Saturday, 4 August 2012

“Rồi mai đây, khi mình xa nhau”


Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 19 thương niên năm B 12.08.2012
“Rồi mai đây, khi mình xa nhau”
“nhớ đến nhau hoài.
Rồi mai đây, khi tình bay xa, nhớ đến hôm nào.”
(Nhạc Ngoại Quốc: Lo Mucho Que Te Quiero)
(Lời Việt: Trường Kỳ: Rồi Mai Đây)
(1GA 3: 11-12)
            Nhớ nhau hoài, khi mình đi xa. Phải thế không? Bởi, một khi mình đã cao bay xa chạy, hay vĩnh viễn đi vào lòng đất rồi, thì làm sao còn nhớ/còn thương được? Thế nhưng, đây lại là khắc khoải lớn của người tình còn sống sót, sau vụ giết người hàng loạt ở Mỹ, xứ Aurora. Trong rạp hát!
Kể cũng lạ. “Aurora”, tự nó đã là rạng đông rực sáng của mọi ngày, mang đến cho con người nhiều ước vọng, nhưng với 3 nữ phụ được kể ở bên dưới, thì lại khác:

“Ba thiếu nữ thoát chết trong vụ thảm sát trong rạp xi-nê ở thành phố Aurora, tiểu bang Colorado, nhưng đã sống với những khổ đau trong tim vì bạn trai của họ đã anh dũng đưa mình hứng đạn thay cho chị. Tin được loan cho hay các anh Jon Blunk, Matt McQuinn và Alex Teves đã đưa thân làm bia đỡ đạn cho bạn gái của mình đến nỗi cả ba người đã bị sát thủ James Holmes bắn chết.
Jon Blunk, cựu binh sĩ hải quân Hoa Kỳ đồng thời là nhân viên an ninh đang nạp đơn xin trở thành chiến sĩ biệt hải Navy Seal, đã đưa thân anh đỡ đạn cho bạn gái mình là Jansen Young, nay không còn nũa.
Trường hợp của Matt McQuinn cũng dũng cảm như thế với người yêu của anh là Samantha Yowler và Alex Teves với bạn gái Amanda Lindgren. Nhận định của David Frum, bỉnh bút tờ Newsweek đã cho rằng: trong 20 năm qua, nỗ lực của nhiều người đòi kiểm soát việc sử dụng súng ống ở Mỹ đã không thành công. Trái lại, hiện nay, lại thấy có hơn ba phần tư người Mỹ muốn được quyền xử dụng súng ngắn, loại võ khí có mục tiêu duy nhất là giết người ở tầm ngắn. So với năm 1959, 60% dân chúng Mỹ khi ấy ủng hộ việc cấm lưu hành súng ngắn, ngoại trừ ưu tiên dành cho cảnh sát.
Nhiều tiểu bang ở Mỹ lại cũng cho phép cư dân được quyền mang súng ngắn trong người ở bất cứ nơi đâu như: nhà hàng, quán rượu, v.v.. Rượu và súng, cũng giống nhau: rượu vào thì lời ra. Còn súng, nếu sử dụng không đúng cách thì cũng thế, nghĩa là sẽ còn có thêm nhiều vụ giết người ở Mỹ chỉ vì lý do nổi giận. Sở dĩ nhiều người Mỹ ủng hộ quyền mang súng trong người là vì họ tin rằng súng ống là thứ cần thiết để tự bảo vệ.
Các phương tiện truyền thông đại chúng cũng hỗ trợ việc người Mỹ mua súng để tự bảo vệ mình, sau khi có hàng loạt tin tức giết người, bạo hành tội ác được đăng tải hàng ngày. Ngoài ra, qua áp lực của một số công ty sản xuất súng đạn, thì việc ngăn cấm sử dụng võ khí tại Hoa Kỳ vẫn là điều khó khăn.” (x. http://thoibao-online.com/the-gioi/tin-the-gioi/7496-nhng-mu-chuyn-anh-hung-trong-v-git-ngi-hang-lot--aurora)

Đó là hướng nhận định thời sự về việc sử dụng súng ống của nhà báo, rất Hoa Kỳ. Ngoài chuyện trên, lại thấy có lề lối tư duy, am hiểu việc đời theo lối khác. Những lối, những kiểu như người viết nọ ở Úc đã tường thuật, như sau:

