Friday, 9 November 2012

“Ngàn năm thương hoài, một bóng người thôi,”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 33 thường niên năm B 18.11.2012

“Ngàn năm thương hoài, một bóng người thôi,”
“Tình đã khơi rồi, mộng khó nhạt phai.
Trăng khuyết rồi có khi đầy, ngăn cách rồi cũng xum vầy
                 Mây bay bay hoài ngàn năm.
                                   (Phạm Mạnh Cương – Thương Hoài Ngàn Năm)
(STK 1: 23-24)
             “Thương hoài ngàn năm” vẫn mây bay! Ối chà, là thương nhớ! “Mộng khó nhạt phai” vẫn rất dài. Chao ôi, là tình tự. Tình tự nhớ thương, có bóng hình ghi chú chỉ một người. Và, người ấy cũng vẫn là người tình trăm năm, thương hoài hoài.
            Vâng. Bần đạo/bầy tôi hôm nay có hỏi cũng là hỏi lấy lệ, chứ có ma nào trả lời/trả lẽ cho ra nhẽ đâu. Dù, lẽ lời ở nhạc bản vẫn là sự thật rất thực! Thôi thì, sự thật có rất thực hay không, vẫn xin mời bạn/mời tôi, ta nghe thêm một đoạn nữa rồi sẽ tính:

“Lòng như con thuyền, đổ bến tình yêu.
Ngại gió mưa chiều, thuyền vẫn còn neo.
Ai đó dù có hững hờ, ai đó dù đã âm thầm,
Ra đi ôm trọn niềm thương.”
(Phạm Mạnh Cương – bđd)

            Thật ra, khi đặt bút viết đôi giòng này, hẳn nghệ sĩ họ Phạm tên Mạnh Cương từng suy nghĩ rất lung về thân phận người tình trăm năm vẫn mang theo một bóng hình thoạt nhìn đã nhớ. Và hôm nay, vì nhớ đến bóng hình người tình “thương hoài ngàn năm” cũng rất thương.
            Thương người tình ở đây hẳn sẽ không thương ai khác ngoài bạn đời chung tình từ muôn thuở mà người đầu đời ở cõi địa đàng, từng bày tỏ:

“Con người nói:
"Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!
Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra."
Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình,
và cả hai thành một xương một thịt.”
(Sáng Thế Ký 1: 23-24)

            Nói theo kiểu “người từ trăm năm về thăm …địa đàng”, thì tiên tổ đầu đời hẳn đã “gắn bó với vợ mình nên cả hai đã thành một xương một thịt.” mới “thương hoài ngàn năm” đến là thế, chứ bằng không chả chắc ai lại làm thế! Tuy thế, vấn đề ở đây cũng lại hỏi: thương người được ngàn năm ư? Thương, là nam nhân thương nữ phụ, hay phụ nữ thương nam nhân đến như thế? Thương nhau ngàn năm, có cần đi đến hôn nhân/hôn ước của chúng mình?
Và, khi nữ phụ đầu đời thay đổi tính tình, lại đã dám tự mình ăn quả cấm rồi còn trao cho nam nhân là kẻ mình “thương hoài ngàn năm” thì chắc gì cả hai sẽ còn chung sống đến ngàn năm mây bay chăng? Nói cách khác, hôn nhân/hôn ước có ích lợi gì và có là điều cần thiết để giữ chân hai người sống mãi sống hoài ngàn năm không? Để trả lời, có lẽ cũng nên coi xem các học giả/học thiệt có ý kiến gì để luận bàn chăng? Trước hết, là ý kiến của học giả trời Tây, bên ấy, có lời rằng:

“Từ năm 2000 đến 2010, các nhà khảo sát có đưa ra thành quả nghiên cứu nói rằng: một phần ba những người lập gia đình/sống có hôn ước, vẫn bền bỉ ở với nhau hơn so với mười phần trăm người sống độc thân, chẳng chịu lấy vợ lấy chồng.
Nói cách khác, hôn nhân/hôn ước mang lợi ích đến cho nam nhân nhiều hơn phụ nữ. Và, đối với những người sống như thế, thì hầu hết nữ giới sống tốt lành hơn nam nhân, đó là điều chắc. Hầu như phân nửa (đúng ra phải nói là 46%) con số những người này sẽ còn sống ít nhất thêm 3 năm nữa nếu họ chịu lập gia đình, tức là: với đàn ông/con trai, sống đời đơn độc, thì chỉ mỗi 3% số người như thế đạt được trạng thái nói ở trên.
Nói cho cùng, chuyên gia xạ trị Bs Elizabeth Nichols, người từng thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu, đã tiết lộ: “Tình trạng phối ngẫu là yếu tố quan trọng cho thấy chuyện sống còn đối với bệnh nhân ung thư phổi nào sống đời gia đình sẽ tiến bộ hơn. Lý do tại sao có sự việc này, thật ra cũng chưa rõ, nhưng thành tựu vừa rồi có cho biết yếu tố quan trọng là: xã hội góp phần không nhỏ trong quản lý cũng như chữa trị cho bệnh nhân ung thư phổi.” (x. Carolyn Moynihan, Marriage, a miracle cure, MercatorNet 11/9/2012)

