Saturday, 17 March 2012
“Bao nhiêu nàng tiên nỉ non,”
Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ Năm Mùa Chay năm B 25.03.2012
“Bao nhiêu nàng tiên… nỉ non,”
Làm huyên náo, Thiên Đường lạnh lẽo.”
(Phạm Duy – Cành Hoa Trắng)
(Mt 25: 31-46)
“Thiên Đường” đã có “nàng tiên nỉ non” rồi, sao “lạnh lẽo”? Hay, đó chỉ là tư tưởng vụt thoáng cũng rất xưa của nghệ sĩ già họ Phạm? Thế còn, lập trường nhà Đạo thì sao? Vẫn trẻ trung kiểu “Vũ Như Cẫn” tức “vẫn như cũ” đấy chứ!
Nhà Đạo lâu nay quan niệm “Thiên Đường là đây”, như sau:
“Trong lời Chúa Yêsu thấy rõ: Nước Thiên Chúa tuy sẽ đến, nhưng cũng là ơn huệ cánh chung xuất hiện trong đời Chúa Yêsu được dạm ban cho người ta. Ai chịu lấy quà tặng và được dẫn dắt trong đời sống thực tế, như những người nhận được quà đó, nghĩa là tin vào Cha, thì kẻ đó sẽ chịu lấy như trẻ con nhận quà nơi tay Cha mình. Nước Thiên Chúa không dựa trên những dữ kiện người ta phải có, đã ban cho trẻ con, là kẻ chưa có thể vịn vào công nghiệp gì ở đời mình: đó là đạo lý lạ không thấy ở tôn giáo nào khác.
Vậy Nước Thiên Đường mà Chúa Yêsu rao giảng là ơn cứu rỗi vừa sẽ đến, vừa hiện tại. Đó là nghịch lý gặp ở Chúa Yêsu buổi sinh thời của Ngài: Ngài là Đấng Mêsia đã có mặt (nhưng trong hèn hạ), mà cũng là Đấng Mêsia sẽ đến trong vinh quang.
Hội thánh cũng có tính nghịch lý tương tự như thế: cộng đoàn nhân loại gồm những người tội lỗi, nhưng cũng là cộng đoàn cánh chung được hưởng ơn cứu độ, Thiên Đường.” (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR, Mặc Khải Cứu Rỗi: Chúc Lành Cho Trẻ Con, Tài Liệu Giảng Huấn Phổ Biến Nội Bộ, www.giadinhanphong.blogspot.com 15.02.2012)
Thần học gia nhà mình thường quả quyết như thế. Tuy nhiên, thời buổi này, vẫn có nhiều đấng bậc vị vọng lại cứ quan niệm Thiên Đường/Hoả ngục rất ư là “trần tục”. Trần và tục, đến độ các đấng tuy có dựa vào Kinh Sách để biểu trưng, nhưng hãy cứ để mắt xem các cụ lý luận/biện bạch rất “huyên thuyên” nói rất mạnh nhưng chẳng thuyết phục được bao nhiêu người trẻ, thời hôm nay. Tuy nhiên, trước mắt, cũng nên lẳng lặng mà nghe thêm ca từ nghệ sĩ già nhà ta vẫn từng hát:
“Trời đầy cô tiên nữ
Xuống đầu thai thành hoa
Giữa đêm mờ, hoa nở ngát hương
Người về trong đêm tối
Ôm cành hoa tả tơi
Bóng in dài gác đời lẻ loi.”
(Phạm Duy – bđd)
Nghe hát xong, nay đề nghị bạn và tôi, ta nghe tiếp những phán quyết ỉ ôi kiểu “ôi thôi rồi nồi xôi” như sau:
“Theo tôi hiểu, thì bạn rất thương mến các linh hồn ở chốn hoả hào nên mới cầu nguyện cho họ đến như thế. Nhưng ở đây, tôi phải lên tiếng nhắn bảo rằng: có cầu nguyện cho các linh hồn nhiều như thế, cũng không mấy cần thiết. Bởi, Chúa và Giáo Hội ta từng khẳng định rằng: việc Chúa trừng phạt linh hồn khi chết đi mà trong lòng còn vương vấn tội trọng thì sẽ bị đẩy vào chốn hoả ngục triền miên vĩnh cửu, không bao giờ có thể ra khỏi được.
Tin Mừng vẫn còn ghi lời Chúa nói:
“Hỡi quân bị nguyền rủa kia, hãy đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống… Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời." (Mt 25: 31-46)
Dựa vào lời Chúa ở trên cũng như nhiều đoạn khác trong Tin Mừng, Hội thánh không ngừng răn bảo con cái mình về việc các linh hồn bị giáng phạt nơi hoả ngục cách triền miên, xuyên suốt như sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo còn viết thêm: “Giáo huấn Hội thánh vẫn khẳng định sự hiện hữu của hoả ngục và tính miên trường của chốn này.” (xem GLHTCG đoạn 1035)
Thật khó mà hiểu rõ ý niệm này cho rành rọt. Hãy cứ để qua một bên chuyện thực hư nơi lập trường ấy. Bởi, đây nói đến chuyện các linh hồn chịu thống khổ nơi ngục thất đầy những lửa như một trừng phạt đời đời và không hy vọng có ngày ra khỏi. Hơn nữa, nỗi thống khổ chịu hình phạt như thế sẽ còn tệ hơn bất cứ khổ đau nào khác mà con người chịu đựng trên trái đất.
