Friday, 22 May 2015

“Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Chúa 3 Ngôi Năm B 31/5/2015

“Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm”,
Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em
Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa
Chẳng lẻ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi.
(Y Vũ – Tôi Đưa Em Sang Sông)
(Rm 5: 3-4)
“Đưa Em Sang Sông”, có thể là đưa em về bến mới có người chồng hoặc người tình nào đó sẽ đón tiếp. Nhưng, “Đưa Em Sang Sông” hôm nay, lại có thể là “đưa người bạn đời rất trăm năm” về cõi vĩnh-hằng.
Đưa đâu thì đưa, vẫn là nỗi buồn khó diễn-tả, hệt như lời bạn “nối khố” của bần đạo mới vừa viết lên tâm-tình rất khó tả, như sau:

“Bà xã mình bị ung thư phổi, ở giai đoạn chót, y-học bó tay. Bà xã mình quá yếu, nên họ không dám dùng hoá trị. Những sự như trên, mình cũng đã nghe nhưng không nghe trực-tiếp từ miệng bác sĩ chính nên cứ còn nuôi chút hy vọng.

Như vậy, y-học "bó tay", bác sĩ đã "chê" và họ cho chuẩn bị về nhà, vì có ở lại bệnh-viện cũng không hơn gì. Mình không xin Chúa chữa lành, mà chỉ xin CHÚA trì hoãn cho bà xã sống thêm 5 năm hoặc 3 năm để không quá đột ngột, và còn quá nhiều việc chưa ổn…” (Trích điện-thư của một bạn rất thân)
  
            Quả thật, ai cũng thấy đau buồn khi nhận được tin như thế. Quả là, bạn thân nào cũng đều nghĩ thế. Khi đưa người Em “sang sông” đều thấy sự việc nào cũng “đột ngột”, quá lúng túng, nên không biết nói gì/viết gì cho trọn Đạo. Đó là sự việc trong Đạo. Còn ở ngoài đời, người nghệ sĩ khi xưa cũng từng có cảm-nghiệm tựa như thế, nên mới hát:

            “Tôi đưa em sang sông,
bàn tay nâng niu ân cần
Sợ bến đất lấm gót chân,
sợ bến gió buốt trái tim
Nếu tôi đừng đưa em,
thì chắc đôi mình không quen
Đừng bước chung một lối mòn,
có đâu chiều nay tôi buồn.”

Nghệ sĩ xưa, thường nói như thế và có hát nhiều cũng chỉ như thế. Và, cũng chợt nghĩ đến thân-phận người phụ-nữ mà bàn dân đi Đạo, ở trời Tây hôm nay, tuy không nói, nhưng cũng lại viết lên rất nhiều điều về thân và phận của phụ-nữ ở Đạo Chúa, rất như sau:

“Trước đây, tôi có nhận-định về hai chứ ‘hình phạt” gửi đến cho Ađam-con-người kể trong truyện Vườn Eđen, sách Sáng Thế là ông sẽ phải “cực nhọc mọi ngày trong đời, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.” Và nữ-phụ-đầu-đời-là-Evà nhận được phán-quyết như: ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén, lúc sinh con…” Và loài rắn, “phải bò bằng bụng, ăn bụi đất mọi ngày trong đời”. Cũng từ đó, mọi loài trong đời sẽ không còn ở trong Vườn Êđen nữa, mà là “Phía Đông Vườn này(Kn 3: 16-17). Nói tóm lại, mọi tạo vật cùng con cháu của chúng được “thảo-chương” đi vào cõi chết. Thân và phận của họ, là sự chết. Tính-chất toàn-cầu của nỗi chết từ đó được tỏ bày cho mọi loại thấy tác-hại của hành-động sai lầm từ nguyên-thủy, tức cái chết đã được đem vào thế-giới của Thiên-Chúa. Lỗi và tội được định-vị như cá-tính của nhân-loại làm nhơ-bẩn hết mọi người khiến họ không thể tái-tạo quan-hệ của mình với Thiên-Chúa, được nữa…

Theo hiểu biết của người xưa, thì câu truyện kể ở đây nói về sự yếu-kém của nữ-giới. Họ được tạo-dựng để gánh chịu mọi trách-móc cũng như lỗi tội của con người. Họ là cội-nguồn của sự chết, không thoát được. Và, huyền-thoại về nữ-phụ đầu của con người áp-đặt vào với phụ-nữ. Cũng từ đó, mọi lý-lẽ về ác-thần và sự chết coi như dấu-ấn trên con người là do người nữ đầu đời bất tuân lệnh Thượng Đế. Các thánh-nhân xưa, trong đó có thánh Phaolô, Augustinô, Giám mục Hippo ở thế-kỷ thứ 5 và nhiều vị khác cũng góp phần vào việc định-vị như thế qua bao thế-kỷ vẫn chế-ngự mọi suy-tư của Giáo-hội, hằng ngàn năm không thiếu. Và hôm nay, tính tiêu-cực này vào phụ-nữ cũng như phái yếu, rất rõ nét trong đời sống đạo-giáo của ta, kép theo sau là nền thần-học được gọi là chính-thống, đều dựa trên truyện kể như thế.” (X. Tgm John Spong,The Woman as the Source of Evil, Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers 2005 tr.91)

