Tuesday, 9 January 2018

“Người về như bụi vàng trang sách xưa



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 thường niên năm B 14-01-2018

 

“Người về như bụi
vàng trang sách xưa
người về như mưa
soi tìm dấu cũ.’

(Du Tử Lê-Hoàng Quốc Bảo – Người Về Như Bụi)


(Gioan 21: 25; 20: 30).

 

Về đâu thì về. Như gì thì như, nhưng sao cứ “như bụi”, để rồi lại cũng “buồn như cỏ”, có “gió ngang qua thềm nhà”? Ối chà, là thơ văn/nghệ thuật rất âm thanh. Ối giời, là âm thanh với âm nhạc của người Việt tuyệt vời một cõi thơ! Vâng. Thi-ca là thế đấy, cũng rất đúng. Âm nhạc, lại cũng là như vậy, rất thế vậy. Như thế và như vậy, còn có nghĩa như khúc nhạc sau đây:

“Tôi buồn như cỏ.
một đời héo khô.
tôi buồn như gió.
ngang qua thềm nhà.
thấy ai ngồi đợi.
bóng hình chia đôi.
sầu tôi lụ khụ.
người về như sông.
buồn tôi quanh năm.
người về như đêm.
tình tôi phập phều.
những tăm phụ bạc.
lòng tôi gian ác.
dấu trong miệng cười.
người về như sương.
ẩn sau hang động.
người về trong gương.
thấy mình mất tích.
người về như sông.
tràn tôi, lụt lội.
hồn tôi thả nổi.
như khóm lục bình.
sầu ai về cội.

(Du Tử Lê-Hoàng Quốc Bảo – bđd)

Vâng. Thi-ca/âm nhạc nay vẫn thế, cứ rối bời. Lại vẫn rối bời hơn cả chuyện Đạo trong đời; hoặc, chuyện đời người đi Đạo, hệt như lời thắc mắc/hỏi han sau đây:

“Kính thưa Cha,
Vừa rồi con có trò chuyện với các bạn bên phía Thệ Phản bàn về vấn-đề niềm tin, nhiều người trong họ lại cứ bảo: họ sẽ không chấp-nhận bất cứ tin-tưởng nào trừ phi kiếm được điều ấy, ở thánh kinh. Có nhiều điều như chuyện tin có Luyện ngục đại-để không ai biết rõ điều này có nằm trong Kinh thánh không. Vậy, làm sao trả lời các vị ấy, đây. Xin cha góp ý cho con với.” (Câu hỏi không ghi tên của ai hết).

Lại một câu hỏi không thấy ghi tên/tuổi người gửi, nên chẳng thể nào biết được người hỏi ra sao: già/trẻ, trai/gái Tây/ta như thế nào. Thôi thì, chỉ cần biết mỗi điều là người ấy chịu đưa ra câu hỏi, tức thì đấng bậc vị vọng sẽ lấy giấy bút trà lơi ngay thôi. Nghề của chàng mà. Vậy thì, mời bạn, mời tôi ta hãy nghe cho biết ất giáp thế nào đây. Và, câu trả lời bao giờ cũng trịnh trọng như thế này:

“Bạn bè của anh/chị lại cũng giống như hầu hết những người Thệ Phản đều bám chặt vào niềm tin tưởng bảo rằng: cội nguồn mọi sự thật về đạo lại chính là Thánh Kinh, và rằng: nếu nhiều sự việc không thấy ở Thánh Kinh, đơn-giản vì đó không thật và không được viết để mọi người tin.

Tất cả những người này đều tin rằng Thiên-Chúa đã để lại trong Kinh thánh tất cả những gì Ngài muốn cho chúng ta tin. Điều này được hiểu như nguyên-tắc gọi là “Sola Scriptura”, tức: chỉ mỗi Thánh Kinh, chính là nguồn gốc của mọi sự thật. Người Thệ Phản tin rằng: ta không cần Truyền thống Giáo hội, hoặc huấn-quyền của Hội thánh mới biết rõ những gì là sự thật.

Vậy, ta trả lời họ sao đây? Thật ra, có nhiều cách cho thấy nguyên-tắc này không bảo-vệ được, dù ta có bàn cãi điều ấy cách lịch-sự, bình-tâm và lý-sự hẳn hòi, chứ không theo cảm xúc.

