Saturday, 18 January 2014

“Yêu em một khối tình quê,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 3 mùa thường niên Năm A 26-01-2013

Yêu em một khối tình quê,
“Yêu em từng bước tình si.
Đêm đêm mộng thấy đường đi đường về.”
(Trầm Tử Thiêng – Đêm Nhớ Về Sài Gòn)

(Lc 1: 16)
                       
“Nhớ về Sài Gòn” nhiều đêm như thế sao? Vâng. Nỗi nhớ ấy, bần đạo đây cũng cảm nghiệm được vào những ngày lưu lạc ở chốn xa xôi rất quê người. Từ chốn miền xa xôi lạnh lẽo xứ Nga Sô ấy, nỗi nhớ quê nhà của bần đạo càng thắm thiết như lời ca người nghệ sĩ nay diễn tả:

“Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi.
Những con đường thèm đôi chân vui,
đã bao lâu chờ đợi.
Đường im nghe quá khứ trong sầu,
Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau.
Tình lẻ loi canh thâu.”
(Trầm Tử Thiêng – bđd)

Tuy nhớ về quê hương, nhưng bần đạo đây chẳng thấy mình là “lẻ loi”, “canh thâu” khi lan man, tàn tàn trên phố phường nổi tiếng, từng chiến thắng hai đoàn quân hùng hổ ở hai cuộc chiến thế giới, rất năm nào. Chẳng thế mà, hôm nay, bần đạo cũng có tâm tư lẫn tâm tình đại loại với người viết nhạc qua lời thơ như sau:    

“Đêm nhớ về Sài Gòn.
Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa.
Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa.
Ai sầu trong quán úa,
Bóng mẹ hiền mờ mờ bên song.
Mắt người tình một trời mênh mông.
Gợi bao nhiêu cho cùng.. ”
(Trầm Tử Thiêng – bđd)

Lang thang chốn quê người heo hắt lạnh lùng, bần đạo lại cũng thấy cuộc sống của người và của mình tương tự như câu hát tiếp:

            Ta như cậu bé mồ côi.
Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi
Cố quên ngày tháng lẻ loi để lớn
Để đêm đêm nhớ về Sài Gòn.
Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương
cho lòng thêm chút ấm.
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau
Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau.
Tình chia trong đêm sầu ..”
(Trầm Tử Thiêng- bđd)

            Là nghệ sĩ thi ca/âm nhạc, khi đã nhớ Saìgòn là nhớ về tình huống có những đêm “thấy ngày tháng lẻ loi”, lại vẫn muốn “trở về quê hương”, để gặp “một trời yêu thương”, “cho lòng thêm chút ấm”. Ấm áp rồi, nghệ sĩ mình lại sẽ cùng mọi người đi vào giòng đời để gặp bạn bè/người thân đang ưu tư/trăn trở về những nhu cầu cũng rất cần cho mình, cho gia đình mình. Một trong các nhu cầu cấp thiết và thực tế nhất cho mọi người là nhu cầu đào tạo kiến thức cũng như nghề nghiệp, chứ không chỉ là  bằng cấp/khoa bảng như một số “đại gia” ở đây đó từng bày tỏ:

“Rõ ràng là, ngày càng có nhiều bậc cha mẹ ở Trung Hoa đã không đồng ý với vị sáng lập công ty mạng quốc tế “Alibaba” và các vị này lại chọn cung cách hy sinh từ ba đến bốn năm thu nhập của gia đình để đầu tư cho con cái, bằng cách gửi đứa con duy nhất trong gia đình du học nước ngoài. Có vị từng tự hỏi: thật ra có đáng bỏ tiền đầu tư như thế không?

10 năm qua, số sinh viên Trung Quốc xuất-dương du-học ngoại quốc gia tăng đến gấp ba và còn gia tăng mãi không dứt. Sự việc này, đã và đang trở thành gánh nặng khó giải quyết cho các gia đình trung-lưu có mức thu-nhập thâm thấp. Theo kết quả khảo sát do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc mới cho biết, thì: tính đến năm 2009, số sinh viên Trung Quốc du-học ngoại quốc chỉ bằng 2% số sinh-viên học trong nước, thôi. Cho đến cuối năm 2010, con số này tăng lên tới 34%, kể cũng lạ. Với đại đa số gia đình có con du-học ngoại-quốc, thì tiền học-phí là vấn đề không đáng để bậc mẹ cha quan ngại. Nhưng, với gia-đình trung-lưu có thu-nhập thấp và gia đình cần cù lao động, thì vấn đề ở chỗ: họ chỉ có độc nhất mỗi đứa con để trông cậy vào tuổi già, yếu bệnh ...

Ngày nay, vấn đề thiết thực đặt ra cho các gia đình có con đi du-học ngoại-quốc vừa nảy-sinh là: các đại học nước ngoài vẫn dựa vào học phí do sinh-viên Trung-quốc đóng cốt bổ-sung cho lợi-tức của họ. Thế nhưng, thật ra có bõ để bỏ ra từ 165 ngàn đô tới 330 ngàn đô cho việc chuẩn bị và hoàn-tất văn-bằng cử-nhân ở nước ngoài, để rồi khi trở về với thị-trường mong manh quốc-nội trong đó có đến 7 triệu sinh-viên đã tốt-nghiệp từ lâu nhưng vẫn không kiếm được công ăn việc làm, cho đáng.

Theo một số trung-tâm tuyển-dụng Trung Quốc, thì: các sinh-viên du-học ngoại-quốc mà người Trung Hoa gọi họ bằng tiếng lóng là “Rùa Biển” -bởi họ là những người rất “chân trong chân ngoài”- tức một chân để trên bờ, chân kia cứ rờ rờ dưới nước thực tế vì đồng lương không trổi-bật cho lắm, chí ít là khi họ khởi sự làm việc ở trong nước.

Theo Jennier Feng, chuyên-gia nhân-lực thuộc công ty “51 cổ phần” rất nổi tiếng ở Trung Quốc, thì hiện nay tiền lương ban đầu giữa các cô/cậu “cử” học tại đại-học ngoại quốc hay trong nước, vẫn không chênh nhau là bao nhiêu. Đã xa rồi, thời vàng son dành cho sinh-viên tốt-nghiệp đại-học nước ngoài được bảo đảm là có công ăn việc làm ở mức cao nhất, nữa rồi.

