hình thù con rắn/rít (x. Stk 3: 1-7).

Mọi người đều biết: quỉ dữ/ác thần lúc đầu được tạo-dựng theo hình thù sao đó có đủ  quan-năng/phúc-hạnh tựa hồ thần-sứ rất thánh, nhưng vì lý do nào đó, họ bị Thiên Chúa khước từ, hủy bỏ mọi ân-lộc và giáng họ xuống thánh một thứ “người không ra người, ngợm chẳng thành ngợm” xa rời Chúa mãi mãi để rối rớt xuống vực sâu, chốn hoả hào.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có nói về loài rắn/rít ác thần này như sau:
“Kinh Sách và Thánh Truyền của Giáo Hội thường coi chúng như “thiên thần gẫy cánh” với tên gọi “Satan” hay ác thần/quỉ dữ. Giáo Hội dạy rằng: Satan thuở đầu là thần-sứ tốt lành/hạnh đạo do Chúa dựng và sách này còn thêm: “Ác thần quỷ dữ lúc đầu là tạo-thành được Chúa thiết-lập giống như mọi loài nào khác, nhưng đã ngã-quỵ vì hành-vi khuất tất của họ.” (xem Công Đồng Latêranô IV năm 1215, DS 800; sách GLHTCG đoạn # 391).

Như anh/chị đề cập trong thư, có bảo rằng: đám ác quỷ hoặc lúc đầu là thần-sứ ấy xưa đã được phép gần-cận Chúa nơi Thiên Tòa. Nhiều vị trong/ngoài Đạo cũng suy luận như thế, nhưng rõ ràng là: các thần-sứ thánh-thiêng được Chúa chúc phúc cho ở gần, đã không còn ở trên Thiên Quốc. Bởi, linh hồn nào được ở trên Thiên Quốc gần-cận Chúa, lúc nào cũng được cuốn-hút gần Chúa đến độ không thể chống lại được để rồi được vào với tình hương-yêu hiền-dịu của Chúa; và không thể chối bỏ Ngài dù một phút. Thật khó tưởng tượng rằng: linh hồn nào đã ở với Chúa trên Thiên Quốc rồi mà lại có thể lỗi phạm hoặc vấp ngã được.

Từ đầu, Chúa phú ban cho mọi thần-sứ thánh-thiêng nhiều ơn lành trợ giúp. Trong cảnh sống thiên-nhiên tự-tại, các ngài là thần-sứ tinh-tuyền lúc nào cũng tự do, như mọi thần thánh khác.

Bằng vào bản chất thánh thiêng do Chúa tạo dựng, thần sứ nào trên Thiên Quốc cũng đều ở trên bất cứ mọi thọ-tạo nào khác, kể cả con người. Ở chốn cao-siêu nhiệm-mầu ấy, thần-sứ thánh-thiêng cũng giống như Ađam Evà, được Chúa ban cho ân-huệ tự-tại, tức được san sẻ đời sống lành thánh có bản-chất rất thánh. Quả là, các ngài rất cận-kề Thiên-Chúa cả vào lúc các ngài không hiện-diện cách thực-tế nơi Thiên-toà nữa, cũng thế. Các ngài nhận biết Thiên-Chúa và có khả-năng yêu-kính Thiên-Chúa bằng nhận-thức và tình thương tuyệt-vời hơn chúng ta. Và, đương-nhiên là các ngài được kêu gọi đi vào cuộc sống vĩnh-hằng gần cận Thiên Chúa.