Nền thần-học chính-cống đã ra thế cả ngàn năm rồi, thì sá gì chỉ một Thượng Hồi Đồng về Gia Đình có thể lật ngược, hoặc thay-đổi được! Có lẽ vì thế mà ngày hôm nay, lại có những vị dám bày-tỏ lập-trường, theo sau Đức Giáo Tông Phanxicô, bằng lời lẽ mạnh bạo như vũ bão.
Nhưng trước khi đi vào chi-tiết “buồn” như vũ bão, xin quay về với lời ca người nghệ-sĩ đã hát thêm, như:

“Rồi thời gian lặng lẽ trôi,
Đời tôi là cánh chim,
đi khắp phương trời.
Mà đời em là ước mơ,
Đẹp muôn ngàn ý thơ,
như ngóng trông chờ.”
(Y Vũ – bđd)

Vâng quả có thế, đời người lúc nào cũng trông và chờ. Chờ và trông cho chuyện buồn đừng đến nữa, thay vào đó là niềm vui. Cũng hệt như ý-tưởng phản-hồi của các bạn đạo sau khi nghe đấng bậc nhà đạo bàn về chuyện “tự-do ngôn-luận” hoặc phát-biểu ở nhà Đạo. Chí ít là vào những buổi họp bàn được gọi là Thượng Hội-Đồng La Mã sẽ diễn ra vào độ tháng 10/2015, như sau:

“Thông-chuyển niềm tin cho những người sống ở rìa lề không những của Giáo hội mà thôi nhưng còn là lề xã-hội, nói chung mới là vấn-đề. Hãy ít tập-trung vào nội-dung thông-điệp với tín-hữu Đạo Chúa cho bằng đặt nặng lên cung-cách giúp ta hiểu chuyện ấy, thấy rất cần. Giáo-hội lập ra nguyên một năm chủ-trương mừng kính “Lòng Từ Bi của Chúa”, thiết-tưởng cũng là lúc để ta đi vào với thế-giới của những người bị đẩy ra bờ rià Giáo hội hoặc xã-hội họ sống…
Mới hôm qua, nơi phố chợ ở Úc, tôi bắt gặp một ít người sống chui rúc ở phố/chợ, trong đó có một chị nọ tự dưng nổi nóng không kềm-chế được cơn giận đã chửi rủa và đánh mạnh vào người đức lang quân của chị. Dĩ nhiên, cặp này đang bị ảnh-hưởng của thứ “bột trắng hoành hành, nên đã trở-thành mối hiểm-nguy cho nhau và cho người khác nữa. Từ sự-kiện ấy, tôi lại đã tự hỏi: có cách nào hay nhất để giúp cặp phối ngẫu này sống đích-thực lòng từ-bi hỷ xả đối với nhau và với người khác không? Làm sao để thông-điệp hoà-bình và hy-vọng sẽ lan rộng mãi với mọi người, cả trong Giáo hội, lẫn ngoài đời? Làm thế nào để ta thông-chuyển sứ-điệp từ-bi/nhân-hậu đến với các đấng bậc ở Giáo-hội, hoặc chính-trị-gia, các nhà làm luật, các bậc thày cô, hoặc bất cứ ai có trách-nghiệm đến cuộc sống đích-thực của những người đang chịu cảnh khổ đau, sầu buồn hoặc lép vế như các nữ-phụ ở xã-hội gồm toàn nam-nhân khuynh-loát, đây?

Tự-do Ngôn-luận hoặc phát-biểu tư-tưởng của mình trong Giáo hội là cách hay nhất để khởi sự. Hãy ra khỏi các tầm-nhìn mang tính trắng-đen dựa trên ý-kiến hoặc tư-tưởng của người thời trước, tỉ như: chuyện coi thường các nữ-phụ đặt họ ở giai-cấp thứ-yếu, rời bỏ các khu xóm đầy những tệ-nạn, tạo rối rắm cho mọi người. Hãy mở to con mắt để nhìn vào viễn-ảnh to lớn hơn. Hãy nói lên cung-cách sao đó để ngay hôm nay, ta và bạn có thể thông-chuyển cho nhau, trao-đổi với nhau theo tính-cách ngang bằng đồng đều với người sống quanh mình!” (X. ý-kiến của Ian Fraser theo sau bài viết của Lm Andrew Hamilton sj, Can speech be free in the Catholic Church? Eureka Street Magazine 08/4/2015)  


Trên thực-tế, thì chọn-lựa của một số đấng bậc trong Đạo, vẫn quyết rằng: Hội thánh, tức: các đấng vị-vọng trong thần-quyền bảo sao nghe vậy, đừng đòi tự-do có tiếng nói hoặc tư-tưởng khác hướng, sẽ nguy to. Nguy to, là những sợ chân mình lấm những thứ “bùn khi mưa”, tựa hồ ca-từ ở câu kết bài hát, dẫn ở trên, rằng:

“Hôm nao em sang ngang,
bằng xe hoa thay con thuyền?
Giờ phút cuối đến tiễn em,
nhìn xác pháo vướng gót chân
Gót chân ngày xa xưa
sợ lấm trong bùn khi mưa..
Nàng đã thay một lối về,
quên cả người trong gió mưa....”
(Y Vũ – bđd)

