Sunday, 13 July 2008

“Đồng xanh là chốn đây, thiên đàng cỏ cây”

là nơi bầy thú hoang, đang vui đùa trong nắng say.

Đây, những bờ suối vắng, im phơi mình trên lùm cây.

Đây, những giòng nước mát, khẽ vươn tay về thung lũng,

Và những đôi nhân tình, đang thả hồn dưới mây chiều…”

(Lê Hựu Hà – Green Fields)

(Mc 16: 15)

Là người sống bên lề hay ở ngoài -ngoài nhà Đạo- có thể là, bạn đã và đang nghêu ngao hát những lời ca đầy ý nhị, vui như thế. Riêng bần đạo, từ hồi còn khoác áo chùng thâm, bản thân vẫn thích cùng với ban tứ ca The Brothers Four cầm đờn ghi-ta ngâm nga dạo ba câu hát. Những câu hát, có ý và lời na ná như một giòng chảy mà thánh sử Mác-cô từng ghi chú nơi lời Kinh Thư, hôm trước.

Là thánh sử hay nghệ sĩ nay-đã-ra-người-thiên-cổ, đều có lời vui Tin Mừng, như bên dưới:

“Ta yêu đồng xanh

như đã yêu thương con người”. (Lê Hựu Hà – bđd)

Lời ca là như thế, khác gì lời vàng, vẫn nghe quen như câu nói mà thánh sử từng ghi lại:

“Anh em hãy đi

khắp tứ phương thiên hạ,

loan báo Tin Mừng

cho mọi loài thọ tạo.”

(Mc 16: 15)

Tứ phương – thiên đường, chốn thánh của mọi người. Của, đôi nhân tình thả hồn dưới mây chiều. Của thú hoang, vui đùa trong nắng say. Hay, của giòng nước mát khẽ vươn về thung lũng. Rất Tin Mừng. Bừng bừng khí thế. Nhiệt náo. Phấn khởi. Đê mê.

Mừng vui khí thế, xưa nay vẫn dàn trải qua muôn thế hệ. Ở phương Tây. Cả ở bên ta. Chốn trời Nam cũng như mạn Bắc, những đồng xanh chốn thiên đường. Thiên đường hôm nay, đâu là chín tầng trời mây cao, trên chốn ấy. Cũng chẳng là, dinh thự nguy nga điện Cẩm Linh, vùng Mecca, dãy Sông Hằng hay Đền Thánh Cả ở La mã. Cả với Constantin.

Đồng xanh kia, nay là chốn mừng vui khí thế tưng bừng của Hội thánh. Có Thánh Thần Chúa rợp bóng uy linh đổ xuống trên đầu, người già lẫn đám trẻ, ngày Lễ Hội. Hội lễ chân tình tập họp người con thân thương, từ chốn đồng xanh cỏ mát bốn phương trời, tề tựu về bên Hội thánh Chúa.

Reo vui Tin Mừng, Hội thánh nay hội tụ những người con không còn là “đôi nhân tình thả hồn dưới mây chiều”, mà “những người lầm than vất vưởng”, Thầy chạnh lòng, thấy mà thương (Mt 9: 36). Thiên đường cỏ cây hôm nay, là những người tất bạt, chưa từng nghe biết Chúa. Là thọ tạo, khắp bốn phương thiên hạ, chốn “Đồng xanh” ấy. Những người “vẫn đứng chờ, giữa cánh đồng.” Chờ và mong, những người như ta, đem niềm vui Tin Mừng, đến “cho mọi loài thọ tạo”.

Và, vấn đề mạn phiếm hôm nay, là để hỏi: những gì đã và đang làm nên tình An Vui, rất Tin Mừng?

Thật ra thì, ảnh hình thơ nhạc trên đây, chưa hẳn là An Vui Tin Mừng, rất đích thực. An Vui Tin Mừng, là làm được những việc cần làm. Tức, đưa dẫn mọi người ra đi, để họ có thể đến mà sống cùng và sống với nhau, hầu phù hợp với điều mình vẫn nghe biết.

