Monday, 13 October 2008

“Tiếng thì thầm của lặng câm”

(Mc 1: 36)

Thoạt đầu niên biểu 1964, người ca sĩ nổi tiếng của nền dân ca Hoa Kỳ là Paul Simon, rất xúc động về cái chết của tổng thống John F. Kennedy, đã viết thành nhạc phẩm mang tựa đề “Tiếng thì thầm của lặng câm”. Trong nhạc bản, có một đoạn người nghệ sĩ từng viết:

“Nơi luồng sáng bóc trần những ồn ào đó,

tôi vẫn thấy muôn người, đã có nhiều hơn

họ nói đấy, nhưng họ nào biết phát âm

cũng nghe đấy, nhưng cung lòng đầy trĩu nặng

và tôi thấy, nhiều người nay cũng viết nhạc

mà giọng hát, đâu nào biết sẻ san

không một ai, biết thân thương và trân trọng

cứ nhiễu loạn, tiếng thì thầm của lặng câm.”

(Paul Simon – The sound of silence)

Tiếng thì thầm của lặng câm. Hay còn gọi, là âm thanh đọng lắng của thinh lặng. Âm thanh ấy, chỉ những người biết lắng đọng, chìm vào nơi cuộc sống chiêm niệm/nguyện cầu, mới cảm nghiệm. Cảm nghiệm - nguyện cầu, trong ồn ào, bận rộn. Nhiều tranh sống.

Hôm nay, người người chừng như vẫn tranh giành nhau, để sống. Chẳng lắng tai, nghe tiếng động của lặng thinh. Quá bận rộn nơi kinh thành nhiều giành giật, nay trở thành căn bệnh trầm kha/khó chữa, của thời đại. Và hôm nay, người người đang kiếm tìm loại thuốc khả dĩ đem lại nhiều hạnh phúc.

Chính trong xã hội gồm nhiều bệnh khó chữa hôm nay, đã thấy nảy sinh một biện pháp, rất thử nghiệm. Một trong các cố gắng thử nghiệm đáng đề cao, ấy là chương trình truyền hình thực tế mang tên “Đan viện” đã tìm được vị thế xứng đáng. Từ năm 2004, một số chuyên gia truyền thông nay tìm đến với đan viện Biển Đức Worth Abbey ở Anh, để thu hình giới thiệu cuộc sống lặng thinh, có nguyện cầu.

Cũng từ đó, thấy nảy sinh câu chuyện hành trình tĩnh và nguyện của sáu nhân vật còn rất trẻ, đang đi vào thử nghiệm sống đời cộng đoàn, với các đan sĩ Biển Đức, chốn thinh lặng. Lm Christopher Jamison, một người sinh tại Úc, đang là đan-viện-phụ chốn tu trì im ắng này, có nói: chính cộng đoàn ở đây mới là ‘siêu sao’ của chương trình truyền hình, chứ chẳng phải riêng ai. Chương trình phim dài nhiều tập, mang tên “Đan viện” nay trở thành một khẳng định đáng gờm về ơn gọi phục vụ Hội thánh. Phục vụ xã hội.

Với nhiều người, đời sống khắc khổ lặng im của đan sĩ đã gợi lại ảnh hình về các thượng phụ cũng như mẹ dòng thoát tục, sống chuyên chăm nguyện cầu. Xa cách chốn thị thành, đầy huyên náo. Với một số người khác, đây là ý niệm xa vời, khó đi vào tâm tư nhận thức, của bà con. Ở đây, các tu sĩ đan-viện đang sống tách rời đời mình với hội dòng chuyên tu, nhưng vẫn cảm và thương mọi vấn đề của xã hội. Và, các bậc chân tu ở đây, vẫn liên tục nguyện cầu trong thì thầm, cho nhu cầu của thế giới. Rất cần sự lặng thinh.

Và hôm nay, tâm tư trầm lặng của Dòng đã gửi đến xã hội huyên náo ấy, đề nghị về lối sống khác lạ. Lối sống của Dòng, nay là phương cách thực tế, rất nguyện cầu. Không chủ trương áp đặt bất cứ phương cách chữa trị nào. Chẳng muốn kê toa đòi hỏi một lặng thinh, để cầu nguyện. Đây là lối sống khác biệt đem lại nhiều lợi ích. Lợi và ích, không nhằm giảm sút các sinh hoạt bên ngoài biến thành một thứ sản phẩm dành cho người tiêu thụ. Nhưng là lối sống, qua đó việc chiêm niệm/nguyện cầu đã là thành phần khẩn thiết, quyết không bỏ.