Cũng theo Jennifer Feng, thì: hiện đang có sự kiện tỷ-lệ sinh-viên đi du-học nước ngoài có khả-năng ở mức trung bình hoặc dưới trung-bình bị đánh trượt ở các kỳ thi tuyển vào đại-học trong nước. Theo cô, sinh-viên du-học ngoại quốc có thể không còn trổi-trang vào bậc nhất nữa. Cô Feng còn nói thêm: “hiện có đến 80% và/hoặc 90% đại học nước ngoài trong đó có sinh-viên Trung-Quốc theo học vào lúc này, thì hầu hết người trong nước chưa từng nghe biết. Cả đến việc học Anh-ngữ ở nước ngoài cũng không còn là vấn-đề then-chốt nữa! Các nhà tuyển-mộ công-nhân cho biết: có thể họ cũng đã đạt yêu cầu sử-dụng nhân-viên nói được tiếng Anh, ngay cả đối với các sinh-viên tốt-nghiệp đại học trong nước, cũng được...

Trong khi đó, theo ý-kiến của Xia Yinqui, chức-sắc phục-vụ chính-quyền Trung Quốc qua trọng-trách lôi-cuốn sinh-viên du-học có chỗ tốt trong chính quyền, thì: với sinh viên “chân trong chân ngoài” nói ở trên, vấn-đề thiết-thực đặt ra là: chuyện quan trọng nay không chỉ là có được công ăn việc làm và lương tiền thôi, mà là sống ở nước ngoài thì toàn thể quốc-gia mình tá túc lại chính là đại học của mình rồi. Và, vấn đề còn lại là chọn lựa sao cho đích-đáng với mình, mà thôi (x. Patti Waldmeir, Foreign Degrees Lose Mark of Distinction in China, St Peterburg Post 24/12/2013 tr.5)

Vâng, đúng thế. Ở đâu cũng vậy. Vấn đề quan trọng cho mọi người và mọi nơi sẽ là và vẫn là: chọn lựa. Chọn giáo dục, chọn “nghề ngỗng”. Cũng vậy, đối với dân con đi Đạo thì: chọn niềm tin theo Chúa hay không, thôi. Và, khi đã chọn rồi, ai ai cũng đều chăm nom/vun xới chọn lựa của mình, cho thật tốt.
            Hôm nay ngồi ghi lại những giòng phiếm này, bần đạo bầy tôi đây lại nhớ đến khẳng-định của cụ hướng-dẫn-viên du-lịch người Ba Tư ở Tê-hê-ran nhắc lại mấy lần về quan-niệm của bậc thày dạy của ông, một giáo-sư đại-học người Mỹ từng nói:

Lịch sử các nước thường vẫn giống nhau rất nhiều thứ. Ban đầu, cũng có chế độ quan-liêu rất bạo chúa, rồi đến cách mạng, đảo chính hay chỉnh lý cứ thay nhau liên hồi và người mới lên lại giết chết, phá hủy công-trình của thời-đại trước, rồi cũng lại xây dựng lâu đài, tường lũy mới cho triều-đại của mình... lịch sử cứ thế lập đi lập lại mãi giống như nhau; người đi sau cũng lại dẫm phải vết chân của người thời trước. Lý do là vì: hầu hết các người làm cách-mạng hoặc đảo-chính lại chẳng bao giờ học lịch-sử của đất nước mình cả, và nếu có học đi nữa cũng chẳng biết học những gì nên mới ra nông nỗi...” Vị hướng-dẫn-viên này còn thêm là: chuyện thay-đổi thể-chế hoặc chế-độ này khác, chỉ là thay-đổi chủ-nhân-ông của giới cầm quyền hoặc cầm tiền thôi!...
            Nghe chuyện, bần đạo đây thấy có điểm nghe hơi quen quen với người mình; nên, cứ ngẫm chuyện người lại nghĩ đến ta. Cứ nghe nhiều, là sẽ học được nhiều việc/nhiều chuyện có lợi cho chính mình. Hôm nay, sau nhiều ngày ngao-du rong-ruổi ở xứ người rất Nga-sô và Ba-Tư, bần đạo ngồi nghĩ thấy họ cũng có lý. Và, nhìn về thánh Hội của mình, lại cũng nhớ quan-niệm rất “hay hay” của bậc thày dạy từng bảo hôm nào, rằng:

Nhìn và học cung-cách nói năng-này với cảnh-tình Giáo hội ngày nay, ta thấy gì? Vài thập niên nữa, Giáo hội mình đi về đâu? Phải chăng sẽ có một thời qua đó rồi cũng đổi-thay trên thế giới? Và cả Giáo-hội mình nữa ư? Vâng. Cũng có thể, sẽ có thời kỳ bất ổn về cơ-cấu xảy đến với thế giới bên ngoài và cả trong Giáo hội mình.
Giáo hội ta hy vọng, lại sẽ không rơi vào thời cũ-xưa ở trong đó có thành-tựu này khác cũng rất nhiều. Nhưng, cũng có các giai đoạn gồm những cãi tranh, giành giựt uy-thế với nhau. Cả đến xã hội phóng-khoáng hay phóng-túng thời hiện-tại, lại cũng tìm cách sống mà không cần biểu tỏ ra bên ngoài từng qui vào Giáo hội. Lâu nay, thế giới ngoại-tại vẫn có khuynh-hướng/thái-độ chống-đối Giáo-hội. Tất cả những lối/những kiểu thẳng-thừng ấy sẽ đi vào dĩ vãng.
Bởi lẽ, Giáo hội không là cơ-cấu chống lại xã hội. Giáo hội không ở trên lịch-sử của người đời, cũng không miễn-nhiễm khỏi giòng sử thế-giới. Giáo hội vẫn sống chung sống cùng rất cởi-mở và đối-thoại với thế giới bên ngoài. Giáo hội sẽ chỉ sống sót, nếu biết đối thoại với thế giới ở ngoài mình. Bởi, Giáo hội ban cho thế-giới cung-cách công-khai diễn-tả về xác-tín của mình. Giáo-hội còn công-khai cho thấy cuộc sống của người đi Đạo theo cách tập thể, thấy được sự trong sáng, rất công-nhiên.
Cần nói ra đôi điều về đạo-đức/chức-năng của hai khối. Cần nói về ý-nghĩa và giao-ước về xác-tín với cộng đồng. Về niềm tin-yêu, đoàn kết. Cần nói thẳng/nói thật về kinh-nghiệm tư-riêng trong giòng sử rất tập thể. Tất cả nên đề ra không gian “ban tặng” hầu tạo giao-ước sống cùng và sống với nhau, trong hoà-hoãn.
Vấn đề là: làm sao nói lên điều ấy, cách huỵch toẹt? Nói thẳng và nói thật theo kiểu “Parrhesia” được bao nhiêu và bao lâu? Nói, một cách công khai khôn khéo ư? Mỗi thứ mỗi kiểu nói như thế kéo dài được bao lâu? Và, nói được nhiều điều hầu đạt sự hài-hoà, đoàn kết và vui sống, đó mới là mục tiêu đặt ra trước mắt cho xã hội ngoài đời và Giáo hội trong Đạo. Đó chính là vấn đề đặt ra cho ta, hôm nay.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Lời Chúa Sẻ San, Chúa Nhật thứ 25 mừa thường niên năm C, 25-9-2013)
Xem thế thì, từ quyết-tâm học-hỏi lịch-sử các nước có đổi thay, học cả thực-tại sự việc du học nước ngoài, ta lại bàn đến cảnh-tình Hội-thánh biết nói năng và lắng nghe, vẫn là động-thái thấy “quen quen” khi bạn và tôi, ta phiếm luận và phiếm “lọan” dài dài đến hết ý. Tuy nhiên, bàn về cảnh-tình Hội-thánh đã chứng-kiến bao nhiêu là diễn-biến lịch sử Đạo/đời, làm sao lại hết ý được! Chí ít, là ý kiến cùng tư-tưởng và kiến-thức về sử Đạo, lại cũng được bậc thày bàn bạc như sau:

Lịch sử Đạo, khởi sự với thế giới, ngang qua đế-quốc La Mã cũng khá mạnh. Mạnh đến độ, những người sống ở trong đó đều tham-gia góp phần vào nghi-thức thánh-thiêng của chính họ. Ai không theo qui-luật do họ định, đều bị xử phạt đến độ phải tử vì đạo. Và từ đó, niềm tin đi Đạo lại nhanh chóng lan tràn vào với đế quốc cả ở trời Tây lẫn phương Đông, khắp chốn.
Được như thế, một phần là nhờ vào phương-tiện cầu đường do đế-quốc thiết-lập. Sau thời bách hại, dân con Đạo Chúa cũng nhờ có Constantine lập nên khung-trời mới, với nhiều thứ, nên việc rao-truyền niềm tin xuyên suốt châu Âu đã đạt nhịp điệu đáng kể. Chính vì thế, chức-sắc đi Đạo lại rơi vào vết chân của giới chức trong Đế quốc, tức: cũng thi-hành quyền-lực hệt như họ. Và từ đó, việc rao truyền Đạo Chúa với thế giới bên ngoài, đã xuất hiện tự bên trong.
Vào thời đầu, dân con/quần thần ở đế-quốc tiếp tục hành-đạo theo kiểu cũ, dù ít người, vẫn là thứ tôn-giáo không niềm tin và cũng chẳng có tầm nhìn hoặc thị kiến linh-đạo gì hết. Tôn-giáo của đế-quốc cũng nhanh chóng mai một dần. Và, đám “rợ” các nơi mới có dịp xâm-nhâp toàn cõi châu này. Dù như thế, Hội thánh vẫn đủ sức tồn tại và trở thành chiếc “cầu nối” quá khứ với tương lai. Hội thánh, vẫn giúp-đỡ dân con mọi người tạo khối đoàn-kết để sau đó, trở thành một Âu châu đầy quyền-uy rất thế-lực. Và, Hội thánh cứ thế tồn tại cả ngàn năm, khả dĩ bảo-tồn được văn-hoá của quá-khứ và trao cho chúng-dân những điều tốt đẹp nhất trong đời.
Tuy nhiên, Hội thánh cũng đã suy sụp, để sau này, phải nhường đất cho một Âu Châu đang ở vào vị-thế phát-triển mạnh-mẽ. Ngay từ thế kỷ 16, chủ-thuyết “Thệ Phản” đã nhanh chóng chiếm-lĩnh nhiều thị-trấn ở châu này. Trong khi đó, thay vì đối thoại, Công-đồng Triđentinô lại chọn thái-độ kình-chống với họ. Nên, mới xảy ra “cuộc chiến” rất tôn-giáo. Và từ đó, kéo theo một khủng hoảng đến khiếp-hãi cho Kitô-giáo cả Thệ Phản cũng như Công Giáo. Và, các nhà trí-thức lại cũng xác tín rằng: tôn-giáo là chất xúc-tác tạo chiến-tranh đến độ không sao tái-tạo được nền hoà bình công chính. Và sự việc cứ xa rời cuộc sống của chúng-dân, để rồi lấn dần địa-hạt cá-thể, rất riêng lẻ.
Đã đến lúc toàn Châu Âu nay trên đà đi xuống. Sau đó, lại xuất-hiện thời-đại tân-kỳ bằng những phát minh mới, giấc mơ mới/cách mạng mới. Mọi sự nhất nhất đều nhân danh tự do và giàu có cho mọi người. Cũng từ đó, lại thấy xuất-hiện một số quốc gia “hiện đại” khiến Hội-thánh đâm phẫn-uất, bất-ưng chối bỏ mọi sự từ thế-giới với thế-gian, khiến đem lại một kết cuộc thảm hại cho cả Hội-thánh lẫn thế-trần. Ngay khi đó, trần-thế bên ngoài đã tạo được kiến thức mới, kỹ thuật mới và cả lối sống cũng rất mới...” (xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Lời Chúa Sẻ San, Chúa Nhật thứ 14 mùa thường niên năm C, ngày 07-7-2013)
            Xem thế thì, chuyện gì cũng vậy, cũng cần điều nghiên/học hỏi  rất xuyên suốt.  Học từ bậc trên xuống kẻ dưới. Học cả trong nước lẫn nước ngoài. Không nề hà, ngần ngại hoặc trễ nải. Nhưng, cứ học mãi, cả lịch sử, thần học lẫn văn-minh văn-hoá mọi dân-tộc. Quả là, giáo dục rất quan trọng và cần thiết để tiếp-thu những khám-phá công trình, lịch sử của bậc đàn anh đi trước. Văn minh ta có được ngày nay, là nhờ thừa hưởng/tích lũy những kinh nghiệm hoặc thành-tựu từ thời xưa. Văn minh cổ-đại lẫn tân thời, cũng tương-tự truyện kể ở bên dưới có đầu đề là “cạm bẫy”, nay dùng làm truyện minh họa, tuy hơi lạ:

Người Eskimo đã săn chó sói như thế nào trong vùng băng giá và lạnh cóng của Bắc Cực?” là một câu hỏi đã làm nhiều người dày công suy nghĩ để tìm câu trả lời.
Những người Eskimo lấy các lưỡi dao thật bén đem nhúng vào máu động vật, sau đó họ mang ra ngoài trời cho đóng băng lại. Họ làm như vậy nhiều lần để càng lúc lớp băng càng dày thêm, đến một thời điểm mà lớp băng bằng máu bên ngoài hoàn toàn che dấu lưỡi dao bên trong. Tối đến họ găm cán dao xuống tuyết. Những con chó sói đánh hơi được mùi máu của thú rừng từ lưỡi dao và mon men đến. Chúng bắt đầu liếm những lớp băng bằng máu đó, càng lúc càng hăng say hơn với tất cả những sự thèm thuồng. Cho đến một lúc những lớp băng bên ngoài lưỡi dao đã tan chảy hết và chạm đến lưỡi dao. Khi liếm những lưỡi dao, lưỡi của những con chó sói bị đứt và máu chảy ra, nhưng chúng lại tưởng đó là máu của thú rừng nên càng liếm hăng say hơn. Càng chảy máu thì nó càng khát, và càng khát thì nó lại càng liếm … Sáng hôm sau, những ngưởi Eskimo chỉ việc đi thu lượm xác của những con chó sói nằm chết bên cạnh những lưỡi dao đó.”
Và lời bàn của người kể cũng vẫn là: Cái bên ngoài cạm bẫy bao giờ cũng hấp dẫn và quyến rũ vẫn rất thật. (trích truyện kể về “Cạm bẫy” truyền cho nhau, trên mạng.)

Truyện kể ở trên, thật ra cũng chẳng minh-họa được là bao về những điều bạn và tôi, ta bàn ở luận. Truyện để kể, chỉ muốn bảo, rằng: trong sống Đạo ở đời, người người đều khôn-ngoan/sẵn sàng học hỏi kinh nghiệm của bậc thày/đàn anh đi trước... dù không khoa bảng, vẫn cứ để lại cho ta nhiều kinh nghiệm để học hỏi.
Thế nên, hôm nay và mai ngày,rồi ra bạn và tôi, ta cứ quyết chí đi nhiều nơi, học hỏi những chuyện đại loại như thế, nhiều hơn nữa. Bởi, chuyện nào/kinh-nghiệm nào thì cũng bổ cả, như câu nói nghe quen quen: “không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc”.
Tự nhủ như thế rồi, nay bần đạo bầy tôi đây xin mời bạn bè khắp nơi, ta cùng người nghệ sĩ trên hát thêm câu ca “để đời”, rằng:

Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương
cho lòng thêm chút ấm.
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau
Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau.
Tình chia trong đêm sầu ..”
(Trầm Tử Thiêng- bđd)
       
            Hát thế rồi, ta lại cũng suy thêm về Lời Chúa những nhắc nhở, mà rằng:

“Ai nghe anh em là nghe Thầy;
và ai khước từ anh em là khước từ Thầy;
mà ai khước từ Thầy
là khước từ Đấng đã sai Thầy."
(Lc 10:16)                             

Và hôm nay đây, Lời Chúa sẽ đọng lại trong ta, và với mọi người để rồi sẽ quyết-tâm sống đích-thực cuộc sống rất vững mạnh, hơn bao giờ hết. 

Trần Ngọc Mười Hai
Lại cũng sẽ cùng bầu bạn khắp nơi
Cứ tự nhủ và tự kỷ ám-thị ra như thế
Cho chuỗi ngày còn lại
Cuộc đời mình.

Saturday, 11 January 2014

“Hỡi anh đi đường cái quan,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 2 mùa thường niên Năm A 19-01-2013

“Hỡi anh đi đường cái quan,”
Dừng chân đứng lại cho em đây than đôi lời...
Đi đâu vội mấy anh ơi.”
 (Phạm Duy – Trường Ca Con Đường Cái Quan)

(Lc 2: 1-2)

            Đang phom phom trên đường tráng nhựa, dù không phải là đường cái rất quan dân, mà nghe em ới gọi giựt lại để mà than, cũng hơi ngại. Ngại, là vì em gọi lại để than, chứ không phải để kể đôi ba truyện lan man rất cuộc đời.
            Câu chuyện đầu, bần đạo muốn bạn và tôi, ta gợi nhớ đôi chút, là chuyện tình của ai đó giống hệt nhạc sĩ họ Trịnh mang tên Công Sơn, gửi người tình Dao Ánh rất như sau:

“Blao, 17/9/1964
Buổi chiều thật yên tĩnh. Anh đứng nhìn sự yên tĩnh đó rơi xuống từ một đầu cỏ, một con đường dốc, một nóc nhà rồi một thân anh. Hạnh phúc thật đơn sơ –như một phép lạ thật mầu nhiệm bức thư Ánh đến ngay lúc này ném anh về một đỉnh cao ở đó, anh bàng hoàng nghe loài chim lạ nọ. Anh xúc động như vừa tìm lại được một vẻ kỳ bí nào đã đánh mất.

Anh đốt lên điếu thuốc buổi chiều để ngửi mùi hoa cỏ dấy lên từ những tờ thư. Ôi hạnh phúc của một con người đã đi qua bao nhiêu con đường rộng, đã ướt bao nhiêu lần mưa, đã cúi đầu trên những con đường dốc sương mù. Sương mù. Làm sao anh có thư Ánh để đọc. Thật như một ân huệ của những ngày anh nằm heo hút ở đây mà nghe mình đánh mất dần tất cả.