Ở Phúc Âm, Đức Kitô là Đấng đem An Vui Tin Mừng, đến trước nhất. Tin Mừng Ngài đem đến, đã sờ chạm thật sự vào cuộc sống, của mọi người. Với kẻ đói, Ngài truyền mang bánh đến cho họ ăn. Những người quặt quẹo - đui mù và điếc nặng, nhiều miên trường khổ ải, Ngài chữa lành cho tất cả. Là kẻ bất ưng với công việc mình làm. Là người thu-thuế hoặc nông dân - thuyền chài, chẳng hơn ai. Ngài vẫn cứ gọi mời: hãy đi mà khám phá ra chân trời mới. Lớn hơn nhiều. Hoặc, là người bị bỏ bê ghét bỏ, đám đĩ điếm dân đen, cặn bã xã hội. Ngài vẫn mở rộng vòng tay ôm, đón họ về với cộng đoàn đầy thương mến.

Tin Mừng hôm nay, là tin được quảng bá sâu rộng, đến với mọi người đang có nhu cầu, rất khẩn thiết. Trước hết và triệt để hơn hết, là những người đang cần thực phẩm. Cần chỗ ở. Cần cuộc sống an ninh/an toàn, khắp mọi nơi. Tin Mừng bây giờ, phải là thông tin khả dĩ tiếp cận nhu cầu của những người đang kiếm tìm hạnh phúc. Hạnh phúc trong nhận thức. Hạnh phúc trong bổ sung cho khả năng riêng tư trí tuệ, hầu triển khai nhân cách. Trải rộng quà tặng ân sủng, đến với người. Tin Mừng hôm nay và mãi mãi về sau , là lời gọi mời của Đức Chúa, được gửi đến bạn bè/người thân. Cả với những người mà ta chưa từng quen biết.

Với giới trẻ, là những người đang hăng say hoạt động nơi nhóm hội/cộng đoàn. Những bạn đang cưu mang giùm giúp các người có nhu cầu. Đang ơi ới vẫy gọi. Với cộng đoàn Hội thánh, rao báo Tin Mừng hôm nay, không còn là cung cách của các bậc ở trên, đấng bậc chỉ biết có phán và có bảo. Phán. Mà, như người trẻ hăng say lao mình vào với thế giới của những người túng cực. Thế giới của những người có nhu cầu thiết thực, không thể thiếu. Những người, chỉ sống ngày qua ngày, chẳng biết gì tình hình ngày mai, ra sao. Những kẻ sống vô gia cư, chết vô địa táng. Những kẻ bị người đời dè bỉu, khinh chê.

Rao báo Tin Mừng cho thế giới cùng cực, có thể cũng chẳng cần phải đưa ra những lời hoa mỹ, rất hứa hẹn. Mà, chỉ cần mách giúp những mẹo vặt. Hoặc, phương cách kiếm tìm công ăn việc làm, đủ nuôi thân. Rao báo Tin Mừng, còn có thể, là chỉ vẽ cho đàn em nhỏ biết cách làm 4 phép tính cộng trừ nhân chia, để mà sống. Sống với người. Với mình.

Rao báo Tin Mừng, còn là ra đi về với xóm làng tận vùng sâu. Vùng xa. Ở những vùng, mà người dân đen chưa từng biết đến chữ nghĩa. Cả với âm thanh. Và, rao báo Tin Mừng, là ngồi đó mà lắng nghe người già, và kẻ tật nguyền run lật bật, kể cho nhau có mỗi chuyện nghe hoài đến chán.

Nói cho cùng, rao báo Tin Mừng là thông truyền quảng bá nỗi niềm phấn khởi khi có người chịu bỏ công sức, thì giờ ra mà quan tâm chăm sóc kẻ yếu đuối tật nguyền; hoặc, mở rộng vòng tay ôm đón người lầm lỡ, cô đơn. Tuyệt vọng. Những người bị cộng đoàn tẩy chay. Loại bỏ. Xa lánh.

Và, rao báo Tin Mừng sẻ san Lời Chúa, là chia sớt với Ngài mối bận tâm giùm giúp, thông cảm người đang cần người khác để mắt nhìn đến. Có thể, ấy đó là người già nua, kẻ tật bệnh. Có thể, cũng chỉ là người khác tính khí. Khác chính kiến lập trường. Có thể, cũng chỉ là người khác biệt cuộc sống thực tế, diễn ra mỗi ngày.