Nghe thế, hẳn có người sẽ bảo: làm sao Đấng đầy lòng xót thương như Chúa lại nỡ lòng giáng phạt các linh hồn vào chốn lửa nóng đời đời như thế được? Câu trả lời, thật đơn giản: sở dĩ có chuyện ấy là vì chính con người tự chọn cho mình hình phạt ấy chứ chẳng phải ai. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cũng giải thích thêm: ”Khi con người chết đi mà trong lòng vẫn tràn đầy những tội mà không biết ăn năn hối cải cùng đền tội cho phải phép, ngõ hầu được Chúa xót thương, thì như thế có nghĩa: người ấy sẽ phải xa rời Chúa một cách vĩnh viễn. Việc này do con người tự mình chọn lựa. Trạng thái tự tách rời Chúa và các thánh cách vĩnh viễn, Hội thánh gọi đó là chốn ngục tù nóng bỏng, tức hoả ngục.” (xem. GLHTCG đoạn 1033)
Bằng một chọn lựa chung cuộc trước khi chết, người sắp chết hiểu rằng việc mình chấp nhận xin Chúa tha thứ tội khiên bằng cách xưng hết các tội còn sót lại, mới thoát khỏi chốn khổ hình vĩnh viễn, bằng không cũng chẳng có cách gì đảo ngược được quyết định ấy hết. Hệt như thế, các thiên thần xấu xa tồi tệ đã hiểu rõ là nếu họ không nghe lời Chúa thì họ cũng xa cách Chúa mà vào chốn ngục tù trọn đời mãi mãi.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 05/02/2012 tr. 10)
Hẳn những ai theo dõi mục hỏi/đáp đầy giáo luật này, sẽ mất đi tính hồn nhiên tươi trẻ, để rồi lại sẽ lo âu/hãi sợ. Nhưng, (lại chữ “nhưng”quan trọng) rằng: chắc ngày nay cũng chẳng có nhiều người còn thắc mắc chuyện thiêu đốt, nóng bỏng nữa. Có lẽ họ vẫn tin chắc Chúa lòng lành vô cùng Ngài vẫn thương xót kẻ tội lỗi đầy mình, đâu nào dám tin vào lời của đức thày ở trên dù thày rất giỏi về tu đức và giáo luật!
Chừng như các thánh viết Tin Mừng đều diễn tả tình Chúa xót thương chiên đàn bé nhỏ nên mới viết là: Ngài đã bỏ mặc 99 chiên con hiền lành ở đó, để đi tìm chỉ mỗi chú chiên bê bối dám cả gan phạm lỗi bỏ đàn chiên ngoan mà phạm tội đi hoang.
Thế nên, giới trẻ nay lại sẽ xa rời đấng bậc mục tử chuyên hù doạ, để về với giòng nhạc đầy tươi mát hát rằng:
“Một đàn chim tóc trắng
Bay về qua trần gian
Báo tin rằng: Có Nàng Giáng Hương
Nàng ngồi trên cung vắng,
Trong một đêm tàn trăng,
Phá then vàng bước vào vườn hoang.
Không gian tràn dâng niềm thương
Rồi tiếng hát suôi cuộc tình duyên…”
(Phạm Duy – bđd)
“Không gian tràn dâng niềm thương” hôm nay có là Thiên đường là Nước Trời hoặc có hoả ngục là lòng người gian ác ở trần gian không, vẫn còn đó bóng dáng Nàng Giáng Hương thiên thần trên cung vắng, vẫn đón chờ mọi người. Chính vì thế, nên đức thày nay thấy ngượng bèn lại có lời thêm thắt gỡ gạc, rất đôi câu: “Dĩ nhiên, ta sẽ hỏi: nếu linh hồn tội lỗi phải vào chốn tù ngục đầy lửa nóng thì còn đâu lòng thương xót của Chúa?
Thêm và thắt, hay thêm rồi thắt, là lập trường của các cụ Đạo rất cổ và rất hủ, vẫn biện luận:
“Trước hết, lòng xót thương của Chúa được thấy nơi việc Chúa chịu khổ hình và nỗi chết trên thập giá là để cứu rỗi linh hồn. Như Đức Giêsu có nói ở Tin Mừng thánh Gioan rằng: “Không có lòng mến nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu. Các ngươi là bạn hữu của Ta, nếu như các ngươi làm điều Ta vẫn truyền dạy.” (Ga 15: 13-14)
Lòng Chúa thương con người biểu lộ ngang qua cuộc sống của chúng ta khi Ngài ban cho ta mọi ân huệ ta cần và đem ta trở về với Ngài khi ta sa ngã và xin Ngài tha thứ. Ngài sẽ thứ tha cho ta cả ngàn lần trước khi ta đi vào cõi chết. Đó mới là xót thương.
Cuối cùng thì, lòng thương xót của Chúa được tỏ lộ ngay ở việc giáng phạt linh hồn vào chốn hoả ngục; ở đó, các linh hồn đã không phải gánh chịu khổ nhục do tội lỗi của họ đáng lẽ ra còn đáng bị phạt nặng hơn nữa. Nếu ai nghĩ rằng tội của mình xúc phạm đến tình thương yêu vô bờ và lòng nhân lành của Chúa, ắt sẽ hiểu được nỗi thống khổ muôn kiếp cũng không đủ để họ dám vi phạm chỉ một lỗi nặng thôi. Bởi thế nên, Thiên Chúa vì lòng nhân lành xót thương của Ngài, đã cho phép các linh hồn trong chốn hoả ngục chịu đau khổ ít hơn là tội lỗi của họ đáng lý còn phải chịu nhiều hơn thế.
Thánh Catarina thành Gênôa có viết trong cuốn “Lửa Tình Thương” (nxb Sophia Institute Press 1996) như sau: “ Đối với người chết trong tội lỗi lẽ đáng phải chịu thống khổ cách vô biên trong thời gian kéo dài vô tận; nhưng vì Chúa lòng lành hay thương xót, nên Ngài biến sự vô tận để cho linh hồn có thời gian hạn định và làm bớt nỗi khổ trong cường độ nào đó, thôi. Cứ thẳng thừng mà giáng phạt theo lẽ công bằng, thì Chúa lẽ đáng ra sẽ còn đem đến cho linh hồn ấy nhiều khổ đau hơn.” (xem Ln John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 05/02/2012 tr.10)
Cứ nhìn vào ngày giờ đức thày viết bài trên, người đọc chắc sẽ phải khóc thét lên mà khiếp sợ. Sợ, tính căng thẳng của lý sự về luật và luật. Nhất thứ, luật ấy mang tính chất rất Đạo. Nói về lòng thương vô bờ bến của Chúa, mà lại nói về luật và lệ của người xưa như thánh nữ Katarina, e khó thuyết phục được giới trẻ. Và, nguy hiểm nhất là đấng bậc nói về luật mà lại quên mất luật tình thương yêu vô bờ Chúa dạy, há nào nói về luật mà quên mất lệ.