Nhu cầu thì thầm của lặng câm còn là điều được Chúa nhắc nhở nhiều, trong Kinh sách:

“Còn anh, khi nguyện cầu,

hãy vào phòng, đóng cửa lại,

cầu nguyện cùng Cha của anh,

Đấng hiện diện nơi kín đáo.

(Mt 6: 6)

Vào nơi kín đáo - đóng cửa, và lặng thinh nguyện cầu, luôn là việc làm bức thiết. Bức thiết hơn, đây vẫn là việc Đức Chúa từng khuyên dạy. Ngài dạy dân con/môn đồ qua các sinh hoạt do Ngài thủ đắc, như đoạn Kinh sách dưới đây chứng tỏ:

" Người đã dậy,

đi ra một nơi hoang vắng

và cầu nguyện”

(Mc 1: 36)

Có lúc, Ngài nói rõ hơn:

“Cầu nguyện,

thì các ngươi chớ lải nhải

như người ngoài!”

(Mt 6: 7)

Xem như thế, lặng thinh – tìm nơi vắng vẻ - chớ lải nhải… là bí kíp của một nguyện cầu. Bởi, nguyện và cầu cốt thiết ở việc tiếp xúc thân mật với Cha. Với Chúa. Và Đức Chúa là Cha, không hiện diện ở những nơi, những chỗ người đời cứ “lải nhải, như người ngoại”, đọc nhiều kinh. Rất kinh động. Rất thiếu tiếng thì thầm của lặng câm. Nơi tâm hồn.

Đã từ lâu, người ngoài đời, đều đã biết chuyện ấy. Biết rõ, nên nhà thơ và người viết nhạc, mới tỏ bày tâm tình rất lặng câm. Lặng đến rướm máu, rất thành thơ:

“Hãy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn mình người ơi,

…rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu…”

(Lê Minh Bằng–Đêm nguyện cầu)

Và thêm nữa, là nhịp kinh của những lặng câm, nơi người nghệ sĩ họ Trần:

“Người xa người, lạ lùng ngôn ngữ của lặng thinh.

Tình xa tình, đôi bờ hiu hắt tiếng cầu xin...

Nhịp kinh buồn, gõ đều trên mái… cơn chiều mưa.”

(Trần Thiện Thanh – Người xa người)

Chẳng cần biết “nguyện cầu hiu hắt tiếng cầu xin” kia có “lặng thinh”, hay không? Có là, động lực rất sống và cũng rất động cho mọi người hôm nay, hay không? Nhưng, chừng như sự lặng thinh và nguyện cầu hay đi đôi với nhau như cặp bài trùng. Nguyện cầu, có khi là cảm giác nao nao, tập trung. Đọng lắng. Của nhà thơ:

“Giữa đường cơn gió lặng thinh

Nghe nghiêng nghiêng nặng lòng mình nao nao.”

(Quốc Dũng – Chuyện Ba người)

Có khi, đây chỉ là những im ắng của cỏ cây. Loài thụ tạo, vẫn chiêm niệm suốt một đời. Vẫn cầu và vẫn cứ nguyện, không ngừng. Cầu cho vũ trụ. Nguyện cho không gian. Được đọng lắng, những lặng thinh. Nguyện và cầu, như vẫn được diễn tả ở bài thơ. Hay nhạc bản:

“Hãy lặng thinh như là cỏ cây

Hay bình an như áng mây bay. (Lê Tín Hương – Cuộc tình như mây bay)

Xem như thế, đâu phải chỉ những khi nguyện cầu, mới cần đến lặng thinh. Ngay trong cuộc tình như mây bay, như gió cuốn, người ngoài đời vẫn cần đến lặng và thinh. Lặng và thinh, như tình đã thuận. Tình đã thuận trong im lặng như tờ, của chiên con khi một mình đi lạc, được Chúa bỏ 99 chiên bạn, để tìm kiếm. Tình đã thuận cả vào lúc, chiên con bị thụ tạo dữ dằn như “con” người, đem đi xén lông. Và, “im lặng tình đồng thuận của chiên”, nay được khai thác nhiều nơi nghệ thuật. Có thi ca:

“Có nghĩa gì đâu một bóng hình

có nụ tình câm chết lặng thinh.” (Nguyễn Hùng – Có một thiên đường)

Và cả trong văn xuôi đầy chữ:

“Những người uống trà trong quán trà Thinh Lặng này, họ giản dị lắm; trà do chị chủ quán pha một bình lớn, rót ra sẵn trước mặt, ngửa cổ lên uống một hơn đầy, uống theo cả mệt nhọc của một ngày lao động vất vả vào lòng ngực. Họ chỉ vào ngực mình, ngực bạn, nói lòng quý mến nhau. Những tiếng động bên ngoài đường của xe cộ, của âm thanh ầm ĩ, họ bỏ cả ngoài tai. Trong những lồng ngực đơn sơ đó, cái âm thanh tĩnh lặng kéo dài theo nhịp đập êm ả của trái tim.