Chân có lấm bùn hay không, cũng xin đừng theo thứ lập-trường triết-lý bàn chân sạch”, không chịu vương-vấn những vấn-đề gây phiền-toái, tức là: luôn lãnh-đạm với mọi tình huống xảy ra trong Đạo, ngoài đó. Chính đó là nỗi sợ được Đức Phanxicô từng đề-cao cảnh giác về tánh “lãnh-đạm” trong một bài san-sẻ Tin Mừng vào Mùa Chay 2015, như sau:

“Trong lần san sẻ thông-điệp Mùa Chay với bổn-đạo ở Rôma năm nay, 2015, Đức Phanxicô có cảnh-báo tình-trạng được gọi là “Việc toàn-cầu-hoá tánh thờ-ơ/lãnh-đạm”. Ngài còn dùng bài chia sẻ Lời Chúa để kêu mời mọi người hãy biết dấn thân vào những gì hôm trước được Đức Bênêđíchtô XVI gọi là “sự thành-hình của con tim”.
Lãnh-dạm đối với người cận lân hay cận thân và cả với Chúa cũng diễn-tả một cám-dỗ cho ta là những kẻ tin vào Đức Kitô. Mỗi năm, vào Mùa Chay thánh, ta cần lắng nghe thêm lần nữa tiếng gọi của các ngôn-sứ khi xưa vẫn gầm thét khuấy động lương-tâm của mọi người chúng ta…
Ở thế-giới, trong đó vẫn có nhiều thứ khiến ta lo/buồn như giặc-giã/chiến-tranh, thiên-tai/hạn-hán, buồn-bã/chết chóc vẫn cứ xảy đến vào mọi tháng ngày trong đời mình, thì chỉ khi nào ta tiếp tay hoạt-động để sự công-bằng/chính-trực xảy đến với mọi người trong xã hội, thì khi ấy ta mới tạo được sự khác-biệt to lớn cho mình và cho người…” (X. David Ahem & Nicole Clements, The Easter Message, The Majellan April-June 2015, tr. 16)

Nghĩ thế rồi, hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ thế hướng cao đầu óc vẫn hiên-ngang/hùng tráng hát cả những câu nhạc buồn như thể bảo:              

“Rồi thời gian lặng lẽ trôi,
Đời tôi là cánh chim,
đi khắp phương trời.
Mà đời em là ước mơ,
Đẹp muôn ngàn ý thơ,
như ngóng trông chờ.”
(Y Vũ – bđd)

Vâng. Thời gian rồi sẽ lặng lẽ trôi, dù anh dù em và tất cả mọi người có buồn bã khi thấy người đã và đang “đưa em sang sông” để về bến mới hoặc thế-giới mới nào đó, cũng không buồn. Rất không buồn như Bác Tư như sau:

Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!
Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.
Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.
Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già.
Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”.
Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.
Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm: “Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ: “Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng. Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”. Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?
            Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gổ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”
Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.
Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm. Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.
Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.
Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:
            “Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!”  Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.”  Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?”  Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì? ”  Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.
Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…
            Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan. Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.
            Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.
            Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.
            Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.”  Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.
            Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi. Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.
            Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.
            Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.
Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói: “Thà tự sướng hơn là tự khổ”. Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau”. (Truyện kể trích từ sách Cổ Học Tinh Hoa)

Nói cho cùng, triết-lý sống kiểu của ông Tư tưởng như chỉ thích-hợp với thời xưa cổ, mà thấy quá chí-lý để có một đời vui sống. Triết-lý này, từng được thánh-nhân hiền-lành từng nhận-định cách cương quyết, khi bảo rằng;

“Không phải chỉ có thế;
chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân,
vì biết rằng:
ai gặp gian truân thì quen chịu đựng;
ai quen chịu đựng,
thì được kể là người trung kiên;
ai được công nhận là trung kiên,
thì có quyền trông cậy
(Rm 5: 3-4)

Nghe thế rồi, cộng vớ nhân-sinh-quan của bạn đạo trong đời vẫn bảo: “Sinh-Lão-Bệnh-Tử” là bài học muôn đời để mọi người, cả xưa lẫn nay, cứ học biết mà sống cho đúng, rất con người.

Trần Ngọc Mười Hai
Nay hơi lẩn thẩn mời gọi mọi người
Ta về tắm với ao ta,
suy cả chuyện cổ lẫn tân thời.  
Thế mới đúng.

Thursday, 21 May 2015

“Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên!”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Thánh Thần HIện Xuống năm B 24/05/2015

“Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên!”
ca ngợi quê hương.. của chúng ta
bằng niềm tin chứa chan trong tim..
người thanh niên.”
(Lê Hựu Hà – Bài Ca Tuổi Trẻ)
(Mt 8: 26/Mc 4: 40)

Quả rất đúng! Là thanh niên, hay bạn hiền của mọi người, có gì mà sợ cơ chứ! Sợ cũng đâu giải quyết được gì, cho nên tội!
Quả là, người đời có sống ở đời rất nhiều năm, vẫn cứ sợ. Sợ ma. Sợ quỷ. Sợ bóng, sợ vía, sợ cả những gì chẳng đáng sợ, rất bao giờ.
Quả thật nhà Đạo xưa nay nhiều người cũng có sợ. Sợ tội, sợ lỗi, sợ cha cố, sợ cả ma sơ vốn rất hiền như được kể ở bài hát “Em hiền như ma sơ”. Nói chung là sợ tất cả mọi ông lơ mơ/lờ mờ, rất linh mục. Không tin ư? Vậy thì, mời bạn/mời tôi, ta theo dõi những giòng kế tiếp, hạ hồi sẽ hiểu.
Vâng, cứ như người nghệ sĩ ngoài đời, ta nên hát đã rồi tính sau. Hát rằng:

“Một nụ hoa trên mái tóc hững hờ
một tình thương cho cuộc sống đang chờ đang đợi ta
đừng vùi tương lai kiếp sa hoa
đừng vì tin yêu trong e ngại với rụt rè hỡi những người thân tuổi trẻ

Đừng nhìn tương lai với những lo sợ
đừng nhìn tha nhân trong nỗi nghi ngờ hay dèm pha
đừng sợ chông gai vướng chân ta
đừng ngại gian lao suốt tâm hồn sáng chân người
đang trên đường dựng đời mới
(Lê Hựu Hà – bđd)

Hát thế rồi, lại cứ thêm đôi câu “rất không sợ”, như sau:

“Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên
ca ngợi quê hương.. của chúng ta
bằng niềm tin chứa chan trong tim..
người thanh niên

Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên
cuộc đời đang.. dang tay đón ta
bằng yêu thương ta đi xóa tan..
mọi căm hờn.”
(Lê Hựu Hà – bđd)

Vâng. Hãy đứng thẳng lên” mà “ca ngợi quê hương chúng ta”. “Hãy đứng thẳng lên” vì “cuộc đời đang dang tay đó ta bằng yêu thương”.
Vâng. Đừng sợ bạn ạ! Hãy cứ hát những câu như:

“Đừng ngồi yên nghe tiếng khóc quanh mình
đừng ngồi yên trên nhung gấm vô tình hỡi bạn thân
đừng vùi lương tri dưới gót chân
đừng nhìn tha nhân đang kêu gào chống ngục tù xin công bằng
đòi cơm áo

Đừng đùa vui khi đói khát vẫn còn,
đừng đùa vui khi áp bức vẫn còn nhân loại ơi!
đừng làm quê hương thêm tả tơi,
đừng khoe khoang trên những xác người,
đã ngã gục chết cho đời được thêm vui.”
(Lê Hựu Hà – bđd)

Vâng. Quả thật có như thế. Như thế giống như thể nhà Đạo mình, cũng thấy đôi ba sự-kiện khiến bạn và tôi, ta suy-nghĩ thêm để rồi có quyết định chính-đáng cho đời mình. Những quyết-định như vừa rồi, bần đạo bắt gặp được đôi giòng chảy ở đây đó, những bảo rằng:

Đừng bao giờ trách móc bất cứ ai trong cuộc sống của bạn. Người tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc.  Người xấu cho bạn Kinh Nghiệm.  Người tệ nhất cho bạn đôi bài học. Và,  người tuyệt vời nhất sẽ cho bạn nhiều kỷ niệm.
Đừng hứa khi đang vui! Đừng trả lời khi đang nóng giận! Đừng quyết định khi đang buồn! Đừng cười khi người khác không vui! Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ. Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe. Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi họ chẳng có lỗi gì cả đối với ta.
Rừng tuy có nhiều cây đại thọ sống cả ngàn năm, nhưng người sống thọ chỉ 100 tuổi, cũng không nhiều. Bạn có thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi, tức: một tỷ-lệ 1 trên 100.000 người mà thôi. Nếu sống được những 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm nữa. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật mình có; thế nên, đừng tiết kiệm quá mức. Ttrên 50, hãy mừng từng năm; qua 60, ta mong hàng tháng, đến tuổi 70 ta đếm mỗi tuần, và ở tuổi 80 ta đợi vài ngày, 90 tuổi, ta ngơ ngác một mình với những phút giây dài thăm thẳm!  Bạn nên tiêu bớt những món cần tiêu thụ và thưởng thức những gì nên thưởng thức, rồi tặng cho thiên hạ những gì mình có thể cho đi, nhưng đừng để lại cho con cháu thứ gì hết. Bởi, chẳng bao giờ ta muốn chúng trở thành kẻ ăn bám.
Đừng quá lo những gì sẽ xảy đến với chính mình sau khi bạn đã ra đi, vì một khi đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng còn bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu, mà sợ.
Đừng lo nhiều về con cái bởi chúng có phần số của chúng và chúng sẽ  tự tìm cách sống riêng tư của chúng. Đừng trở thành nô lệ của con cái. Cũng đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con cái, chúng biết lo-toan cho cha mẹ, dù chúng có lòng nhưng vẫn bận rộn với công ăn việc làm hoặc ràng buộc nào khác nên chúng không thể giúp gì cho bạn được. Con cái, chúng thường vô tình, nên có thể sẽ tranh giành của cải của bạn, ngay cả khi bạn còn sống. Và có khi chúng còn muốn cho bạn chết sớm để thừa hưởng tài-sản của bạn. Các con của bạn lại sẽ cho rằng việc chúng thừa hưởng gia-sản là chuyện dĩ nhiên nhưng, ngược lại, bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng được.
Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài-lực nữa. Bởi lẽ, tiền bạc có thể vẫn không mua được sức khoẻ, dù một chút. 
            Khi nào thì bạn thôi làm giàu? Và, có bao nhiêu tiền mới cho là đủ? Tiền muôn, tiền triệu hay cả mấy chục triệu? Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng, cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày mà thôi. Dù có cả ngàn dinh cơ/biệt-thự, bạn cũng chỉ cần  một  chỗ chừng 8 mét vuông để ngủ/nghỉ ban đêm. Vậy, bao lâu bạn có đủ thức ăn và tiền bạc để tiêu pha là tốt rồi. Nên, bạn hãy sống cho vui vẻ. Gia đình nào cũng đều có chuyện buồn phiền  riêng của mình.  Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng hãy so sánh hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ, thôi.
Đừng lo nghĩ những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì sẽ chẳng làm được gì, lại còn làm hại cho sức khỏe của mình nữa. Bạn phải tạo an-lạc và tìm hạnh phúc cho chính mình. Hãy luôn phấn-chấn, chỉ nghĩ đến chuyện vui sống và làm những việc mình muốn làm mỗi ngày một cách thích thú; có như thế, thì bạn thật đã hạnh phúc sống từng ngày rồi.
Một ngày qua đi là một ngày bạn để mất rất nhiều thứ, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn có được rất nhiều sự. Khi bạn vui thì mọi bệnh tật sẽ lành lặn. Khi bạn hạnh phúc thì mọi bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui tươi/hạnh phúc thì bệnh tật sẽ chẳng héo lánh, đến bao giờ. Với tính khí vui tươi cộng với thể thao/thể dục cho thích-đáng, thường xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đủ loại, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng bạn sẽ sống thêm 20 hoặc 30 năm tràn-đầy sức khỏe. Hãy biết trân quý những gì tốt đẹp ở quanh mình. Còn bạn bè/thân thuộc nữa, họ đều muốn bạn thấy trẻ trung và có người cần đến mình. Không có họ, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy bơ vơ lạc lõng. (trích bài của vô danh)