Thế nhưng, làm sao có được sự thể là một số thần-sứ lại chối bỏ Thiên Chúa được? Câu trả lời chỉ có thể là: do lòng tự cao dự đại. Nhiều thánh Tổ-phụ trong Giáo-hội từng áp-dụng lời Chúa nói với dân Do-thái cho các ác thần/quỷ dữ, như:

“Phải, từ lâu rồi, ách đè lên ngươi, ngươi bẻ gẫy,
Xiềng xích trói buộc ngươi, ngươi giật phăng;
Ngươi còn dám nói: “chẳng làm tôi đòi ai cả.” (Giê 2: 20)

Cả khi có được bản-chất “hơn hẳn” như thế, một số thầnsứ nhà Trời không còn muốn phục-vụ ai hết, ngay cả Thiên Chúa là Đấng dựng ra mình và chúc phúc mình rất nhiều, cũng không. Tác-giả John Milton, trong cuốn “Thiên Đàng luột mất” đã đưa vào miệng ác-thần/quỷ dữ những câu như: Thà được thống trị chốn hoả-hào còn hơn cứ phải phục-vụ trên Thiên-Quốc.” (x. Sách đã dẫn chương I trang 263)

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lại cũng dạy: “Sa-ngã của các thần-sứ là chọn lựa tự do, bởi các vị ấy đã chối bỏ Thiên-Chúa và quyền-năng Người một cách triệt-để không thể thu hồi lại được. Suy về hành động nghịch-chống Thiên-Chúa, ta thấy rõ nơi lời khuyến-dụ của Tên Cám Dỗ bậc thủy-tổ loài người như câu: Các người sẽ giống như Thiên Chúa biết được điều thiện điều ác.” (x. Sáng Thế Ký 3: 5, GLHTCG đoạn #392)

Xem thế thì, cả loài quỷ dữ/ác thần nữa cũng muốn như Thiên-Chúa nên đã bị tống vào chốn hoả-hào đầy than khóc. Thánh Phêrô có lần nói:

“Thật vậy, Thiên Chúa không dung thứ cho các thần-sứ có tội, nhưng đã đưa họ vào chốn ngục-thất tối tăm, chờ ngày phán xét.” (x. 2Phêrô 2: 4)

Riêng thánh Mát-thêu lại cũng ghi chép Lời của Chúa nói về những người bị kết tội vào ngày phán xét buổi thế tận, có những câu như:

“Hỡi quan bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào nhốn lửa đốt đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ-thần của nó.” (Mt 25: 41)

Ai không tin vào hoả ngục, cũng nên ghi nhớ những lời đanh thép của Phúc Âm. Chắc chắn, Ác-thần/Quỷ Dữ vẫn hiện-hữu và chúng đang ở chốn hoả hào/ngục thất; thế nên, ít nhất phải có hoả-ngục hoặc địa-ngục cho đám này. Hỏi rằng: tại sao các Ác-thần dữ tợn này không được ban thêm ân-huệ nào hoặc huệ-lộc như chúng ta? Thì, câu trả lời nằm trong đầu óc rất biết điều của các thần-sứ cao sang nhiều hiểu biết. Các ngài hiểu rõ ràng ngay từ đầu về hậu-quả của sự việc mình chọn lựa, khi các ngài dám chối-bỏ Thiên-Chúa.

Các ngài biết rõ rằng: chỉ có một cơ-hội độc nhất mà thôi, và chọn lựa của các ngài không thu hồi được. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã trích lời thánh Gioan Đamascene từng nói: “Chính vì đặc tính không thu hồi chọn lựa của mình được, nhất thứ trong việc đào-thoát chối-bỏ tình thương-yêu vô bờ bến của Thiên-Chúa đã khiến cho tội lỗi của các thần-sứ trên cao không thể tha thứ được.” Và sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lại cũng thêm: “Không có chuyện sám-hối đối với các thần-sứ trên trời sau khi sa ngã như con người, vì không thể có hối cải sau khi chết rồi.” (xem cuốn De Fide Chương 2, câu 4; và GLHTCG đoạn #393)

Để kết luận, tưởng cũng nên phấn đấu sao cho mình biết sống khiêm hạ và hạnh-phúc khi phục-vụ Thiên-Chúa là Đấng đến để phục vụ con người chứ không phải để con người phục vụ Ngài.” (Mt 20: 28) (Xem Lm John Flader, Fall of the Angels, Question Time, The Catholic Weekly 12/1/2014 tr. 10)