Cuối cùng thì, các bạn đạo Thệ Phản của ta đều là tín-đồ tốt lành/hạnh đạo và họ cũng công-nhận những gì được dạy dỗ giống như ta, mà thôi. Khởi từ chính Thánh Kinh, là tài-liệu mà mọi người Thệ Phản đều công-nhận, ta có thể nhắm vào hai đoạn văn khả dĩ đánh mạnh lên luận-điểm viện vào nguyên-tắc duy-nhất chỉ tin vào Kinh thánh, mà thôi. Thứ nhất, là: ở đoạn cuối Tin Mừng theo thánh Gioan, ta đọc được lập trường bảo rằng: “Còn có nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.”(Gioan 21: 25; 20: 30).

Rõ ràng là, rút từ câu cuối sách Tin Mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu cũng từng nói và làm rất nhiều điều mà Tân Ước không ghi chép hết. Thật ra thì, không phải bất cứ điều gì Ngài dạy cũng được ghi lại trong Kinh thánh hết cả đâu.

Tỉ như, giáo-huấn Ngài truyền dạy về Luyện ngục, như anh/chị đề-cập, không thấy xuất hiện trong Kinh thánh, dù nhiều chương-đoạn đều ám-chỉ chuyện ấy. Dầu sao đi nữa, rất có thể là Đức Giêsu từng nói với các tông-đồ về tầm quan-trọng của việc cầu-nguyện và dâng lễ-vật trong Tiệc Thánh để cầu cho linh-hồn của các tín-hữu đã ra đi, bởi đây là thói quen của người Do-thái-giáo sống vào thời đó (Máccô 12: 42-45).

Thành thử, thời xưa/cổ, việc cầu nguyện cho tín-hữu đã qua đời được phổ-biến rộng đến độ thánh Isiđôrô thành Seville (chết vào năm 636) cũng từng bảo: “Việc dâng của lễ hy-sinh (trong thánh-lễ) cầu cho các tín-hữu đã qua đời, là thói quen còn tồn-tại trên khắp thế giới. Chính vì lý do này, khiến chúng ta tin rằng: đây là tập tục được các thánh tông-đồ dạy-dỗ con dân mọi người nên làm thế. (Xem “On ecclesiarical offices”, đoạn 1). Bởi, nếu các thánh tông-đồ có làm thế, hẳn là các ngài cũng học được điều ấy từ nơi Đức Kitô.

Đoạn trích thứ hai từ thánh Phaolô tông-đồ, cũng đã gây tổn-hại cho nguyên tắc “chỉ mỗi Thánh Kinh                   
Thôi”. Ngay ở đây, thánh Phaolô có nói rằng nền-tảng của sự thật chính là Giáo-Hội chứ không phải Thánh Kinh: “Tôi viết cho anh thư này, dù vẫn hy vọng sớm đến với anh. Nhưng nếu tôi chậm trễ, thì thư này sẽ cho anh biết phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa, tức: Hội-Thánh của Thiên-Chúa hằng sống, là cột-trụ và điểm tựa của chân lý.” (1Timôtê 3: 14-15)

Trường-hợp nào cũng thế, giả như người Thệ-Phản muốn bảo rằng: chỉ mỗi Thánh Kinh là nguồn-cội của mọi sự thật, thì họ cũng sẽ có khả-năng điềm-chỉ bản-văn Kinh thánh nào nói như thế, và dĩ nhiên là chẳng có văn-bản nào như thế hết.

Cũng nên nhớ rằng: chính Giáo-hội được Chúa Thánh Thần hướng-dẫn, đã quyết-định rằng: nhiều bản-văn được lưu-chuyển hồi thế kỷ thứ nhất vẫn được coi là Lời Chúa có nguồn hứng được bao gộp trong “Kinh bộ” qui-điển của Thánh Kinh. Tiến-trình này tiếp-diễn nhiều thế-kỷ. Không có Giáo-hội, thì ngay đến Thánh Kinh ta cũng không có được.

Lại nữa, lâu nay cũng chính Thánh Kinh, vốn dựa trên văn-bản của các thánh Tổ phụ, như thánh Âu-tinh, Giêrônimô, Gioan Kim Khẩu, vv… là những vị từng đem đến cho ta lời chú-giải chân-thực của Kinh thánh.

Thánh kinh chỉ được hiểu và giải-thích cách an-toàn trong Truyền-thống của Giáo-hội mà thôi. Ví dụ như: Truyền-thống sống động này luôn hiểu/biết lời Đức Giêsu nói về một người từng rẫy vợ và đi cưới người khác làm ví-dụ để rồi Ngài cấm đoán chuyện ly-dị vợ rồi lại tái giá.