Tôi chào họ ra về, mang theo quán trà Thinh Lặng trong trái tim nhiều tiếng động đời thường của mình, nước mắt bỗng ứa ra.

Chao ôi, là quê hương yêu dấu! Mỗi chỗ giấu một điều bí mật, ta có may mắn tìm thấy, khác nào như những người tìm được châu báu trong kho tàng cổ tích thần tiên. (Trần Mộng Tú, Quán Trà Thinh Lặng, 2008, tr. 3)

Với người viết tên Trần Mộng Tú, cái “thinh lặng” của quê hương yêu dấu, có “giấu một điều bí mật, trông thật như những người tìm được châu báu trong kho tàng…cổ tích thần tiên”. Nhưng, trân châu và của quý, không chỉ nằm trong kho tàng cổ tích, nhưng “kéo dài theo nhịp đập của trái tim.” Đó chính là vấn đề, của thời đại. Của mỗi người. Trong không gian và thời gian, của bây giờ và mãi mãi.

Đây là khám phá mới của người thời đại. Một thời, có những người đã và đang làm phim, trong thinh lặng. Như phim dài nhiều tập mang tựa đề “Đan viện”, được trích dẫn ở trên. Tưởng, cũng nên trích dẫn thêm ở đây lời của đan-viện-phụ Christopher Jamison, khi ông nói về những đổi thay trong cộng đoàn nhỏ bé chừng 20 vị chân tu, sau khi kịch bản “Đan viện” ra chào đời. Được mời trình chiếu:

“Đan viện Worth Abbey nay thay đổi, đã khá nhiều. Rất nhiều vị đến đây, tìm nơi ẩn dật, để tĩnh huấn. Sự kiện này, đã đem lại sự tự tin đến cho những người đang suy tư về cuộc sống, có đời tu.” (Beth Doherty, A monk out of the box, www.australiancatholics.com.au, 14.09.2008)

Cuối cùng, để minh hoạ cho sức mạnh của “tiếng thì thầm của lặng thinh”, xin mời bạn, mời tôi, ta cứ theo dõi giòng chảy nhiều tư tưởng, gói trọn trong câu truyện của “cà-rốt, cà-phê và trứng hột”:

“Người nữ trẻ, một hôm đến với mẹ hiền, hỏi về kinh nghiệm sống, có cần đến lặng im, không. Sao cô thấy khó ở, khó lòng giữ im lặng, đến như thế. Cô thấy thấm mệt với những ngày đợi chờ, lặng yên mà suy gẫm. Suy về đời. Gẫm nhiều thứ.

Mẹ hiền đưa cô vào với bếp núc, chốn thân quen cô vẫn sống những ngày những tháng, có lặng và có im. Bà mẹ, liền đổ đầy nước vào 3 nồi nấu bếp. Rồi đặt lên bếp lò. Khi nồi nước bắt đầu sùi tăm, bà bỏ vào nồi đầu là cà rốt. Nồi thứ hai, trứng gà. Nồi thứ ba, cà phê hột đã rang/xấy. Vẫn thinh lặng, không nói lời nào. Chừng hai mươi phút sau, bà tắt bếp lấy cà rốt ra khỏi nồi, để vào dĩa/chén nhỏ, rất vừa khít. Sau đó, bà lại vớt trứng ra, cũng lại bỏ vào một cái chén. Xong xuôi đâu đấy, bà cũng vớt các hột cà-phê nâu đen ra và bỏ vào chén nhỏ. Xong rồi bảo:

-Bây giờ, con hãy nói cho mẹ biết con thấy những gì?

-Chỉ là cà rốt, rồi trứng, rồi cà-phê, thôi.

Bà bưng chén đựng cà rốt đến cho cô con gái xem thử, rồi lại hỏi:

-Bây giờ con nhận thấy mấy củ cà rốt này thế nào?

-Cà rốt mềm đi rất nhiều, mẹ à.

-Bây giờ con hãy sờ vào trứng, đập vỏ của nó rồi nói cho mẹ biết con thấy gì?

Bóc lớp vỏ bọc, cô con gái nhận ra nguyên hình quả trứng có lòng trắng, đanh lại. Và cuối cùng, bà mẹ yêu cầu con gái nếm thử ngụm cà phê, xem có nhận xét thế nào, sau khi nấu. Con gái bắt đầu làm thế, thấy có gì đó khác lạ, bèn hỏi:

-Ý của mẹ là sao đây, sao mẹ bảo con làm thế?