Cuộc sống ấy, cả thi sĩ lẫn người đặt nhạc, vẫn diễn tả ở câu thơ:

“Đồng xanh giờ vắng tênh, dưới trời lãng quên,

còn đâu bầy thú hoang, đang vui đùa trong nắng êm.

Đâu những bờ suối vắng, im phơi mình bên lùm cây

Đâu những giòng nước mát, khẽ vươn tay về thung lũng

Và những đôi nhân tình xưa, đã lìa cách xa rồi.” (Green Fields – bđd)

Và, nay có tiếng hỏi: các đôi nhân tình xưa kia, nay có được sẻ san Tin Mừng Lời Chúa ở đâu đây? Ở đâu đây, là ở trong hoặc ở bên ngoài nhà Đạo? Các đôi nhân tình ngày hôm nay có còn nghe lại khúc ân tình người nghệ sĩ, xưa vẫn hát? Hát nhẹ nhàng. Và, ca lên như một nhắn nhủ, bảng lảng bóng chiều hôm:

“Ta thương đôi tình nhân kia, như gió thương yêu mây trời

nhưng sao giờ đây, chẳng thấy ai chung quanh ta

đất trời như bãi tha ma

trên đồng hoang cỏ cháy…

Và, đã bao năm trời

Ta đứng chờ

Giữa cánh đồng. (Lê Hựu Hà – bđd)

Tin Mừng được rao báo cho người ở ngoài Đạo nay lại là những vần thơ rất riêng tây. Đầy ắp cả một hồn thơ. Và, một rừng âm thanh, những là nhạc. Tin Mừng đem đến cho người đạo hạnh ở tận trong, vẫn an vui hài hòa, như một lời kể, ở bên dưới:

“Chúng tôi chung sống với nhau suốt 21 năm trời, chưa thấy xảy ra chuyện gì khiến cả hai chúng tôi phải hối hận. Mới đây, tôi gặp một chuyện đến là hồi hộp. Hồi hộp là bởi, cách đây không lâu, tôi bắt đầu đi ra ngoài dạo chơi với một người nữ phụ khác.Mà, người ngỏ lời lại chính là vợ tôi. Đến giờ này, tôi vẫn còn nhớ lại cái giọng ngọt ngào, nhưng hơi khác thường của người bạn đời, mà tôi vẫn còn chung sống suốt 21 năm. Vợ tôi lựa đúng lúc, vời tôi vào phòng rồi nói:

-Em biết là anh vẫn còn nhiều tình cảm với bà ấy. Em nghĩ, vợ chồng mình tuy vẫn còn thương nhau. Nhưng…

Hồi hộp quá, đến độ chẳng thốt nên lời phản đối, tôi chỉ ấp úng được vài câu, rất biện hộ:

-Em thừa biết, lâu nay anh vẫn một lòng…

Vợ tôi không để tôi nói tiếp, bèn bồi thêm:

-Vẫn biết thế. Nhưng anh đâu bớt thương bà…

Cuối cùng, thì trắng đen đã rõ. Người, mà vợ tôi ám chỉ tôi phải minh bạch chọn lựa, chính là mẹ của tôi.

Vâng. Mẹ tôi ở góa cũng đã 19 năm qua.Khổ nỗi, tôi cứ mải bận hết chuyện này đến việc khác. Chẳng bao giờ có thể sắp xếp được giờ rảnh rỗi về thăm hoặc mời bà đi đâu. Vì thế, tôi quyết định gọi điện mời mẹ tôi ra ngoài ăn hiệu và xem phim, vào buổi tối. Cũng như mọi phụ nữ, mẹ tôi rất ngại nhấc điện thoại vào buổi tối. Bà sợ phải nghe tin dữ đến muộn vào ban đêm. Nên, thoạt nghe thấy lời mời, bà rất đỗi ngỡ ngàng, cử hỏi đi rồi hỏi lại:

-Có thiệt không đó con? Chỉ mỗi hai bọn mình thôi sao? Chà, lâu ngày, hỉ?..