Phần đông các giáo-phái Thệ Phản đều cho phép ly-dị và tái-tạo hôn-nhân. Vậy thì, ở đây ai có lý? Giáo-hội do Đức Giêsu thiết-lập vốn cho phép thực-hiện giáo-huấn này suốt hai ngàn năm; hoặc, một loạt các cộng-đoàn được thiết-lập vào thế kỷ thứ 16 vốn dạy ta những điều ngược lại?    

Ta cũng nói được như thế với niềm tin về sự hiện-diện đích-thực của Đức Kitô trong Tiệc Thánh Thể từng được Đức Giêsu nói rõ tại hội-đường Do-thái-giáo ở Caphanaum được thánh Phaolô lặp lại trong thư ngài viết (X. Gioan 6: 51-58; 1Corintho6 11: 27-29).

Rõ ràng là, “chỉ mỗi Thánh Kinh thôi” cũng không đủ. Ta cần cả Truyền-thống sống động của Giáo-hội từng ban tặng cho ta nhiều sách trong Kinh thánh và từng gìn giữ cũng như diễn-giải các sự việc ghi trong đó theo tâm-trí của Đức Kitô Giêsu.” (X. Lm John Flader, Catholics beliefs not in the Bible? It’s not so straightforward as that, The Catholic Weekley 29/3/2015, tr. 36)

Về nỗi buồn man-mác chốn “luyện tội”, tưởng cũng nên trở về với Lời Vàng Bậc Hiển Thánh ghi như sau:

“Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến.
Bấy giờ Người nói với các ông:
"Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.
Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy."
Người đi xa hơn một chút,
sấp mặt xuống,
cầu nguyện rằng:
"Lạy Cha, nếu có thể được,
xin cho con khỏi phải uống chén này.
Tuy vậy, xin đừng theo ý con,
mà xin theo ý Cha."
(Mt 26: 37-40)

“Buồn bã đến chết được”, phải chăng là tâm-trạng của người Thày, trước khi chết? “Xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha”, cũng có thể là ý của Cha, Con và mọi người trước mọi quyết-địng quan-trọng của cuộc đời.

Cuối cùng thì, ai cũng vậy. Có là Thệ Phản, Công Giáo hay Tin Lành, ắt hẳn mọi người đều có niềm tin như nhau, giống nhau? Phải chăng có khác nhau thì cũng chỉ khác mỗi chuyện là: cường-độ niềm tin ấy ra như thế nào? Ảnh-hưởng lên cuộc sống của người ấy, sẽ ra sao?

Để trả lời, tưởng cũng nên ghi lại ở đây một minh hoạ về cường-độ của mọi việc trên đời. Minh-hoạ đây, là truyện kể tuy hư-cấu, tức có nghĩa: chả chắc gì mọi người đồng-thuận, nhưng chỉ để mua vui cũng được một vài “phút giây” trong đời đi Đạo làm kim chỉ nam hướng dẫn cuộc đời mình.

Vâng. Các câu truyện kể ở bên dưới đều có lời bàn như sau:

1- Có ông bạn nọ hay bị bạn bè chê cười vì sợ vợ, ông ta bèn tìm đến một người bạn và hỏi làm thế nào để hết sợ. Bạn ông ta khuyên:
-Ông thử uống rượu vào xem, có chút men sẽ làm ông tự tin hơn khi đứng trước bà ấy. Vài ngày sau, ông chồng gặp lại bạn và than:
-Thôi, thôi! Tôi chẳng dám làm theo cách ấy nữa đâu. Hôm trước, tôi thử uống rượu và nhìn bà ấy thành hai, nỗi sợ của tôi còn tăng gấp đôi.

LỜI BÀN NGẮN: Người đàn ông này sợ vợ. Nghe lời bạn khuyên, uống rượu vào cho hết sợ. Nào ngờ, rượu vào nhìn vợ, ông ấy lại sợ nhiều hơn. Cách giải quyết này mới nghe người khác nghĩ là thất bại. Có lẽ không phải thế. Sợ vợ là một căn bệnh. Muốn hết bệnh đương sự phải dung thuốc. Khi uống thuốc đương sự cần uống đủ liều trong một thời gian nào đó. Bệnh đã lâu, thuốc mới uống có một lần, mà liều lượng lại chưa đủ, bệnh quen đi, sợ hãi dĩ nhiên vẫn còn, không những thế lại tăng
thêm. Trường hợp này giống như bệnh nhân uống trụ sinh vậy. Phải uống đủ "đô" mỗi ngày và phải uống 10 ngày rồi tái khám xem xét kết quả lại.