Bà mẹ giảng giải cho con gái nghe lý lẽ của mọi sự. Cả ba vật, vẫn im lặng chịu đựng cùng một động tác: im lặng, ngập nước đun sôi, trong nhiều phút. Nhưng mỗi vật đã phản ứng theo phương cách khác nhau. Cà rốt lúc đầu thuộc loại mạnh, cứng và dòn. Nhưng sau nhiều phút đọng lắng trong nước đun sôi, đã trở nên yếu ớt, rất mềm mại. Trứng gà trước khi nấu, thuộc thể lỏng, dễ vỡ. Chỉ một màng vôi bọc rất mỏng cũng đủ để bảo vệ lớp nước lỏng bên trong. Nhưng khi ngập đắm trong lớp nước đun sôi nhiều phút, lớp nước bên trong, đã trở nên cứng cát. Không cần đến lớp vỏ bọc ngoài. Riêng có cà-phê hạt độc nhất một loại, đã thay đổi cả nồi sục sôi, thành nước uống mầu nâu thơm phức. Bà bèn hỏi:

-Con sẽ là người thế nào, khi có nguồn lực ồn ào năng động, dồn ép, con đáp ứng ra sao? Con sẽ như cà rốt, hoặc trứng, hoặc cà-phê, đây? Cứ suy nghĩ như thế này. Tôi là loại người nào? Có phải như cà rốt, bề ngoài xem ra có vẻ năng động, cứng rắn, ầm ĩ, nhưng mới đau có một chút hay bị thế lực sôi động, thù nghịch lấn át, đã ra yếu mềm, mất hẳn sức lực vẫn có? Hay, tôi như trứng gà với tâm can mềm mại đầy những nước, nhưng một khi đã trải qua chịu đựng các áp lực từ sức nóng sục sôi, dù quá nhiều phút im ắng giống như cõi chết, đã cứng dần và rắn chắc. Lớp vỏ bọc bên ngoài vẫn một hình thù như cũ, nhưng tinh thần bên trong đã cứng cỏi, nhiều tâm huyết? Hoặc, tôi như hột cà-phê? Dám đổi thay cả nồi nước sục sôi, đem nhiều nóng sốt; nhưng khi mọi sự nóng bỏng, mùi vị thoát nơi tôi. Làm thân đậu hạt, hoàn cảnh bên ngoài có xấu đi, thử thách dồn dập đến, tôi vẫn cứ vươn lên thành lãnh vực khác. Im ắng, nhưng không chết lặng.

Bài học chịu đựng trong im ắng, là như thế. Từ những khoảnh khắc ưu tư trầm lặng, rất khó chịu, vẫn cứ chịu khó. Bởi, có như thế, ta mới có thể thay đổi được chính mình. Thay đổi cả môi trường sống xung quanh, rất sục sôi. Năng động. Ồn ào.

Cũng như khi con trẻ hạ sinh chào đời, sự vật chung quanh đều im ắng, đón chào. Và khi con trẻ cất lên thành tiếng khóc đầu đời, trong lặng thinh, thì mọi người lại cười vui. Rất lao xao. Náo động cả một vùng không gian.

Bởi thế, hãy sống cuộc đời mình, dù rằng trong im ắng hay ồn ào sục sôi, để rồi vào cuối đời, khi đi vào giấc ngủ miên trường với nụ cười, thì người chung quanh vẫn cứ khóc. Khóc/cười hay im lặng/ ồn ào khác nhau là thế đó.

Có phải, thế đó là bài học của “tiếng thì thầm của lặng câm”. Và từ đó, còn có câu kết của nhạc bản. Nhạc tình chan chứa. Đầy ắp những lời bàn, rất thinh lặng và nín câm, hơn bao giờ hết:

“ Và người người những cúi đầu, mà nguyện cầu

từ vệt sáng Chúa dựng nên.

Vệt sáng cứ chớp nhiều lời cảnh cáo:

Trong một lời, gói ghém nên sự thật.

Và vệt sáng có thêm lời ngôn sứ

Được viết trên ngõ hầm ở sân ga

Viết lên cả, những bức tường thành

Của chúng cư, nơi gác trọ.

Vẫn lâm râm tiếng thì thầm, của lặng câm.

(Paul Simon, The sounds of silence)

Và tiếng ấy, nay râm ran vang vọng. Với muôn người. Ở mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai

còn nghe vang vọng đâu đây

tiếng thì thầm

của một lặng câm.

rất Im ắng.

