Sunday, 8 April 2012

“Bình yên một thoáng cho tim mềm,”

Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4
Chuyện phiếm đọc vào tuần thứ Hai Phục Sinh năm B 15.4.2012

“Bình yên một thoáng cho tim mềm,”
“Bình yên ta vào đêm.”
(Quốc Bảo – Bình Yên)
(St 1: 1-2)
Thập niên ’60 mà ngồi nghe lại câu thơ trên, hẳn người người cũng như tôi đây cứ là vui triền miên, rất “bình yên”, suốt một đời!
Cũng vào thập niên năm ấy, Học viện Dòng Chúa Cứu…Chuộc của bần đạo rộ lên không ít bầu khí “bình yên”, cũng giống thế. Nếu phải kể, thì bần đạo đây chẳng biết tìm đâu ra giấy bút để kể cho hết, bấy nhiêu chuyện xưa cũ. Thôi thì bần đạo chỉ xin ghi lại ở đây đôi ba sự kiện ít thấy, để cho vui. Ngoài việc ít thấy là sự chào đời của ban Hallêluyah “Ca Vào Đời” rồi lại đến sự kiện các lớp đàn anh được ra nước ngoài thụ huấn các môn triết/thần, cũng khá nhiều.
Bần đạo còn nhớ, phần đông anh em du học/thực tập, là để học thần học Kinh thánh. Tuy rằng, cũng có địa hạt khác mà đàn anh hăng say không ít, là: tham gia nhóm hội vẫn được gọi là “Thanh Sinh Công” (tiếng Pháp là JEC, tức: Jeunes Étudiants Catholiques) và “Thanh Lao Công” (JOC, tức: Jeunes Ouvriers Catholiques).
Ở Pháp khi đó còn có hiện tượng khá lạ, là: các cụ cứ là đổ xô nhau tìm đến với tác giả Gilbert Cesbron từng viết cuốn “Les Saints vont en enfer” (tạm dịch là: “Thánh nhân dồn về chốn hoả ngục”) để làm gì thì bần đạo đây chẳng rõ, chỉ hiểu loáng thoáng mỗi điều, là: muốn rao giảng cho giới thợ thuyền thì phải quyết tâm trở nên như họ, tức: sống và làm việc với họ. Thì ra, ý nghĩa của quyết tâm này từa tựa câu ca ở bên dưới:

“Bình yên để đóa hoa ra chào
Bình yên để trăng cao
Bình yên để sóng nâng niu bờ
Bình yên không ngờ
Lòng ta se sẽ câu kinh bình yên.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Thật ra thì, mức độ hiểu biết thi ca/âm nhạc của bần đạo chưa gọi là tạm đủ để cảm nhận giòng chảy nảy sinh ở bên trên. Duy có điều, là: chừng như lòng người thuở ấy rất hăng say nhưng nay lại ra như nguội lạnh, khô cứng, rất đứng tuổi. Nên không còn say sưa như giới trẻ bây giờ dám xả thân vào chốn ít người héo lánh, kể cả âm nhạc.
Và hôm nay, có say sưa ưa bộc phát với loại nhạc của giới trẻ thời đại, mới hát những ý/lời hoặc giai điệu lên lên/xuống xuống rất thất thường đến cực “bạo”, như:

“Bình yên để gió đưa em về
Bình yên ta chờ nghe
Chờ nghe tình vỗ lên tim mình
Chờ nghe tình lung linh
Bình yên để nắng soi môi thơm
Bình yên ta mừng
Mừng em đã hết đau thương về đây ấm cúng
Mừng em đã biết xót thương tình yêu.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Quả có thế. Bần đạo đây, tuy chưa cảm nhận hết cái hay/đẹp của giòng chảy âm nhạc thời thượng sáng tác theo thể loại Blues, Swing, hoặc Jazz của nước ngoài. Và có lẽ, vì nhạc trẻ của thế hệ mới hôm nay lại có điệu ru nghe qua tưởng như “tối hù”, nhưng nghe thật kỹ lại thấy lời ru có dáng dấp rất không cũ:

“Như từ bao la ta ra đời một kiếp nữa
Như từ trong nhau lớn lên khôn lên cùng nhau
Như một câu hát ứa ra từ tim
Tặng nhau nhé tiếng nghe hồn nhiên
Để quên hết khó khăn chia lìa.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Quả cũng đúng. Đi vào giòng đời, có “khó khăn chia lìa” thì cũng xin “tặng nhau nhé tiếng nghe hồn nhiên”, để “quên hết khó khăn chia lìa.” Và, bà con hôm nay tặng cho nhau những gì đây, khi thấy: đời đi Đạo, cái khó trong nhiều cái khó là biết dung hoà cuộc sống nhà Đạo có tin và yêu để đồng hành và hội nhập nền khoa học khô cứng, nhiều biện chứng?
            Lớp người có tuổi cũng như bần đạo, hễ cứ đụng đến khoa học và niềm tin là đã thấy hơi bị khô, rất khó hợp. Còn giới trẻ vẫn thấy đó là chuyện ở đời, khó tránh né. Để dẫn chứng, bần đạo xin mượn ý/lời của bạn trẻ ở Sydney có đôi giòng cảm nhận mà bần đạo vừa “chộp” được, như sau:

“Nói về vấn đề có liên quan đến khoa học và niềm tin, thì vô cùng. Chỉ biết là: từ thời xưa, người Ấn Độ cũng băn khoăn không kém khi đi tìm cho mình đáp án cho luận đề cổ lỗ nhất của nhân loại, cổ hơn cả cổ sử. Đó là câu hỏi: vũ trụ là gì? Vũ trụ từ đâu mà có? Loài người từ đâu đến? Do ai tạo ra? Khi chết đi về đâu?... Đó là những câu hỏi khá hiểm hóc. Những vấn đề thú vị của khoa học tự nhiên và triết học mà có lẽ con người sẽ không bao giờ có được câu trả lời chung cuộc, dù ban đầu chúng xem ra không mấy thiết thực, có khi còn ngớ ngẫn nữa. Lịch sử tư duy của loài người cho thấy: khoa học tự nhiên và triết học luôn tìm cách lý giải vấn đề này và từng bước rồi từng bước đi từ giản đơn đến phức tạp, từ chỗ thô sơ đến tinh vi, tế nhị. Hai ngành luôn hỗ trợ nhau, vẫn là tiền đề để giúp nhau phát triển…

Ấn Độ, hồi thế kỷ thứ 15 đã khai sinh ra tôn giáo cải cách nhằm giải thích các hiện tượng siêu hình có niềm tin tôn giáo kể trên, dưới góc nhìn khoa học hợp lý hơn, thay vì chỉ biết mù quáng tin một cách tuyệt đối mà không vận dụng bộ óc suy luận của mình để phán đoán sự việc hiện hữu trên thế gian. Đó là đạo Sikh, do Guru Khai tổ Nanak sáng lập tại bang Punjab. Không giống như tôn giáo khác, đạo Sikh cho rằng đã đến lúc cần tách rời tôn giáo khỏi khoa học, thần học khỏi triết lý, điều mình tin tưởng khỏi nhận thức, ở bất cứ lãnh vực học thuật này khác. Theo họ, khoa học phải do lý tính hoặc khả năng suy luận tạo ra, và phải được kiểm chứng bằng kết quả thử nghiệm, chứ không chỉ dựa vào niềm tin mà thôi.

Đây là ý tưởng vô cùng mới mẻ, nhằm đả kích các quan điểm thần học chính thống đã khuynh loát lên đời sống tâm linh nhân loại lúc bấy giờ. Đến thời điểm đạo Sikh ra đời, ở Phương Đông cũng như phương Tây, con người mặc nhiên chấp nhận định luật bất thành văn cho rằng niềm tin và khoa học là hai khái niệm đồng nhất không thể tách rời, trong đó mọi vật được xem như hình ảnh và dấu ấn của Thượng Đế hiện hữu ở cõi trần. Từ triết gia Plato người Hy Lạp mà nền văn minh Kitô giáo Tây Phương dựa làm nền tảng, cho đến Ấn giáo thuỷ tổ của triết học Ấn Độ, hoặc Khổng giáo ở Trung Hoa, tất cả đều không thoát khỏi qui luật bất biến này. Nay, nhờ luồng tư tưởng mới, do đạo Sikh đề xướng, một phong trào canh tân tôn giáo đã nhanh chóng bùng nổ khắp Ấn Độ, và qua ngả Ả Rập để du nhập Âu Châu.

Các biến động này đã buộc các giáo hội trên thế giới phải đối phó với những vấn đề hết sức nan giải và có khả năng bị xã hội cô lập nếu không trả lời thoả đáng các vấn đề thời đại. Những mâu thuẫn một bên là lý tính và bên kia là niềm tin, chính quyền nhiều nước không thể làm gì khác hơn là đàn áp tôn giáo cách mãnh liệt. Điều này đưa đến hai thái cực ở thế đối chọi giữa hai hệ tư tưởng Đông phương và Tây phương. Kể từ đó, tôn giáo và khoa học không thể dung hoà với nhau được, mà cuộc chiến giữa hai khuynh hướng canh tân và bảo thủ vẫn tiếp diễn hàng ngày mãi đến nay.

Giáo lý cốt tuỷ của đạo Sikh dựa trên tín điều mà Guru Sáng Tổ Nanak và 9 vị Guru Thế Tổ khác truyền lại qua bộ kinh cơ bản là Adi Granth, còn gọi là Guru Granth Sahib. Tín đồ đạo Sikh chỉ tôn thờ duy nhất có một vị thần thôi, đó là Chúa Trời hay Thượng Đế, trong đó vũ trụ, con người, lý tính và niềm tin đều bắt nguồn từ Thượng Đế cả. Con người nhận thức thực tại bằng ánh dọi từ Thượng Đế. Thượng Đế tạo nên vũ trụ, cũng như con người tạo ra dụng cụ, rồi sử dụng chúng, như nghệ nhân tạo tác phẩm nghệ thuật bằng ý chí và quyết tâm của mình. Thượng Đế tạo vũ trụ và các ‘đơn vị’ (thí dụ một con người, đoá hoa hồng hay con lừa) sống trong vũ trụ đó với tính cá thể riêng, nhưng mang hình ảnh và tính chất như Ngài. Thượng Đế, với sức sáng tạo vô biên, đã tạo dựng mọi ‘đơn vị’ theo cách thức riêng của Ngài và để chúng phát triển rất tự nhiên theo quy luật do Ngài đặt ra. Khi cần thiết, Thượng Đế có thể trực tiếp can thiệp vào thực tại và đó là lý do có ‘phép lạ nhiệm mầu’.