Và, ngày “N” đã đến. Sau khi tan sở, tôi ghé nhà đón mẹ đi ăn. Tôi chợt nhận thấy bà cũng hồi hộp không kém. Cụ bới tóc lên, trông gọn gàng và nét đẹp cao sang vẫn còn đó như hồi nào. Thấy tôi, bà nhoẻn một nụ cười rất tình tứ, và lịch sự nói:

-Mẹ khoe với mấy bà bạn già là hôm nay mẹ đi chơi tối với ông con trai cưng. Chỉ mình nó thôi chứ không có “cái đuôi” đi kèm. Mấy bà bảo: thế là nhất bà đấy, cụ ơi! Chả ai sánh bì được đâu!

Thế là chúng tôi đi. Tôi đưa tay đỡ mẹ như đỡ một đệ nhất phu nhân, vào buổi tiệc. Quả là, tối nay mẹ tôi đẹp hơn một bà hoàng. Bà xứng đáng như thế. Tôi đưa bà đến một nhà hàng không nổi tiếng lắm, nhưng lịch sự và thơ mộng. Ngước mắt nhìn quan sát, tôi thấy bà vừa ngồi xuống đã nhoẻn nụ cười hồn nhiên, bảo:

-Trước đây, mẹ chuyên trị việc xem thực đơn và gọi món cho mọi người ăn.

-Thế bây giờ, mẹ cứ ngồi thoải mái, việc ấy để con.

Hai mẹ con vui vẻ hả hê, vừa ăn vừa trò chuyện quên cả thời gian trôi qua, rất nhanh. Muộn rồi, hai mẹ con tôi không kịp xem phim, nhưng đi một vòng phố rồi về nhà. Khi tiễn mẹ vào nhà, bà nói:

-Mẹ thích những buổi đi ăn như thế này lắm. Lần tới, con phải để mẹ mời con mới được.

Tôi đồng ý để mẹ vui. Từ giã mẹ già, tôi vội phóng như bay chạy về chưa kịp khoe với vợ nhà, thì vợ tôi đã hỏi:

-Thế nào? Buổi hẹn hò có đẹp lắm không?

Tuyệt! Tuyệt đẹp như một bài thơ, chưa có phần kết…

Vài bữa sau, tôi được tin mẹ tôi vội vã ra đi, sau cơn trụy tim, không hẹn trước. Tin vui đến chậm. Tin buồn quá mau. Tôi chưa kịp làm được gì thêm cho mẹ, thì mẹ tôi đã ra đi. Ít hôm sau, nhà tôi nhận được một phong thư, bên trong có kẹp một biên lai trả tiền trước cho bữa tiệc ở cũng một nhà hàng mà hai mẹ con tôi từng đến. Trên biên lai thấy ghi hàng chữ “Mẹ đã trả tiền trước cho bữa ăn mẹ đặt sẵn. Nhưng mẹ nghĩ là mẹ sẽ không thể có mặt vào bữa ấy được. Nên mẹ trả tiền cho hai phần ăn: một cho con và một cho vợ con. Con biết đấy. Tối hôm đi ăn với con, mẹ thấy chưa có buổi nào tuyệt vời như thế cả, trong đời mẹ. Mẹ thương con nhiều.”

Đọc hàng chữ thân thương của mẹ, tôi mới hiểu trọn vẹn thế nào là Tình Mẹ thương con. Câu nói đến với tôi, thật đúng lúc. Cũng từ hôm ấy, tôi nhận ra rằng: không gì quý bằng khi mình tặng cho nhau hạnh phúc vào đúng lúc, đúng vào thời điểm mà người ấy cần.

Đoạn kết của truyện kể, có thể dùng làm câu khẳng định về Tin Mừng, ta cần rao. Tin Mừng là như thế. Chẳng cần rao giảng đâu xa. Ngay với người nhà. Người mà mình gần gũi nhất. Đó chính là thông điệp “Đồng xanh là chốn đây”, hôm nay Chúa gửi đến cho ta. Một Tin Mừng. Tin rất vui. Và rất mừng.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn nhận được những thông điệp

vui như thế.

Rất là Tin mừng.

Để mà rao báo.