Monday, 6 October 2008

“Anh sẽ vì em làm thơ tình ái”

Anh sẽ gom mây kết hình lâu đài.

(Trần Thiện Thanh – Lâu đài tình ái)

(Mt 2: 13/ 2:19)

Từ ngày qua Úc, bần đạo có nhiều dịp ghé nhà hàng dự tiệc mời, khá nhiều. Đa phần là tiệc cưới. Mỗi lần dự, bần đạo nghe các “hát sĩ” thuộc loại cây-nhà-lá-vườn cứ ỉ ê bài “tình ca”, rất du dương. Khá ái tình. Đại để, muốn gom kết mây xanh, thành lâu đài. Lâu đài nhiều tầng mây, trông rất đẹp. Đẹp như một bài thơ, rất tình. Có trăng. Có sao. Có giới cao sang, quyền quý. Có, quân vương/hoàng hậu, trôi theo cùng giòng chảy. Giòng ấy, chảy như sau:

“Em ơi, lâu đài tình ái đó,

chắc không có trên trần gian,

anh đưa em vào, bằng tiếng hát

chắp đôi cánh nhung, thiên thần.” (Trần Thiện Thanh – bđd)

Lâu đài tình ái, nghệ sĩ hát khá nhiều. Nhưng, sao bảo là không có? Lại còn nhắc đến “cánh nhung thiên thần”. Bần đạo nghe rồi tự hỏi: thiên thần sao có cánh nhung? Nếu có chăng, chỉ là cánh nhung bọc vải trời, đã là may rồi. Và, thiên thần cánh nhung hôm nay, có vui vầy ngày Vua Tình Ái xuống giáng trần? Vua Tình Ái, có thiên thần giang cánh, hát tung tăng. Câu hát, nay văng vẳng từ đâu đó:

“Đêm thanh nghe tiếng hát của thiên thần,

chung vui hoà vang, tiếng hát nỉ non…”

Hoặc, một hoà vang. Chúc mừng:

“Giữa muôn ngàn hào quang,

với muôn ngàn hương ngát, lừng

bao thiên thần hoà vang

cất bao lời cung chúc, mừng.” (Vinh Phúc/Nguyễn Đức – Kìa Trông Huy Hoàng)

Vâng. Đêm thanh, tiếng hát của thiên thần, lời cung chúc, vẫn từ các vị không mang cánh, rất khác người. Dù, có cánh hay không, ta vẫn gọi các đấng bậc thiên thần, ở trần gian. Những, tổng lãnh thần thiêng, là thần sứ. Lớn nhỏ. Ở đâu đó. Như thắc mắc ưu tư nhiều người, vẫn còn tin. Tin vào bậc lành thánh rất “có cánh”. Bởi thế nên, vừa rồi, có vị đã thư về gặn hỏi đấng bậc linh mục chủ trì mục hỏi đáp, rất thân quen, như sau:

“Tôi là độc giả của tờ The Catholic Weekly ở Sydney, vẫn thường xuyên theo dõi mục hỏi-đáp, về Đạo. Nay, hỏi cho biết: có khác biệt chăng giữa danh xưng “thiên thần” và “tổng lãnh thiên thần”? Và, Kinh Thánh có chỗ nào đề cập, nói về các Tổng Lãnh Thiên thần, không?”

Gặn hỏi là vừa hỏi và vừa gặn, nhưng không đính kèm một chữ ký nào ở bên dưới. Dù vậy, đấng bậc linh mục phụ trách hỏi-đáp, vẫn rất vui, mà trả lời:

“Trước hết, xin được bắt đầu bằng danh xưng “thiên thần”. Cụm từ này, bắt nguồn từ chữ “aggelos” bên tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “sứ giả”. Vì thế, danh xưng này được dùng để chỉ vai trò của các thiên sứ. Đúng hơn, là chỉ về bản chất của các đấng ấy.

Thiên thần, với tư cách là sứ giả của Đức Chúa, đã thấy xuất hiện nhiều lần trong Kinh Thánh. Có thiên thần từng hiện ra với ông Gia-cóp, để khuyên ông hãy quay về nơi cha sinh mẹ đẻ của mình, cho an toàn dân con (x.Kn 31: 11-13). Ở nơi khác, là đoạn nói về vị thiên sứ hiện đến với bà Ma-nô-a, để báo tin cho biết, là: bà sẽ sinh hạ một người con. Và, người con của bà phải được đặt tên là Samson (x.Tp 13: 3).