Tuy nhiên, cũng đạo lý này khi truyền đạt vào Phương Tây thì lại đi đến kết luận khác hẳn với hệ thống tư tưởng Ấn Độ và triết học Đông Phương. Giới trí thức Âu Châu thời đó bèn đem ra bàn luận về học thuyết của triết gia cổ đại Hy Lạp là Aristotle, vốn có nhiều nét giống với tư tưởng đạo Sikh bị họ lãng quên ở Âu Châu suốt hơn 1500 năm. Sau này được thánh Tôma Akinô đúc kết thành triết thuyết hoàn chỉnh, làm nền cho Giáo hội Chúa suốt nhiều thế kỷ, giúp Giáo hội vượt qua bao sóng gió, thử thách đến từ các thế lực đối nghịch. Từ đó, Giáo hội Tây Phương ra thông cáo chính thức về quan điểm của mình đối với các vấn đề có liên quan đến thần học và tôn giáo, đến khoa học và triết học, đến niềm tin và nhận thức, trên cơ sở bảo rằng: trái đất cũng như con người do Thượng Đế tạo, đang sinh trưởng trên mặt đất, là trung tâm vũ trụ, trung tâm của thế giới muôn loài. Con người là hiện thân của Thượng Đế đương nhiên được xem là chúa tể muôn loài ở trái đất, điều đó trở thành cái cớ để người Châu Âu chinh phục và thám hiểm thế giới…” (trích Một vài cảm nghiệm nhân chuyến đi thăm Ấn Độ năm 2009 do Anthony Quốc Trần, Sydney ghi lại)

Về niềm tin và khoa học theo lịch sử dưới tầm nhìn của người trẻ ở Sydney chuyên tra cứu sử Ấn Độ, là như thế. Tức: như một nhận định thông thoáng trong muôn ngàn nhận xét, vẫn có giới hạn. Nói về vũ trụ vạn vật theo cung cách cổ sử Do thái, là nói và viết như sau:

“Từ khởi thủy,
Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất.
Đất thời trống không mông quạnh,
và tối tăm trên mặt uông mang
và khí thần là là trên mặt nước.”
(Sáng thế ký 1: 1-2)

Dẫn giải chương đầu sách Khởi nguyên, cha giáo Giuse Nguyễn Thế Thuấn CSsR, có viết:

5 quyển đầu của Cựu Ước làm thành một khối mà người Do thái gọi chung là “Torah”, tiếng Hipri này thường được dịch là Lề Luật, nhưng đúng nghĩa hơn phải dịch là Giáo điều... ”

“Mười một chương đầu của sách Khởi Nguyên nên được để riêng. Qua việc tả lại nguồn gốc loài người, với một lối hành văn đơn giản và nhiều hình ảnh hợp với tâm não của một dân chưa được mở mang mấy, các chương này đưa ra những chân lý căn bản của kế đồ Cứu Chuộc: Thiên Chúa tạo dựng vào buổi đầu thời gian, việc can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa trong sự xuất hiện của con người, nam và nữ, tính cách thống nhất của loài người, tội của tổ tiên tiên-khởi, sự sa ngã và những khổ đau, coi như một hình phạt, được lưu truyền.” (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR, Tiểu dẫn vào Kinh thánh, Kinh Thánh nxb Dòng Chúa Cứu Thế 1976 tr. XLIII, XLVI)
  
Nói theo bài bản, thì như thế. Nhưng, bài bản và gì nữa cũng vẫn là bản và bài của ai đó, bởi người thời nay đều thấy khoa học và niềm tin luôn có xung đột khó tránh. Xung đột xảy đến từng ngày. Xung đột xảy đến lai rai. Bởi, với niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa là Đấng làm cho thế giới mở rộng thêm để người người kịp khám phá ra sự thật đúng/sai.
Về phía Ngài, Chúa vẫn khích lệ con người đưa nhiều thắc mắc/hỏi han về thế giới với tương quan giữa Chúa và khoa học ngõ hầu củng cố một nhận thức. Nói cho cùng, khoa học và niềm tin vẫn như hai chị em cùng nhà mà lại sống riêng rẽ, nên vẫn có lập trường riêng tư, khác biệt. Mỗi bên có cơ hội khám phá ra bản chất của mình, nên tầm nhìn thường vẫn khác.
Bảo rằng, ngay như anh em cùng nhà nhiều lúc còn đấu tranh giành phần thắng lợi về mình nữa, thay vì nhường nhịn nhau, hợp tác chung sống, huống hồ là khoa học và niềm tin cũng hành xử hệt như thế. Ngược giòng sử, người người thấy rõ hai sự kiện nói lên xung đột giữa hai chị em cùng nhà từng xảy đến với thế giới, rất khó chữa.
Trước hết, là trường hợp của khoa học gia Galilêô hồi thế kỷ thứ 16 có liên quan đến chuyện trưng bằng chứng nói trái đất xoay quanh mặt trời. Trong khi đó, Hội thánh lại giải thích khoa thiên văn theo Kinh thánh quyết bảo rằng: trái đất là tâm điểm của vũ trụ. Cuối cùng, Hội thánh đành chọn giải pháp lên án Galilêô, để trấn an các nhà thần học. Về sau, Giáo triều biết là lối giải thích khoa học theo kiểu triết/thần của thời đó có sai sót, nhưng vì Galilêo vẫn muốn khoa học tách bạch khỏi mọi kềm chế của tôn giáo, nên mới thành chuyện. Galilêô bị hành hình và bị vạ tuyệt thông và chỉ được hồi phục danh dự qua lời xin lỗi của Hội thánh mới đây thôi.
Thứ hai, là: xung đột nhằm vào thuyết tiến hoá do Darwin chủ xướng, vào thế kỷ thứ 19. Khi ấy, Darwin dựa vào nghiên cứu hoá-thạch, chủ trương con người tiến hoá qua tiến trình lựa lọc của thiên nhiên. Nghĩa là, mọi sinh thái xuất hiện trên trái đất không là thọ tạo riêng rẽ, nhưng là thành phần của chuỗi sự sống cứ biến hoá, cứ liên tục hiện hữu, ngàn năm không thiếu. Với người nhà Đạo, lối giải thích này không thuần nhịp với trình thuật tạo dựng trời đất theo Thánh Kinh. Nên, giới chức nhà Đạo mới đả kích chủ thuyết Darwin, rất kịch liệt.
Trường hợp Galilêô, người nhà Đạo cũng thấy lối giải thích công cuộc tạo dựng trời đất của nhà Đạo khi xưa có cái gì đó không ổn. Suy cho kỹ, mới thấy trình thuật kể trong Cựu Ước không mang chủ đích giải thích chuyện tạo dựng theo khoa học, mà chỉ muốn nói về tương quan giữa Thiên Chúa và thế giới nhân trần, mà thôi. Theo dõi mọi xung đột giữa khoa học và tôn giáo, người đọc lại càng liên tưởng đến ca từ vừa hát, như sau:

“Bình yên một thoáng cho tim mềm
Bình yên ta vào đêm
Bình yên để đóa hoa ra chào
Bình yên để trăng cao
Bình yên để sóng nâng niu bờ
Bình yên không ngờ
Lòng ta se sẽ câu kinh bình yên.”
(Quốc Bảo – bđd)    

            “Câu bình yên” lòng se sẽ ấy, vẫn là câu thổn thức dồn đến mọi người, cả trong Đạo lẫn ngoài đời. Thổn thức lắm, khi nhớ lại cuộc xung đột giữa khoa học và niềm tin. Thổn thức, khi người người tưởng nhớ những điều sai quấy, cần hối lỗi. Nói đúng ra, người xưa hoặc hôm nay vẫn khư khư với lập trường cố định mình nắm bắt, nên mới để mất nỗi niềm “bình yên” cần thiết.
            Chính vì thế, mà nghệ sĩ hôm nay lại hát câu bình yên với mục đích sau đây:

“Bình yên để gió đưa em về
Bình yên ta chờ nghe
Chờ nghe tình vỗ lên tim mình
Chờ nghe tình lung linh
Bình yên để nắng soi môi thơm
Bình yên ta mừng
Mừng em đã hết đau thương về đây ấm cúng
Mừng em đã biết xót thương tình yêu.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Kinh nghiệm của mất mát “bình yên” giữa nhà khoa học và nhà Đạo chuyên lý giải thần học, là do nghĩ rằng lập trường hiểu biết và lý giải mọi chuyện trên trời dưới đất chỉ dẫn đến xung đột, chẳng bao giờ “bình yên”. Chí ít, là bình yên trong tâm hồn. Kinh nghiệm rút từ cuộc xung đột giữa khoa học và tôn giáo, đem đến cho ta một đề nghị thiết thực.
Đề nghị rằng: sống đời bình yên, đừng tìm giải thích các vấn đề ngoài tầm hiểu biết hoặc chuyên môn của mình. Bởi làm thế, càng gây chia rẽ rất khó sống “bình yên”. Biết hỗ trợ và tìm hiểu cái hay cái mới, vẫn hơn là đả kích huỷ diệt nhau. Hãy đề cao nét vẻ bình yên của thiên nhiên. Rồi từ đó, ta mới tuyên dương quan hệ thân thương giữa Thiên Chúa của tình thương và vũ trụ vạn vật.
Đề nghị thêm nữa là: ai ưu tư lý sự hoặc nghĩ về nguồn gốc vạn vật hãy cứ về mà tìm hiểu nét đẹp của tương quan ấy, tự khắc sẽ bắt gặp bình yên nằm sẵn ở cái hay, nét đẹp ấy mà góp phần tạo tuyệt mỹ trong mọi sự, kể cả sự sống con người cùng vạn vật, thay vì tìm cách sáng chế phương tiện huỷ diệt tất cả. Con người lẫn vạn vật, đã mất dần “bình yên” trong tình yêu và tình của bình yên.
Để minh hoạ lập trường thiết thực ấy, cũng nên về với truyện kể nhẹ êm, rất tích cực:

            “Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
“Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải hét thật to vào mặt nhau?”
Sau một lúc trầm ngâm suy nghĩ, một trong các đệ tử trả lời:
“Bởi, người ta mất bình tĩnh, mất tự chủ!”
Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời quá mau mắn này, bèn bảo:
“Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở bên nhau, sao không nói bằng âm thanh vừa đủ nghe?”
Các đệ tử lại ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến thầy họ hài lòng.
Sau cùng ông bảo:
“Khi hai người giận nhau, thì trái tim họ không còn ở gần nhau nữa. Từ thâm tâm, họ thấy giữa họ và người kia có khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to.
Giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, lại càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”
            Ngừng một chút, ngài lại hỏi:
“Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, thế là tại sao? Bởi, trái tim họ cận kề nhau. Khoảng cách giữa họ cũng rất nhỏ…”
Rồi ngài tiếp:
“Khi hai người yêu nhau đậm đà thì họ không cần nói nữa, mà chỉ thì thầm, họ đến với nhau rất gần bằng tình yêu của mình. Cuối cùng, cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ đưa mắt nhìn nhau, thôi! Vì ngang qua ánh mắt đó, họ biết đối phương nghĩ gì, muốn gì rồi ..”
            Ngài kết luận:
“Khi các con bàn cãi với nhau về vấn đề gì, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng thốt ra điều gì khiến các con thấy xa cách nhau. Bằng không, thì một ngày nào đó, khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa và các con cũng sẽ không tìm ra được con đường mà quay về với sự bình yên cần có, cho đời mình!”

Kể truyện rồi, nay mời bạn mời tôi, ta lại hát lời cuối của bài ca “bình yên”, dẫn ở trên:

“Như từ bao la ta ra đời một kiếp nữa
Như từ trong nhau lớn lên khôn lên cùng nhau
Như một câu hát ứa ra từ tim
Tặng nhau nhé tiếng nghe hồn nhiên
Để quên hết khó khăn chia lìa.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Và cứ thế, với giòng nhạc nhẹ êm, bạn và tôi ta “quên hết khó khăn chia lìa” để rồi sẽ đi dần vào với “bình yên’ đích thực, của cuộc đời. Ngay lúc này.
           