Vậy đương sự cần thử lại. Hãy uống rượu vang mỗi tối - rượu vang California rẻ rề, vừa ngon vừa bổ -uống luôn một tháng, mỗi lần uống ít nhất một nửa chai. Cứ làm đều như thế. Khi rượu đã thấm thì người ta "hết biết", hết thấy và do đó hết sợ. Cùng lắm là ngủ say thôi. Chỉ có điều đáng lo là người đàn ông này trong giấc ngủ lại nhìn thấy ác mộng. Đến nước này thì bệnh kể như hết thuốc chữa, đành phải chịu thua thôi, để cho nhà cửa yên ấm. Mà nếu sợ riết người ta thành quen. Khi đã quen người ta hết sợ. Cứ nghĩ rằng vợ mình mình sợ, không sợ vợ của anh hàng xóm thì có xấu hổ gì mà phải lo!

2.Sư cụ ngồi đàm đạo với mấy người khách, có người hỏi:
-Trong đám ta đây ai là người sợ vợ nhất?
Chưa ai dám đáp thì sư cụ đã nhận ngay:
-Kể sợ thì tôi đây sợ nhất!
Mọi người lấy làm lạ mới hỏi: - Sư cụ có vợ đâu mà sợ?
-Tôi sợ đến nỗi không dám lấy vợ.

LỜI BÀN NGẮN: Nghe chuyện sư cụ tưởng chơi, hoá ra chuyện này y chang như tôi. Cứ thành thật, tự giác và khai báo trước, mọi người biết rõ ràng sự việc từ đầu chẳng còn lý do gì để đàm tiếu, chứ mà cứ dấu đầu lòi đuôi đến khi bị khám phá ra là sợ vợ thì kể như chút uy tín còn sót lại sẽ mất sạch.

3.Chồng cãi nhau với vợ. Sau khi chuẩn bị hành trang để ra đi, anh ta liền nói lời từ biệt:
-Tôi tự nguyện đi làm nhà du hành vũ trụ đây. Thà va đập vào các thiên thể, hy sinh ở một hành tinh bí ẩn nào đó còn hơn cãi cọ suốt đời thế này với cô!
Nói rồi anh ta đi ra và đóng sập cửa lại. Nhưng chỉ một phút sau đã quay vào nói:
-Cô thế mà may! Ngoài phố trời mưa.

LỜI BÀN NGẮN: Không phải chuyện gì con người ta muốn đều được toại nguyện đâu, kể cả chuyện nhỏ. Chẳng thế mà người Việt có câu "Mưu sự tại nhân mà thành sự tại thiên" là như thế.

Nói tóm lại, được thua còn mất tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố ngoại lai hay tha lực. Khả năng con người không giải quyết hết được mọi chuyện họ muốn trên đời khi nhân duyên chưa hội đủ. Một anh chàng ra vẻ ta đây là người không sợ vợ, hung hổ tuyên bố với bạn bè rằng:
-Vợ tôi ý à, hư là tôi vả cho gãy hết cả răng ấy chứ.
-Chà, thế bây giờ xin được hỏi rằng, răng vợ cậu là thật hay giả?
-Thật 100% - Còn răng của cậu?
-Có cái nào còn là thật đâu!

LỜI BÀN NGẮN: Nhiều người năng nổ, hay nhìn ra mà không chịu nhìn vào. Cái này gọi là tự ti mặc cảm, cái cách khỏa lấp nhược điểm của mình, vì cái ngã của họ. Cho nên người đời khuyên nhủ, trước khi nói phải uốn lưỡi hay soi gương cho kỹ, rất hợp lý. Không làm thế tự mình đưa mình vào thế kẹt.

3.Có anh nọ xưa nay rất là sợ vợ. Vợ nó quát tháo thế nào, anh ta cũng ngậm miệng, không dám cãi một lời. Anh ta đi đánh bạc, mãi xẩm tối mới về. Thổi cơm ăn xong, chị vợ ngồi chờ chồng mỏi mắt. Chị ta tức lắm. Khi anh chồng vừa mới ló mặt vào ngõ, chị ta đã chạy ra túm ngực lôi vào nhà, gầm rít. Anh ta vừa gỡ tay vợ túm ngực, vừa kêu xin:
-Bỏ tôi ra! Tôi xin má nó! Chị vợ được thể càng làm già, túm luôn tóc ấn đầu anh ta xuống. Anh ta liền vung tay gạt ngã chị vợ, tát cho luôn chị vợ mấy cái, rồi trợn mắt, quát:
-Người ta đã sợ thì để cho người ta sợ chứ!

LỜI BÀN NGẮN: Đây là bài học cho các bà. Nếu biết người phối ngẫu đã sợ mình, chớ dồn đối phương vào chân tường kẻo bang giao "tốt đẹp" xưa nay bị sứt mẻ.