Mây đã xuống thấp và tối mù trước mặt. Trời ở đây thật bất thường Ánh ạ. Những cơn mưa chiều đột ngột vô cùng. Bao giờ sắp mưa thành phố không còn biên giới. Trời, đất, núi, nhà, cây cỏ như dán liền với nhau. Anh ngồi nhìn và nghĩ mình như đang được nhốt vào chum đen nghịt. Thật buồn đó Ánh....

Anh đã một lần trót phạm tội xin – mặt – trời – ngủ - yên. Ôi người phù thủy đã nói với anh rằng: vĩnh cửu chỉ có trong cái chết (l’éternité est dans la mort) nên từ đó đã xin – mặt – trời – cùng – người vong thân.

Anh cảm ơn Ánh nghìn lần đã yêu thích thiên đàng – sương – mù của anh. Anh sẽ cố gắng yêu thích lấy nó đến bao giờ không thể. Ở đây có cái tự do của con người mỗi ngày chỉ thấy mình và trời đất. Nhưng Ánh có biết rằng thằng mọi trong rừng sâu nó cũng thế, làm sao không thấy mình bị hất hủi, bị đặt bên lề...” (x. Trịnh Công Sơn, Thư Tình Gửi Một Người, Nxb Trẻ 2011, tr. 18-19)

            Chuyện của anh, hôm nay nghe thì vẫn thế. Vẫn nhè nhẹ, sầu buồn mãi khôn nguôi. Nhưng, câu chuyện của ngày hôm nay, bần đạo đây lại vẫn muốn trích dẫn đôi giòng kể giống như thế để bảo rằng: trong giòng đời kiếm tìm và học biết cách sống bình thường cũng không dễ, bần đạo đây lại cứ gặp đôi giòng chảy cũng giống những điều, được tác giả ghi thêm ở bên dưới:

“Anh nghĩ rằng Ánh sẽ không buồn lâu đâu. Tất cả những ưu phiền của Ánh sẽ qua. Cuộc sống của Ánh phải là một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác đã có, như Diễm, Dung, hay kể thêm Phương Thảo, Diệm My. Và cả xứ Huế đó, quê hương đó mà anh không còn mong quay về.

Anh chưa dám nghĩ rằng Ánh sẽ là một ngoại lệ nên không hồ đồ vui mừng có được một người thấy rõ mình hơn.

Chúng anh không trách ai cả. Tất cả một cuộc sống lì lợm đều đặn với ăn, ngủ, cười, nói, thứ hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, đi học, đỗ đạt, làm quan, lấy vợ đẹp, gia đình,... đã làm nhiều ý thức chán mứa, buồn nôn. Nhưng con người đã lỡ bị giam hãm trong vòng đai đó như một đương nhiên nên không thể trách móc gì được. Có điều phải biết nhận lấy sự hèn nhát, sự bất lực của mình. Đó là sự can đảm tối thiểu còn lại cho con người. Vì thế anh ghét nhất điều dối gạt. Dù làm điều xấu cũng phải có can đảm nhận chịu, phải tự trách nhiệm lấy mình; đừng bao giờ phủ nhận hành động do chính mình vì như thế mình đã vô tình phủ nhận chính sự có mặt của mình ở đó...” (x. Trịnh Công Sơn, bđd)

Trích dẫn giòng thư riêng tư ở đây, bần đạo lại muốn trích và dẫn thêm những ý/lời cùng tâm tình của những người trong/ngoài nhà Đạo, có cảm nghĩ hoặc tâm tình buồn vui lẫn lộn. Vui ít, buồn nhiều hoặc vui nhiều buồn không thiếu rất lẫn lộn. Buồn hay vui, vẫn là tâm tình nhè nhẹ hỏi han lan man nhiều. Những thứ và những sự khiến nhiều người lo lắng đôi ba chuyện chẳng có gì mới mẻ.
Dù có thế, trước khi đi vào hỏi/đáp có chữ viết, xin bạn và tôi, ta về với giòng nhạc ở trên có thêm trích-đoạn trường ca “Con Đường Cái Quan” vừa được cất lên trong buổi “Hát Cho Nhau Nghe” với chủ đề “Những Nẻo Đường Quê Hương” ở Sydney rất thân thương có lời ca như sau:

“Tôi đi từ ải Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ (è e é)
Chia đôi một họ trăm con đã lên đường...
Năm mươi người ngược núi rừng đã dựng vòng biên ải (i i í)
Năm mươi người trẩy theo sông tới khơi chừng...”
(Phạm Duy – bđd)

Hát mấy câu ê a như thế rồi, nay bần đạo xin mời bạn/mời tôi, ta đi vào vấn đề của người hỏi có những ưu tư/trăn trở, lại hỏi rằng:

“Thưa cha,
Con gái của con vừa đi học về đã lon ton chạy đến hỏi như một “phát giác kinh khủng” rằng: cô giáo của cháu bảo rằng: Chúa của Đạo mình, đúng ra đã sinh vào mấy năm trước Công nguyên, tức: Chúa sinh ra trước cả Đức Kitô nữa. Theo con nghĩ: Đạo mình lập niên-lịch tính từ năm sinh của Chúa là năm thứ nhất của Dương lịch. Nói thế có đúng không? con cũng không biết. Con xin Cha cho một lời giải thích để bọn con nay còn biết mà nói chuyện với người khác. Cảm ơn Cha. (Câu hỏi, nay là của một người, hình như là phụ nữ).

Nữ hay nam/nam hay nữ, một khi đã hỏi là có thắc mắc đôi điều còn để trong đầu, dù liên quan hay không đến chuyện Đạo/đời, cũng đâu biết. Chỉ biết rằng, đó là chuyện mà khi ai đó có thắc mắc là có quyền hỏi han. Hỏi ai cũng được, thậm chí có hỏi đấng bậc nhà Đạo chuyên nắm rõ nhiều chân-lý về đạo như Đức thày giòng họ Flader ở Sydney, cũng tốt thôi. Bởi, Đức thày đây không chỉ phán mà thôi, nhưng đặc biệt hôm nay, Đức thày còn muốn giải toả đôi điều thắc mắc về niên lịch lẫn niên biểu ngày sinh của Chúa tính toán kỹ như sau:  

“Thật ra thì, bậc thày dạy dỗ con gái của anh/chị rất có lý khi bảo rằng: niên-lịch mà ta vẫn dùng có đôi điều vẫn không đúng. Hôm nay, tôi xin mạn phép có ít phút để giải thích một lần cho xong.