            Trần Ngọc Mười Hai
            vẫn cứ ca và cứ hát
            những lời lẽ rất bình yên
            cho tim mình mềm
            nhẹ êm, suốt một đời.

Friday, 30 March 2012

“Chiều còn vương nắng để gió đi tìm,”

[if gte mso 9]> Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4
Chuyện phiếm đọc vào tuần Phục Sinh năm B 08.4.2012

Chiều còn vương nắng để gió đi tìm,”
“Vết bước chân em, qua bao nhiêu lần.
Lời ru, đan ngón tay buồn
Ngàn năm, cho giá băng hồn
Tuổi gầy, nồng lên màu mắt... .”
(Ngô Thuỵ Miên – Dấu Tình Sầu)
(Ga 1: 1-5)
            “Tuổi gầy nồng lên mầu mắt”, là bao mà sao buồn đến thế? Phải chăng đó là nỗi buồn ở tuổi mười ba, khi em và tôi, ta vẫn “ta bà” chạy khắp xóm? Hay là, tình nồng tuổi đôi tám, mà bầy tôi đây vẫn chẳng dám. Hoặc cả hai? Ôi thôi, bầy tôi cũng phải chạy dài, rồi khấn vái.

            Thật ra thì, 13 có là tuổi ngọc ngà nhiều me chua cùng mận ngọt hay chỉ là tuổi thích ô-mai lai rai, ngậm dài dài! Còn đôi tám, lại là tuổi của bọn tôi khi đó vẫn rất quậy. Quậy rồi phá. Phá làng/phá xóm để vui cười, đôi lúc cũng bị cha mẹ la mắng, đuổi ra sân. Tuổi gì thì tuổi, vẫn là “lũ kỷ niệm” mà đám phá phách bọn tôi đây không chừa nổi. Với người đời, tuổi ô mai chín mọng hoặc tuổi thần tiên đôi tám là tháng ngày hạnh phúc chốn dân gian giờ đây chắc khó tìm thấy, dù rất muốn.

            Kể ra thì nghệ sĩ họ Ngô trên đây, nay nhớ “tuổi gầy nồng lên” năm nào, để rồi sẽ hát tiếp đôi câu:

                                    Trời còn mây tím, để lá mơ nhiều.
Lá khóc trên mi, cho môi ươm sầu.
Chiều lên, đỉnh núi ngang đầu
Nhặt thương, cho gót dâng sầu
Giận hờn, xin ngập lối đi.”
(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

            Kể đi rồi thì kể lại, đã thấy ngôn ngữ người mình thật phong phú và cũng thi phú. Có mỗi chuyện phát âm thôi, cũng làm bạn bè người nước ngoài phải vận dụng đến ba tấc lưỡi uốn lên uốn xuống cho thật đúng cách mới phát âm cho chuẩn được. Bằng không, thì phải cải chính với chỉnh sửa, mới "tiện bề sổ sách”. 

            Còn nhớ, hồi bần đạo mới lên 9 đã chịu cảnh mồ côi cha, bôn ba theo mẹ từ Sàigòn ra Hà Nội để nhờ các anh chị trông nom gia đình thay cho mẹ. Bần đạo, khi ấy đã phải vật lộn với chữ nghĩa của đồng môn thấy khá mệt vì cung cách phát âm nghe cũng lạ. 

Rõ ràng chỉ mỗi đoạn Kinh thánh có mấy chữ: “Kho tàng giấu dưới ruộng” thôi, mà sao đám bạn dân Bắc của bần đạo cứ đọc đi đọc lại câu ấy mà chỉ nghe mỗi âm “dê” và “dê” tựa hồ: “kho tàng dzấu dzưới dzuộng” đến lạ kỳ. Kịp khi khôn lớn, ra Huế lập nghiệp, bần đạo lại vất vả thêm với lối phát âm “thần thánh” của các anh chị giống giòng hào kiệt đất thần kinh sông nước mỗi lần đọc Tin Mừng có đoạn nói môn đồ hỏi Chúa điều gì, nghe đi nghe lại cứ như thể: “Chúa đạp môn đệ” thay vì “Chúa đáp lại môn đệ”, cũng đã ghê và rất sợ.

Chợt đến lúc vô Nam, bần đạo còn nhớ: lần nọ có thầy trợ sĩ chuyên lo phòng khách nhà Kỳ Đồng của bổn Dòng kể lại:

Hôm ấy có chị giáo dân rất thân là người đặc sệt gốc Nam Kỳ tìm đến nhà Dòng để gặp cho được người anh linh mục tên Lan. Thầy phụ trách hỏi đi hỏi lại mãi:
-Cha Lan mà chị muốn gặp có dê hay không dê? Nhà Dòng chúng tôi có một cha Lan còn trẻ không “dê” là cha Phaolô Nguyễn Ngọc Lan, còn cha Lan kia lớn tuổi hơn là cha Lan có “dê” tức cha Félix Lê Văn Lang. Vậy chị muốn gặp cha Lan nào?”
Nghe hỏi gắt, nữ giáo dân bèn vội đáp:
-Dạ, cha Lan có dê hay không dê đối với em không thành vấn đề, em chỉ muốn gặp ông cha chuyên xuống đường để hỏi vài câu thôi!
Nghe thấy thế, thày nọ bèn gật gù nói:
-À, cha đó là cha Nguyễn Ngọc Lan có làm chính trị nhưng không có “dê”!…

Về xử thế với người đời, đôi lúc bạn và tôi, ta cũng thấy xảy ra nhiều nghịch cảnh đến độ mỗi lần nghĩ đến đều thấy rất thương nhưng không hại, dù nhiều lúc cũng vẫn là thương hại, hoặc thương rồi hại. Thế đó là chuyện ngôn ngữ. 