            Chuyện vui sống ở đời, lại đã có lời khuyên răn cũng khá dài như ở trên, tức: không sợ tuổi giả, cả đến cái chết, cũng đều thế.
            Ở nhà Đạo khi xưa cũng có trường hợp sợ và hãi như trình thuật Tin Mừng từng ghi lại, rằng:

Các ông lại gần đánh thức Người và nói:
"Thưa Ngài, xin cứu chúng con,
Kẻo chúng con chết mất!"
Đức Giê-su nói:
"Sao nhát thế,
hỡi những người kém lòng tin!"
(Mt 8: 26)

Nhà Đạo hôm nay không còn thấy những chuyện sợ sệt này/khác, như sợ ma/sợ quỷ, sợ tội/sợ lỗi hoặc không hiểu lẽ Đạo, trong đời. Nhưng, nay lại có nỗi sợ rất đáng sợ, là: chuyện nhiều đấng bậc giảng-dạy nhiều điều về Lời Chúa, như câu nói:

            Nước Thiên Chúa giống như hạt cải,
lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất.
Nhưng khi gieo rồi,
thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ,
cành lá xum xuê,
đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng."
(Mc 4: 31-32)

Làm sao hiểu tường-tận Lời Vàng ghi ở trên?
Rất may là, ở trời Tây, có bậc thày thần-học, lại đã diễn và giảng đôi điều về Nước Trời bằng những lời cụ-thể, để mọi người hết sợ. Thế nên, trang mạng www.TâmLinhVàoĐời.net có chuyển cho bần đạo đôi ba ý/lời giảng giải của đấng bậc thày dạy thần-học Kinh-thánh ở Hoa-kỳ có giòng chảy về Vương Quốc Nước Trời, như sau:

Ngay ở đây, ta thấy vấn-đề cần định-nghĩa cụm-từ “Vương Quốc Nước Trời”, một lần nữa! Tựa hồ như tác-giả Mátthêu thường tránh-né không nêu danh-tánh Chúa ra mà không tỏ lòng tôn-kính tính thánh-thiêng của Ngài.

Thế nên, thay vào đó, tác-giả lại đã sử-dụng thành-ngữ “Vương Quốc Thiên-Đàng” cách rõ ràng. Thế nhưng, ta vẫn có khuynh-hướng hiểu Thiên-Đàng là Vương Quốc, như thể Đức Giêsu cốt ý đề-cập đến những gì không phải ở dưới đất này, mà chỉ nói chuyện trên trời, mà thôi. Hoặc, Ngài cũng không nói đến cuộc sống đời này mà là sự sống mai ngày sẽ xảy đến. Điều đó, cũng không xa sự thật, chút nào hết.
           
Muốn hiểu ý Đức Giêsu cho thật rõ, ta cũng nên tách-bạch hai chuyện tôn-giáo và chính-trị, và chuyện luân-thường đạo-lý cũng như kinh-tế thế-giới hồi đầu thế-kỷ, cho rõ ràng. Đúng ra thì, “Vương Quốc Của Chúa” mà ta có thói quen gọi là “Vương Quốc Nước Trời” là thế-giới này, ở nơi đây. Là, chốn miền trong đó Chúachứ không phải Cesar, đang ngự-trị trên ngai vàng của Ngài ở trạng-thái như thế ấy. Và, rõ ràng là: Thiên-Chúachứ không phải Cesar, đã mở rộng vòng tay yêu-thươngvà Ngài đảm-trách việc quản-cai "Vương-Quốc" này thật trọn-hảo.