Về sau, cũng có đoạn Tin Mừng kể về chuyện sứ thần của Thiên Chúa hiện đến với ông Giu-se báo mộng cho ông biết là: Hài Nhi Rất Thánh mà Đức Maria đang mang thai, chính là do Thánh Thần Chúa, tác tạo (Mt 1: 20). Tương tự như thế, ta còn đếm được thêm hai lần khác ở Tin Mừng thánh Mát-thêu. Một, ở đoạn 2 câu 13; và, một, ở đoạn 2 câu 19. Nơi đây, cũng thấy nói đến thần sứ Ga-bi-ri-e hiện đến với ông Za-ka-ri-a báo cho ông biết về việc bà nhà Ê-li-za-bét sẽ sinh hạ người con, và ông sẽ đặt tên cho con ông là: Gio-an (Lc 1: 11). Sau đó, là đoạn sứ thần hiện đến với Đức Maria, loan báo với Mẹ chuyện Đức Giê-su sẽ hạ sinh từ cung lòng Mẹ (Lc 1: 26-31).

Trong khi, chỉ một ít thiên sứ hành động theo tư cách của các sứ giả, là: thông chuyển ý định của Đức Chúa với trần gian; hoặc, xuất hiện để tháp tùng các thánh qua tư cách của đấng bảo hộ, như trường hợp Tổng lãnh Thiên thần Ga-bi-ri-e hiện đến với người trẻ tên Tô-bi-a, ở Cựu Ước (Tb 3. 17). Trên thực tế, thần linh thiên sứ đều xuất hiện với chốn gian trần, luôn ở tư thế đang chiêm ngưỡng Chúa, nơi cao ấy (Mt 18: 10). Từ nơi cao, các thần sứ vẫn kính thờ Chúa trong phong cách oai phong, diễm lệ.

Về bản chất, thần sứ trên thiên toà là đấng thần linh tinh khiết, rất thông minh. Rất dĩnh ngộ. Và, tự do. Là vì, các ngài do Thiên Chúa tạo nên, từ buổi đầu. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo mô tả các ngài, là: “tạo vật thiêng liêng, bất tử. Rất trọn hảo. Các đấng vượt lên trên mọi tạo vật mà ta có thể nhìn thấy, là vì nét vinh quang lộng lẫy Chúa ban cho các đấng, để làm chứng cho Quyền uy của Ngài.” (x. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo #330).“ Sự hiện hữu của thần linh thiên sứ, không mang hình hài xác thể nào hết, nhưng Kinh Thánh vẫn gọi các ngài là ‘các thánh thiên thần’, vì đó là sự thật của lòng tin. Lời chứng của Kinh Thánh đã thấy nơi sự hài hoà của Truyền Thống.” (x. GLHTCG #328).

Từ buổi đầu tạo dựng, mọi thần linh/thiên sứ dù được ban ơn thánh hoá, nhưng vẫn phải trải qua một thời kỳ thử thách, để xem các ngài có xứng đáng được gia nhập đạo binh Thiên quốc, không. Có vị, bị Chúa khước từ quyền năng, nên đã trở thành “thiên thần gẫy cánh” hoặc tà thần/ác quỷ. Về việc này, thánh Phê-rô cũng có thư dài giải thích: “Vì nếu Thiên Chúa đã không dung thứ cho thần sứ mắc tội, nên mới tống họ vào chốn hố sâu địa ngục tăm tối, giam họ ở đó chờ đến kỳ phán xét, mới thôi…” (2P 2: 4).

Cũng nên mở ngoặc ở đây để gọi là có chút lời bàn, có thể nói: chắc cũng vì lý do này, mà người nghệ sĩ chốn gian trần, đã có lời thơ/ý nhạc rất trùng hạp:

“Em ơi, lâu đài tình ái đó,

sáng trong ánh tinh cầu xa

cho nên, cho dù nghìn năm qua

còn vấn vương đôi hồn hoa. “ (Trần Thiên Thanh – bđd)

Thật sự thì, lâu đài tình ái ấy, có hay không có trên trần gian; hoặc thần linh thiên sứ ở trần gian sao không giống như được tả nơi Kinh sách? hay gì đi nữa, cũng chớ lo. Và, cũng đừng sợ. Bởi, Cựu Ước đã từng căn dặn:

“Đừng lo lắng,

đừng sợ gì cho chúng, em ạ!

Vì sẽ có thiên thần bản mệnh cùng đi với con,

thì cuộc hành trình của nó sẽ thành công,

và nó sẽ trở về mạnh khoẻ!”

(Tb 5: 22)

Đã có thiên thần ở gần, tức không còn gì để sợ, nữa. Vì, thiên thần ấy, dù có người còn gọi là “bậc tiên, bậc thánh”, cũng được thánh Phao-lô khi xưa dặn dò:

“Vì khi hiệu lệnh ban ra,

khi tiếng tổng lãnh thiên thần

và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên,

thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống,

và những người đã chết trong Đức Ki-tô

sẽ sống lại trước tiên.”