Thánh Luca có nói rất rõ: Khi Quirinius làm tổng trấn xứ Syria thì khi ấy Hoàng đế Augustus đã ra chỉ thị lập kiểm tra dân số trên toàn cõi đế quốc của ông và chính vì lệnh kiểm tra này đã khiến Đức Maria và thánh cả Giuse phải hành-trình đi Bét-lê-hem để rồi sinh-hạ Đức Kitô ở nơi đó. (Lc 2: 1-2)  

Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 cũng có viết trong cuốn sách của ngài có tựa đề là “Đức Giêsu thành Nazarét – Truyện kể về một thời thơ ấu” có đề cập đến chuyện ngày tháng kiểm tra dân số, và Đức Giáo Hoàng cũng đưa ra một lời bình luận khá thú vị về mối tương-quan giữa Augustus và Đức Kitô. Đức Giáo Hoàng lại cũng viết: Priênê có ghi rõ: từ năm thứ 9 trước Công nguyên, ngày sinh của Hoàng đế đã tạo cho đế quốc này một bản-sắc mới về sự-thể là mọi việc sẽ đi vào đổ vỡ nếu không có sự kiện tỏa sáng nơi ông, đó là: Đấng Quan Phòng vừa hạ sinh và Hoàng-đế dạy là mọi sự đầy tràn nơi Đấng Quan Phòng bằng đặc trưng do Ngài mang tính người và Ngài được sai đến làm Đấng Cứu Độ cho ta và con cháu của ta... Khi Đấng Quan Phòng sinh hạ là đã khởi đầu sắp xếp thật tốt đẹp mà Ngài từng đem đến cho nhân-loại. Và, cũng do từ sự hạ sinh này, nhận thức mới về thời-gian cũng đã bắt đầu như thế.” (sđd tr. 59)

Thật ra, cũng chẳng mấy khó khăn để ta có thể nhận ra chuyện nói về vị hoàng-đế La Mã càng dễ áp-dụng một cách xứng-hợp vào Đức Giêsu. Nói cho đúng, thì chính Đức Kitô (chứ không phải Augustus) mới là Đấng ban cho nhân-loại một ân-huệ mới là được đầy tràn nhân-đức mà con người đáng được hưởng. Đó là có được Đấng Cứu Độ sinh ra khởi đầu cho một nền trật tự tốt đẹp, nhờ đó dấy lên nhận-thức mới về thời-gian như từng xảy ra trên thực-tế. Lại nữa, vào năm 27 trước Công nguyên, tức 3 năm sau ngày Augustus trở thành Hoàng-đế, nghị-viện La Mã đã thưởng công cho ông danh-hiệu Augustus có nghĩa là “người xứng đáng được lạy thờ”, tức một danh-xưng thích hợp với Đức Kitô hơn với con người thường vì chính Ngài là Người Con của Thiên Chúa.

Về tháng ngày xảy ra cuộc tổng kiểm tra dân số, Đức Bênêđíchtô 16 có lời bình-luận rằng: “Vì ngày ấy xảy đến vào triều đại vua Hêrôđê Cả chết vào năm thứ 4 trước Công nguyên, thì ít ra ngày Chúa giáng sinh cũng xảy đến vào cùng năm đó hoặc trước nữa. Thêm vào đó, do bởi Hêrôđê ra lệnh giết chết mọi con trẻ dưới 2 tuổi (xem Mt 2: 16), thì lẽ đáng ra, Đức Kitô phải sinh ra khá sớm tức vào năm thứ 6 hoặc thứ 5 trước Công nguyên.”

Đức Bênêđíchtô 16 lại cũng nói: có nhiều tranh/cãi biện luận về niên-biểu đích-xác của cuộc tổng kiểm tra này. Theo sử gia Flavius Josephus thì: sự kiện này xảy đến vào năm thứ 6 trước Công nguyên vào triều-đại của tổng trấn Quirinius. Sử gia Josephus còn nói: Quirinius chỉ họat động chính tại Syria và Giuđêa kể từ năm ấy trở đi thôi; và, điều này không có gì chắc cho lắm. Dù sao thì Quirinius cũng là người phục-vụ Hoàng-đế tại Syria trước sau niên biểu thứ 9 trước Công nguyên. Một số học-giả khác lại cho rằng cuộc tổng kiểm tra này là một sự-kiện xảy đến làm 2 đợt và kéo dài suốt nhiều năm. Đó là lý-do khiến ta có nhiều lối giải-thích rất khác biệt. Quả là: thánh Luca nói rất đúng: đây là lần đăng ký dân số đầu tiên thuộc lọai này. (x. Lc 2: 2)

Lại cũng có chủ-trương cho rằng năm sinh của Chúa đúng ra phải bắt đầu vào lúc có “vì sao lạ” dẫn đường cho 3 nhà đạo-sĩ đến Giêrusalem rồi đi Bét-lê-hem thăm viếng Chúa Hài Đồng (x. Mt 2: 1-2). Một số tác-giả như thánh Chrysostôm (x. Bài giảng Tin Mừng đọan VI câu 2) lại khẳng-định: “vì sao lạ” không có nghĩa là trăng sao tinh tú ta thấy được bằng mắt thịt, mà là luồng ánh sáng đặc trưng soi dọi tâm hồn các nhà đạo sĩ hoặc ai khác. Có nhiều vị thức-giả lại cố kiếm tìm niên-biểu nào đó có hiện-tượng rực sáng trên bầu trời, vào thời đó, khả dĩ lôi kéo các hiền-nhân. Đặc biệt là tác-giả Johannes Kepler (mất vào năm 1630) đã tính toán kỹ và cho biết rằng: vào năm thứ 7 hoặc 6 trước Công nguyên, khi ấy có sự đụng độ hoặc nối kết sao đó giữa các hành-tinh như: Mộc Tinh, Thổ tinh và Hỏa tinh có thể đã dẫn dắt các chiêm-tinh-gia lập hành-trình đi Bét-lê-hem để xem. Đại lọai là như vậy. Và, chừng như ở Trung Hoa lúc đó cũng có chỉ-dẫn cho biết có “sao lạ” xuất-hiện vào năm thứ tư trước Công-nguyên và nhiều người đã thấy “sao lạ” ấy suốt một thời-gian dài. Nói tóm lại, vẫn có điều gì đó không chắc lắm dù một số các học-giả đã định ra năm sinh của Chúa vào niên-biểu từ năm thứ 6 đến năm thứ tư trước Công nguyên. Có vị khác lại cho rằng: có thể là từ năm thứ 7 đến năm thứ 2, trước Công-nguyên cũng không chừng.