Kỳ thực, thì luật và lệ của tình thương như Kinh thánh nói, là như sau:
“Cả anh em nữa,
xưa kia anh em là những người xa lạ,
là thù địch của Thiên Chúa vì những tư tưởng
và hành động xấu xa của anh em.
Nhưng nay nhờ Đức Giêsu là con người bằng xương bằng thịt đã chịu chết,
Thiên Chúa cho anh em được hoà giải với Người,
để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền
và không có gì đáng trách trước mặt Người.
Anh em chỉ cần giữ vững đức tin,
cần được xây dựng vững chắc,
kiên quyết và đừng vì nao núng mà lìa bỏ niềm hy vọng anh em đã nhận
khi nghe loan báo Tin Mừng.”
(Cô 1: 21-22)
Thật ra thì, vấn đề đặt ra hôm nay, cho tôi và cho bạn, là: người đọc Tin Mừng hôm nay dù đã thâm niêm tu trì hoặc mới chỉ đang lớn, lớn người lớn xác lớn cả tinh thần, thì không thể và không nên coi Lời Chúa nói ở các chương đoạn trong Kinh Sách như một câu nói lịch sử hoặc một dữ kiện mang tính khoa học rất có thực, rất hiện đại như vi tính, vv. Mà, chỉ nên xem tác giả Tin Mừng muốn truyền đạt điều gì qua giòng chữ hoặc ý từ đặt để cho Chúa nói.
Nói khác đi, Tin Mừng do các thánh viết vào thời điểm trên dưới 4 thập niên sau khi Đức Giêsu quá vãng, về với Cha. Và, thiên đường/hoả ngục mà các thánh diễn tả ở Tin Mừng đâu có là thời gian hoặc không gian/nơi chốn có lửa nóng cháy hoặc có khói, bao giờ. Dù lửa đó có là lửa ngọn hay lửa điện từ, điện tử, vi tính cũng đâu đốt cháy được linh hồn đâu mà sợ. Linh hồn là ý nhiệm tâm linh chứ đâu là xác thể vật chất, để sẽ bị đốt cháy thiêu rụi cả ngàn đời! Vậy, cũng nên hiểu rõ đại ý của tác giả khi viết Tin Mừng là doãn lại lời Đức Giêsu Kitô trong bối cảnh/ngôn ngữ thời Chúa sống.
Nói chung, cũng nên hiểu thiên đường/hoả ngục như trạng huống tốt/xấu, phúc/hoạ rất nghĩa bóng mà thôi. Nói về nếp sống tốt lành rất thiên đường, là phải nói như vị thày triết và thần học ở Đại học Công giáo miệt dưới rất Melbourne của nước Úc là Lm Andrew Hamilton sj, cũng từng viết và nói như sau:
“Xã hội nào cũng có những đường lối tư riêng để khích lệ mọi người đối xử tử tế với nhau. Họ đề cao thăng tiến các nhân vật tiêu biểu để vinh danh và cũng để nói cho mọi người biết mà sống cho đúng chức năng của mình cho đáng sống. Sống cho vui, cho đúng, rất đáng phục.
Kinh Sách cũng đem đến cho ta nhiều tài nguyên nhu liệu để suy nghĩ. Sách Cựu Ước trưng rất nhiều nhân vật tiêu biểu , như: Abraham, Môsê là những vị chung thuỷ đến tận cùng. Như: Tôbit là vị gia trưởng khá năng nổ, sùng đạo. Trong khi đó, bà Giuđita lại hy sinh tâm tình của riêng mình vì lợi ích của toàn dân.
Các sách Cựu Ước lại bao gồm một loạt các bộ luật để hướng dẫn dân con mọi người sống cho tốt, cho vui với mọi người. Mười điều Giáo lệnh chỉ là một trong các ví dụ cụ thể, thôi. Sách Khôn ngoan phản ánh những gì được quan niệm để trở nên người tốt và còn cho ra những phương châm nhằm diễn tả người tốt phải hành xử ra sao trong công việc, đời sống hôn nhân, gia đình và giữ Đạo.
Thế nhưng, ở Cựu Ước điểm chính yếu để trở thành người tốt lành không nằm ở những việc mình làm cho bằng ở tinh thần giúp mình thực hiện việc sống tốt lành. Người người thời Cựu Ước vẫn sống trong cảm kích về những gì Chúa đã làm cho dân Israel. Chính nhờ vào quan hệ đầy cảm kích đối với Chúa đã đem đến cho mọi người hơi ấm nồng nàn và lòng độ lượng được gán kết với chúng dân vẫn sống tốt lành…
Tân Ước cũng bao gồm một trộn lẫn các nhân vật tiêu biểu, các giáo huấn khôn ngoan và luật lệ giúp ta hiểu thấu đáo việc sống tốt lành là thế nào. Các tác giả Tin Mừng vẫn kể nhiều truyện về Đức Giêsu sống hiền lành khiêm nhượng biết chừng nào. Những vị như người Samaritanô tốt lành và người con hoang tàng để giúp ta sống cho đúng, cho tốt.
Thế nhưng, trọng tâm của việc sống cho tốt không tuỳ thuộc việc tuân thủ luật lệ hoặc làm những điều vẫn được bảo. Mà, là tuỳ vào việc ta cảm kích biết ơn Chúa vì những gì Ngài đã làm cho ta, ngang qua Đức Giêsu Kitô. Cảm kích biết ơn đối với Chúa và tình thân thương với Đức Giêsu là cung cách giúp ta đến với Chúa. Là, hơi ấm cho cuộc sống ta đang sống. Là, bổn phận ta phải thực hiện để sống cho tốt.