Monday, 7 July 2008

“Biết dùng lời rất khó, để mà nói rõ…”

Ôi biết nói gì? Cuộc tình lớn quá!

Chuyện tình đáng nhớ - tuy cũ như là biển già trắng xoá

Cuộc tình quý giá - như những ngọc ngà nàng dành cho ta

Ôi biết nói gì?”

(Francis Lai - Phạm Duy – Love Story)

Quả thật rất đúng. Chuyện tình đáng nhớ hay cuộc tình quý giá, đều là điều rất khó để nói. Chí ít, nói bằng lời. Thậm chí, nói vào lúc đang nóng giận. Hoặc những tranh cãi, của người nhà Đạo. Trong Đạo. Về chuyện Đạo, người đời gọi đó là những cãi tranh.

Cãi tranh hay căm giận, những là chuyện nội bộ của nhà Đạo, hẳn là bạn cũng như tôi, ta chắc phải hát thêm câu tiếp của nhạc bản ở trên, mà rằng:

Lòng ta đầy kín,

Lòng ta đầy kín!

Là muôn ngàn chuyện … yêu đương!

Câu hát thần tiên

Và những mộng huyền mênh mang

Đầy kín hồn hoang, mang mác tình duyên

Thôi hết cuộc đời im tiếng… (Francis Lai - Phạm Duy - bđd)

Bần đạo thường tự hỏi: bàn chuyện yêu đương, những là yêu người - yêu Chúa - yêu Giáo hội mà chỉ cãi với tranh. Hoặc, cãi vã đổ mồ hôi. Sôi bọt mép. Thường là chuyện chẳng nên làm. Ở đời thường.

Hôm nay, nhân có chuyện “đầy kín hồn hoang/mang mác tình duyên” xảy đến với nhà Đạo ở Úc, không vui lắm, bạn và tôi, ta hãy thử đi thêm một vòng luận phiếm, xem có ý kiến nào khác của đấng bậc ở trên, khả dĩ khiến bà con mình được tỏ “con ngươi”, một cõi lòng. Thì: cũng nên lắm.

Trước nhất, là ý và lời của một giáo sư thuộc Viện Thần Học Liên Dòng ở Melbourne - Úc Gs Andrew Hamilton, như sau:

“Sách của Đức Giám mục Geoffrey Robinson mang tựa đề “Giáp mặt Quyền bính và Tính Dục trong Giáo hội Công giáo, đòi lại tinh thần Đức Kitô” qua đó, ngài nhìn sự việc như cội rễ của mọi lạm dụng trong Hội thánh, còn dấy lên nhiều tranh cãi.

Tháng Năm 2008, Hội Đồng Giám Mục Úc đưa ra tuyên bố trong đó các ngài ca tụng Đức Giám mục Robinson là đã có quyết tâm nâng đỡ nạn nhân bị lạm dụng, nhưng lại quan ngại về tín lý nhận rõ đang bàng bạc trong quyển sách. Đáp lại tuyên bố này, Đức Giám Mục Robinson bày tỏ sự thất vọng là các Giám mục trong Hội đồng Chủ Chăn ở Úc không giải quyết thách thức căn bản mà sách của ngài, nêu lên.

Để hiểu rõ cuộc cãi tranh, nên về với bối cảnh thích hợp vào lúc ĐGM Robinson làm Giám Mục Phụ tá Tổng Giáo Phận Sydney, khi ngài có trọng trách điều hợp việc ứng xử của Giáo hội với các nạn nhân bị lạm dụng bên trong cơ chế Giáo hội. Và, trong quá trình thực hiện việc này, Giám mục Robinson có dịp tiếp chuyện với nhiều nạn nhân từng bị xúc phạm. Kinh nghiệm ấy, đã cấu thành luận cứ trọng tâm cho cuốn sách “Giáp mặt Quyền bính và Tính dục bên trong Hội thánh Công giáo”, mà ngài đề cập.

Vậy đâu là luận cứ ĐGM Robinson đưa ra? Và, tại sao các Giám mục Úc lại chỉ trích cuốn sách của ĐGM Robinson mạnh như thế?