            Giải đáp và nhủ khuyên theo đường lối chính-mạch như đấng bậc vị vọng ở trên từng làm, là “nghề của chàng”. Thiện/Ác hai bên, dứt khoát không thể trộn lẫn/nhào quyện được. Đó là thần-học nghe rất quen. Tức, thứ thần-học chết chóc chuyên nhắm vào chuyện doạ dẫm với hình-phạt. Thần-học “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu” chẳng bao giờ trừng phạt ai thì sao? Tình-Yêu chân chính của Chúa đâu bao giờ doạ dẫm hay trả thù! Đó là chưa kể, chuyện thần-sứ sa-ngã thành quỷ sứ có là sự thật lịch sử, khách quan hay chỉ là nghĩa bóng nào đó, mà các thánh-sử muốn diễn-tả?
Thật ra thì, hỏi hay nói như thế vẫn là những vấn-nạn thần-học khó minh định. Hay nhất là, mời bạn và mời tôi, ta đi vào những gì tích-cực và vui đẹp của nền thần-học Kinh-thánh, tựa hồ đề-nghị của Đức-thánh-đương-nhiên-là-cha Phanxicô hôm nọ có nói, làm đoạn kết cho mục phiếm hôm nay, rằng:

“Đức Giáo Hoàng Phanxicô có nói: Hội thánh nên để ý đến “tâm-thức của kẻ tin” (sensus fidelium) khi thi hành thẩm-quyền dạy-dỗ của mình. Nhưng, đừng bao giờ lẫn lộn tâm-thức ấy với chánh-kiến phổ-cập của nhiều người về vấn-đề đức tin.

Phát biểu trước các thành-viên của Ủy Ban các nhà Thần-học trên thế giới, một bộ-phận cố vấn cho Vatican vào ngày 6/12/2013, rằng: Nhờ vào ân-huệ của Chúa Thánh Thần, anh  chị em thành-viên của Hội thánh có được tâm-thức niềm tin. Đây là vấn-đề về loại-hình “quan-năng tinh-thần” vốn cho phép ta cùng với Hội-thánh suy-nghĩ và luận-giải những gì phù-hợp tính kiên-định của niềm tin  rao giảng và tinh thần của Phúc Âm. “

Đức Giáo Hoàng có nói với giới chức có thẩm quyền dạy-dỗ trong Giáo hội rằng các vị có bổn phận phải quan tâm để ý đến những gì được Chúa Thánh Thần tỏ cho Hội thánh biết ngang qua những biểu-tỏ thực-thụ nơi “tâm-thức của kẻ tin”, mới được. Nhưng ngài cũng căn dặn các vị thần-học-gia này rằng: đừng lẫn lộn tâm-thức này với thực-tại mang tính xã-hội-học của phần đông những người có lập-trường quan-điểm chung. Đó lại là chuyện khác. Chính đó là chuyện rất quan trọng và công tác của các vị là trau chuốt các chuẩn-mực vốn dĩ cho phép ta luận-giải các biểu-tỏ đích-thực về “tâm-thức của kẻ tin”, như thế.” (xem Francis Rocca, Papal message to theologians: don’t assume too much, The Catholic Weekly 15/12/2013 tr. 7)

            Suy nghĩ thế rồi ta cứ đầu cao mắt sáng, hiên ngang mà cất lên lời ca của nghệ sĩ ở trên để thêm niềm tin vào “Thiên-chúa-Là-Tình-Yêu” rất tích cực và vui đẹp rằng:

Đêm nay tôi đưa em về.
Đường khuya sao trời lấp lánh.
Đêm nay tôi đưa em về.
Mắt em sao chiếu long lanh...”
(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Trần Ngọc Mười Hại
Vẫn suy nghĩ rất lung
Về lời của thần-học-gia Phanxicô
và các thần-học gia chuyên hù-dọa
về chuyện tin Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu
Cũng rất nhiều.