Vấn đề còn lại khiến nhiều người còn hỏi, là: niên-lịch cổ-đại như thế thì làm sao có thể sai sót được? Từ đó, lại có thêm vấn nạn hỏi rằng: khi nào thì tòan thể thế giới bắt đầu sử dụng niên-lịch sai lầm này? Để trả lời, có tu sĩ thuộc Dòng Khắc kỷ tên là Dionysius Exiguus (mất vào năm 550 Dương-lịch) là người từng đề-nghị ra năm sinh của Chúa dựa vào niên-lịch thì như thế. Vào năm này, chính ông là người từng khẳng-định rằng: Chúa Cứu Thế chào đời ngày 25 tháng Chạp năm thứ nhất rất Công nguyên. Dĩ nhiên, ông có thể sai sót đôi điều về năm tháng nhất thứ là khi đã hơn 500 năm qua, kể từ ngày Chúa Giáng hạ.

Đây là sử-liệu khá thú vị và như thế có lẽ ta cũng không thể biết rõ năm tháng ngày giờ Chúa hạ sinh được. Điều quan trọng hơn cả, là: ta hãy cứ mừng kính lễ hội Chúa Giáng trần với niềm hoan lạc và long trọng của ngày lễ.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 22/12/2013, tr. 10)

Trần tình về năm tháng ngày giờ Chúa Giáng hạ làm người thì như thế. Dĩ nhiên, ta không thể nói cho đúng và cho hết những gì liên quan đến niên hiệu cổ đại được. Bởi, ngay đến thánh-sử Luca cũng chỉ ghi và chép sách Công vụ lẫn Tin Mừng chỉ vào thập niên 60 hay 70 sau ngày Chúa hạ sinh, mà thôi. Và, thánh-nhân có ghi và chép Tin Mừng cứu độ của Đức-Chúa-làm-người, thì thánh-nhân lại cũng dựa phần lớn vào văn bản có từ trước của thánh Mác-cô, thôi. Mà, thánh Mác-cô lại chỉ viết về đời họat-động của Chúa lúc trưởng thành, thôi. Thành thử, Tin Mừng Chúa Kitô lịch-sử là Tin Mừng về chính sự Mừng Mừng Vui đích-thực bằng xương bằng thịt, cho mọi người
Tin Mừng Chúa loan đi, là Tin rất Vui Mừng về sự thể Chúa xuống thế làm người để cứu-chuộc trần-gian, đưa con người về với Tình Thương Yêu giữa Chúa Cha và triều thần thánh Nước Trời, cho con người như thánh-sử Gioan từng viết:

“Từ ban đầu đã có Ngôi Lời.”
(Ga 1: 1)

Ngôi Lời đã đi vào đời để làm người, là Ngài tự mình chấp-nhận cuộc sống của con người, như người đời. Nếu dùng ảnh-hình lời lẽ của người Việt mình, thì Ngôi Lời cũng sẽ ngang qua nhiều chốn vùng có trăng sao sông nước như được hát:  

“Hỡi ai đi kiếm hạnh phúc trên đời,
Mà chưa tìm thấy yên vui.
Lặng nghe tôi gởi (ó) mấy lời gió trăng...
Ca rằng...khoan hỡi hò khoan,
Yêu đời sóng gió lầm than,
Trên giòng sông mênh mang...
Riêng mình ta thênh thang.”
(Phạm Duy – Tiếng hát trên sông Lô)                      

Cũng hệt thế, hôm nay đây, Chúa vẫn đi vào giòng đời có lòng người. Và, giòng đời hôm nay, người người không chỉ ưu tư về tính chính-xác của năm tháng ngày giờ có chữ “N” như năm nào. Nhưng, đi vào giòng đời, Ngài đã thổ lộ với dân gian người đời về những thứ, những chuyện mà người đời, nhiều lúc, vì húy-kỵ chẳng dám nghĩ tới. Chúa đi và đến với con người bằng nhiều kiểu cách. Những kiểu và những cách được nhiều đấng bậc vị vọng trong Đạo diễn-tả bằng ngôn-từ rất thời thượng, để người nghe sẽ cảm kích.
Thông thường thì, các đấng bậc vị vọng vẫn dùng nhiều truyện kể để giải thích về nhiệm tích nhập-thể bằng ngôn ngữ tươi vui, dễ nhớ. Nhưng có điều là người nghe vẫn chỉ nhớ mỗi câu truyện kể chứ không hiểu và không nhớ các chi tiết mà linh mục muốn nhét vào đầu người nghe, là giáo dân. Chí ít, là thần học khô cứng về nhập thế và nhập thể, rất khó hiểu.
Hôm nay đây, bần đạo cũng xin tóm lược câu chuyện kể về Chúa nhập thể làm người phàm bằng một chuyện vui để nhớ, nhưng không phải để áp-dụng vào cuộc sống.

Truyện rằng:

Đôi vợ chồng mù trong thôn bà ngoại tôi năm nay đã sắp sửa tám mươi tuổi, đã có một đàn con cháu. Nghe bà ngoại tôi kể lại, khi cưới nhau, chồng ngồi xe bò đi đón vợ. Tuy cô dâu chú rể đều không nhìn thấy màu sắc, song chú rể vẫn sai người cuốn đầy lụa điều lên xe bò và đầu bò. Đón cô dâu về nhà, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, rà mò khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình. Việc khó hơn cả là múc nước ở cạnh giếng, lần nào cũng thế, hai người dắt nhau đi, vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, còn tay kia níu chặt bàn tay chồng. Chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên. Trong thôn có người ra giúp, hai người thường từ chối, họ bảo: "Các ông bà giúp được chúng tôi một giờ, không giúp được chúng tôi một đời".