4.Chàng trai đi chơi về muộn, tâm sự với bạn:
-Ước gì lúc này tớ được là con chuột nhỉ!
-Sao ông có ý muốn lạ lùng vậy? Làm người chẳng sướng hơn sao?
-Đúng thế. Nhưng vì chuột là con vật duy nhất mà vợ tớ sợ.

LỜI BÀN NGẮN: Cũng là một cách trả thù vợ. Nhưng thuộc loại không tưởng. Đang làm chồng ngon lành lại đi ước mơ làm chuột nhắt, rõ khổ!

4.Dưới địa ngục, Diêm Vương tập hợp tất cả đàn ông lại và nói:
-Ai sợ vợ đứng sang 1 bên!!!. Tất cả lũ lượt kéo nhau sang bên "sợ vợ" chỉ còn đúng 1 người đàn ông đứng ở bên "không sợ vợ". Diêm Vương lại gần vỗ vai anh ta và nói:
-Anh đúng là 1 người đàn ông dũng cảm và gan dạ. Vì sao anh lại không sợ vợ?
Anh ta trả lời:
-Dạ thưa vợ tôi dặn không được tụ tập ở chỗ đông người.

LỜI BÀN NGẮN: Sợ vợ kiểu anh này thuộc loại thâm căn cố đế, nó nhiễm sâu vào máu rồi. Đã xuống tới tận cùng địa ngục rồi, đã xa rời bà vợ, đi sang một cảnh giới khác rồi, mà vẫn còn sợ vợ nhà, sợ còn hơn cả Diêm Vương với lò thiêu, chảo dầu sôi, anh này đúng là đã bị vợ tẩy não lúc còn ở trên dương thế. May mà anh này xuống địa ngục cho nên bà vợ không đi theo chứ anh ấy mà lên thiên đàng chắc bà vợ sẽ kè kè đi theo để giám sát thì không biết đời anh sẽ còn vất vả như thế nào. Câu nói "Trong cái rủi có cái may, trong cái xui có cái hên" có vẻ ứng vào anh này. Bị xuống địa ngục là xui, nhưng thoát khỏi tay bà vợ lại là hên, nhưng cái hên không trọn vẹn. Anh này vẫn còn nỗi sợ trong tâm tưởng. Dám anh này làm Diêm Vương tò mò về bà vợ của anh không chừng!

5.Hai người cùng sợ vợ, lâu ngày thành bệnh, một người khạc ra đờm đỏ, một người khạc ra đờm xanh. Họ rủ nhau đi tìm thầy chạy chữa. Thầy bảo:
-Ðờm đỏ, may còn hi vọng, chứ đờm xanh thì chịu, không sao chữa được nữa. Nên về mà lo hậu sự đi thôi.
Cả hai cùng hỏi thầy:
-Sao đờm xanh, đờm đỏ lại khác nhau như thế?
Thầy nói:
-Ðờm đỏ tự phổi ra, họa còn có phương cứu chữa, chứ đờm xanh là mật vỡ mất rồi, còn chữa thế nào cho lành được. (Vỡ mật vì sợ vợ)

LỜI BÀN NGẮN: Người thường thấy xanh đỏ giống nhau, cùng là màu sắc hết. Hoặc cho rằng báo động xanh nhẹ hơn báo động đỏ. Nào ngờ thầy thuốc lại nhìn trái ngược. Xanh mới là nguy. Xanh là vận số đã mãn. Sợ vợ xem ra cũng có nhiều mức độ phức tạp quá.

6.Trời bên ngoài đang giông tố dữ dội, bà chủ tiệm bánh mì định đóng cửa đi về thì có một người đàn ông đội mưa gió chạy vào để mua một ổ bánh mì thịt. Bà chủ tiệm ái ngại hỏi:
–Ông có vợ rồi phải không?
–Thì đúng là có vợ rồi. Bộ bà nghĩ, mẹ tôi nỡ sai tôi đi mua một ổ bánh mì trong trời giông bão như thế này sao?

7.Xét Mình Xưng Tội Cha xứ khuyên giáo dân là cần phải xét mình kỹ lưỡng trước khi xưng tội. Một ông chồng chia sẻ kinh nghiệm về cách thức xét mình như sau:
-Tôi chỉ cần chọc vợ tôi một câu, vợ tôi sẽ nổi xung lên và đọc cho tôi nghe một lô các thứ tội mà tôi đã làm. Tôi chỉ việc lắng nghe và nhớ lấy. Thế là xong công việc xét mình, vừa mau lại vừa đúng".