Trong Hội thánh Nước Trời, ta vẫn khuyến khích nhau sống cuộc sống cho tốt. Các thánh vẫn là mẫu mực để ta học đòi bắt chước. Các vị tử đạo như Thomas More, Oscar Romero là gương sáng để ta bắt chước. Và, Frederic Ozanam cương quyết giúp đỡ người khó nghèo bằng cung cách thực tiễn, như Mary MacKillop tìm ra con đường Chúa thực hiện và qua được mọi khó khăn mình đang gặp. Thánh Phaxicô Atxi cũng là nhân vật điển hình làm mẫu để ta sống…
Nói tóm lại, tâm điểm để sẽ sống cuộc sống tốt đẹp là biết được lúc nào mình hành xử không tốt và biết nói lời “xin lỗi” với những người mình từng xử tệ, rồi cố gắng chỉnh sửa để mọi việc trở nên tốt đẹp lành mạnh. Tắt một lời, nếu người người muốn sống cuộc sống tốt lành như các thần tượng mà mình chiêm ngưỡng thán phục, thì lời lẽ hay nhất cần học hỏi là biết nói lời “xin lỗi” với mọi người. Mọi sự.” (x. Lm Andrew Hamilton, The Importance of being Good, Australiancatholics.com.au Summer 2012
Nói cho cùng, cũng nên xem người ngoài Đạo nói và hiểu thiên đường/hoả ngục theo nghĩa nào, để rồi mình cùng quan hệ và nói năng với bạn bè ngoài luồng, cũng rất nên. Nói theo kiểu người thường ngoài luồng, ngoài Đạo về Thiên đường/hoả ngục là nói bằng truyện kể không dông dài, lễ mễ hoặc dễ nể, mà chỉ đơn thuần mỗi bây nhiêu:
“Có tướng quân nọ tìm đến thiền sư Ekaku để hỏi một đôi câu, như sau:
-Bạch thày. Thiên đường và hoả ngục có thật hay không?
-Thế ngài là ai?
Tôi là tướng quân.
Nghe thế, bất ngờ vị thiền sự bật cười lớn tiếng rồi nói:
-A ha! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy? Trông ông chỉ giống anh hàng thịt!
Tướng quân nổi giận bèn rút gươm khỏi vỏ và nói:
-Tao quyết băm xác mày ra ngay bây giờ!!!
Thiền sư Ekaku vẫn điềm tĩnh nói tiếp:
-Thế là ngươi đang mở cửa hoả ngục đấy!
Chợt giác ngộ, vị tướng quân bèn sụp xuống lạy lục:
-Xin thày bỏ lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.
-Đây mới là thiên đường ông đang mở cửa…
Nói rồi, thiền sư Ekaku tủm tỉm cười rồi ngồi thiền.
Truyện kể về thiên đường/hoả ngục, chỉ có thế. Nhưng không chỉ thế mà thôi, vì người kể lại muốn thêm một lời bàn, mà bảo rằng: Thiên đường/hoả ngục không là chỗ con người đạt đến sau khi chết; nhưng nó vẫn ở đây, bây giờ. Mọi chuyện lành hay dữ đều do tư tưởng mà ra. Thiên đường hoặc hoả ngục vẫn mở ra bất cứ vào thời khắc nào mà người người đối xử với nhau, trong quan hệ.
Có kể nhiều truyện và bàn luận nhiều về truyện kể cũng chỉ để nói lên một tâm tình khác, vẫn được tác h nhân Phaolô từng minh xác ở thư từ gửi giáo đoàn Côloxê, rất rõ ràng như sau:
“Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã,
và vì thân xác anh em không được cắt bì,
nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Ki-tô:
Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta.
Người đã xoá sổ nợ bất lợi cho chúng ta,
sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta.
Người đã huỷ bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá.”
(Cô 2: 13-14)
Nắm bắt điều ấy rồi, nay đề nghị bạn và tôi, ta cứ vô tư/thoải mái, mà ca hát. Hát rằng:
“Không gian tràn dâng niềm thương,
rồi tiếng hát xui cuộc tình duyên.
Bao nhiêu nàng tiên nỉ non,
Làm huyên nào thiên đường lạnh lẽo…”
(Phạm Duy – bđd)
Hát, thì hát thế. Chứ, thiên đường nay hết lạnh, và hoả ngục nay đâu còn nóng, khi mọi sự cũng đã xong. Xong, một nhận định. Rồi, một quyết tâm. Quyết và định rồi ra mai ngày ta sẽ sống trong tinh thần thiên đường của Nước Trời đầm ấm. Thân thương. Hạnh phúc. Rất bây giờ.
Trần Ngọc Mười Hai
vẫn quan niệm thiên đường
theo nghĩa yêu thương,
bình thường.
lại rất đúng.
Saturday, 10 March 2012
“Gió gây hương nhớ, nâng tiếng đàn xa xưa,”
Chuyện phiếm đọc vào tuần thứ Tư Mùa Chay năm B 18.03.2012
“Gió gây hương nhớ, nâng tiếng đàn xa xưa,”
“Sầu vương vấn gây mơ, khóc trên giây tơ.”
(Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu – Dạ Khúc)
(Titô 3:1-3 )
Ngôn ngữ thời đương đại, có người từng nói: “Cái này nghe hay đấy, nhưng thiếu lửa.” Hoặc, thay vì lửa, có vị lại phán: “Cái này hay đấy, nhưng chẳng có tí gió nào hết!” Gió là gió gì? Gió lạ thổi theo luồng, hay gió nồm Nam thổi vào miệt dướ, xứ Kangaroo?
Về gió luồng nồm Nam dù có lạ, thì người nghệ sĩ trích dẫn ở trên vẫn coi đó như ngọn gió “gây hương nhớ”, rất “sầu vương vấn”. Cũng vì sầu vương vấn gây nhung nhớ, nên có bạn Đạo nọ lại cứ bảo: “đâu thấy tình xưa mơ màng.” Nói hay bảo, vẫn cứ thì thào: “Này! Gió ngọn nào đưa anh đến đây thế?”