            Thật ra, nói theo kiểu các nhà nghiên cứu thì như thế, tức nói có thực và có nghiệm, rất hẳn hòi. Còn như nghệ sĩ, thì cũng chỉ nói cùng một ý tưởng nhưng chưa chắc đã thực nghiệm hoặc xét nghiệm, mà lại nói kiểu văn hoa chữ nghĩa, rất như sau:

                        “Thời gian âm thầm như nước về khơi.
Lòng trót yêu người tình khó đổi thay.
Hoa thắm rồi có khi tàn,
Tình ấy chỉ đến một lần.
Tâm tư thương hoài ngàn năm.”
(Y Vân – bđd)

            Nói đến hôn nhân theo kiểu nhà Đạo, lại sẽ bảo: nam nữ sống chung cùng nhau vẫn là hợp đồng keo sơn theo cách nào đó cho thấy hai bên đã quyết thực hiện cuộc chung sống tốt đẹp. Còn mọi việc trong đời, thì tuỳ con người đối xử với nhau ra sao, có giống như hợp động đã chứng thực. Nếu thế thì, ly thân ly dị, do đâu có vấn đề?
            Nói gì thì nói, từ phần sâu thẳm của con tim, đôi bên nam nữ có hôn ước/phối ngẫu, từng biết chắc và rất thật rằng: hợp đồng chung sống không là mớ giấy lộn như hợp đồng thương vụ hoặc giao kèo vay nợ bằng miệng, cũng rất khác. Thật ra thì, một khi đã tin vào Đạo Chúa dạy, cũng phải hành xử như người đi Đạo vẫn cứ coi hôn nhân như nhiệm tích Chúa thiết lập, mà thôi.
Những ai tin tưởng vào tình thương-yêu không điều kiện, sẽ thấy là: chung sống “nên một”, một thân một mình giữa nam/nữ, đôi lúc cũng không đơn giản hoặc dễ dàng như ký kết hợp đồng, tưởng đã xong. Nhưng, thấy khó. Có khi còn ngã quỵ, tuyệt vọng, hoặc chán chường nữa. Nói cho cùng, động thái an toàn tạo tin tưởng, vốn giúp giải quyết mọi trục trặc về thể xác lẫn tâm linh, là động thái rất cần thiết, cho mọi người.
Rất nhiều lần, để tránh trường hợp chán ngán nhau, chán cả đường đi lối về của nhau, khiến có lúc một trong hai bên ký kết hợp đồng “thương hoài ngàn năm” vẫn phải tìm đến chất xúc tác để còn ở với nhau, mà không chán. Trường hợp cụ thể, thấy ở đời thường như truyện kể, ở dưới:

“Lấy nhau cũng xấp xỉ 3 chục niên, hai vợ chồng thấy mình tối ngày cứ đi ra rồi lại đi vào, nhìn nhau mà chẳng nói đến phát chán, bèn rủ rê ra ngoài vài phút giây, cho đỡ căng thẳng thần kinh. Người vợ rất bén nhạy về chuyện này, bèn đề nghị: hai ta dạo p[hố ngắm nhìn cảnh vật cùng người mình ở đâu đó, nhé hỡi anh…
Cả hai đi được một lúc cũng khá lâu, ngoảnh lại người vợ chẳng thấy chồng đâu. Lo quá, bà liền gọi điện cho chồng bằng di động. Bỗng nghe tiếng ông chồng yêu quí ở đầu giây bên kia, bèn hỏi ngay:
-Này, anh đang ở đâu, sao em nhìn mãi vẫn không thấy?
-Anh đâu có bỏ em đâu mà sợ. Nói đùa chứ. Em có còn nhớ cái tiệm nữ trang mà năm năm trườc đây, hai đứa mình vào ngắm thấy chiếc vòng kim cương quá trời đẹp không? Khi ấy, anh chẳng đào đâu ra tiền nên đành lủi thủi về nhà đó…?
-À, à, em nhớ ra rồi, phải tiệm đó ở gần nhà mình không?
-Đúng ngay chóc.
-Thế, anh có nhớ là anh hứa sẽ mua cho em một cái giông giống như vậy không. Có phải hôm nay anh đang ở đó lựa hàng chứ gì?
-Không đâu, anh đang trong tiệm này lấy hứng hẹn một ngày gần đây anh đến lấy…
-Tiệm nào vậy anh?
-Mau đến đón anh đi cưng. Anh đang ở quán cà-phê cạnh đó. Cũng chỉ sương sương qua ngày, chứ anh vẫn “thương hoài ngàn năm” em cưng của anh thôi.”
            Kể thì cũng lạ. Lạ ở chỗ: ở với nhau có đến gần 3 chục năm dài ròng rã, sao không chán. Hoặc có chán, sao không chia tay, rời bỏ? Không rủ nhau ra toà ký giấy ly thân/ly dị vậy? Chắc rằng, có lý do nào đó giữ chân được cả hai người? Vậy, lý do là do lý lẽ gì? Lý tưởng có là lý lẽ để tưởng nhớ hay không?                
            Nhà Đạo vẫn coi mọi sự đều là ân lộc trời cho, tựa hồ như Kinh Sách vẫn bảo:

                        “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy,
nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu.
Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ,
họ đã không có khả năng;
có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn;
lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời.
Ai hiểu được thì hiểu."
                        (Mt 19: 12)

            Thánh Mátthêu viết “Ai hiểu được thì hiểu”, tức câu nói này không dễ gì hiểu được cách trơn tru. Nhưng, người người vẫn cảm nhận được như chuyện về hôn nhân, hôn ước, với chung tình. Học giả trong/ngoài Đạo, nhiều vị cũng đạo đạt/thông suốt nhiều thứ. Dù, không hiểu và nói như thánh sử bảo: có người “bị người ta hoạn”, có người lại không “tự ý không kết hôn vì Nước Trời”, nhưng vẫn thông hiểu chuyện khó hiểu ở Nước Trời.  Về vấn đề hôn nhân truyền thống, thì một trong các vị ấy nay đà bày tỏ như sau:

“Người Công giáo hiểu rằng hôn nhân nam nữ có nhiều điều để ca ngợi và tuyên dương. Một số cặp uyên ương, đối với họ, đây là cung cách để sống cuộc đời cũng rất dễ, dù họ không đồng ý với những gì Giáo hội dạy. Nhất thứ, từ ngày có hiến chế Humanae Vitae khá gò bó, khó khăn, gây bứt rứt. Nhìn cho kỹ, sẽ thấy: trẻ bé vẫn là kẻ chịu cảnh sống oái oăm trong gia đình và xã hội, khi hôn nhân và gia đình bị gãy đổ. Từ đó, gây ảnh hưởng đến động thái tính dục và việc đồng công kiến tạo loài người, khi kết hôn.
Cũng thế, nhiều người lại cứ hiểu rằng hôn nhân/gia đình sẽ không tồn tại, ngoại trừ những người coi đó như một chọn lựa hấp dẫn. Luật tự nhiên dạy rằng: khát vọng có là thủ phạm của những lắt léo qua tội và lỗi, thì vẫn còn đó tương quan nền tảng giữa khát vọng và sự tử tế. Các nhà tranh đấu cho phụ nữ được đồng quyền lại cũng biện luận rằng: người ủng hộ hôn nhân truyền thống, vẫn dựa trên sự khống chế của nam nhân trên nữ phụ và vẫn ỷ lại vào sức chịu đựng của nữ giới rồi coi đó như phương thức mình dùng để biện minh cho lề thói vẫn khuynh loát, lạm dụng và có khi còn dùng cả bạo lực nữa.
Văn hoá nào đặt nặng chuyện nam nữ bình đẳng hoặc chú trọng nhiều về nữ quyền, thì Hội thánh sẽ bác bỏ việc ấy không nuơng tay. Phụ nữ độc thân, cả đến bà mẹ đơn chiếc, vẫn quyết tìm cho được người bạn trai hoặc nam nhân nào vừa ý để tỏ tình hoặc sống thuỷ chung hoặc chỉ sống đối xử với nhau như người bạn, thì cũng khó. Trong khi đó, Hội thánh lại vẫn muốn để nhiều năng lượng ra mà dẹp bỏ vai trò của nữ phụ trong các chức vụ quan trọng, thế nên thách đố cấp bách nhất hiện thời, vẫn là làm sao để giáo dục cảm xúc và tính dục cho nam nhân thì hơn.
Hội thánh xưa nay vẫn biết tội và chuyện gục ngã luôn đan kết với nhau ẩn bên trong con người; thành thử, khi hôn nhân gãy đổ thì đó là lúc ý tưởng tàn bạo, độc ác sẽ thắng thế.” (x.Tina Beatie, Gs Đại Học Roehampton, Luân Đôn, Commonweal, 16/01/2012)