Cùng lúc, đây là ý-niệm hoàn-toàn có tính tôn-giáo và chính-trị, thôi. Cũng cùng lúc, thành-ngữ này lại mang tính-chất rất đạo-đức và kinh-tế-học. Thiên-Chúa quản-trị thế-giới cách ra sao? Ngài muốn cai-quản thế-giới này như thế nào, ư? Có thế nào đi nữa, thì dứt-khoát đấy không là thiên-đàng hiểu như nơi chốn ở trái đất này, mà thôi.
           
Như ta thấy, với nhóm người sống ở Do-thái, tức: các vị chủ-trương khải-huyền như ông Gioan từng chứng-tỏ, thì "Vương Quốc Nước Trời" khi trước được hiểu như thực-tại xảy đếntrong thời tương lai. Điều này thật không đúng! Bởi, đó không là chuyện tương-lai mai ngày, mà là thực-tại tùy việc Thiên-Chúa can-thiệp bằng quyền-uy cao-cả của Ngài trong mọi vấn-đề liên-quan đến nhân-loại, để Ngài mang hoà-bình và công-chính đến với thế-gian đang sa-lầy trong áp-bức/bất công gần như tuyệt-vọng.
           
Phần lớn các kẻ tin đều được chuẩn-bị giúp-đỡ để "Vương Quốc" của Ngài thành hiện-thực. Sự việc này, hoàn-tất tốt đẹp hay không, chỉ do quyền-uy/sức mạnh của Thiên-Chúa mà thôi. Và, dù các vị chủ-trương khải huyền một cách không mấy sáng-sủa về "Vương Quốc" đang trờ tới, thì các ngài vẫn nhận-thức rõ là điều ấy sẽ khách-quan và hữu-hình đối với mọi người, theo cách khác biệt, có tốt/có xấu.
           
`Tuy nhiên, việc này lại góp thêm một cung-cách khác để diễn-nghĩa về “Vương Quốc Nước Trời”. Thế tức là, thay vì ta chờ Chúa can-thiệp khải-huyền, thì chính Ngài là Đấng đang đợi ta khởi-đầu cuộc cách-mạng xã-hội. Thật ra, cả hai cách diễn-nghĩa thế nào là “Vương Quốc, Nước của Chúa” dù theo phương-pháp nào đi nữa, đều là giải-đáp khả-thi, nếu như nhân-loại có cố-gắng.
           
Và, sự việc Thiên-Chúa can-thiệp theo cách khải-huyền lại khác với cuộc cách mạng xã hội do Ngài thực-hiện. Và Đức Giêsu, bằng vào sự việc dứt-bỏ hy-vọng của ông Gioan nhờ khả-năng riêng của con người, Ngài đã loan-báo quyết-định của Thiên-Chúa rồi.
           
Sao ta dùng cụm-từ "Vương Quốc Nước Trời" thay cho “Cộng đồng dân Chúa”, tức từ-vựng mang ý-nghĩa về một thế-giới do nam-nhân độc-trị như “vua/quan”, lãnh chúa", chứ? 
           
Có nhiều lý-do để bảo rằng: cụm-từ “Vương Quốc” tạo vấn-đề như Tân-Ước bản Hy-Lạp đã chuyển từ tự-vựng “basileia” ra. Có điều là: chữ “Vương” là tự-vựng mang tính “kẻ cả”. Thêm vào đó, chữ “quốc” lại là thành-phần ngôn-ngữ khiến cho tự-vựng này thêm phần "nổ lộp độp", dù ta nói đến nơi-chốn, địa-danh hay tên gọi của khu-vực địa-lý nào đó, cũng vậy.
           
Và, thêm một vấn-đề nữa, là: nói như thế tức như thể ta đang sử-dụng ngôn-ngữ của thế-giới hiện-thời mình đang sống, lại xuất-hiện vị vương-quân nào đó đang cai-trị hết mọi người. Để cho chắc, ta cứ thử nhìn vẻ xa hoa tráng-lệ ở các lễ hội mừng chúc vua quan/lãnh chúa còn sót lại với thế giới hôm nay, như: nữ-hoàng Êlisabét đệ II của nước Anh chẳng hạn, vai-trò của bà chí mang ý-nghĩa truyền-thống và lễ-tân thôi, chứ bà không có quyền-hành gì thực-thụ.
           
Với thế-giới Địa-Trung-Hải, là khu vực quanh đó Đức Giêsu hạ sinh, thì: vua quan/lãnh chúa thực-sự vẫn có uy có quyền. Và, điều này không chỉ ngôn-sứ khải-huyền người Do-thái mới quan-tâm đến qui-định của vua, tức “Basileia” ở thế-kỷ đầu, thôi. Cụm-từ “Basileia”, là chủ-đề thường thấy ở thế-giới Hy-Lạp. Và vấn-đề đặt ra là thế này: làm sao quyền-lực trần-gian lại thực-hiện theo cách công-bình đầy nhân-tính, được? Tin Mừng do các tác-giả viết, vẫn cứ phải vật-lộn mọi tương-phản nên mới bảo rằng: quyền-lực chốn gian-trần và uy-quyền của Thiên Chúa vẫn có thể thành chuyện hiện-thực được hết.
           