Vâng. Với nhà Đạo, có là lửa rực hay gió nồm Nam vẫn là niềm hưng phấn tạo nguồn hứng, để bạn đạo có chút tươi vui, mà viết lách. Niềm riêng ấy, có thể là ý từ người nghệ sĩ xưa vẫn cứ hát:
“Đàn ai lên cung oán (tang tình) gieo hờn,
Đàn ai ngân theo gió (xê xang) gieo buồn.
Bồn chồn trong đêm tối, Lần dò chân theo lối mấp mô.”
(Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu – bđd)
Niềm hưng phấn ấy, phần đông bạn đạo thuộc giáo phái khác vẫn dựa vào đó để khích lệ dân con mình sống Đạo trong phụng sự và phụng tự. Phụng tự và phụng sự nơi tôn giáo, nhiều bạn thấy lòng mình phấn kích nên đến xem hoặc tham dự, để thưởng lãm. Thưởng lãm rồi lại đam mê đến độ sẽ thực hiện ý đồ phục vụ nhiều hơn phụng tự.
Cũng phấn kích như thế, nhiều vị lại đã chuyển hướng/chuyển hệ, để rồi sau đó dễ bề phục vụ Chúa trong mọi người, nhiều hăng hái. Chính vì thế, mới gây quan ngại cho một số bạn đạo của bần đệ ở Sydney rất lâu nay. Vừa qua, một số vị còn tỏ ý thắc mắc với đấng bậc nhà Đạo rằng: dạo này thấy nhiều anh chị trong Đạo mình cứ chuyển hướng rồi cập bến mê, thiên về nhóm Thánh Kinh chuyên hát hò và nhún nhảy ngay ở nguyện đường, thay vì đọc kinh “xem” lễ rất Công giáo mình, là thế.
Quả như nghệ sĩ trên, cũng từng reo: “Ôi cung đàn réo!”, “Dây tơ gào gió đê mê lòng”, khiến người khác cứ “lệ trào vì đâu?”, “Bao tình tê tái”, “Bay tìm ánh trăng sao!”. Và nghệ sĩ ta lại hát thêm:
“Đàn ai lên cung oán (tang tình) gieo hờn,
Đàn ai ngân theo gió (xê xang) gieo buồn.
Bồn chồn trong đêm tối,
Lần dò chân theo lối mấp mô.”
(Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu – bđd)
“Lối mấp mô” nhà Đạo nay là lập trường rất “nguyễn y vân” (tức vẫn y nguyên) hồi nào của đấng bậc, rất như sau:
“Quả là, ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, hiện tượng “chuyển hướng” theo nhóm Thánh Kinh của Giáo hội bạn, đã đạt mức độ rất lớn; đặc biệt hơn cả, là: Nam Mỹ, Châu Phi và PhiLípPin là nước có số giáo dân Công giáo rất đại trà.
Hỏi rằng: sao những vị xưa nay được thanh tẩy và giáo huấn theo Hội thánh Cộng giáo, có sự thật dồi dào cùng sự cứu rối sung mãn của Đức Kitô, lại đã rời Hội thánh để theo giáo hội Kitô giáo rất khác biệt? Dĩ nhiên mỗi người có lý lẽ và quá trình khiến mình có quyết định như thế. Thành thử, hay nhất là hỏi những người ấy là biết ngay tại sao cớ sự lại như thế. Nhưng, theo tôi, giữa Đạo Công giáo và các nhóm Thánh Kinh vẫn có những yếu tố, những điểm khá giống nhau.
Thứ nhất là: người Công giáo và các nhóm đạo hữu khác đều thấy rằng sinh hoạt đạo đức ngày Chúa nhật rất sống động; bởi qua đó, họ có những giờ phút thoải mái hát hò vui vẻ, nghe giảng Lời Chúa rất thuyết phục.
Thêm lý do nữa, là: các nhóm Thánh Kinh thường có tinh thần huynh đệ rất cao cả lúc nào cũng hoan nghênh chào mừng mọi người đến với họ. Có nhóm hội còn ra đi thành đoàn hai người một đến từng nhà gõ cửa kêu mời người trong nhà gia nhập nhóm của họ bằng động thái thân thiện, sảng khoái khá chu đáo.
Nhiều nhóm lại có kỹ năng lôi cuốn người nghe rất mạnh mẽ. Bởi thế nên, nhiều vị còn thấy mình như bị thu hút lúc nào không biết qua lời nguyện cầu hăng say, năng nổ hoặc bằng dịch vụ chữa lành và hình thức khác rất hấp dẫn để thấy rằng Chúa Thánh Thần đang hiện diện ở với họ.
Thêm vào đó, nhiều nhóm Thánh kinh lại có tài hiểu biết Kinh thánh rõ hơn đa số các người Công giáo bình thường bậc trung. Thế nên, nhiều lúc người Công giáo cứ trợn tròn đôi mắt khi thấy mấy người trong họ tuy chỉ là giáo dân thôi mà sao hiểu biết Kinh thánh rành rọt đến là thế. Thậm chí, họ còn dùng các phương pháp khác nhau để minh chứng rằng người Công giáo mình có sai sót trong giáo huấn, nói chung. Đôi khi, họ cũng mời người ngoài nhóm đến tham dự các buổi học hỏi Thánh Kinh cùng với họ nữa. Thành thử, nội bấy nhiêu thôi, cũng làm cho người Công giáo yếu bóng vía hoặc thiếu tìm tòi/học hỏi, cảm thấy mình dễ bị thu hút, dễ thuyết phục.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 12/02/2012 tr. 10)
Nhận định thì như thế. Nhưng vấn đề là: đề nghị của đấng bậc thân quen ở nhà Đạo vẫn muốn giữ chân người Cộng giáo ở lại với Giáo hội mình. Bằng nào những lời nghe quen quen, đấng bậc nhà mình lại cứ phán, rất lý sự như sau:
“Làm cách nào để đem người Công giáo đã rời ràn chiên trở về cùng Hội thánh mình, có lẽ cũng phải làm vài ba việc: thứ nhất, phải làm công tác đào tạo người Công giáo trong niềm tin cho thật tốt, cách riêng đám trẻ nhỏ. Rõ ràng thì, người Công giáo nào thực sự hiểu rõ và yêu thích nét đẹp của chân lý và của đời sống người Công giáo chắc chắn sẽ không bao giờ rời bỏ Giáo hội mình để tham gia nhóm khác. Đây là một trong các lý do chính yếu khiến người Công giáo ở nhiều nước rời bỏ Giáo hội mình.