Trong sách, ĐGM Robinson có dẫn chứng: nguyên nhân sâu xa của lạm dụng tình dục phải được nhìn vào trạng thái tâm lý của những người từng lạm dụng. Vậy thì, đâu là tâm tưởng của các vị ấy về quyền bính và tính dục? Về môi trường tạo nên sự cố này? Và, tác giả cho biết: các yếu tố ấy đan kết với nhau trong văn hoá nhà Đạo, nay cần đổi thay. Và, cội rễ của hành vi xúc phạm tình dục cũng cần phải cắt bỏ.

Ở Giáo hội Công giáo, trọng trách của mỗi Giám mục là giáo dục niềm tin mình nhận lĩnh. Giám mục thành La Mã, tức Đức Giáo Hoàng, mang trọng trách tổng quản hầu duy trì lòng tin và đời sống hiệp nhất ở giáo hội sở tại. Đức Giáo Hoàng sẽ phải can thiệp nếu như các giám mục sở tại không thể đối đầu một cách có hiệu quả với vấn đề trồi lên. Khi quyết chỉ trích cuốn sách do GM Robinson viết, Hội Đồng Giám Mục Úc phẩm bình là vấn đề niềm tin, đang lâm nguy. Cũng trong thông tư, các Giám mục Úc đã từng ca tụng các đóng góp của ĐGM Robinson. Các ngài nói: ”Chúng tôi mang ơn đậm sâu từ Đức cha Robinson trong bao năm trời cố gắng hàn gắn giúp nạn nhân lâu nay đau khổ vì bị xúc phạm tình dục mà họ phải chịu. Chúng tôi cũng rất lấy làm cảm kích về những điều Đức Cha Robinson đã làm, nhằm thiết dựng qui trình tiêu chuẩn cho đạo đức chức năng của giới chức trong Hội thánh, về lãnh vực này.”

Nhưng sau đó, các ngài lại bảo: cuốn sách đã cật vấn quyền của Hội thánh khi được quyền giáo huấn một cách rạch ròi. Sách cũng chất vấn cả về nhận thức và quyền của Đức Kitô làm nền cho Hội thánh được phép giáo huấn. Nói rõ hơn, các giám mục ở đây nói: sách của ĐGM Robinson đã cật vấn giáo huấn của Đạo về truyền thống, nguồn linh hứng thánh kinh, về tính vô ngộ của Công đồng và các Giáo Hoàng, về bản chất chức linh mục, các yếu tố của nền giáo dục đạo đức trong Hội thánh. Và các ngài kết thúc bằng việc thừa nhận rằng quyền hành mà Đức Kitô tin và trao cho Hội thánh có thể bị thực hành một cách xấu xa.

Các phê bình chỉ trích đang tiếp tục càn quét rộng. Nhưng tầm nhìn tập trung vẫn không rõ. Các giám mục ở đây thấy Gm Robinson có lỗi lầm trong cật vấn. Nhưng, có hai hình thái cật vấn: một để khảo sát, phần kia để chối bỏ. Chúng ta có thể cật vấn đức tin bằng cách khảo sát nền tảng và ranh giới của nó. Còn lối cật vấn kia chỉ có giá trị như một chối bỏ.

Ở trường hợp sách của ĐGM Robinson, tác giả chắc chắn đã cật vấn quyền của Hội thánh và các vấn đề khác, theo nghĩa đầu. Ngài phải làm thế để khảo sát nền tảng của một thứ văn hoá trong lòng Hội thánh. Nhưng sách ngài viết, đã được đọc theo phong cách khiến ta có thể nghĩ rằng đó chính là mục đích tốt mà tác giả nhắm đến. Và, chắc chắn điều mà tác giả muốn cật vấn không chất chứa một chối bỏ, nào hết.

Nhưng, các vị giám mục nhà ta có thể đã lo ngại quá đáng là: nhiều người đọc có thể đọc sách của Gm Robinson theo một chiều hướng xấu. Quả là, có thể có nguy hiểm nằm trong cách thức lập luận như thế. Muốn bàn thảo về bệnh lý của một văn hoá cũng giống như những gì phản ánh nơi các yếu tố nằm bên trong cơ thể dẫn đến bệnh ung thư. Nguồn gốc gây nên bệnh ung thư cũng là nguồn cội của sự sống trong chính cơ thể của ta. Nếu ta tập trung chỉ nhằm làm bật rễ nguồn gốc căn bệnh (như ung thư) mà không tìm hiểu xem chuyện gì khiến cho cơ thể sống mạnh sống khoẻ, thì có thể chúng ta sẽ giết mất cơ thể của mình bằng cái việc là chỉ làm bật gốc rễ của căn bệnh (ung thư) ấy.