Về ngôn ngữ của người nước ngoài, tuy ngữ vựng và ngôn từ của họ cũng phong phú nhưng chẳng thi phú bằng tiếng nước mình, như trường hợp sau đây:

                        “Thư gửi ông Steve Jobs,
Lẽ đáng ra, tôi đã phải gửi bức thư này cho ông trước khi ông lìa đời mới đúng, nhưng vì thấy ông có biệt tài về truyền thông tinh vi đã sáng chế ra những là: iPod, iPhone và iPad hoặc thứ gì đó cả sau khi chết nữa để tự giúp mình chuyển tải thông điệp gửi từ trái đất về nơi mình ở và ngược lại, nên tôi hy vọng ông sẽ tìm ra phương thức nào khác rất thực tiễn hầu tải thư phản hồi do ông trả lời từ nơi ấy (?).

Giống nhiều người, tôi cũng bị ấn tượng khá nhiều về chuyện đời tư của riêng ông, tức chuyện tự sự của một trẻ mồ côi từ hồi còn nhỏ, chẳng ai muốn đem về nhà nuôi để rồi sau này, khi khôn lớn, ông lại sẽ sáng chế ra những thứ rất lạ, mọi người đều muốn có. Chuyện đời là chuyện của một người nổi tiếng sáng chế ra cung cách rất mới cho công ty Apple.

Thập niên qua, thời mà tên tuổi của ông nổi như cồn, cứ liên tục đem đến cho giới tiêu thụ chúng tôi nào là iPod (năm 2001), rồi iPhone (2007) và iPad (2010). Nhưng, đó là các thiết bị điện tử do ông sáng chế, để ai nấy tìm cách lánh xa mọi người xung quanh, hầu tìm một góc riêng mà hưởng thụ niềm vui cho riêng mình. Có lẽ ông cũng chẳng thiết tha gì chuyện chế biến các dụng cụ điện tử nào khác để mọi người xài chung, tựa như wePod, wePhone hoặc wePad để giúp mọi người có thể cùng nhau trao đổi cho thoải mái có yêu thương, tức: chỉ muốn kiến tạo thật nhiều hải đảo cách chia khiến mọi người cứ phải sống biệt lập, trên mặt đất. Các thứ như: iPod, iPhone và iPad do ông sáng chế cái nào cái nấy đều là thiết bị mới của một thành phố bít kín trong bốn bức tường ngột ngạt không cho mọi người đến được với nhau để cảm thông, yêu thương và giùm giúp. Nói chung, thiết bị ông tạo ra chỉ đem thế giới đến với riêng ông hệt như một người tiêu thụ chỉ thích hàng ngoại, thôi.

Thiết bị do ông sáng chế có mỗi điều hay là: nó giúp bọn tôi gom gộp toàn thể thế giới/vũ trụ vốn đã đủ mọi rắc rối có ở đời vào món đồ gọn lỏn trong lòng bàn tay. Nhưng nó lại có điểm yếu khác là: từ nay bọn tôi chỉ nhìn thấy diện mạo của một số rất ít bà con, cô bác dù họ ở sát cạnh bên.

Hiện có rất nhiều điều tôi muốn đạo đạt với riêng ông mà thôi, dù tôi không có thẩm quyền để phán xét chuyện người khác, nhưng tôi cố tìm hiểu vẫn không rõ tại sao ông lại cứ tránh né không muốn tặng tiền cho hội bác ái từ thiện này nọ một chút tiền dư mà ông kiếm được từ những doanh thương ông đeo đuổi. Tôi cũng không biết tại sao ông lại ít đề cập đến gia đình nhân loại là thế. Tôi càng thấy buồn khi biết ông đã tự liệu trước cho mình việc ra đi vào cõi vĩnh hằng, khi ông tiết lộ cho giới trẻ từng khâm phục tài năng của ông, rằng: “Đừng để mình rơi vào bẫy cạm của các tôn giáo chuyên gài bẫy bằng một số tín điều nghe rất hay, mà thật ra đó chỉ là kết quả của lối suy tư mà người khác mang đến thôi.”

Theo tôi, ngôn ngữ ấy là bí kíp tạo cô đơn đến cùng cực vốn cắt hết mọi liên hệ giữa người với người, bằng chủ tâm khiến chúng tôi phải ra khỏi kinh nghiệm phong phú đang chờ đợi chúng tôi ngay từ lúc chúng tôi bước vào cuộc sống con người.

Có lần ông nói: “Sự chết giống như một sáng chế/phát minh đơn điệu cũng rất đẹp của sự sống. Đó là dạng đổi thay của sự sống, mà thôi.” Và đây quả là điều mà chúng ta có thể chấp nhận đồng hành. Nói cho đúng, thì sự chết là cơ hội duy nhất để ta duy trì/cầm cự những gì quý giá nhất, đối với ta. Với người theo Đức Kitô, chết là sự thể duy nhất cho phép ta được sống mãi cõi miên trường, kéo dài đến thiên thu. Chính ông có lần cũng nói: “Sự chết đẩy người cao niên vào nơi nào khác hầu người trẻ mới xuất hiện được, tức: có thể tạo tiến trình sống theo cung cách hệt như mẫu mã của các thiết bị, nay lỗi thời.”