Thêm vào đó, cũng nên coi lại việc giáo dục niềm tin của Công giáo, quan trọng là giúp mọi người mình lớn mạnh trong đời sống thực sự đạo đức sốt sắng trong việc kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô. Có nghĩa là: ta không chỉ ngồi đó đọc đủ mọi kinh là xong, nhưng nếu ta có quan hệ mật thiết với Chúa, sẽ thấy mình ít bị lôi cuốn về với nhóm khác.
Ngoài ra, mỗi người phải tự thấy có nhu cầu học hỏi Kinh thánh tại nhà thờ. Cảm ơn Chúa, mọi người nay đều thấy càng ngày càng có nhiều tín hữu Công giáo chịu học hỏi Kinh thánh vào những năm gần đây. Tuy nhiên, ta vẫn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa.
Riêng các giáo xứ hoặc cộng đoàn Công giáo mình, có lẽ cũng nên tỏ ra có động thái chào mừng và tạo tinh thần huynh đệ, nhiều hơn nữa. Ngày nay, đã thấy nhiều giáo xứ và giáo đoàn đang làm như thế để lôi cuốn người không Công giáo và thôi thúc người Công giáo mình tham gia vào công tác tích cực như thế. Có vậy, mới không lấy làm lạ khi được hỏi rằng: tại sao các Kitô hữu thuộc giáo hội bạn làm tốt hơn ta, trong việc này.
Trên thực tế, cũng nên để ý nhiều hơn nữa về sinh hoạt phụng vụ để có thể làm tốt. Chẳng hạn như: ca đoàn thuộc giáo xứ cố gắng hát cho thật tâm tình hoặc vị giảng thuyết cố dọn bài chia sẻ cho hấp dẫn có như thế mới gia tăng lực hút khích lệ người người đến tham dự Tiệc Thánh nhiều hơn thêm. Cũng may là, Giáo hội ta vẫn còn có thánh lễ như một Giao Ước mới vẫn được cử hành liên tục từ các thế kỷ đầu, và có đủ các bài Sách Thánh, lời nguyện Thánh Thể và nhất là có rước Mình Máu Chúa. Trong khi đó, nhóm Thánh Kinh không có những sinh hoạt như thế. Dù họ có hát hò sinh động, hấp dẫn mấy đi nữa nhưng vẫn không diễn tả trọn vẹn sự hy sinh cao cả mà Đức Kitô đã trối trăn cho Hội thánh. Về chuyện này, ai cũng thấy là các nhóm như thế vẫn thấy thiếu thiếu.
Cuối cùng, cũng nên khuyến khích giới trẻ tham gia vào các nhóm hoặc tổ chức trẻ trung để giúp các em lớn mạnh trong niềm tin và có như thế, họ mới thực sự trở thành người Công giáo thực sự có quyết tâm hơn.
Và, để đem những người Công giáo đã bỏ rời Đạo trở về với cộng đoàn, cũng nên liên lỉ nguyện cầu cho họ. Đồng thời, tham gia trò chuyện để thông cảm và nhẹ nhàng lắng nghe ý kiến của họ ngõ hầu lẳng lặng giúp họ thấy được là họ đã bỏ lỡ nhiều sự. Đồng thời, trấn an họ rằng ta vẫn thương yêu và kính trọng họ, luôn mãi.” (x. John Flader, bđd)
Nghe đấng bậc tỏ bày bí kíp rất đẹp để đem chiên lạc trở về ràn chiên cũ, bần đạo thấy quen quen và nhớ lại lần nào đó cũng thấy có lời nhắn và nhủ của thánh nhân hiền lành, thời xưa cũ, cứ dặn rằng:
“Anh hãy nhắn nhủ ai nấy phải phục tùng tuân lệnh người cai quản,
sẵn sàng tra tay vào mọi việc tốt lành,
đừng thoá mạ, hiếu chiến,
nhưng hãy khoan dung hiền từ với mọi người
Vì cả ta nữa xưa cũng ngu xuẩn, bất phục, lầm lạc,
lệ thuộc đủ thứ đam mê và khoái lạc,
sống trong gian ác, ghen tương, khả ố,
đố kỵ lẫn nhau.”