“Chuyện giết người ở Mỹ như từng xảy ra tại Columbine, Virginia Tech, Ft. Hood, Tucson, Aurora, vv.. đã gây sửng sốt rất nhiều, khiến cư dân ở bên ấy đã trở nên câm lặng, không còn nhận định gì thêm nữa. Lý do chẳng phải vì họ thấy bão hoà từng nói quá nhiều mà chẳng ăn thua gì. Mà vì, những điều nhà báo phát biểu chỉ để tạo dư luận chính trị hoặc chẳng mang chút trách nhiệm nào hết. Ngoài bấy nhiêu chuyện, những gì nhà báo viết ra, chỉ thêm vô nghĩa, chẳng tích sự gì. Bởi, việc giết người hàng loạt nay tấn công vào sự cảm xúc bén nhạy của con người. Và, những việc như thế càng kéo chúng ta về gần lại bên nhau để rồi một lần nữa, buộc ta đi sâu vào chốn miền không ai rà soát, hoặc tìm hiểu nguyên nhân sâu xa, trái lại cứ run rẩy, sợ sệt, tìm nơi trú ẩn cho an toàn, thoải mái hơn.  
            Vấn đề đặt ra hôm nay, là: làm sao ta có thể giải quyết hoặc đương đầu với sự ghê tởm đó mới là việc cần thiết. Mỗi lần có chuyện tàn bạo, độc ác xảy đến, thường thì cộng đồng ta chung sống, cả đến đất nước và nhóm hội/đoàn thể ta thiết lập đều ra như rã rời ít liên lụy hoặc có chăng cũng ít có thiện cảm để dính dự hoặc tính chuyện xử lý cũng chỉ theo tính cách tách rời sự việc, thôi. Thế nên, nay tìm đâu ra điểm tốt lành nơi người phản ứng? Làm sao để phát huy điều tốt lành khi xảy ra sự cố gây chết người? Điều này, thiết tưởng cũng không quan trọng bằng chuyện làm sao biểu tỏ động thái mang tính trách nhiệm được, đây?
            Vào thời khắc căng thẳng như thế này, thì cụm từ “Ghê tởm” không còn thích hợp với những gì con người không thể diễn tả ra nơi đầu óc và môi miệng được nữa. Thế nên, thiết tưởng cũng hãy “dừng lại” để có được động thái chính đáng như đề nghị của tổng thống Barrack Obama khi ông quyết định ngưng tranh cử vào ngày Thứ Sáu hôm rồi và ông có nói với những người ủng hộ ông rằng:
“Thật ra chúng ta cũng đã có nhiều tháng ngày dành cho chính trị rồi. Hôm nay, tôi nghĩ, phải là ngày để bà con ta dành riêng cho nguyện cầu và tư duy, thôi.”

Đúng hơn, lời lẽ của tổng thống Obama còn nói thế này:
“Dù ta nay chưa biết rõ động lực nào thúc đẩy thủ phạm lấy đi sự sống của nhiều người, nhưng chúng ta vẫn biết rõ một điều về những gì làm cho sự sống của chúng ta rất đáng sống. Những người bị giết chết ở rạp Xinê tại Aurora tối hôm đó, cũng từng thương yêu và được yêu thương Họ là cha, là mẹ và có người cũng là vợ, là chồng. Là chị, là anh, là con cái, bạn bè, chòm xóm từng có nhiều mơ ước như mọi người, nhưng chưa đạt.”  

Và, tổng thống Obama lại cũng thêm:
“Những gì ta rút được bài học từ thảm cảnh như thế, theo tôi, đó phải có tầm quan trọng đặc biệt để mọi người đối xử với nhau và thương yêu nhau, cho tốt đẹp thôi.” (x. Sheila Liaugminas, Movie Theater Violence: We’ve Seen This Before, MercatorNet  23/7/2012)

Quả thật rất đúng. Đúng ý của đương kim tổng thống nước Mỹ vừa mới nói mỗi người và mọi người trong ta đều có nhu cầu thâm sâu/theo bản năng là nguyện cầu và suy tư. Suy tư, để tìm hiểu lý do hoặc động lực nào thúc đẩy những người kkhông đến nỗi tàn-bạo-độc-ác sao dám cất đi sự sống của người khác? Những “người khác mình”, cũng có ước vọng và tương lai tươi sáng chưa hiện thực chứ!
Thế nhưng, nhân danh ai, mà thủ phạm lại dám xuất thủ/xử sự như thế? Từ những sự kiện đau lòng như thế, hãy tìm hiểu xem con người ngày nay đối xử với nhau ra sao? Họ có còn yêu thương giúp đỡ, thay vì giành giựt cuộc sống của nhau không? Hiển nhiên, câu hỏi này được nhiều người cũng từng đặt, nhưng nào đã có ai đưa ra câu giải đáp chính đáng?
Để trả lời, có vị lại đưa đề nghị gửi đến một số chính trị gia nào đó, nghĩa là: có lẽ, ta cũng nên hội nhập vào với mình và người khác, tức các công dân ở mọi nơi, niềm tin-yêu chính đáng. Là tổng thống và chính trị-gia mà ông ta cũng còn biết kêu gọi công dân người nhà nên tạo ra giây phút nguyện cầu và suy tư. Suy tư/nguyện cầu để có được niềm tin/yêu thương, nơi mọi người. Bởi, làm chính-trị-gia, không chỉ là người chỉ biết đến lý sự ở chính trường để làm luật hoặc áp đặt luật lệ thôi, nhưng còn cổ võ niềm tin/yêu cho thật rộng.
Muốn được như thế, xã hội hôm nay không chỉ nên tôn trọng luật pháp thôi, nhưng còn phải tạo lại niềm tin tưởng nơi lương tri con người; để rồi chính lương tri sẽ khích lệ mình duy trì/thực hiện sự tốt lành cho chính mình và người khác. Việc đó, không chỉ mỗi tổng thống của một cường quốc mới dám kêu gọi công dân mình, mà tất cả mọi người đều nên làm như thế, suốt đời.
Còn nhớ, đã có lần bậc thánh nhân trong Đạo cũng khuyến khích bà con đi Đạo, như sau:

“Anh em đã nghe từ lúc khởi đầu:
chúng ta hãy yêu thương nhau;
chúng ta đừng bắt chước Ca-in:
nó là người của Ác thần, nên đã giết em mình.
Tại sao nó đã giết em?
Bởi vì các việc nó làm thì xấu xa,
còn các việc em nó làm thì công chính.”
(1Ga 3: 11-12)

Thế đó, là lời vàng ngọc từ đấng thánh hiền, nhà Đạo. Thế đấy, là lời hát xuất phát từ nghệ sĩ trên, rày vẫn thưa:

“Còn mãi mãi những gì mình chất chứa trong lòng.
Còn cho nhau chút dư hương,
Đừng tiếc nhau những gì vấn vương.”
(Nhạc Ngoại quốc – Lời Trường Kỳ, bđd)

            Hãy “cho nhau chút dư hương”, là tình thương yêu chính mình và người mình, hoặc những gì “mình chất chứa trong lòng”, là đề nghị rất quý gửi đến người nghe và cả người thưởng thức giòng âm thanh chứa đầy tình tự nguyện cầu/suy tư, như chính-trị-gia/tổng thống nước Hoa Kỳ, đề nghị.
            Suy tư/nguyện cầu thời buổi này, là suy và cầu cho mọi người sẽ giữ mãi niềm hy vọng hiếm quý trong thế giới nhiễu nhương/sôi sục, hiện tại. Nhiễu nhương, vì để lạc mất niềm tin-yêu, lẫn lương tri. Sôi sục, vì không còn tìm được khoảnh khắc lặng thinh, tươi mát để nguyện cầu, nữa. Nhiễu nhương/sôi sục, có thể vì người thời nay đã lạc mất nỗi niềm hy vọng mình vẫn có, rất xưa nay. Và, niềm hy vọng ấy sẽ làm cho thế giới hiện tại trở lại cuộc sống an nhàn, tự tại.
            Còn nhớ, có lần Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI từng kêu gọi mọi người tìm đến Chúa trong nỗi niềm hy vọng ở đời thường, của con người. Chừng như ngài vẫn kêu gọi mọi người sống như thế qua tông thư “Hy Vọng Cứu Rỗi” để người người thực sự được cứu độ. Cứu độ, để thế giới trở nên tốt lành hơn. Bởi dù sao, con người vẫn có niềm tin và lòng thương xót cần biểu tỏ, với mọi người.
Đức Bênêđíchtô XVI lập luận:

“Giống như mong ước ta đặt vào những gì đang triển nở, ở gia đình, bè bạn, công việc và tương quan ta có với mọi người, ta vẫn có thể đặt hy vọng vào khoa học và chính trị, dù hạn chế. Hy vọng, không làm ta nản chí. Hy vọng, khiến ta tìm về với Chúa, sẽ đạt được mọi sự tốt lành. Vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu.” (x. Tông thư Spe Salvi)

            Cùng với vị thủ lãnh tối cao trong Đạo, người Công Giáo lâu nay khẳng định rằng niềm hy vọng sẽ kéo mọi người về với nhau, gìn giữ nhau để duy trì niềm tin. Và, đào sâu niềm tin-yêu ấy trong Chúa nữa.   
Với người Công giáo thời xa xưa, thì niềm hy vọng bao gồm cung cách khác biệt để mọi người tạo hình ảnh về thế giới theo tầm nhìn của mình. Hình ảnh ấy, tập trung vào sự sống lại của thân xác như đã được hứa trong kinh Tin Kính thời tiên khởi.
Các ngài hy vọng, nhưng không tưởng tượng là thân xác sẽ sống lại như điều xảy đến trong tương lai cho cá nhân riêng lẻ. Nhưng, vẫn liên kết chặt với ảnh hình về Thân Mình sống động của Đức Kitô Phục Sinh nay hiện diện nơi Thánh Thể và cộng đoàn Hội thánh như Thân Mình rất thánh gắn kết với xác phàmcủa mọi người.
Nhìn về thế giới như thế, nay đã đổi khác do bởi nhiều người lại quá nhấn mạnh đến đường ranh hạn chế giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa thể xác và tinh thần. Và, có khi còn hạn chế giữa thực thi niềm tin-thương yêu ấy bằng hành động nữa. Thành thử, niềm tin thương yêu Chúa nay được khẳng định, hội nhập và đào sâu bằng hy vọng khác mà người đi Đạo vẫn sống mỗi ngày.
Nói tóm lại, bằng vào niềm tin/thương yêu người người vẫn có, niềm hy vọng của con người chỉ có chiều sâu nếu đặt mình ở trong Chúa. Tức, con người chẳng làm sao có được hy vọng cho tương lai của thế giới mà lại không để Chúa hiện diện. Bao lâu con người không để Chúa hiện diện trong hoạt động của mình, thì thế giới của họ rồi cũng gặp bạo tàn, khổ đau, “nhân” tai như thế mãi.
Nhận định trên, được đấng bậc ở ngoài đời diễn tả bằng truyện kể như sau:

“Có thức giả nọ tìm đến gặp bậc Hiền triết của Hy Lạp là Socrates để vấn nạn một đôi câu mà ông nghĩ cũng hơi khó sẽ khiến nhà hiền triết bối rối không ít. Sau đây, là những câu tuy đơn giản, nhưng không dễ:
Hỏi: Trong các vật hiện hữu trên thế giới, cái gì thuộc loại xưa nhất?
Đáp: Thượng Đế. Vì thời nào, Ngài cũng hiện hữu.
Hỏi: Trong các vật thể có mặt trong trời đất, vật gì đẹp nhất?
Đáp: Vũ Trụ. Bởi Vũ trụ là công trình của Thượng Đế. 
Hỏi: Trong các vật như thế, vật gì lớn lao nhất?
Đáp: Không gian. Bởi, nó chất chứa những gì được sáng tạo.
Hỏi: Trong các vật thể ở đời, vật gì bền vững hơn cả?
Đáp: Hy vọng. Bởi, khi con người mất tất cả, nó vẫn tồn tại.
Hỏi: Trong vạn vật, điều gì tốt đẹp nhất?
Đáp: Đức Hạnh. Bởi, thiếu nó sẽ chẳng có gì nên tốt đẹp.
Hỏi: Trong vật thể, vật nào di chuyển nhanh nhất?
Đáp: Tư tưởng. Bởi, chỉ một giây ngắn ngủi, nó đến được bên kia vũ trụ.
Hỏi: Trong vạn vật, vật gì mạnh mẽ nhất?
Đáp: Nhu cầu. Bởi, nó giúp ta san bằng mọi khó khăn dù lớn lao.
Hỏi: Trong mọi việc, việc gì dễ làm nhất?
Đáp: Lời khuyên. Bởi, ai cũng muốn khuyên người khác chứ không để người khác khuyên dạy mình.
Trả lời câu hỏi tiếp, bậc Hiền triết đưa ra một câu nghe rất lạ. Người hỏi khi ấy chỉ quan tâm đến chuyện trần thế, nên chẳng hiểu. Hoặc có hiểu, cũng hiểu cách nông cạn, thiếu sót. Câu ấy thế này:
Hỏi: Mọi việc ở đời, việc nào khó làm nhất?
Đáp: Tự Biết mình.
Hỏi xong, thức giả kia cứ suy tư mãi về thông điệp hiếm có gửi đến mọi người.”

            Bàn về thông điệp của bậc HIền triết xưa, người kể cũng suy tư, nguyện cầu mãi. Không nguyện cầu để được thần linh soi sáng, thì chưa chắc người kể có được sự minh mẫn để nhận ra điều gì dễ thấy, là: con người hôm nay tự cho mình biết hết mọi sự. Làm được mọi việc, nên đâu cần đến suy tư  cầu nguyện, làm gì nữa.
            Nghiệm sinh điều người kể vừa nhận định, bần đạo đây thấy cũng đúng. Đúng là bởi thời buổi này ai cũng thấy người thời đại hôm nay có quá nhiều thứ, từ vật chất cho đến tinh thần, nên ít thấy việc nguyện cầu/suy tư là cần thiết. Hoặc, có suy tư đi nữa, cũng chỉ suy nghĩ và tư lự những gì có lợi cho đời mình thôi.
            Thế nên, hôm nay, nhân nghe câu nói của chính-trị-gia tầm cỡ ở nước Mỹ, tưởng cũng nên dừng lại mà suy tư/nguyện cầu, ngõ hầu có được niềm hy vọng rất chính đáng. Suy tư/nguyện cầu như thế, niềm hy vọng đạt được sẽ dẫn ta đến với Đức Chúa là Chúa của Hy vọng, Bình an và Vui sống. Ngài là Đấng chiến thắng âu sầu, hãi sợ và nỗi chết.
            Nguyện cầu rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta tiếp tục câu hát vừa khởi xướng, nhưng chưa kết, rất như sau:

            “Mình xa nhau, xin đừng quên nhau.
            Nhớ đến nhau hoài.
Mình xa nhau, xin đừng quên mau,
Nắng sẽ phai màu.
            Đừng khóc nữa, gió buồn vì mắt ướt hoen sầu,
Đừng cho nhau tiếng than van.
            Đừng nói lên lời khóc than.”
            (Lời việt: Truờng Kỳ - bđd)

            Hát rồi, ta lại hát nữa cho nguôi sầu và cũng để nguyện cầu với lời lẽ như sau:

            “Rồi mai đây, khi mình chia tay,
            Nhớ đến hôm này.
            Rồi mai đây, trong giờ chia ly,
            Nhớ đến phút này.
            Hồn quyến luyến những gì mình chất chứa trong lòng.
            Đành xa nhau, chớ đi mau
            Sợ vỡ tan tình bấy lâu.”
            (lời Việt: Trường Kỳ - bđd)

            Vâng. Đúng vậy. Điều đáng sợ hơn cả, là: tình mình và tình người sẽ tan vỡ, khi gặp tình huống chia lìa, đớn đau, buồn nản. Thế nên, vẫn cần đến Tin Mừng của Chúa, suốt đời mình.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Nay mượn ca từ của người
            để nhắn mình và nhắn người  rằng:
vẫn còn đó niềm hy vọng rất lớn
            ở cuối đường hầm,
cuộc đời mình.


           



             

Saturday, 28 July 2012

“Ta yêu em trong giấc mơ này,”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 18 thường niên năm B 05.8.2012

“Ta yêu em trong giấc mơ này,”
“Ta yêu em trong những cơn say.
Một trời ân ái mình hãy sống,
buông lơi thời gian.”
(Trịnh Nam Sơn – Về Đây Em)
(1Ga 4: 7-8 )
“Về đây Em”, phải chăng để anh có thể nói tiếng “Yêu Em trong giấc mơ này”, mà thôi không? Hoặc, bảo: “Ta yêu em trong những cơn say” và nhắn: “hãy sống buông lơi thời gian” để rồi sẽ thấy “một trời ái ân mình hãy sống”? Ôi chao là nghệ thuật! Nghệ thuật sống và yêu, đâu chỉ mỗi đàn/hát, trong giấc mơ! Dù, giấc mơ đó có là mơ về người em nghe văng vẳng nhiều điệu hát, rất như sau:

            “Và mùa đông lạnh lùng buốt giá
Nỗi cô đơn riêng mình ta
Và mùa đông một trời trắng xóa
Cho tâm tư năm tháng ngày qua
Đời còn nhiều nhung nhớ
Cho dù tình mình đã lỡ
Vẫn mong cho bóng người quay về.”
(Trịnh Nam Sơn – bđd)

Quả có thế. “Tình mình (dù) đã lỡ”, “nỗi cô đơn (dù chỉ) riêng mình ta”, và “mùa đông (dù có) lạnh buốt giá”, thì “Đời (vẫn) còn nhiều nhung nhớ” tháng ngày qua. Nhớ, động thái của nhà Đạo, hôm nào. Bởi vẫn nhớ, nên nhà Đạo bọn tôi, hôm nay, lại “xục xạo” chốn nhạc và thơ, và cứ hát:

“Về đây em tìm về quá khứ,
Đã cho đôi ta mộng mơ.
Về đây em một trời như thơ,
Sẽ cho ta những kỷ niệm xưa.
Tình còn nhiều tha thiết,
Và đời một màu xanh biếc.
Chắc em không nỡ lòng ra đi.”
(Trịnh Nam Sơn – bđd)

Hát thế rồi, bần đạo nay mời bạn mời tôi, ta về suy tư cuộc đời của ai đó, có những lời như sau:

“Là nghị phụ tham dự Công Đồng Vatican II và đã viết “Hiến Chế Mục Vụ Hội thánh trong Thế giới Hiện đại”, các Giám mục thời ấy tuyên bố sẽ hỗ trợ “niềm hân hoan hưng phấn cùng những ưu tư/trăn trở của anh chị em sống ở thời này.” Một trong những ưu tư đáng kể ở thời này, là quyết tâm thực hiện quyền hạn cũng như cách đối xử với bậc nữ lưu ngang bằng nam giới. Và, một số nghị phụ vào dạo hôm đó cũng nói lên quan ngại của các ngài mà bảo rằng: “Dù họ chưa đạt được ước nguyện ngang bằng nam giới, nữ lưu ngày nay vẫn muốn đòi cho được quyền lợi đồng đều với nam nhân trên bình diện pháp luật cũng như thực tại. Và hôm nay, lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người đều xác tín rằng lợi ích văn hoá phải được triển khai cho mọi người.”
Tháng Mười 2012 này, Giáo hội mừng kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc Công Đồng Vatican II khá đậm nét. Lúc đó chẳng vị nữ lưu nào được chính thức tham dự thời khắc thông thoáng rất hiếm có của Giáo hội. Nếu có chăng, cũng chỉ vài ba vị được dự thính với tư cách quan sát viên trong buôi toạ đàm kỳ nhì, mà thôi. Giả như mai ngày Hội thánh lại sẽ mở thêm một Công Đồng Vatican thứ 3 nữa, có thể chức sắc của ta cũng chẳng đưa thêm vai trò định đoạt nào cho nữ giới, giống như trước. Từ Công Đồng Vatican II đến nay, bậc nữ lưu ở khắp nơi đã bước những bước dài khổng lồ thuộc nhiều địa hạt ở thế trần. Trong Đạo, lại có Giáo hội từng phong cho các chị làm linh mục và/hoặc giám mục dù có nhiều thành viên giáo hội ấy từng chống đối những ngoại lệ như thế. Trong khi đó, các chức vụ hành pháp của Giáo hội Công giáo La Mã vẫn cứ nằm gọn trong tay nam giới, mà thôi. Dù ta có lập trường mạnh thế nào đi nữa trong việc tấn phong phụ nữ làm linh mục hay giám mục, thì chức sắc nắm quyền trong Giáo hội vẫn viện dẫn mục đích tối thượng là “đẹp lòng Chúa”, nên mọi vụ việc vẫn cứ phải dành để cho nam nhân, bất luận vì lý do nào.
Ngược giòng lịch sử, hẳn ai cũng thấy là đấng bậc nhà Đạo mình thường viện dẫn lý do bảo rằng Chúa ban toàn quyền cho nam giới hơn hẳn nữ giới, nên chuyện loại trừ bậc nữ lưu khỏi chức linh mục hoặc giám mục vẫn được ráo riết biện hộ. Gặp trường hợp cần giải thích, các đấng bậc cầm quyền trong Đạo đều bay biến đi đâu hết. Nên, hôm nay, Giáo hội lại cứ tiếp tục khuyên răn dân con mọi người hãy noi gương Chúa Kitô khi Ngài chỉ chọn mỗi nam nhân làm môn đồ vì họ giống Ngài về mặt hình hài thể xác. Và, chỉ mỗi nam giới mới có thể hành xử như Chúa, thôi. Dĩ nhiên, đấng bậc nam nhân trong Giáo hội bao giờ cũng thắng thế, và cho mình có lý. Đồng thời, những ai sống trong loại hình xã hội có nam nhân vẫn còn khuynh đảo hết mọi chuyện thì dĩ nhiên là các ngài không thể đề cao sự khác biệt về giới tính, để rồi tạo cơ hội đồng đều cho các vị không là nam nhân. Và Giáo hội Công giáo La Mã vẫn viện cớ này để loại trừ sự chuẩn thuận cho phép nữ giới có được chức vụ then chốt trong giáo triều. Chính vì thế, sự việc này từng gây ra trạng huống khó xử cho giới cầm quyền trong Đạo, nhất là khi gặp phải vấn đề có liên quan đến nữ giới.
Mới đây, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin vừa bác bỏ tư cách của Hội Đồng Đề Cao Quyền Lãnh Đạo của Nữ Tu, dựa vào lý do “đức tin” nói ở trên, nên đã khơi mào một số vấn đề quen thuộc gây khó khăn cho Giáo hội. Được biết, các nữ tu người Mỹ từng hỗ trợ Hội Đồng lại là những vị lâu nay vẫn chăm lo cho người nghèo hèn, bệnh tật, tù nhân và những người sống vất vưởng bên lề xã hội. Tiếp theo hành xử do từ Thánh Bộ này, Hội Đồng Đề Cao Quyền Lãnh Đạo của Nữ Tu chỉ là người thừa hành thuộc cấp ở dưới quyền chỉ bảo của Đức Tổng Giám Mục Giáo phận Seattle là Gm Peter Sartain, đặc biệt là Thánh Bộ đã áp đảo chút quyền bính mà nhóm này từng có. Nội qui của nhóm này sẽ được viết lại và phát ngôn viên buổi họp của nhóm sẽ được xem xét kỹ lưỡng. Các nữ tu của nhóm đặc biệt bị quở trách vì dám tỏ đối kháng chống lại quyền bính do các Giám mục người Mỹ nắm giữ và đã dám “làm thinh” trước giáo huấn của Hội thánh về việc phong chức linh mục và chuyện hôn nhân của người đồng phái tính. Phải chăng thinh lặng nay đã trở thành cung cách để phản đối? Phải chăng các nữ tu nay cũng không được phép cả đến việc định đoạt thứ tự ưu tiên cho công cuộc thừa tác của các chị nữa?
Chủ trương phụ nữ đòi đồng quyền với nam giới nay đã gây ảnh hưởng lên nhóm trên và đa số các nữ tu có thể đã bất đồng với lập trường của Giáo hội về việc cho phép nữ giới làm linh mục, hoặc giám mục. Nhưng ngày nay, những gì mà nhóm trên đang làm xem ra khá khôn khéo và tế nhị ở chỗ phụ nữ nay thực hiện nhiều sinh hoạt mục vụ cũng như giảng giải bằng hành động còn hay hơn phần lớn giáo sĩ và giáo phẩm thực hiện chỉ bằng lời. Hội Đồng Đề Cao Quyền Lãnh Đạo của Nữ Tu, cũng giống như chính Giáo hội, là một nhóm thành viên đa năng đa dạng, và Thánh Bộ Đức Tin không có chứng cứ để kết tội rằng nhóm của các chị đang chịu ảnh hưởng của phong trào phụ nữ đòi đồng quyền đến triệt để. Có thể nói là nhóm của các chị hiện cũng đang gặp cùng một thách thức như các giám mục nhưng các chị xem ra “đạt” kết quả hơn nhờ duy trì tính cộng đoàn có liên kết, nhờ biết trao đổi và đối thoại, và nhất là các chị đang được khuyến khích đổi mới, có sáng tạo và dám chấp nhận mọi nguy hiểm khi phục vụ Tin Mừng của Chúa.
Chắc chắn là hành động của Thánh Bộ Đức Tin đang gặp thiên tai về mục vụ. Một ví dụ khác có thể quay về mà qui chiếu là giáo triều của ta nay đang hành động theo cung cách thiếu khôn ngoan và phản tác dụng. Người Công giáo phải hỗ trợ cho cố gắng của các giám mục trong việc duy trì và triển khai các nguyên tắc cơ bản của niềm tin và sửa đổi những sai sót về tín lý coi đó như thành phần của tiến trình mà Bộ thực thi. Thế nhưng phải chăng các giám mục trên hành động hữu hiệu hơn trong công tác ấy không nếu các ngài không làm rối ren nỗi bất đồng về chính sách đưa ra cho công chúng khi có bất đồng về tín điều, và nếu kinh nghiệm và phán đoán của nữ giới có vị trí từng được trân trọng cũng như từng có vai trò quyết định trong việc quản trị của Hội thánh không? Đó mới là vấn đề.” (x. The Editors, Rome & women religious, www.Commonwealmagazine.org 18/5/2012)