Về với thi ca/âm nhạc, nghệ sĩ ngoài đời nhận định chuyện “thương hoài ngàn năm” không đến nỗi cao siêu/gẫy gọn đến như thế. Ý/lời của nghệ sĩ viết nhạc vẫn giản đơn, gọn nhẹ hát như sau:

            “Thời gian âm thầm như nước về khơi.
            Lòng trót yêu người tình khó đổi thay.
            Hoa thắm rồi có khi tàn,
            Tình ấy chỉ đến một lần,
            Tâm tư thương hoài ngàn năm.”
            (Phạm Mạnh Cương – bđd)

Thương hoài ngàn năm”, hay chung thuỷ trong sống đời hôn nhân ở đời thường, vẫn là những gì người người mong muốn. Mong muốn hơn cả, là lũ trẻ nhỏ ở đời vẫn sống hồn nhiên ngây thơ. Dù, trời có đổ. Dù, bão táp mưa sa cứ dồn dập đổ sập, vẫn nhớ lời Thánh Hiền nhủ khuyên để sống. Sống với lời như, như sau:

            “Thưa anh em,
Chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy sống tiết độ,
mặc áo giáp là đức tin và đức mến,
đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ.
Vì Thiên Chúa đã không định cho chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ,
nhưng được hưởng ơn cứu độ,
nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta,
Đấng đã chết vì chúng ta,
để dầu thức hay ngủ, chúng ta cũng sống với Người.
Vì thế, anh em hãy an ủi nhau và xây dựng cho nhau,
như anh em vẫn làm.”
(1Thes. 5: 8-11)

            Với lời nhủ khuyên như thế, thì dù thành công hay thất bại ở tình trường hoặc hôn nhân, thiết tưởng nguời người hãy vui lên mà tiến bước. Bước, những bước thận trọng nhưng rất vững trong tình thương yêu của Đức Chúa, Đấng luôn nâng đỡ mọi người dù ngã quỵ.
            Để trân trọng lời nhủ của đấng thánh hiền, cũng nên an ủi nhau bằng một truyện kể nhè nhẹ, để dễ nhớ như sau:

“Nữ phụ nọ, một hôm tình cờ lôi cây đèn đồng ra chùi cho bóng, bất chợt thấy thần đèn hiện đến bèn xin ước:
-Có phải ngài là vị thần vẫn cho mọi người ba điều ước nguyện chăng?  
-Không. Ta là thần chỉ ban duy nhất một ước nguyện thôi. Thế hôm nay, con ước những gì nào?
-Ngài hãy nhìn kỹ vào bản đồ này đã, rồi sẽ biết. Con đây muốn rằng từ rày về sau, tất cả mọi nước có mặt trên bản đồ này sẽ không còn tranh chấp chém giết nhau nữa, nhưng vẫn sống hiền lành chung thuỷ như vợ chồng con đây.
-Ấy! Ấy! Chớ vội vàng. Ta đây từng chiến đấu đến ngàn năm u hoài, ta không thể làm được việc ấy. Thôi đừng nói giông dài nữa, hãy chọn đi chỉ một ước nguyện mà thôi nhé.
-Thế thì, con đây chỉ xin duy nhất một ước nguyện là được sống trăm năm với một người. Mà, người đó không phải là người tối ngày chỉ nằm dài nơi sa-lông suốt ngày xem hơn chục người cứ tranh nhau chỉ một quả bóng. Hoặc người nào đó, cùng một sở thích như con là chỉ muốn đi mua sắm khu phố đắt tiền, lại chịu chơi cho con sắm đủ mọi thứ.
-Nếu thế, phiền con cho ta xem lại bản đồ của con có xứ miền nào gồm những như thế hay không, nhé.”
    
            Truyện kể mang tính tiếu lâm chay hay mặn cũng mặc. Người kể vẫn thích mỗi một chi tiết về những điều tựa như nghệ sĩ năm xưa vẫn cứ hát, để làm bằng cho lập trường “thương hoài ngàn năm” của đôi trai tài gái sắc rất như sau: 

                        “Thương hoài ôi ngàn năm còn đó,
                        Đá mòn mà tình có mòn đâu
                        Tình đầu là tình cuối, người ơi!
                        Suốt đời mình nguyện câu lứa đôi.”
                        (Phạm Mạnh Cương – bđd)

Nghe hát rồi, tưởng cũng nên đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta hãy để lòng mình lắng đọng mà liên tưởng đến tình huống nhè nhẹ, dễ mê, vào mọi lúc.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn cứ vui với lời khuyên nhẹ
của các thánh ở trong Đạo, ngoài đời.   