Cứ như thế, hai vợ chồng luôn luôn tay dắt tay nhau gánh nước cho đến khi đứa con đầu lòng có thể gánh nổi một gánh nước. Dân làng cảm thấy lạ lùng, đã có mười mấy trai gái trẻ trong thôn đã từng vì đất trơn, trượt chân ngã xuống giếng, nhưng hai vợ chồng mù chưa bao giờ bị như vậy. Càng lạ lùng hơn là chuyện, mặc dù có đông người đang cùng nhau nói chuyện hỉ hỉ hả hả, hai người mù vẫn có thễ nhờ vào tiếng hít thở dài dài mà tìm ra nhau.

Bởi không nhìn thấy, dù mưa dù gió, người ta thường trông thấy hình ảnh hai người dắt tay nhau. Dù làm việc gì, họ cũng tay trong tay. Tay trong tay, hình tượng để nhiều nhà văn viết đi viết lại ấy, đã xuất hiện suốt nửa thế kỷ ở cái thôn nhỏ bé chẳng ai biết đến này.

Ông chồng là tay thổi kèn trong ban nhạc ở thôn quê, thường đến các đám cưới của người khác thổi những bài: "trăm con chim phượng hoàng", "niềm vui đầy nhà" ... mặc dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng chỉ có một yêu cầu, cho người vợ mù cùng đi. Để vợ ở nhà một mình, ông không yên tâm thổi kèn. Khi chồng thổi kèn, vợ ngồi bên chồng lặng lẽ nghe, dường như những điệu nhạc vui nhộn này đều là ông thổi cho bà. Trên khuôn mặt người vợ mù thường hay đỏ ửng lên, khiến ai nấy cũng cảm thấy người đàn bà mù đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết chừng nào.

Về sau này, hai vợ chồng đều đã già, không bao giờ đi ra ngoài nữa, chỉ quanh quẩn trồng nhiều hoa trong sân to nhà mình, tất cả đều là những giống hoa tươi rực rỡ, đến kỳ hoa nở, cả sân đỏ rực.

Một lần, ông sơ ý bị ngã què chân. Trong những ngày ông nằm bệnh viện, ba bốn ngày liền bà không ăn một hột cơm vào bụng, bà bảo, không sờ thấy bàn tay quen thuộc kia, bà chẳng còn lòng dạ nào mà ăn nữa.

Con cái sáng mắt cũng từng hỏi đùa bố mẹ:
-Nếu trời giành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có định dùng mắt nhìn nhau không?
Bà mẹ mù trả lời:
-Các con nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim, tim sáng hơn mắt, thật.
Ông bố mù thì bảo:
-Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con đều đã in trong trái tim bố. Bố chưa bao giờ trông thấy một người đẹp nhất, trong trái tim bố thì mẹ con là người đẹp hơn cả. Cần mắt để làm gì, mắt là thứ tham lam nhất trên trần đời, nhìn cái gì cũng chia ra tốt hay xấu, xinh hay không xinh, nhìn cái gì muốn có cái đó, trên mặt người ta có một cái sẹo cũng có thể để trong tim suốt đời.

Cũng có người nêu ra ví dụ, nếu vợ mù trông thấy mặt chồng bị phỏng sẽ có cảm tưởng thế nào. Lại có người đặt giả thuyết, nếu chồng nhìn thấy hai tròng mắt vợ lõm hẳn xuống, liệu có hối hận lời mình nói không? Bởi vì chúng ta có mắt, cho nên khi chúng ta nhìn người, chỉ dựa vào cảm giác của mắt mà quên dùng trái tim. Đúng như người vợ mù đã nói, con mắt của trái tim mới là sáng nhất, thật nhất.” (Truyện kể trích dẫn từ trang mạng, nhiều vô kể)

Kể truyện vợ chồng mù như thế, cũng chỉ để nói thêm đôi lời bàn của người kể bảo rằng: Có những điều được kể về ngày tháng năm sinh của Chúa hoặc về Ơn cứu độ nhập thể, ta chỉ hiểu được bằng con tim, chứ không thể bằng trí óc. Kể về sự kiện Chúa nhập thể đã là khó, nói chi đến chuyện chép ghi năm tháng rõ ràng như lịch-sử, ở ngoài đời.
Bởi thế nên, hôm nay bần đạo đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta hát thêm đọan kế tiếp trong bản trường ca “Con Đường Cái Quan” của nhạc sĩ họ Phạm làm đọan kết:

Hò hô hò hò ơi hò.
Ai đi trên đường là dặm đường,
đi mô mà vội vã (à), cùng là hò khoan
Hố hô hò (ơ) khoan.   
Hò hố hò hòi ơi hò,
Khoan, khoan tôi mời là mời bạn
Vui là họp đoàn đêm nay chừ là (a) nay
Hố hô hò (o) khoan.”
(Phạm Duy – bđd)

Vậy, cứ hò hụ rồi hò khoan cho nhiều rồi cứ thế, ta kết thúc câu chuyện Ngày Chúa Giáng Hạ, bằng lời ca cứ hát tiếp:

“Tới đây, lạ xứ quen người,
Trăm bề nhũn nhặn đừng cười tôi nghe.
Ví dầu tình bén duyên thề,
Thì xin kết bạn đền nghì trúc mai...”
(Phạm Duy – bđd)

Tình đã bén. Duyên đã thề, chắc chắn rằng tới được xứ lạ người quen ở chốn gian trần này, trăm bề nhũn nhặn không cười mà vẫn nhớ. Nhớ lời thánh sử còn ghi mãi rằng:

“Ngôi Lời ở giữa thế gian,
Và thế gian đã nhờ Người mà có
Nhưng lại không nhận biết Người.”
(Ga 1: 10)

Vâng. Ngôi Lời đầy Tình Thương Yêu đã “ở giữa thế gian”, ngay từ đầu. Thế mà người người vẫn “không nhận biết Người”, là bởi người người vẫn cứ tranh và cãi về năm tháng ngày giờ Người đã đến. Tranh và cãi, mãi mãi đến muôn đời, rất khôn nguôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Cũng không dám nhi nhô về bất cứ thứ gì
vì chỉ biết có mỗi điều là mình chẳng biết gì,
hoặc có biết cũng chẳng là bao nhiêu.
Nên, vẫn cứ để tai nghe biết mà ghi tạc vào lòng.
Chỉ thế thôi.