Khi Đức Giêsu sử-dụng cụm-từ “Vương Quốc Nước Trời”, là Ngài muốn nói đến thế-gian do Thiên-Chúa trực-tiếp đảm-trách, ngay lập tức. Thế-gian sẽ ra sao, nếu Thiên-Chúa ngồi trên ngai của Cesar? Chính vì thế, nên “Vương Quốc Nước Trời” là biểu-tượng lý-tưởng nhất để diễn-tả cuộc sống con người vốn vinh-thăng, được kêu gọi vào qui-định của con người cũng như trật-tự ở xã-hội. Cụm-từ nào không có nghĩa là “vương-quốc” giống như thế, có thể sẽ làm mất đi tính thách-thức cả về chính-trị lẫn tôn-giáo, nữa.
           
Có thành-viên nọ thuộc nhóm “Chuyên Đề về Đức Giêsu” đề-nghị: ta nên dịch tự-vựng Hy-Lạp nào có nghĩa “qui-định ở đế-quốc của Thiên-Chúa” để nhấn-mạnh sự tương-phản đối lại với qui-định về lề-luật ở đế-quốc La Mã của Cesar. Có điều là, khi ta sử-dụng hình-thái đường ranh xã-hội mang tính then-chốt cốt lật-đổ nền chính-trị nào đây, bởi thế nên tôi chủ-trương duy-trì cụm-từ “Vương Quốc” chứ không phải từ-vựng “Cộng-Đồng” như thành-viên nọ đề-nghị.
Khi dùng từ-vựng “Cộng-Đồng” để diễn-tả tính thân-ái, có lẽ tôi sẽ để mất đi tính thách-thức về chính-trị và tôn-giáo nơi lời dạy của Đức Giêsu. Nhưng các từ-vựng như: Vương-quốc, Quyền-uy và Vinh-quang là có ý gì? Điều đó, có phải để nói về Thiên-Chúa hay Cesar, không? Dù sao đi nữa, nếu sử-dụng cụm-từ “Cộng-đồng” thay cho “Vương quốc” thì cũng được, nhưng với điều-kiện là cụm-từ này phải bao gồm ý-nghĩa thách-thức lật-đổ tình-trạng xã-hội và tính chính-trị then-chốt có trong từ-vựng ấy, mới được.
           
Dùng ví-dụ cụ-thể, ta sẽ hiểu rõ hơn. Hãy tưởng-tượng trường-hợp cộng-đoàn tín-hữu ở Đức hồi thập niên 1930’ lại cứ gọi danh-hiệu Đức Giêsu bằng từ “der Fũhrer” chẳng hạn, đồng thời còn nhấn mạnh là: trên đời này duy-nhất chỉ có một “Fuhrer” mà thôi, thì tự thân, tiếng Đức thường có từ-vựng cũng mang nghĩa “lãnh tụ” giống như thế. Vậy thì, khi Hitler xuất-hiện trên chính-trường, rõ ràng là các tín-hữu Đạo Chúa chỉ muốn coi  Đức Giêsu là lãnh-tụ của họ mà thôi, chứ không phải Hitler hoặc ai hết.
           
Bởi thế nên, ta có thể sử-dụng bất cứ bản dịch nào để nói về “Vương Quốc Nước Trời” đều được cả, nhưng nên nhớ: điều đó sẽ lại có nghĩa phụ-thuộc và mang âm-hưởng của một bội-tín cũng rất cao. Cũng hệt thế, khi gọi Đức Giêsu là Chúa, là ta có ý bảo: Cesar kia không phải thế.
           
Hãy dịch cụm-từ “Đức Chúa” bằng thành-ngữ đương-đại nào ta cho là thích-hợp đều được, với điều kiện là người dịch có gọi như thế, cũng không bị những người phía bên kia ám-hại, là được. (x. Cựu lm John Dominic Crossan, Đức Giêsu từng giảng và dạy những gì, www.tamlinhvaodoi.net 29/4/2015)
            
Thành ra, trong cuộc sống ở đời hoặc trong Đạo, luôn có vấn-đề hiều lầm hoặc hiểu sai lạc những gì được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, qua các bài chia sẻ Lời Chúa ở bục giảng.
            Để thay đổi bầu khí về Nước Trời cho nhẹ nhàng, nay lại xin đề-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta nghe thêm một truyện kể ngăn ngắn có những giòng kể lể như sau:

“Trưa hôm ấy, trên đường đi làm, trong đầu tôi đang miên man nghĩ đến hoàn cảnh của anh Huỳnh Hữu Hội mà quý bạn đang nhắc nhở với sự luyến tiếc... Đến đường Nguyễn Đình Chiểu (Phan Đình Phùng cũ), tôi chợt thấy bên đường có một chị bán vé số vừa đi vừa gõ cây gậy để dò đường. Nhưng lạ là trông mặt chị ấy có vẻ tươi vui rạng rỡ mặc dù trời đang nắng như đổ lửa.
           