Sau buổi lễ, cha xứ hỏi các con chiên phái nam:
-Những ai trong số các con thường bị vợ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay thì đứng dậy. Tất cả đàn ông đều đứng dậy, chỉ một người vẫn ngồi yên tại chỗ. Cha xứ lại gần anh ta thân mật nói:
-Chúa dạy các con phải yêu thương nhau. Vợ chồng phải thuận hòa và nhường nhịn nhau. Con thật đáng khen. Tiếc là trên đời người như con rất ít. Con chính là người như thế đầu tiên ta gặp.
Người đàn ông nọ bùi ngùi:
-Thưa cha, con không dám nhận lời khen của cha.
-Tại sao vậy? Hỡi con của ta! cha xứ hỏi.
-Số là con bị vợ đánh què, không thể đứng dậy được", người đàn ông trả lời!” (Trích truyện kể ở xứ đạo nọ)

Truyện kể có lời bàn ở trên, vẫn là những minh-hoạ tuy “hư-cấu” nhưng sẽ nhắc tôi và bạn, ta cũng nên suy và nghĩ về các trường-hợp hi-hữu có thể xảy đến với mình, và mọi người. Trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai
Đôi lúc cũng suy và nghĩ
Đến những “hư-cấu”
nơi chuyện tình đời
của mọi người.

Tuesday, 2 January 2018

“Hoa phượng rơi đón mùa Thu tới.”



Chuyện phiếm đọc trong tuần sau lễ Hiển Linh năm B 07-01-2018

 

“Hoa phượng rơi đón mùa Thu tới.”
Màu lưu luyến nhớ quá, Thu ơi.
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi,
Xác tươi màu pháo vui, tiễn em chiều năm ấy.”
(Nguyễn Văn Đông – Sắc Hoa Màu Nhớ)


À thì ra, “sắc hoa màu nhớ” ở đây, lại là sắc màu phượng vĩ rất “đỏ lì” gợi nhớ nỗi niềm xa xưa, của ai đó phải chăng chỉ mỗi tác giả? Nỗi niềm ấy, còn được thu gọn bằng những ca-từ như sau:

“Xưa từ Khu chiến về thăm xóm.
Ngàn xác pháo lấp ánh sao hôm.
Chiều hành quân nay qua lối xưa,
Giữa một chiều gió mưa,
xác hoa hồng mênh mông.
Đời tôi quân nhân,
chút tình riêng gởi núi sông,
yêu màu gợi niềm thủy chung.
Nhưng rồi vẫn nhớ một trời, vẫn nhớ đời đời,
phượng rơi như rơi trong lòng tôi.
Thu vừa sang sắc hồng tô lối.
Tình Thu thắm thiết quá Thu ơi!
Nhìn màu hoa xưa tan tác rơi,
nhớ muôn vàn nhớ ơi,
hát trong màu hoa nhớ.
Tôi lại đi giữa trời sương gió.
Màu hoa thắm vẫn sống trong tôi.
Chiều Thu sau không qua lối xưa,
để đừng nhìn gió mưa,
xác hoa hồng mênh mông.”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)

À thì ra, nỗi nhớ/niềm riêng của người viết nhạc rất quân-nhân, lại là nỗi niềm nhung nhớ của người nghe, lẫn ca sĩ ở quê nhà rất mượt mà, mỗi thế thôi.

Thơ văn, âm nhạc, nay thì như thế, rất rối bời. Còn rối tơi bời hơn, lại là chuyện Đạo trong đời hoặc chuyện đời trong Đạo như có lời hỏi han cùng thắc mắc, rất như sau:

“Thưa Cha,
Con có người bạn nọ hiểu biết khá nhiều nên cô ta vẫn trích dẫn tên tuổi các vị Giáo-hoàng cùng bậc hiển-thánh dễ như cơm bữa. Nhưng điều trớ trêu ở đây, là cô cứ khẳng-định rằng: ở chốn trời cao thiên-quốc, chẳng bao giờ thấy mặt người đạo Hồi, Do-thái-giáo hoặc cả đến Thệ Phản, cũng không, bởi vì có lần Giáo hội dạy rằng ngoài Đạo Công giáo mình ra, không ai được cứu rỗi hết. Có đúng như thế không, xin cha cho biết để con chuẩn bị tranh-luận với người này. Cảm ơn cha rất nhiều.” (Câu hỏi không ghi xuất xứ)