Trong cuốn “Giáp mặt Quyền bính và Tính dục trong Hội thánh Công giáo, đòi lại tinh thần Đức Kitô”, ĐGm Robinson tập trung nhắm vào các ý tưởng về bệnh lý. Những người nhằm phê bình chỉ trích tác giả là những vị đã đòi hỏi quá đáng về quyền tập trung trong giáo huấn của Hội thánh. Các vị ấy đã đòi hỏi quá nhiều trong việc phải tôn kính các chức sắc trong Hội thánh. Các vị, có cái nhìn quá hạn hẹp và tiêu cực về tính dục con người. Và, các cụ là những vị đặt để và bắt buộc các giáo sĩ phải ở độc thân, mà không cần đến bàn với cãi.

Đó là những ý kiến. Về một sự kiện, đang còn xảy đến với mỗi người. Ở nhiều nơi.

Nghiệm sinh về chuyện xảy ra ở nhiều nơi, trong nhà Đạo, bần đệ lại nhớ đến chuyện rất xưa. Xưa như trái đất. Nhưng cứ tưởng chừng như đang diễn ra ở đâu đây, rất gần. Những chuyện, đến với cộng đoàn nhỏ, trong đó bần đệ vẫn cứ mở rộng con người ra, mà nhận biết.

Chuyện, thật ra cũng chẳng có gì. Chỉ là, những bất bình/cãi tranh của người anh em vốn hay ủng hộ, hoặc bất đồng – kình chống trước những chủ trương đem Đạo vào đời. Vào thời đó. Nghĩa là, những người anh muốn thử sống với đời, ở trong đời. Sống và ăn ở, trước khi có quyết định chung cuộc về với Chúa, trong tu trì. Kình chống những nhập nhằng của linh mục/chủng sinh với các “con linh hồn” và tín hữu, dễ đưa đến lạm dụng.

Hẳn là, bầu bạn đều rõ: Dòng thánh mà bần đệ đeo đuổi cho đến buổi ấy, cũng đã được tới 12 niên. Lúc ấy, bần đệ cứ nghĩ Dòng chỉ có thể tồn tại, nếu chịu đem tin vui đến với người nghèo hèn, tất bạt, ở miền quê dân dã. Chứ đâu có ở chốn thị thành, nhiều hấp dẫn. Dẫu quanh ta. May thay! Lúc ấy bần đệ, không bị mang tiếng là cấp tiến, những nào lầm lạc. rất lung lay…

Nay, nghe lại chuyện cãi tranh/luận bàn giữa các bậc thầy/đàn anh, mà thấy nhớ. Nhớ rằng, khi ấy đàn anh/bậc thày của bần đệ cũng có những tư tưởng, rất ấn tượng như sau:

“Trong tư thế ôm vào mình, nhiều nhận định và tư tưởng, Gm Robinson không thể đưa ra một cái nhìn tròn trịa, có nền tảng vững chắc, về niềm tin và cuộc sống của người Công giáo. Ngài không thể toàn bộ thực hiện được sự công bằng chính trực cho Hội thánh như bản thể sống động. Ở niềm tin Công giáo, cuộc sống này được nhận biết qua sự hiện diện của Chúa thánh Linh, bên trong Hội thánh đang triển nở. Nếu sách của ngài không được đọc dưới ánh sáng của thị kiến hữu cơ nơi Hội thánh Công giáo, thì cũng sẽ được đọc dưới lăng kính tiêu cực kèm theo đó là những mổ xẻ, phân tách, từng mảnh thịt.

Khi đó, có lẽ các Giám mục Úc có thể nghĩ rằng cần cảnh báo, để nhỡ ra có thể có người đọc sách của Gm Robinson trong trạng thái như thế, đặc biệt là những độc giả có thể nghĩ mình đã có xác tín là sách được một giám mục viết ra.