            Thật ra thì, về lại nhà Đạo để suy tư chuyện Đạo nhà mình, không có nghĩa “vạch áo cho người xem lưng” những dấu vết của một thử thách rất đáng gờm, thời hiện tại. Nhưng, cũng chỉ để bọn tôi suy tư thêm về những gì được thánh nhân hiền lành từng căn dặn bằng thư từ rất tình thân, như:                          
                             
 “Anh em thân mến,
ta hãy yêu thương nhau,
vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra,
và người ấy biết Thiên Chúa.
Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa,
vì Thiên Chúa là tình yêu.
(1Ga 4: 7-8)

            Thánh nhân hiền lành ở nhà Đạo cũng từng nêu lên nhiều thách đó xảy đến với dân con Đạo mình. Để rồi, cuối cùng ngài nhấn mạnh nhiều đến tình yêu, thứ mà nghệ sĩ ngoài đời, cũng từng tuyên dương qua câu ca, và tiếng hát, rất như sau:

“Ta yêu em trong giấc mơ này
            Ta yêu em trong những cơn say
Một trời ân ái mình hãy sống
buông lơi thời gian
Ta bên nhau quên hết u sầu
Vui bên nhau cho hết đêm thâu
Tình yêu sẽ mang ta đến gần bên nhau. “
(Trịnh Nam Sơn – bđd)