(Titô 3: 1-3)
Nghe theo lời nhắn nhủ của thánh nhân tông đồ rất Phaolô, các đấng bậc nhà mình cũng từng có các nhận định rất tích cực, như lời xác nhận của Lm Chân Tín cách nay hơn năm thập niên:
“Hơn bao giờ hết, Giáo hội khao khát sự hiệp nhất của các Kitô hữu cũng như của tất cả mọi người trên thế giới, để ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với toàn thể nhân loại, cách dồi dào hơn. Nhưng muốn hiệp nhất, điều kiện tiên quyết là Giáo hội phải đối thoại với mọi người không trừ một ai. Đó là điểm mà Đức Phaolô VI nhấn mạnh trong thông điệp đầu tay của ngài: “Giáo hội phải sẵn sàng giao lưu đối thoại với hết mọi người thiện chí, không phân biệt là người ở trong hay ở ngoài Giáo hội. Không người nào là xa lạ với tâm can của Giáo hội. Không người nào lại bị Giáo hội lãnh đạm. Đối với Giáo hội, không có ai là kẻ thù, trừ phi chính họ muốn như vậy. Không phải vô cớ mà Giáo hội xưng mình là Công giáo, không phải vô cớ mà Giáo hội được trao trọng trách cổ võ sự hoà hiệp nhất, tình thương yêu và hoà bình, trên thế giới…” (x. Lm Chân Tín, Luồng Gíó Mới, Tin Paris 2000, tr. 111)
Xem như thế, thì cũng nên đối thoại chứ không nên phân biệt dù nhóm hội nào đó có chủ trương phổ biến Tin Mừng/Kinh Thánh qua mọi hình thức, từ những thức những dạng như hát hò, nhún nhảy hoặc chuyên chăm học hỏi Thánh Kinh, cho đến gặp gỡ, đỡ đần nhau trong mọi lúc như bất cứ nhóm hội này khác, ngoài Công Giáo. Nói cho cùng, Công giáo là nhóm từ chỉ rõ tính chất Đạo rất chung cùng, hiệp nhất, vẫn thân quen như bao giờ.
Cũng trong cùng một chiều hướng rất tư tưởng như thế, một đấng bậc khác xưa kia là đấng bậc, rất thày dạy trổi trang, từng có lập trường cũng lớp lang, như sau:
“Kitô hữu là Kitô-hữu không phải để buồn sầu nhưng để vui lên. Đức Kitô là Chúa trên thập giá nhưng lại là Chúa Niềm Vui. Ngài không xuất hiện như chim báo bão. Ngài không hề là chuyên viên nói gở. Trái lại, tất cả những gì Ngài đem lại cho đời, tất cả những gì Ngài nói với đời đều được tóm cả trong hai chữ: Tin Mừng. Ngài đã chỉ sống để Niềm Vui được công bố, loan báo. Từ lời truyền tin của Thiên sứ Gabriel, từ tiếng ca của thiên thần, thiên binh trong đêm Bêlem cho đến tiếng nói của người thanh niên áo trắng ngồi đợi trong mồ đá. Ngài công bố Niềm Vui của Thiên Chúa: “Trên trời sẽ có vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chính mươi chín người công chính…” Lc 15: 6 và Mt 18: 3)
Và Niềm Vui cho con người: Phúc cho kẻ có tinh thần khó nghèo. Phúc cho kẻ hiền lành, Phúc cho kẻ ưu phiền, Phúc cho kẻ đói khát công chính, Phúc cho kẻ biết thương xót, Phúc cho kẻ tinh sạch trong lòng, Phúc cho kẻ tác tạo hoà bình, Phúc cho kẻ bị bắt bớ. Những Phúc và Phúc, không biết bao nhiêu là Niềm Vui. Cũng cứ là những Niềm-Vui-Tuy-Vậy. Vẫn cứ tuy vậy “hãy vui sướng và hân hoan” (Mt 5: 1-12). (x. Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ sở Hy vọng 2002, tr. 175)
Thế mới biết, Kitô giáo vốn là Đạo của Niềm Vui Chúa-xuống-trần-làm-người để người người được vui chung. Dù, người đó có là Công giáo hoặc nhóm Thánh Kinh, Nhân Chứng Đức Giê-hô-va hoặc Đạo Hồ, Anh giáo, rất Kitô.
Thế mới rõ, cụm từ “Kitô” dù đính kèm chữ “hữu” hay chữ “giáo” đi nữa, vẫn cứ là Niềm-Vui –Tuy-Vậy. Niềm Vui đến với mọi người, để mọi người sẽ mãi vui. Bần đạo biết một số bạn đạo vẫn rất vui khi đặt các vấn đề tương tự trong các buổi hội thảo ở đây đó, đã tỏ bày một ý kiến rất khác biệt với kiến ý ở trên, nên đã mượn lời củ đấng bậc để hỗ trợ lập trường của mình mà nói:
“Kitô giáo nhất thiết là con đường dẫn tới sự trọn lành, bằng cách học hỏi cung cách diễn bày tình thương yêu của Chúa đối với mọi người qua phong cách ta hành xử với người khác. Đối với các bậc hiển thánh như thánh nữ Mary MacKillop, thì sự trọn lành là như thói quen bén rễ sâu được gieo cấy để xảy đến một cách rất tự nhiên ngang qua lời nói và hành động. Muốn dấn bước theo chân các thánh hiển vinh, có lẽ ta cũng nên học đòi bắt chước mà hành xử hoặc có được những quyết định đúng đắn trong việc ăn ở rất trọn lành.” (x. Lm Andrew Hamilton sj, The Importance of being good, Aaustralian Catholics Summer edition 2012, tr. 17)
Nói như đấng bậc vừa trích dẫn, thì khi nói đến Kitô giáo, đâu chỉ mỗi Công giáo mình là “trọn lành” trong mọi chuyện, cả chuyện hành xử, phụng tự cũng như sống thánh thiện như các thánh. Mà là, các giáo phái nói chung cùng Đạo Chúa. Nói về Hội thánh rất Công giáo, có lẽ cũng nên trích dẫn thêm ý kiến của một đấng bậc khác cũng ở Úc, cho quân bình một xác định:
“Khi nhấn mạnh cụm từ “sống trọn lành”, Hội thánh của ta thường hay tỏ ra quá tốt lành để tin rằng mình vẫn tin tưởng vào chuyện ấy. Và, khi nhấn mạnh đến những sự việc không mấy tốt lành, ta lại ra khỏi sự quân bình theo tỷ lệ bằng những sự thể rất khó tin. Nói nôm na là nói thế này: Hội thánh Công giáo của ta dễ có khuynh hướng bị lối cuốn vào động thái cứ coi mình và sứ điệp mình chuyển tải luôn “ở bên trên”. Trên mọi sự. Trên mọi giáo phái khác và nhất là ở trên mọi người. Theo thiển nghĩ, đây cũng là một trong các lý do cho biết tại sao có nhiều người vẫn thấy khó lòng tin Hội thánh Công giáo!