Câu khẳng-định đại loại như trên, thiết tưởng chẳng cần ghi xuất-xứ do ai nói. Điều đó cũng không cần. Chỉ cần nghe xem đấng bậc ở Sydney trả lời thế nào cho tiện việc, kẻo lại mất lòng tôn-giáo bạn, cũng không nên. Vậy thì, mời bạn và tôi, hãy để tai nghe đấng bậc nhà Đạo ở Sydney trả lời/trả vốn như thế nào. Và đây là lời đức ngài từng bảo:

“Câu phán-quyết trên đây, lại cứ bảo rằng: “bên ngoài Hội-thánh, chẳng thể nào có được ơn cứu-độ, câu nói này khiến ta quay về với thời tiên-khởi khi ấy mọi người được dạy dỗ suốt nhiều năm tháng, cũng hệt thế. Tuy nhiên, tưởng cũng nên hiểu cho thấu đáo ý-nghĩa của câu nói ấy, bằng không e rằng sẽ lại đi đến kết-luận triệt-để như người bạn anh/chị lại cứ bảo: chỉ mỗi người Công-giáo mới đạt chốn thiên-đàng, mà thôi.

Trong số các Tổ phụ từng xác quyết như thế, ta thấy có thánh Fulgentius của thành Ruspe từng quả quyết vào năm 500 với những câu như: “Không chỉ tất cả người ngoại đạo mà thôi, cả người theo Do-thái-giáo và các bè rối cùng đám người ly-giáo kết thúc sự sống ngoài Hội thánh Công giáo cũng đều rơi vào chốn lửa đỏ, đầy hoả hào.” (Về Niềm tin, nay gửi đến Phêro đoạn 38 câu 81)   

    

(X. Lm John Flader, Can non-Catholics be saved, or will they ‘go into the eternal fire’? The Catholic Weekley 12/4/2015, tr. 22)

Như trên, là câu đáp trả của “đấng bậc nhà Đạo” của Công giáo. Và dưới đây, lại là ý-nghĩ rất vô thường và cũng bình thường của người nhà Đạo, cũng tâm-linh/tâm tình như Đạo mình. Tâm và tình, vẫn cứ bình bình như câu truyện kể gọi là “Cây lá chuyển mùa” sau đây:

Bà Darlene Cohen, một vị giáo thọ của thiền viện San Francisco Zen Center, có chia sẻ như sau về những biến đổi của cuộc sống.

“Ba tôi, qua đời với chứng bệnh ung thư ruột già. Có lần trong lúc bị hành hạ với căn bệnh, ông quay sang bảo tôi, ‘Nhớ đừng bao giờ già nghe con!’ Câu nói ấy của ông mỉa mai ở điều là: làm như người ta có thể tránh được tuổi già vậy. Ba tôi thì lúc nào cũng thường hay tự châm biếm cái tuổi già của mình, ông nói ‘Ba già lắm rồi, Ba quen biết với cả cha mẹ của Thượng Đế!’

Khi tôi được 28 tuổi, tôi tìm đến thiền viện San Francisco Zen Center với một ý định duy nhất: để bước vào cảnh giới an lạc tuyệt vời của Niết bàn, và rồi sẽ không bao giờ bước ra nữa. Và tôi dự định là sau khi đạt được niềm an vui vĩnh cửu ấy rồi, tôi sẽ rời bỏ tu viện chán ngắt ấy, để làm một cái gì đó với cuộc đời mình, ví dụ như mở trường thiền, dạy giáo lý, giúp tham vấn… tôi sẽ tự tại đến đi mà chẳng có chút gì là bận tâm với cuộc đời.

Nhưng tôi lại không ngờ sự buồn chán trong đời sống ở tu viện đã giúp tôi khám phá lại được chính mình sâu sắc hơn, khiến tôi không còn muốn làm một điều gì khác hơn nữa. Và cuối cùng, tôi đã ở lại và sống trong thiền viện Zen Center trong suốt một thời gian dài. Bây giờ nhìn lại tôi mới thấy rằng, nhờ bỏ đi cái ý định hấp tấp ‘đánh rồi chạy’ ban đầu ấy, mà tôi cũng đã ngẫu nhiên dùng một phần lớn cuộc đời mình để chuẩn bị cho: bệnh, lão và tử.

Khoảng vài năm trước đây, tôi bắt đầu nhận thấy rằng, mỗi khi nhìn mùa xuân đến, tự nhiên tôi cũng có một cảm giác sầu muộn, tiếc nuối nhẹ nhàng nơi lồng ngực, như mỗi khi tôi nhìn ánh nắng chiều vàng óng trên những chiếc lá bắt đầu đổi màu, báo hiệu sự chấm dứt của một mùa hè. Tôi ghi nhận điều này với một chút mâu thuẫn trong lòng: một mặt tôi cảm thấy hạnh phúc vì vẽ đẹp thiên nhiên đã giúp tôi dừng lại, bước ra khỏi những bận rộn của cuộc sống hằng ngày, nhưng một mặt tôi lại cảm thấy có chút gì buồn lo trong sự đột nhiên chú ý đến những thay đổi của ngày tháng.