Bần đạo đây, có trích dẫn đôi điều cũng chỉ để nói lên tâm trạng rất đồng dạng và “đồng thuyền” với người anh người chị ở thánh Hội. Đồng dạng và đồng thuyền, không chỉ mỗi tâm tư, tâm tình mà cả phần tâm linh nữa. Nói tâm linh, là nói về nội tâm tư linh-đạo của người nhà Đạo xưa rày theo chân Chúa. Trong đó, có cả nam lẫn nữ, rất chí tình. Nói về tâm tư linh đạo của các bậc trưởng thượng khi xưa theo Chúa, còn phải và cũng nên nói thêm về các thừa-tác-viên được đề cao danh tánh ở Tin Mừng, như đấng bậc nữ lưu tên gọi là Joanna, được trích dẫn ở Tin Mừng thánh Luca hồi trước. Nói về Joanna, còn là nói như đấng bậc thày dạy ở Úc cũng từng viết và nói, rất như sau:

“Tin Mừng thánh Luca, có một truyện kể về nữ phụ không nêu danh tánh đã vào nhà ông Simôn người Biệt Phái, trong lúc Chúa đang dùng bữa tại đây. Nhìn thấy bà, ông Simôn đã tự hỏi: Đức Giêsu hẳn Ngài cũng biết bà kia thuộc loại nữ phụ nào mới dám đổ dầu xức chân Chúa. Bởi, ‘ai’ cũng biết bà này là ai và đối xử với bà như phường ‘tội lỗi’, chứ? Bà có ‘tiếng tăm khá xấu trong làng’... Đọc kỹ Tin Mừng, hẳn ta cũng đoán được bà ta là ai. Có thể là, thánh Luca cũng đã nêu tên bà trong Tin Mừng, ngay sau truyện kể ấy? Thật ra, nhiều người nghe biết rất ít về bà. Vì thế, ở đây cũng nên vẽ lên hình ảnh về bà cho công bằng. Hình ảnh lấy từ các nguồn sử sách ngoài Thánh Kinh.
Ta thừa biết Joanna xuất xứ từ một gia đình khá giả ở Do thái. Bà sinh sống và lớn lên trong một lâu đài nhỏ trên đồi Galilê. Vào tuổi dậy thì, gia đình đã sắp xếp gả bà cho một nam nhân thuộc giòng dõi quý tộc có tên là Chuza có họ với công chúa Nabatêna, người được lọt vào mắt xanh của Hêrôđê Antipas. Chuza trở thành bộ trưởng tài chánh trong chính phủ của Antipas. Do lấy Joanna làm vợ, ông cũng chiều lòng bà mà theo đạo người Do thái. Nhưng thật khó biết là ông hành đạo tốt lành như thế nào trong thời gian phục vụ trong chính quyền của Hêrôđê. Là vợ chồng có đám cưới, cả Chuza lẫn Joanna đều chung sống tại Tibêriát và có cơ ngơi ở Galilê nữa. Joanna cũng có của hồi môn do cha ruột để lại như tục lệ định đoạt. Chính vì thế, nên bà đã sử dụng của cải riêng không thuộc chồng mình cho việc thiện. Và bà cũng được san sẻ vị thế giai cấp cao, cũng như tài sản chung của chồng nữa.
Đức Giêsu thực sự vẫn muốn mọi chuyện minh bạch không dính dự đến Tibêriá, nhưng Ngài vẫn được người trong làng coi là đấng bậc chuyên chữa lành và có tài trừ quỷ. Mẹ ruột của Mahahen, là bạn và cố vấn riêng của Hêrôđê Antipas là người cũng sống tại đây, vào thời này. Và, theo một số truyền thống không mang tính qui điển sử liệu thì Đức Giêsu đã chữa cho bà sống lại, tại một vùng ở phía Bắc Tibêriát. Lúc đó, bà Joanna cũng đau bịnh thuộc loại nào đó nên đã đến với Chúa để được chữa lành. Gặp Chúa và được Ngài chữa lành, bà đã thay đổi cả cuộc đời. Bà khám phá ra Ngài còn hơn cả Đấng chữa lành tật bệnh nữa. Ngang qua Ngài, bà còn khám phá ra Vương Quốc của Chúa; và từ đó kết hiệp mọi sự bằng sự liên kết chặt chẽ, không kỳ thị bất cứ một ai, đặc biệt còn chăm lo cho người nghèo hèn, cùng khổ. Và từ đó, bà còn tiến xa hơn nữa để trở thành đồ đệ của Ngài. Điều này có nghĩa: bà từ bỏ vị thế cũng như tài sản của bà để theo Chúa đi khắp mọi nơi. Là nữ phụ Do thái, có thể là bà đã bố thí của cải mà bà có cho người nghèo. Bà cũng đóng góp tài sản cùng tiền bạc của riêng bà cho nhóm đồ đệ theo chân Chúa. Xem thế thì, bà không chỉ đổi thay cả con người để về với nhóm đồ đệ của Chúa thôi, và nhóm của Chúa cũng chấp nhận bà nữa. Bởi thế nên, có lúc nhiều người vẫn cứ nghĩ bà là kẻ “tội lỗi” vì dám phản bội giai cấp quý tộc bỏ cả cuộc sống sung túc khá cao cấp chỉ vì người nghèo, cho người nghèo hèn. Bà cũng từng thuộc vai vế trên cao, có địa vị trong chính quyền La Mã, nên vẫn bị người Do thái coi là kẻ “tội lỗi” chăng? Hoặc, bà nổi tiếng với mọi người trong vùng về chuyện bà làm hay sao? Phải chăng “mọi người” vẫn gọi bà là kẻ có tội chỉ vì dám làm khác mọi người?...” (x. Kevin O’Shea, Contemporary Variations in the Study of the Historical Jesus, Australian Catholic University 27/8/2011)