Không dằn lòng được, tôi cởi xe lên lề và dừng chị lại bằng cách cầm cậy gậy của chị rồi mua vé số cho chị. Ngày thường, tôi mua vé số giúp người mù, trả lại vé số cho họ, vậy là xong, rồi đi. Không hiểu sao lần này tôi lại hỏi:
- Chị ơi, chiều tối làm sao chị về nhà được ?
- Dạ quen rồi.
- Ủa mà nhà chị ở đâu ?
- Dạ ở Củ Chi ?
- Chà, xa quá rồi làm sao chị về? (Củ Chi cách SG khoảng 30 km)
- Dạ quen rồi.
- Thôi chị cất tiền vô túi xách đi. Chị cất luôn vé số đi, tặng lại chị ...(Thấy túi xách xẹp lép, hình như không có gì hết). Chị không đem theo nước uống sao ?
- Dạ quen rồi.
- Thôi chị lấy chai nước này nghen. Để tôi chế thêm chút trà.
- Dạ ...

Tôi lên xe chạy trước, đến ngã tư, dừng đèn đỏ, tôi lại leo xe lên lề nhìn ngược lại xem chị bán vé số ra sao. Chị ấy đang đi đến dần. Đúng là chị ấy luôn tươi cười rạng rỡ, cứ gõ gậy mà đi từ từ chớ không lên tiếng rao bán vé số gì hết…

Sau khi rời chị bán vé số, tôi lại nghĩ về anh bạn thân nọ và không khỏi có sự đối chiếu về số phận. Vậy là ai khổ hơn ai ? Rồi tôi không khỏi liên tưởng tiếp về các anh bạn khác cũng đã ra đi cùng một cách. Mỗi người hẳn có một hoàn cảnh nào đó mà chúng ta đều thông cảm và tôn trọng. Nhưng có lẻ quý bạn ấy đều không "quen" với hoàn cảnh mới thời kỳ đó nên các bạn ấy đã chọn giải pháp để ở lại vĩnh viễn với tuổi đôi mươi.
           
Ngẫm lại mẫu đối thoại ngắn ngủi mà tôi đã trao đổi với chị bán vé số , tôi thấy chính mình phải xem xét lại nhiều điều mà tôi đã thường xem là chân lý: Đối với tôi, nhu cầu số 1 đối với cơ thể là không khí - còn nước là nhu cầu cấp thiết số 2 , không thể thiếu: sai rồi! Khi cần đi tìm chỗ mới lạ tôi đều dò xem bản đồ trước, hoặc tìm trong Google, ghi lại địa chỉ vào giấy cho dể tìm v.v...  không cần vậy!

Đến tuổi này, không còn ganh đua với ai nữa, nên tìm cho mình một triết lý sống : có cần chăng? Đối với những người sáng mắt như chúng ta có khả năng nhận biết được nhiều màu sắc. Nhưng sự phân biệt hai màu xanh đỏ đã làm khổ hàng chục triệu con người trong hàng chục năm và gây bao nhiêu cảnh sanh ly, tử biệt. Còn đối với chị bán vé số, màu xanh hay màu đỏ đều không có ý nghĩa gì hết. Tình người đối với chị là quan trọng hơn cả. Điều này đáng để chúng ta suy gẫm.

Tạo hóa không ban cho chị đôi mắt nên cũng không cho chị nước mắt để khóc. Ông trời chỉ cho chị cái miệng nguyên vẹn để cười mà thôi ! Chúng ta chỉ cần làm một phép tính đơn giản sẽ giật mình vì với nụ cười không bao giờ tắt trên môi ấy, mỗi tháng chị có thể di chuyển đoạn đường dài bằng từ Sài Gòn ra Hà Nội !

Trong nghề kinh doanh "sự may rủi" của chị, chị bán vé số chỉ có một triết lý đơn giản để vượt qua mọi nhọc nhằn là: quen rồi! Chị chỉ có ước mơ là bán hết xấp vé số. Việc này được hay không cũng tùy thuộc sự may rủi của chị mỗi ngày, nhưng đối với chị, được hay không thì cũng "quen rồi!" Ôi! Đối với triết lý sống rất đơn giản "Quen rồi" của chị, tôi chỉ còn biết nói là:                                                                                 Thương quá!

Xin cám ơn chị đã cho tôi thêm một bài học về cách sống ở đời : hãy sống đơn giản với những gì tạo hóa ban tặng và làm quen với mọi nhọc nhằn hay nghịch cảnh để có thể vượt qua tất cả mọi thử thách trong đời.” (truyện kể trích từ điện-thư do bạn bè gửi)

Đọc truyện trên thư-điện, hẳn bạn và tôi, ta đều đã nghe quen những chuyện như thế. Nhưng vẫn thấy nó làm sao ấy. Nếu vậy, nay đề-nghị tôi và bạn, ta quay về bài hát của nghệ sĩ họ Lê khi xưa vẫn từng hát để làm kết luận bài phiếm “rất đáng sợ” vì hơi bị “vớ vẩn”, như sau:

Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên
cuộc đời đang.. dang tay đón ta
bằng yêu thương ta đi xóa tan..
mọi căm hờn.”
(Lê Hựu Hà – bđd)

Thật đúng thế. Chỉ “bằng yêu thương ta đi xoá tan mọi căm hờn”, xoá cả nỗi sợ sệt vì mọi lý-do, trong đó có cả lý lẽ do những người tưởng rằng đã hiểu nhưng chưa biết ngọn ngành về lý-tưởng của Vương Quốc Nước Trời, đó chính là tình yêu-thương hết mọi người mà thôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Khi xưa vẫn rất sợ đủ mọi thứ
Nay chỉ còn mỗi một nỗi
Sợ rằng cứ làm thinh và làm biếng mãi,
Sẽ không xong.