Tại sao bây giờ tôi lại có những cảm xúc như thế này? Tôi đoán có lẽ tôi bắt đầu ý thức được rằng, cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu những mùa xuân xanh lá và mùa thu rực rở nữa, để làm cho tôi dừng lại trên con đường nhỏ mình đi? Rồi còn có bao nhiêu lần mà tôi sẽ bước ra khỏi những buồn lo của mình, khi dừng lại và ngữi mùi hương phảng phất trong không gian lành lạnh khi trời bắt đầu vào đông? Tôi có chia sẻ những cảm nghĩ riêng tư này với một vị giáo thọ trong khóa tu vừa qua, bà ta nói, ‘Phải rồi, thân này của ta hiểu được giáo lý vô thường sâu sắc hơn ai hết.’ ”

Bây giờ đang bắt đầu vào mùa hè, nhưng tôi cũng đã thấy bóng dáng của mùa thu đang về. Tôi không biết một chiếc lá bắt đầu “thu” từ lúc nào, chỉ biết một buổi sáng thức dậy nhìn sang khu rừng cạnh nhà, thấy toàn màu sắc. Và trong cuộc đời cũng vậy, chúng ta bắt đầu biết là mình “già” khi nào bạn hả? Khi nhìn đứa con của mình ra trường, đi làm, lập gia đình; hoặc khi thấy người chủ mới trong công ty, vị bác sĩ khám cho ta, người thầy trong lớp… chỉ đáng tuổi con cháu mình thôi.

Ở vùng tôi ở không gian rất đẹp khi những chiếc lá bắt đầu đổi màu. Tôi thích được đi dưới những cơn mưa của màu sắc, có tiếng gió lùa những chiếc lá khô chạy đuổi nhau lào xào trên mặt đường cuốn theo mỗi bước chân. Vòm cây bóng mát che ngang trên con đường nhỏ mình đi có muôn màu lá. Mỗi tờ lá cũng có một mùi thơm riêng của nó! Bạn có tưởng được trên vũ trụ này có biết bao nhiêu là màu vàng khác nhau không? Biết bao nhiêu là những màu cam, màu tím, màu đỏ khác nhau không? Một ngày ngồi yên trong rừng, ta có thể thấy và nghe được tiếng trời đất giao mùa.

Khi đến một tuổi mà ta chợt ý thức rằng “cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu những mùa xuân xanh lá và mùa thu rực rở nữa, để làm cho tôi dừng lại trên con đường nhỏ mình đi”thì ta cũng bắt đầu hiểu được những gì mình thật sự có chỉ là giây phút này mà thôi, ngoài ra không còn gì khác hơn nữa. Ta cũng biết được rằng, mình không bao giờ nắm bắt được một điều gì hết, chúng sẽ xảy ra và rồi sẽ qua đi, dù ta có mong cầu hay ghét bỏ.

Có lẽ cái Tôi của mình cũng không còn cứng nhắc như xưa, ta dễ tiếp nhận và sống thật với những gì xảy ra hơn. Và tôi cũng trải nghiệm rằng, trong cuộc đời, những lời nói dầu hay đẹp đến đâu cũng không có giá trị bằng cách ta đối xử với nhau: rằng sự cố chấp là gốc rễ của mọi thứ khổ đau, và biết xả buông là cánh cửa của hạnh phúc.” (Truyện kể trích từ điện thư trên mạng, mới vừa qua)

Thật ra, vấn đề ở đây không phải để tội và bạn, ta bàn về tuổi già hoặc tuổi trẻ thiếu mất sắc màu tươi tắn của thời còn nhỏ, mà là nhận-định làm sao để còn sống cả những ngày dài không còn như xưa, nữa.

Và, vấn-đề còn là và sẽ là: cuộc đời người, không đẹp ở thời quá-khứ hoặc tương lai mai ngày, mà là những ngày đời ngắn ngủi, rất hôm nay.

Đúng thế, hôm nay chính là sắc hoa màu mè rất đáng nhớ trong cuộc đời của mọi người, rất thức thời và hợp thời. Rất đoạn trường và miên trường. Cũng vĩnh hằng một tình thân thương, rất mến thương.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn suy tư
nghĩ ngợi nhiều
về những sắc hoa rất nhớ màu.