Trích và dẫn hôm nay, bần đạo dám kèm thêm câu hỏi có từ lâu, cũng khá khó, là: phải chăng giáo dân thuộc nữ giới xưa nay vẫn bị và được coi là giáo dân hạng thứ, hoặc dưới trướng? Dù, các vị có là nữ tu từng có công với Giáo hội như Joanna ở trên, là nữ thừa tác viên cận kề Chúa rất nhiều năm, đường trường rong ruổi một sứ vụ truyền giáo, ở muôn lối?
Trích và dẫn, như mọi lần, bần đạo bầy tôi chỉ muốn đưa vấn đề như một thông tin để người đọc cảm thông mà suy nghĩ. Suy rồi, lại sẽ cùng bần đạo đi vào “vườn hoa” Hội thánh mà thưởng lãm cả những hoa/lá/cành dù gai góc.
Trích và dẫn, còn để trình thêm với người đọc cùng bà con một vài trăn trở, đôi lúc cũng khó thở khi suy nghĩ nhiều về hiện trạng của nhiều thành viên trong thánh hội, rất hội thánh. Suy và nghĩ, mỗi khi có vấn đề mất ngủ hoặc ngủ không yên vì các câu nói hoặc vấn đề của ai đó, vẫn đưa ra. Chí ít, là vấn đề do bậc thày mình đặt ra cho học trò suy tư bàn cãi, mà không cần tìm đến giải đáp. Suy và nghĩ, có khi cũng chỉ là lang thang trong vườn hoa tư tưởng hoặc truyện kể để tìm gặp đôi ba giòng chảy, cho đỡ chán. Thế thôi.
Vừa rồi, trong lúc suy tư tìm đề tài để viết, bần đạo lại nhận được đôi ba chi tiết do người anh em trong Dòng gửi cho để suy nghĩ thấy cũng nên kể ra đây để bạn đọc hoặc bạn “không-chịu-đọc” biết mà sẻ san một tâm tình. Tâm tình ấy như thế này:

“Tranh chấp hầu như vẫn tiếp tục cả sau khi Vatican ra lệnh “khoá miệng” hai linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ở Châu Âu là Lm Tony Flannery và Lm Gerard Moloney, vẫn cứ gia tăng. Một linh mục dòng thánh Âu Tinh có viết về “sự chia rẽ dễ thấy” trong Giáo hội Công giáo. Đó là thần học gia linh mục Gabriel Daly có nói: “Một phe đang nắm quyền kiểm soát đưa ra quan điểm/lập trường của riêng họ rồi coi đó như “giáo huấn của Hội thánh.” Linh mục Daly còn nói thêm: “Hơn thế nữa, các thành viên hay liến thoắng thường hay sa thải và đuổi cổ những người có ý kiến khác mình và coi họ như giáo dân “à la carte” tức những người như mất trí sống trong giáo hội đa dạng về luật pháp.” Linh mục Tony Flannery là người sáng lập Hiệp hội Linh mục Công giáo, đã viết nhiều bài quan điểm trên tờ “Reality”, một nguyệt san của Dòng Chúa Cứu Thế bị đình bản theo lệnh của Vatican trong khi đó Lm Gerard Moloney là chủ bút của tờ này cũng được khuyến cáo không nên viết về một số đề tài. Cả hai linh mục Dòng này đều có lập trường thông thoáng về các vấn đề như: Ngừa thai, Đời độc thân và phụ nữ làm linh mục. Lm Daly từng viết về đề tài này trên tập san Doctrine Life…”(trích thư luân lưu nội bộ DCCT 10/12)    
     
Nghĩ thế rồi, bần đạo bèn tìm đến chuyện kể, để minh hoạ như sau:

“Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tai trường tiểu học của một thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ.
Vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".
Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém).
Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được. Cô giáo phụ trách lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh". Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu". Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ". Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp".
                        Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn.
Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xạm màu mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa".
Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, là đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy nay là học trò cưng nhất của cô.
Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em".
Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em".
Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời".
Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard - giáo sư tiến sĩ.
Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể.
Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất.
Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ".
Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu:
"Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chỉ biết thế nào là dạy học kể từ khi cô được gặp em".

            Thật ra thì truyện kể hôm nay chẳng có gì để minh hoạ với đề tài mà bạn và tôi, ta bàn đến. Nhưng, có điều là: người kể lại cứ muốn nối kết với đề tài bằng một nhận định bảo rằng: xin đừng vội khinh chê những ý kiến/tư tưởng của người khác với mình, cũng đừng vội có thành kiến, “đóng khung” những gì mình chợ nghe/chợt thấy. Cũng đừng đánh giá người khác qua giới tính hoặc giai cấp của họ. Dù, họ là học trò, hoặc học để làm trò cho vui, trong cuộc đời.
Cuộc đời của nhiều người có nhiều sự/nhiều việc cũng rất ư là “tréo cẳng ngỗng” cứ bắt đấng bậc thày/cô phải suy nghĩ rồi giải quyết. Chí ít, là những sự/những việc có liên quan đến cuộc đời của con người rất lành và khá thánh, nhưng suy nghĩ khác mình.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn suy tư chuyện người
            để rồi nghĩ đến chuyện mình.
            Chuyện của Giáo hội mình,
            mỗi thế thôi.