Giám mục Robinson đã chấp nhận là các giám mục ở Úc có quyền ứng đáp. Nhưng, ngài đã cảm thấy thất vọng vì các giám mục này đã không đả động đến những vấn đề then chốt được đưa ra. Đó là phạm vi có liên quan đến văn hoá Công giáo, kể cả qui chế đòi buộc linh mục ở độc thân và việc thực thi quyền lực, các thái độ khuôn đúc đối với tính dục và quyền bính. Và, cả về phạm vi theo đó có những thái độ gây tai hại cho mọi người, thái độ gây xúc phạm lạm dụng cũng như những gì ra như còn được che đậy. Ém nhẹm.

Vấn đề vẫn còn đó. Vẫn chưa hồi đáp. Hồi và đáp từ những phê bình chỉ trích về sách của Gm Robinson, dù có thể chúng đã được bào chữa, thanh minh. Rõ hơn, là bởi: gốc rễ cội nguồn của bệnh lý đang nằm gần cạnh ở bên cội nguồn sự sống trong Hội thánh Công giáo, như ở trong cơ chế khác. Tức, những điều cần nghiên cứu học hỏi kỹ lưỡng và sâu sắc. Cần suy tư, tự kiểm để có thể đề cập các đề ấy. Thế nhưng, nỗi đau của các nạn nhân vị xúc phạm/lạm dụng về tình dục vẫn còn đó, kêu thất thanh. Những điều ấy cần được đề cập/sờ chạm một cách nghiêm chỉnh, mới đúng.

Gợi nhớ vấn đề nhức nhối và khúc mắc đang diễn ra ở đây, hôm nay cũng từa tựa những đã từng diễn ra, nhiều năm, hôm trước. Gợi ra, chỉ để nhớ. Nhớ đến để rồi vẫn còn gợi, vẫn đề ra. Đề ra một gợi nhớ, để nhớ rằng; dầu sao chúng ta hay chúng mình vẫn cứ là con người hay người con của một Giáo hội bằng xương bằng thịt. Giáo hội vẫn có thịt và có xương để gợi và để nhớ.

Nhớ như âm một giòng nhạc/vần thơ của ai đó, hát đâu đây:

Là muôn ngàn chuyện yêu đương!

Câu hát thần tiên

Và những mộng huyền mênh mang

Đầy kín hồn hoang

Man mác tình duyên

Thôi hết cuộc đời im tiếng… (Francis Lai – Phạm Duy – bđd)

Thôi hết rồi, cuộc đời im tiếng. Thật ra cuộc đời mình không thể im tiếng. Dù cho tiếng ấy có là tiếng của người anh, người chị quanh tôi. Hay, của các đấng bậc. Bậc thầy. Bậc đàn anh, rất đáng kính.

Cuộc đời chẳng làm sao im được tiếng nói, tiếng kêu thất thanh hay những tiếng phàn nàn, buồn thảm về cuộc sống rất căng ở bên đây, ở bên kia. Của những người anh người chị ở khung trời Mỹ quốc, nhưng cũng là của bạn, của tôi. Nay xin mời tôi và bạn, ta san sẻ lời trần tình về một vấn đề đang nổi cộm. Vấn đề của thực tế đời thường rất thân và rất thương: chuyện xăng dầu. Rất trần. Và cũng rất tình, như sau:

Bốn đô một gallon xăng

Bốn trăm miles chẵn tốn bằng trăm đô

Còn chưa cộng thứ tiền toll

Tiền mua bảo hiểm, ô tô bảo trì

Xăng ơi, lên giá làm chi!

Cho tôi nuốt lệ mỗi khi ra đường

Tiền xăng giết chết tiền lương

Giết luôn tiền thưởng, tổn thương tiền già

Ngậm ngùi, nhung nhớ tình xa

Tơ duyên mai lỡ, lỗi là xăng cao

Chúc em hốt được thằng nào

Tiền vô như nước, xăng cao không tè. (thơ của tác giả Vô danh… và vô tư)

Trần Ngọc Mười hai

vẫn kính và yêu

các đấng bậc

trong cuộc đời.