Saturday, 3 November 2012

“Buổi sáng khi sương tan còn lắng đọng,”

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 32 thường niên năm B 11.11.2012

“Buổi sáng khi sương tan còn lắng đọng,”
“Nhìn thấy dáng em ngoan nằm gối mộng.
(Nhạc: Chanson d’Orphée – Lời Việt: Bài Ngợi Ca Tình Yêu)
(1P 2: 1-2)

“Ngợi ca tình yêu” ư? Theo bần đạo, đó là công việc của các thánh, ở trong Đạo lẫn ngoài đời, vẫn đang làm. Không tin ư? Mời bạn/mời tôi: ta nghe truyện kể nhè nhẹ ở bên dưới:

“Trên đời có hai điều rất khó có ai đạt thành quả. Điều thứ nhất, là: gieo vãi ý tưởng của mình vào đầu người khác. Thứ hai, là: thâu tóm tiền bạc của người khác vào túi đựng của mình. Ai nào thành công ở điều một, được gọi là Nhà Giáo. Người thành công ở điều thứ hai, gọi là Doanh Nhân. Và người nào thành công cả hai điều trên thì gọi là bà xã, hay vợ nhà.”

Ngươì kể hôm nay vẫn coi sự thể ở đời là như thế. Còn, bần đạo đây, nếu được đề nghị làm người kể truyện, thì xin thưa: ai đạt cả hai việc ở trên, chắc chắn phải gọi là thánh nhân, thế mới đúng. Nhưng, để gọi là “dĩ hoà vi quý” bần đạo xin đồng ý cả hai tay với người kể, để kết luận rằng: bà xã hay bà nhà rất thánh, cũng như nhau, cũng tựa hồ ca từ của nhạc sĩ vẫn hát đẹp như sau:

“Trời đã, cho riêng Em một sắc đẹp,
Để trái tim anh sẽ không cằn cỗi.
Và rồi thời gian sẽ biến, lụi dần,
Mùa xuân ở mãi nơi này, Trời cho lứa đôi.”
(Chanson d’Orphée – bđd)

Quả là như thế. Nếu bạn và tôi, ta vẫn coi chữ Em ở trên có nghĩa là “bà xã” hay “bà nhà rất thánh” vẫn cứ được. Bởi, có là “thánh” mới được Trời ban cho “sắc đẹp để trái tim anh sẽ không cằn cỗi.” Và, có là “thánh” mới làm thời gian “biến lụi dần”. Lụi hoặc biến, “Mùa Xuân (vẫn) ở mãi nơi này” và “Trời cho lứa đôi!”
Sở dĩ bần đạo gọi các “bà xã ở nhà” là “bà nhà rất thánh”, là bởi mới đây thôi, bần đạo được đọc một đoạn suy niệm của đấng bậc vị vọng rất nổi cộm ở Úc đã kể câu chuyện nhẹ rồi kết luận bằng một nhận định chắc chắn không nhẹ với đấng bậc nữ mà cụ gọi là “bà sơ già” ở bệnh viện sau:

“Mấy hôm trước, tôi có dịp đọc cuốn “Bóng đen và khung trời mù tối”, thấy cũng xót xa, bàng hoàng, khó diễn tả. Sách, do tác giả người Úc, là lm John Cowburn, giáo sư trường thần học Dòng Tên ở Melbourne viết. Trong sách, tác giả thận trọng tìm phương thức hữu hiệu để giúp ta giữ lòng thủy chung với Chúa mọi tình huống, dù phải đối đầu với ác thần/sự dữ. Dù, mây mù dầy đặc suốt canh thâu.
Ý tưởng trên, bất chợt đến với tác giả khi ông đang đạp xe đến nhà thờ, thì bị ngã xuống đất, gẫy mất chiếc xương cổ tưởng rất cứng. Ông đành nằm chờ giải phẫu cũng khá lâu. Trong khi chờ, tình cờ ông gặp một nữ tu rất ư đạo mạo bước vào phòng bệnh, trao cho ông Mình thánh Chúa để hiệp thông với sự thống khổ của Ngài. Tác giả kể cho vị nữ tu biết lý do khiến ông bị nạn. Chuyện lan man như khúc phim dài vô vị. Nghe vậy, nữ tu bèn bảo: cha hãy cầu nguyện cùng Chúa đi, con nghĩ: Chúa thấu hiểu là cha cần một thời gian để nghỉ ngơi, nên Ngài mới sắp xếp để cha ngã, cũng nhẹ thôi chưa đến độ phải giã từ cuộc đời! Tác giả đáp: “Nếu thế thì, tôi cũng vui. Bởi, vậy là Chúa chịu để cho tôi chọn ngày nghỉ sa-bát mà lo cho thân xác mình, đấy Sơ!”
Thời Chúa sống đến nay, nhiều người tuy đạo hạnh nhưng nếu chẳng may gặp chuyện chẳng lành, cứ là hay đổ lỗi cho Chúa hoặc ác thần/sự dữ thế mới thành chuyện. Trong truyện, tác giả thừa hiểu mình bị nạn chỉ vì ơ hờ, mới ra nông nỗi. Đơn giản, chỉ mỗi thế. Vâng. Tất cả những gì tốt đẹp Chúa gửi đến, dù bị nạn, vẫn là quà tặng Chúa gửi để ta thêm dũng cảm mà tiếp tục hành trình gầy dựng nhân gian, bằng nhiều phương cách. Sự kiện Chúa giáp mặt với “điều chẳng lành” trong trình thuật Tin Mừng, hẳn đã mang dấu ấn của thứ thần học gọi là “sự-dữ-thôi-thúc-ta-gặp-chuyện-chẳng-lành”. Và, lời đáp của Chúa Kitô vẫn là thử thách gửi đến con người, như Ngài từng gửi đến dân Palestin ở thế kỷ đầu.
Xem thế thì, bất cứ khi nào ta đem hành xử tiêu cực với bất cứ người hay vật rồi đổ cho số mạng và rút lại mọi cam kết tốt đẹp, thì có lẽ cũng cần phải xa lánh hành xử những muốn đổ trách nhiệm lên người khác, hoặc phần số.
Trong sống đời thực tiễn, tùy cung cách ta hành xử, nó sẽ ảnh hưởng lên lòng xót thương, nhân hậu của ta đối với nhau, thôi. Như thế, là nên thánh, trọn lành, đầy tình mến. Còn, những người xấu họ cũng đâu muốn có hành vi xấu xa, tệ lậu như: trộm cắp, hờn căm, bạo động. Xa hơn nữa, còn là: giết chóc, dâm ô, hà hiếp hoặc tha-hóa bản thân đến bạo loạn.
Tùy mức độ nhận thức của con tim, ta vẫn có khả năng trở thành lành thánh như mọi người. Trở thành lành thánh, là biết trân trọng ân huệ Chúa ban ta nhận được, rồi cảm kích biết ơn. Có cảm kích mới xót thương người hèn kém từng vuột mất cơ hội nhận lãnh Tin Vui an bình, từ Đức Chúa. Và, tùy cung cách ta có đồng ý hay không với lập trường có lệ thuộc vào sự dữ/ác thần hay không, thái độ và khả năng trở thành lành thánh cũng tùy nơi ta. Bởi, ta được giáo dục tôn trọng tự do có chọn lựa đề ra quyết định, cho riêng mình. Thế đó, là hành xử của thánh nhân hiền lành hoặc người gian ác, tệ lậu là tuỳ.” (xem Lm Richard Leonard sj, Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 thưòng niên năm B, Bản tin Giáo xứ Fairfield, Úc 02/09/12)

Phải chăng hành xử có hiểu biết, giúp ích mới lành thánh? Hay, ta vẫn cứ quan niệm chuyện lành thánh/chính mạch kiểu cũ xưa như đấng bậc cũng lành và rất thánh khác, ở Sydney cũng lại nhận định một cách hơi khác, như sau:

“Thánh nhân, là người khi chết vẫn ở trong trong tình trạng lĩnh nhận ơn lành của Chúa và nay đang hưởng sự an lành nơi thiên quốc nên được coi là mẫu mực để tín hữu còn sống ở thế trần coi đó như nhân đức sống thánh. Việc coi đấng bậc nào là thánh nhân buộc ta chứng minh rằng đấng bậc ấy có tiếng là thánh thiện và sự thánh thiện của các ngài được xác nhận bằng luận cứ xác đáng, rất trân trọng. Điều này không có nghĩa vị đó luôn sống cuộc đời lành thánh, trước cũng như sau. Như thánh Âu Tinh chẳng hạn, ngài từng ăn ở sàm sỡ với nữ phụ nọ và có con với người ấy trước khi hồi hướng trở về cùng Chúa. Thánh Gioan Vianney, chánh xứ họ Ars định nghĩa đấng thánh như sau: “Các thánh không phải là vị nào cũng bắt đầu cuộc đời mình bằng cuộc sống an lành tốt đẹp, mà các ngài đều kết thúc đời mình cách đẹp đẽ không có gì đáng chê trách.” (x. Giáo lý Ơn Cứu Độ, chương 1)
Về với Hội thánh thời tiên khởi, các vị thánh đầu tiên được liệt kê trong hạnh các thánh là các đấng tử vì đạo. Khi biết chắc là vị nào đó đã bị đưa ra pháp trường để xử giảo do bởi các ngài cương quyết giữ vững đức tin, thì các đều phải được vinh danh như đấng tử vì Đạo hoặc “chứng tá” của niềm tin vững mạnh vào Chúa. Vì thế nên thánh tích các ngài để lại sẽ được thu thập và giữ gìn cẩn thận làm vật linh thánh; và ngày chết của các ngài sẽ được chọn để cử hành mừng kính.
Nơi giáo luật và đặc biệt là Lời nguyện Thánh Thể lúc ban đầu, có từ thời Đức Grêgôriô Cả cuối thế kỷ thứ 6 lại cũng gồm tóm danh tánh rất nhiều vị thánh đáng được mọi người cung kính. Không kể các thánh tông đồ gần gũi Chúa, còn thấy trong số đó có các vị mang tên Linô, Clêto, Clêmentê, Sixtô, Cornêliô, Cyprianô, Lôrenxô, Chrysôgônô, Gioan và Phaolô, Côsmô và Damianô, Gioan Tẩy Giả , Stêphanô, Matthia, Barnaba, Ignatiô, Alexan, Marcellinô, Phêro, Fêlicity, Perpêtua, Agatha, Agnès, Cêcilia và Anastasia.
Đến thế kỷ thứ 11, các Đức Giáo Hoàng còn thêm vào danh sách các thánh gộp thêm thánh Urbanô 2, Calixtô 2 và Eugêniô 3 và các ngài truyền rằng bậc thánh chỉ được công khai sùng kính, không do chỉ Đức giám mục chủ quản mà cả hội đồng giám mục trong vùng. Nghĩa là, phải được các Giám mục chuẩn thuận sùng kính ở địa phương, thôi.
Đến năm 1170, Đức Alexander 3 mới ra chỉ thị nói rằng không ai được coi là thánh nếu không được sự chấp thuận của Đức Giáo Hoàng. Đến năm 1234, điều này được Đức Grêgôriô 9 đưa vào giáo luật. Từ đó, chỉ Đức Giáo Hoàng là đấng bậc duy nhất có quyền công bố vị nào là thánh như thủ tục được tuân giữ đến hôm nay. Tóm lại, thời Hội thánh tiên khởi, được tôn vinh thành thánh nhân cũng dễ hơn bây giờ.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 29/7/2012 tr. 11)

Nếu bạn và tôi, ta là con dân hiền lành cũng rất “thánh” ở nhà Đạo rất Công giáo Rôma, hẳn ta sẽ chấp nhận lời của đức thày là hiển nhiên. Nhưng, nếu tôi và bạn lại là các kẻ tin vào sự đa dạng trong nhận định, lại sẽ đồng thuận với đấng bậc khác quan niệm thánh thiện có tính cách mới mẻ hơn như sau:

“Là con người, là ta thuộc về hành tinh “địa cầu” và vũ trụ trong đó ta vẫn sống. Vẫn hít thở. Nên, cũng cần đoàn kết hỗ trợ toàn thể thế giới, tức tôn kính và trân trọng mọi tương quan tinh tế với hết mọi người. Với cả cỏ cây, loài thú lẫn môi trường cùng khí hậu, để người người có thể sống cùng và sống với trong thương yêu. Ta có thể đổi thay thế giới mình chung sống. Nhưng thay đối ấy cần đặt căn bản trên sự tôn kính thương yêu hết mọi thứ, trong vũ trụ.” (x. Lm Andrew Hamilton, Catholics and the environment, Australian Catholics Spring 2012 edition, tr. 18)

Thêm nữa, là quan niệm của người đời cũng nghĩ và suy ý như “thánh nhân hiền lành” mà tác giả gọi là “người cùng đi với ta một đoạn đường”, trong đời. Quan niệm ấy, rất như sau:

“Sau cơn mưa vào ngày xuân hôm ấy, người bạn tốt của tôi ngỏ lời từ giã. Tôi kiên trì đòi đưa bạn ấy ra đến trạm xe. Bạn ấy ngăn cản tôi: "Đưa người ngàn dặm, cuối cùng rồi cũng cách biệt, dù thế nào đi nữa thì bạn cũng chỉ có thể đưa tôi đi chỉ một đoạn đường, thôi thì chỉ đưa tôi đến cửa thì ngừng bước nhé." Tôi đành tôn trọng theo ý kiến của bạn ấy. Mỗi con người đều chỉ đan xen vào một đoạn trong cuộc sống của người khác.
Điều chắc chắn vĩnh viễn là chỉ có thể đưa người đi cùng một đoạn đường. Bạn thương yêu cha mẹ mình, hy vọng họ sống lâu trăm tuổi, nhưng trong lúc bạn đang rất hiếu thuận với cha mẹ mình, thì họ cũng sẽ rời xa rước mặt bạn, bạn cũng chỉ có thể đi cùng cha mẹ mình chỉ một đoạn đường mà thôi. Bạn yêu thương con cái của mình ư, từng giờ khắc bạn mong rằng mình có thể vì chúng mà ngăn gió chắn mưa, vậy mà bạn đang lớn tuổi từng ngày, rồi cũng có một ngày, trước mặt các con bạn cũng phải bỏ chúng mà đi, bạn chỉ có thể cùng đi với con cái chỉ một đoạn đường.
Bạn có người vợ tâm đầu ý hợp, nhưng hai mươi mấy năm trước cô ấy thuộc về cha mẹ, vài mươi năm sau cô ấy cũng bị con cái, vận mệnh, mà chia cách, bạn cũng chỉ có thể đi cùng với nàng chỉ một đoạn đường.
Bạn xem trọng, trong tình nghĩa bạn bè, nhưng mà nếu không phải là bạn bè lìa xa bạn, thì cũng chính là bạn sẽ lìa xa bạn bè, bạn chỉ có thể cùng đi với bằng hữu một đoạn đường. Cũng vì chỉ có thể cùng đi với nhau một đoạn đường, Nên bạn càng thêm quí trọng tiếc thương. Lúc mà người ta cơ nhỡ đói rách, sự quan tâm của bạn nên trở thành một quả táo.Lúc mà người ta giá rét, thì sự giúp đỡ của bạn nên biến thành một cái áo bông.
Lúc mà người ta vui vẻ hạnh phúc, thì sự tươi cười của bạn đáng lẽ nên sáng lạn nhất; Lúc mà người ta gặp chuyện thương tâm, thì sự vỗ về an ủi của bạn đáng lẽ nên thật là chân thành thiết tha mới phải...
Cuộc đời vốn dĩ lập đi lập lại những ấn chứng: Ban đêm thì có thể vì việc thêm vào cái lồng lửa mà có được ánh sáng. Việc đẩy lùi tuyết lạnh không vì sự tham dự của gió lạnh mà hóa thành ấm áp. Bởi vì chỉ có thể cùng người ta đi chỉ một đoạn đường, Bạn đáng lẽ cũng nên học cách từ bỏ. Cha mẹ chỉ có thể vỗ về nuôi nấng bạn trưởng thành, không nên kỳ vọng cha mẹ là cái quải trượng (cây gậy) vĩnh viễn của bạn, để có thể chống đỡ toàn bộ cuộc đời của bạn.
Con cái cũng chỉ là cùng liên quan huyết nhục với bạn, chứ không phải là vật phẩm phụ thuộc của bạn, Bạn cần phải biết tôn trọng sự lựa chọn cuộc đời của chúng. Vợ con vì bạn mà cung phụng dâng hiến hết tình ái, nhưng sinh mệnh của nàng không phải là vật phẩm thế chấp của ái tình, nên dành cho nàng những khoảng không gian riêng tư cần thiết. Bằng hữu có thể cho bạn sự ấm áp, nhưng loại ấm nồng này là loại tình cảm mở, bạn không thể cưỡng hành độc chiếm tình hữu nghị của người khác...
Bạn chỉ là người khách qua đường trong cuộc đời của người khác, chỉ có thể cùng người đi cũng chỉ một đoạn đường đời, Điều đó chính là tính hữu hạn mà bạn cho người khác, vậy thì làm sao có thể mong cầu người khác cho đi sự vô hạn được?” (Du Vũ Minh, Chỉ có thể đi cùng bạn một đoạn đường, xem trên mạng)

Quan niệm thế rồi, cũng hãy làm cho mọi người không bị ràng buộc vào thứ gì hết, chí ít là sự ràng buộc vào những gì tệ hại, đầy lỗi phạm. Hãy để mọi người thoát khỏi vòng vây buông toả của đau buồn, rất độc ác. Và, cần làm những gì khả dĩ giúp người trở thành thánh nhân hiền lành, rất thương yêu. Hết mọi người.
Thế đó là nguyện ước của bạn và của tôi ở trong đời. Rất yên vui. Yên và vui, như đấng thánh nhà Đạo từng khuyên nhủ, như:

“Vậy, anh em hãy từ bỏ mọi thứ gian ác,
mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương
cùng mọi lời nói xấu gièm pha.
Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa linh thiêng, kông gian dối
ngõ hầu nhờ đó anh em sẽ lớn lên trong ơn cứu độ,
(1P 2: 1-2)

Trẻ sơ sinh hay người lớn tuổi, ai cũng có thể và cũng sẽ là thánh nhân hiền lành, ở trong đời. Nhưng, có tiếp tục sống như thế hay không, đó mới là vấn đề. Sống, là sống như thánh Âu tinh vẫn nhắc nhở: “Hãy cứ yêu rồi sẽ làm điều mình muốn”. Làm điều mình muốn làm, ở đây, là làm thánh cùng với mọi người, và mọi vật.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn tự nhắc nhủ lòng mình.
Ra như thế.