Nếu đôi lúc bạn có những thắc mắc tựa như thế, đừng cho rằng mình đang để mất đức tin, mà chỉ là sống rất thực tình, và thực tế. Vào thời gian gần đây, chúng ta từng tạo nên tình huống mà một số người gọi là sự khác biệt rất thất thường của Kitô giáo… Ta thường đề cao quá mức những chuyện tích cực và lại nhấn mạnh cũng quá mức những điều tiêu cực. Nói cách khác, ta thường hay quá lời vì mục đích gọi là bán vé đại hạ giá với nhiều lợi nhuận để đưa mọi người vào với giáo hội hơn là đưa vào với chính mình, với thế giới thực tiễn mình đang sống…
Thật tội nghiệp. Kitô giáo thật ra cũng giản đơn. Vào thời buổi con người tôn kính phụng thờ hoàng đế và nền hoà-bình-ngang-qua-chiến-thắng (hoặc chiến thắng đặt lên trên những đáp trả của cử toạ), thì Kitô giáo là sự sống có nền công lý bất bạo động cho những người đau khổ vì một xã hội rất hệ thống như hôm nay… Kitô giáo đích thực chỉ có ý nghĩa nếu Đạo Chúa thực tình giúp đỡ những người con bé nhỏ biết yêu thương bất chấp mọi cuộc chơi quyền lực đem đến cho họ.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Overpowering people, an interesting temptation, Sunday meditation for 1st Sunday of Lent 2009)
Trích dẫn, là trích và dẫn lập trường cũ/mới, rất như thế. Trích và dẫn, không có nghĩa biện luận xem ai đúng ai sai, mà chỉ để xem hiện thời mình chọn lập trường nào để sống cho đúng cách, sống thích hợp với con người của chính mình. Chỉ thế thôi. Trích và dẫn lập trường về triết cũng như thần, là như thế. Còn lại, vẫn là thái độ của mỗi người và mọi người. Bần đạo tuy trích dẫn nhưng vẫn có thói quen rất xấu xí là cứ hay trở về với thơ văn/truyện kể để thư giãn tâm hồn trước khi chọn lựa thái độ sống rất Kitô.
Và hôm nay, bần đạo lại bắt gặp một truyện rất nhẹ, vẫn cứ kể:
“Rằng:
Ngày xưa, vị đại sư nọ muốn chọn một đệ tử làm người kế nghiệp của ông, bèn gọi hai đệ tử mình lại và bảo:
-Các con hãy ra ngoài và chọn về đây cho thày chiếc lá nào đẹp nhất, hoàn hảo nhất, chưa từng thấy…
Hai đệ tử bèn vâng lời thày đi tìm chiếc là hoàn mỹ nhất trên thế gian. Thoáng chốc, người đệ tử lớn quay về trình cho đại sư một chiếc lá không được đẹp cho lắm nên bèn thưa:
-Thưa thày, chiếc lá này tuy không phải là hoàn mỹ nhất trên thế gian, nhưng nó là chiếc lá đẹp nhất con chưa từng thấy.
Người đệ tử kia đi cả ngày trời quay về với hai bàn tay trắng, nhưng vẫn bình tĩnh thưa với đại sư:
-Thưa thày con đây cũng tìm thấy nhiều lá rất đẹp, nhưng con lại không chắc được chiếc nào là chiếc lá hoàn mỹ nhất trên thế gian.
Nghe vậy, vị đại sư bèn chọn đệ tử đầu rồi nói:
-Khi chọn chiếc lá hoàn mỹ nhất, ta vẫn cứ nghĩ đến cái-gọi-là hoàn mỹ nhất, nhưng nếu các con cứ nhất quyết đi tìm mà không nhìn vào thực tế, không so sánh với thực tại trần gian để rồi mải mê vất vả mà chẳng được gì. Đến ngày nào đó phát hiện ra rằng: vì mải mê tìm chiếc lá hoàn mỹ hoặc bất cứ thứ gì hoàn hảo trên thế gian rồi bỏ qua bao nhiêu là cơ hội để làm những việc có lợi cho thế gian, thì cũng là điều đáng tiếc. Nói cho cùng, tìm cho kỹ cũng sẽ thấy các thứ hoàn mỹ trên thế gian này cũng chẳng có được là bao nhiêu đâu… Bởi thế nên, hãy đi vào cuộc đời mà tìm kiếm những gì thực tế một chút, sẽ thấy ngay…”
Truyện kể về vị đại sư và hai đệ tử tìm kiếm chiếc lá hoặc những gì hoàn mỹ trên thế gian, làm bần đạo nghĩ rằng: trong cuộc sống, người người cũng chẳng nên đeo đuổi những thứ mà mình cho là hoàn mỹ, hoàn thiện hơn thứ khác, kể cả lập trường/đường lối sống của ai đó, nhóm hội nào dù rất thánh, cũng chẳng nên. Chi bằng, cứ bình tâm trầm lặng mà vui hưởng những gì mình tìm được hoặc đang có, thế mới đúng.
Nghĩ thế rồi, bần đạo bèn tiến lên đề nghị anh em mình hát đôi câu nhè nhẹ, để chấm hết, rằng:
“Ôi! cung đàn réo vang đêm trường,
Dây tơ gào gió đê mê lòng,
Lệ trào vì đâu? Bao tình tế tái,
Nương đàn gió bay tìm ánh trăng sao.”
(Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu)
Vẫn cứ “Nương đàn gió” để “tìm ánh trăng sao” thế nào rồi cũng thấy và cũng gặp. Gặp người, gặp mình, trong thanh vắng có “gió gây hương nhớ” . Nhớ tiếng đàn xa xưa của một “Dạ Khúc”, rất nên thơ. Ý nhị. Nhiều vương vấn.
Trần Ngọc Mười Hai
Cứ vương vấn mãi
với lời khuyên:
Hãy cứ sống khoan dung hiền từ
với mọi người, trong đời.
Subscribe to:
Posts (Atom)