(1Th 4: 16)

Ở đây nữa, thánh Phao-lô cũng nói đến vai trò của Tổng lãnh Thiên thần. Vậy, Tổng lãnh Thiên thần, ngài là ai? Quyền phép thế nào? Và, lời giải thích xin dành cho đấng linh mục vị vọng, ở Sydney:

“Một số các thiên thần được gọi là Tổng lãnh Thiên thần. Danh xưng này, mang ý nghĩa: đây là thiên thần “ở nơi cao nhất” hoặc, nói theo ngôn từ ngày nay, là “thủ trưởng” các đấng thần linh thiên sứ. Các vị ấy, được nhắc đến, hai lần trong Kinh Thánh. Một, là ở sách Giu-đi-ta đoạn 1 câu 9. Và một, là ở thư thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Thét-xa-lô-ni-kê. Riêng tác giả Cựu Ước cũng nhắc đến Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e, dũng mãnh. Và, thánh Phao-lô lại đề cập đến việc Đức Kitô đến lần thứ hai, với sự có mặt của vị “sứ giả” này.

Kinh Thánh, thỉnh thoảng cũng nhắc đến các danh xưng/tên gọi, vốn áp đặt cho các thiên thần. Và, cũng mô tả phẩm trật trên dưới có lớp lang trong hàng ngũ các vị ấy. Tỉ như, thánh Phao-lô nói đến “thiên toà hay thiên chủ, thiên phủ hay uy linh” (Cl 1: 16); hoặc: “trên mọi cấp bậc chốn hoằng thiên: thiên phủ, uy linh và quyền năng, thiên chủ” (Êp 1: 21). Và, nhất là đoạn nói đến: “các đấng uy linh, chốn hoằng thiên” (Êp 3: 10).

Các tác giả thời về sau, cũng triển khai ý tưởng nói đến triều thần thánh thiên thần, chín phẩm; hoặc bầu đoàn thần thiêng, trên thiên quốc. Trong số đó, cũng nên kể đến các vị có tên tuổi: thánh Am-brô-si-ô, thánh Xi-rin ở Giê-ru-sa-lem, thánh Gio-an Kri-zốt-tô-ni-mô ở thế kỷ thứ IV, và một vị tên là Đi-ô-ni-sô Giả ở thế kỷ thứ V; và, thánh Tô-ma A-ki-nô ở vào thế kỷ thứ XIII.

Danh tánh các thiên thần mà các tác giả kinh sách xếp loại vào trong danh sách các phẩm trật được kê thành ba nhóm, mỗi nhóm gồm ba đoàn. Trong đó, có thể kể ra ở đây, như: bầu đoàn thiên thần sốt mến Sê-ra-phim, Thiên thần Kê-ru-bim (còn gọi là Minh thần); rồi đến các Thiên phủ, Thiên chủ, Uy linh, Đấng quyền năng, chốn Thiên hoằng, vv… Nói chung, cũng không nên hiểu đây là giáo huấn chính thống của Hội thánh. (John Flader, The Catholic Weekly xuất bản ngày 28/9/2008, tr.10)

Dầu gì đi nữa, là thiên thần hay đấng bậc thần thiêng, vẫn là các vị thiêng liêng sáng láng, mà người trần mắt thịt chúng ta chẳng hề trông thấy. Nhưng, ta vẫn tin các vị này rất ư là hiền từ, tử tế. Chỉ chuyên làm việc thiện. Chỉ hộ phù, giúp đỡ đám dân đen phàm hèn, trên dương thế.

Còn nhớ, bầu bạn nhiều nơi vẫn có thói quen tôn sùng vị Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e hoặc Ra-pha-e, đến độ coi các vị này như cánh tay mặt quyền uy của Đức Chúa. Các Vị, luôn đóng vai đấng bậc bảo vệ, và phụ giúp mỗi khi ta gặp nạn, hoặc khi ta cần đến các ngài. Khỏi cần tranh luận, là chuyện ấy có thật hay không, về các đấng bậc thần linh thiên sứ, tốt hơn hết, hãy cứ muờng tượng và tin tưởng, là: người công chính và kẻ hiền lành, trước sau gì cũng sẽ được các đấng/các vị này bảo trợ, hộ phù. Quyết chẳng sai.