Theo tôi, không phải thế. Ngược lại mới đúng. Chết là cách giúp ta thưởng ngoạn trong cảm kích sự già nua/lỗi thời, có như thế ta mới taọ điều kiện giúp cái mới/người mới biết cảm kích tuổi già là thế nào. Chúng tôi tin rằng sự sống tự nó là cội nguồn của nhiều điều thích thú, vui tươi và kinh ngạc hơn các cửa hàng đầy những thiết bị tối tân, đẹp, lạ lung nhiều mẫu mã.” (x. Michael McGirr Australian Catholics Summer edition, tr. 9)

Về sự phong phú của ngôn ngữ, có lẽ cũng nên để ý đến một số khía cạnh khiến người đọc Tin Mừng biết về sự thực của cuộc sống trong không gian vũ trụ mình đang sống. Trước hết, là ngôn ngữ thi ca phong phú của thi hào Archibald MacLeish nước Anh, khi ông bàn về nét đẹp của vũ trụ/vạn vật lúc phi hành gia tầu Apollo chụp một số ảnh hình của trái đất, bằng thứ ngôn từ nghe hơi lạ như:
                       
“Nhìn trái đất trần trụi rõ mồn một từ không gian bên ngoài, bạn thấy nó bé nhỏ và xanh biếc biết là chừng nào. Nó trở nên quá nhỏ khi đắm chìm trong cõi tịch liêu, bồng bềnh ở đây đó, giống hệt cảnh tượng có thực, trong đó người đi bộ hoặc chạy xe đang di chuyển trên mặt đất. Nói cách khác, nhìn người anh/người chị của ta hiện hữu trong tình yêu sáng rực ở chốn lạnh tanh kéo dài miền vĩnh cửu, người người nhận ra được sự thật rất to lớn là: các người anh người chị ấy nay đã biết: dù gì mình vẫn là anh em của nhau và với nhau theo nghĩa đích thực, rất đáng yêu.” (x. Archibald MacLeish, Bubble of the blue Air, Riders on Earth Together, Brothers in Eternal Cold, New York Times 25/12/1968)

            Vâng. Sự thật là thế. Người ở đời vẫn nhớ và cứ nói bằng ngôn ngữ đời thường, nhưng lại quên chính “Lời” mà thánh Gioan từng quả quyết:

                                    “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.”
(Ga 1: 1-3)      

            Ở vào trạng huống được Ơn Trên soi sáng, có đấng bậc vị vọng nọ kịp nhận ra được “ngôn ngữ” của đời thường vừa rất “ảo” lại vừa “lý tưởng” như cuộc sống ở đời mà người thường cứ ngỡ tràn đầy tính duy-vật-chất, nên đã thêm đôi điều để bạn và tôi, ta hiểu rõ ý nghĩa của “ngôn ngữ” ngoài đời/trong Đạo, cũng rất bạo, như sau: 

“Đã nhiều lần, tôi nghe thiên hạ phê bình thế giới của ngày càng mang tính duy-vật-chất, rất nguy hiểm. Nhưng kỳ thực, thế giới chúng ta đang mang trong mình ý nghĩa rộng rãi và đậm sâu qua cụm từ mà ta gọi là: “ảo” như “ảo ảnh”, “ảo giác”, “ảo vọng”, để rồi phá bỏ mọi hình thức cũng rất “ảo” ấy. Thật sự, thì nhiều người vẫn kiếm tìm ý nghĩa sâu lắng của đời mình theo hình thức khác nhau, kể cả tôn giáo cách này hay cách khác.
Có lần tôi nghe linh mục trẻ người Tây Ban Nha cùng Dòng với tôi, đã đề cao điều mà ông trích dẫn bằng tiếng nước mình là chữ “ilusiones’ mà bà con ta có thói quen dịch là “ảo giác” như trên. Sau một hồi gạn hỏi mới vỡ lẽ ra rằng: tiếng Tây Ban Nha, “ilusiones” ngoài ý nghĩa rất “ảo” (tức Không thực) nó còn mang ý nghĩa của một “lý tưởng”. Điều này, khiến tôi từ đó phải cẩn thận, cân nhắc về lưỡng tính của mỗi vấn đề. Bởi thật ra thì các “ảo giác”, “ảo vọng” thường vô lý và dễ ngộ nhận, vì chúng khống chế thực tại.” (xem Lm Gerard J. Hughes, Disillusion: a new Year Resolution, www.thingkingfaith.org 20/01/2012)

            Quả là, ngôn ngữ nước bạn tuy không thi phú bằng tiếng Việt mình, nhưng cũng phong phú không kém. Phong phú ở điểm: đôi khi chỉ một từ, một chữ thôi cũng có nghĩa rất khang khác, lác đác chuyên chở một sự thật, rất nghịch thường. Thế nên, đấng bậc vị vọng hội dòng trích dẫn ở trên, còn nói thêm:

“Khi sự thể xem ra không xảy đến như ta mong muốn, tuy nhiên ta vẫn nên cẩn thận kẻo rồi sẽ bác bỏ cái-gọi-là sự phong phú của tiếng Tây Ban Nha, về chữ “ảo”, nói trên. Bởi, nếu bác bỏ tính “ảo” của mọi sự đều là điều rất cần và tốt đẹp, nhưng cũng có lúc việc bác bỏ ấy lại đem đến nhiều tệ hại đối với ta. Chẳng hạn như, bỏ mất đi tính chất “lý tưởng” mà cụm từ này bao hàm. Đó mới là thảm hoạ.” (x. Lm Gerard j Hughes, bđd)

            Từ và ngữ đã mang tính “ảo” rồi lại bảo: đó là sự phong phú của ngôn ngữ, nghe khá lạ. Tuy nhiên, có điều lạ khác là đấng bậc nói trên lại mang ý nghĩa ấy vào với đề tài nhà Đạo, như sau:

“Những gì được gọi là “ảo” ta có, không chỉ liên quan đến sự thể bảo rằng Nước Thiên Chúa trước nhất không mang tính chính trị, cũng không hàm ngụ chuyện quân sự, nội bộ hoặc xã hội tuyệt vời của loài người trong đó mười hai chi tộc Israel là do nhóm Mười Hai coi sóc. Để phá bỏ tính chất “ảo” như thế là bước đầu đi đến tình trạng an bình để hiểu rõ hơn các “lý tưởng” ta dựa vào đó để sống, tựa hồ Tin Mừng của Chúa có nói: “Nước của Ta không ở thế gian này.”
Bởi thế nên, thay vì bám vào những gì rất “ảo” của thế gian, để rồi lòng mình lại sẽ chịu ảnh hưởng từ một kỳ vọng cho rằng mình biến đổi được thế gian rất dễ dàng, nếu có gắng, nhưng tốt hơn, hãy mặc lấy lý tưởng mà thánh Inhatiô từng diễn tả như “sự kiếm tìm Đức Kitô, nơi mọi sự.”
Làm sao thực hiện việc ấy?
Theo tôi, ta cần suy nghĩ về việc Thiên Chúa đang nhìn xuống thế giới với những gì ta đang làm cho nó trở nên tồi tệ, có lẽ cũng nên tỏ ra đôi chút lương thiện để ngó nhìn mọi sự và mọi người đúng thực họ là thế, tức không mang “ảo giác” nào; và tìm cách bắt chước làm như Chúa khi đáp trả sự việc ấy. Nói cách khác, ta nên thẳng thắn mà định giá chính mình như người con thứ trong truyện “người con đi hoang” ở Tin Mừng. Đồng thời cũng đáp trả chính mình và mọi người bằng tình thương yêu tha thứ của người cha trong truyện, là người không mang “ảo tưởng” nào về con mình. Chính thực bằng tâm can trí tuệ Chúa ban cho ta, mà Ngài gọi ta đến.
Để nghe được tiếng gọi ấy, cũng là một “ảo giác” để ta đáp trả bằng tất cả sự khôn ngoan ta có qua cảm xúc cũng như kinh nghiệm sống. Và lúc ấy, Chúa mới nói với ta trong phần sâu thẳm ở nơi ta rằng: ta ra thế nào thì Ngài sẽ nói theo thế ấy; tức là: ta có vui lòng chấp nhận người khác như chính họ, và ngang qua Ngài kiến tạo. Đó mới là “lý tưởng” dẫn dắt ta trong mọi sự, như thánh Phaolô từng quả quyết “Chẳng gì có thể tách ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa được.”
Và cuối cùng, nếu ta không đủ ngôn ngữ để nói lên mọi chuyện với Chúa, và với con người, thì khi ấy Chúa Thánh Thần sẽ nói thay ta, và Ngài sẽ ở trong ta.” (x. lm Gerard J Hughes, bđd)

            Hiểu tính đa dạng của ngôn ngữ ở đời, là hiểu như thế. Hiểu đời người như người đời ở bên ngoài, còn là hiểu cách nhẹ nhàng, vui tươi, sảng khoái như truyện kể, ở bên dưới:

“Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội...ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm.
Hôm nay đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách mang từ Việt Nam sang. Tôi nhẹ nhàng:
-Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.
-Nhưng bố thích mặc bộ này!
Tôi bắt đầu cau có:
-Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.
Ông già buồn rầu, lập lại:
-Bố thích bộ quần áo này lắm.
Tôi cũng cương quyết:
-Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.
Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:
-Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.
Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.
Từ đó, tôi rút ra một bài học là: trước khi quyết đoán người nào đó khô khan không có trái tim,  nên xét lại trái tim mình đã.”

            Kể truyện thì như thế, nhưng bàn chuyện thì cũng nên bàn như người kể, buổi hôm nay. Ý bảo rằng: Những “ảo” của đời người không chỉ thấy ở ngôn ngữ, tư tưởng hoặc lập trường chọn lựa khác biệt, mà cả ở lối sống thường ngày ở huyện nữa.

            Hiểu thế rồi, nay hãy cùng người nghệ từng “ngộ” ra được chuyện đó, nên hát thêm lời cuối, mà rằng:

                                    “Đàn dâng tiếng phong kín tuổi buồn
Đường hoang vắng cho lá về nguồn
Người tìm đến xin gợi nỗi hờn.
Từ khi gió mang đấu địa đàng
Đường lên đá che vết nồng nàn...
Người còn nhớ mãi hay quên lời.”
                                    (Ngô Thuỵ Miên – bđd)

             Nói cho cùng, người đời không nói bằng lời “ảo” hay ngôn ngữ rất thật ở đời thường nữa; nhưng lại đã theo chân người nghệ sĩ ở đời và Đấng Nhân Hiền nhà Đạo để bảo rằng: Tình yêu qua những ới gọi, như sau:

                        “Và người tìm đến giọng hát mơ hồ.
Vết bước năm xưa nay vương âm thầm.
Hàng cây mơ bóng bên đường
Gọi người khi nắng phai tàn
Gọi tình yêu vào lãng quên....... “
(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

            Cuối cùng thì, ngôn ngữ mà người người ở đời hôm nay đang sử dụng có là ngôn ngữ của vi tính, hay truyền hình, phim ảnh rất “ảo” đi nữa vẫn là thứ ngữ và ngôn giúp ta hát câu cuối mà người nghệ sĩ trích ở trên vẫn cứ hát:

“Hàng cây mơ bóng bên đường
Gọi người khi nắng phai tàn
Gọi t́nh yêu vào lăng quên....... “
(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

            Và, lời cuối bần đạo muốn nói hôm nay, đó là: ngôn ngữ của người đời, dù hạn hẹp, kỳ dị hoặc lỗi thời đi nữa, vẫn cứ là phương tiện để bạn và tôi, ta chuyển tải tư tưởng rất muốn nói với mọi người. Chí ít, là với Thiên Chúa đang ngự trị nơi môi miệng của con người, và người con của thánh hội, khắp nơi nơi. Muôn đời.

            Trần Ngọc Mười Hai
            nay không còn muốn nói nữa,
            mà chỉ muốn viết lách
vì còn viết là còn lách
chứ nói năng lăng nhăng
thì không thế
và không thể như thế.