Để minh hoạ cho lập trường ở trên, cũng nên kể lại nơi đây câu truyện kể, để thư giãn, như bên dưới. Truyện rằng:

“Đêm hôm đó, tôi mơ thấy thần linh thiên sứ hiện đến với tôi. Vừa gặp ngài, đã nói:

-Vào đây đi, nào. Chắc anh bạn muốn phỏng vấn ta, chứ gì?

-Dạ. Nếu ngài có đôi ba giây phút rảnh rỗi.

-Thì giờ của ta kéo dài đến vĩnh cửu. Chắc vừa đủ để làm mọi chuyện trên đời. Thế anh bạn có điều gì để hỏi, đây?

-Vâng. Con muốn hỏi: trên đời này, có gì làm ngài ngạc nhiên về con người, không?

Thiên sứ trả lời:

-Có chứ. Đó chính:

*là, khi thấy mọi người hay chán ngán, chẳng còn muốn làm con trẻ. Vẫn cứ mong lớn cho mau cho lẹ. Làm người lớn rồi, lại mong trẻ trung, như tuổi nhỏ.

*là, thấy người người cứ vung tiền tiêu phí, làm mất đi sức khoẻ; để rồi, lại mất tiền toi, hòng tạo lại sức khoẻ, đã để mất.

*là, khi lo lắng quá sức về tương lai mai ngày, khiến quên mất đi hiện tại mình đang sống, để rồi không còn sống cho hiện tại, lẫn tương lai.

*là, thấy người người cứ sống như thể không bao giờ sẽ phải chết đi, và chết đi như thể chưa bao giờ từng sinh sống.

Tiếp đến, thần linh thánh ái nắm tay tôi hồi lâu. Hai tôi cùng thinh lặng. Chợt phút chốc, tôi lại hỏi:

-làm bậc cha mẹ, ngài thử nghĩ xem: đâu là bài học sống động, trẻ cần học?

Thần sứ trả lời:

-Điều chúng cần học,

*là: mình không thể khiến bắt mọi người yêu mình, nhưng cứ tự để mọi người tìm đến mình mà yêu thương.

*người giàu không là người có nhiều thứ nhất, nhưng là người có ít nhu cầu nhất.

*là, chỉ cần mất vài giây để mở rộng vết thương lòng của người mà ta yêu, nhưng phải mất rất nhiều năm mới chữa lành được vết thương ấy.

*là, có nhiều người yêu mình thật sự, nhưng họ không biết cách tỏ bày tình thương hoặc diễn tả cảm giác của họ với mình, thôi.

*là, hai người có thể cùng trông nhìn vào một vật, nhưng lại thấy khác nhau

*là, tha thứ hoặc được người khác thứ tha, vẫn chưa đủ, mà còn phải tự tha thứ chính mình nữa.

Nghe rồi, tôi cứ ngồi đó vui hưởng khoảnh khắc êm ả ấy. Tôi cũng nói lên lời cảm tạ thần linh thánh ái về thơi gian ngài bỏ ra, để ở với tôi. Cảm tạ về tất cả những gì ngài đã làm cho tôi và gia đình. Nghe thế, ngài bèn nói:

-Không sao đâu, anh bạn ạ. Ta đây luôn sẵn sàng, 24 trên 24. Anh chỉ cần để lại lời nhắn, Ta sẽ tới ngay.

Thần linh thiên sứ, tuy nhắn và nhủ, chỉ như thế. Nhưng, khổ nỗi con người và người con của ngài, lại cứ quên. Quên cả những gì bạn vừa làm cho họ. Nhưng có một điều, mà không một ai có thể quên được, đó là cảm giác mà bạn tạo được cho ai đó. Khó khăn, hay dễ làm. Cũng vẫn gọi là “lâu đài tình ái”, không phải để hát ở tiệc cưới. Nhưng là để:

“Anh kết lầu hoa bằng thơ tình ái,

cho mắt em xanh đến tận muôn đời.

chuyện tình mình chưa nghe lừa dối,

lời hẹn đầu chưa đi vào tối,

thì lâu đài mang tên Tình Ái

đón hai đứa chúng ta mà thôi.(Trần Thiện Thanh – bđd)

Hôm nay đây, ngồi nhớ nhạc bản này, bần đạo chỉ muốn nói lên rằng: lâu đài rất tình và rất ái ấy, không chỉ để cho hai đứa xây. Hoặc, xây cho hai đứa, thôi. Mà, ta cùng xây. Xây, cho tất cả. Xây, cho mọi người. Bởi, lâu đài Tình Ái mà bạn và tôi, ta dựng xây, là chính triều thần thiên sứ. Là, chốn Chúa ngự, ở nơi đây. Nước Trời này.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ hy vọng

lâu đài rất tình và rất ái hôm nay

là Nước Trời. Của mọi người.