Saturday, 14 January 2012

“Khi em viết, tôi biến thành giấy bút”


Chuyện Phiếm đọc vào Chúa Nhật thứ ba thường niên năm B 22.01.2012 
“Khi em viết, tôi biến thành giấy bút”
Bút tương tư, mực nhớ đến ai kìa?
Giấy từ cây, bút từ gỗ xa xưa
Mực từ nhựa, tôi từ em sống lại.”
(Nguyên Bích/Du Tử Lê – Hiến Chương Yêu)
(1Ga 4: 1)
            Mấy ai biết, lời thơ anh viết những là viết bằng bút/bằng mực trên giấy/gỗ, lâu rồi biến thành “Hiến chương yêu”? Có người bảo: tình tự nơi thi ca/âm nhạc đầy “nhựa/mực” khiến cho tôi “từ em sống lại”, rất êm ái. Tôi, từ “Em sống lại” hay “biến thành giấy” lời thơ vui giúp tôi viết. Viết, để em ngâm. Ngâm, đôi ca từ ý nhị ở bài hát:

“Khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,
Đốt thương yêu, than nóng hực ân tình.
Khi em đọc, tôi biến thành chữ viết,
Cả nghìn chương, chỉ chép chuyện đôi ta.”
(Nguyên Bích/Du Tử Lê – bđd)

            Chỉ chép chuyện đôi ta”, là những chuyện mà bần đạo vốn những xục xạo đôi giòng chảy nhạc tình vẫn cứ trôi vào lời thơ đến phờ phạc. Để rồi, bạn bè thấy vậy, bèn bảo ban: “Sao bạn lại hành hạ mình đến như thế?”
Thật chẳng rõ, bần đạo đây lâu nay có tự hành hạ mình bằng giòng chảy uốn éo nhiều câu kéo, có vậy không? Nhưng, bần đạo xin thưa với bầu bạn là đấng bậc đang đọc những giòng này, rằng: nếu không có âm nhạc và lời thơ gửi từ bạn bè, thì bầy tôi nay cũng “bù trớt” chẳng làm sao có được nguồn hứng mà dông dài những phiếm cùng luận, vẫn rất bận.
Bận đến độ, có dịp là biến thành giấy/bút để hát tiếp lời ca da diết với ý nhạc:

“Khi em chết - cõi đời này phải hết
Không chỉ tôi, hoa cỏ cũng lên trời
Muông thú xa rừng,
Chim lạnh từng đôi,
Bao thế hệ vì em mà tàn phai.”
(Nguyên Bích/Du Tử Lê – bđd)

            Thật ra, đã mấy người hiểu rằng: một khi nhà thơ đặt bút viết những lời như “khi em chết, là tất cả cõi đời này cũng phải hết”. Thì, bằng giòng chảy tâm tư, ta đem vào đó những tình tự đê mê đến là mệt mỏi! Như bần đạo, khi đã đặt bút phiếm loạn và phiếm bậy đôi lời, cũng chỉ hí hoáy đôi ba giòng cho hết chuyện, chứ nào dám bảo: “khi em chết”, đời anh cũng như cuộc đời của nhiều người sẽ hết chuyện để mà phiếm và kể lể! Bởi, ngoài tình yêu đôi lứa của những anh và em, còn nhiều thứ tình khác cũng khó tàn phai. Thế nên, bần đạo xin được ghi chép ở đây một truyện kể để mua vui và minh hoạ, trước khi ta đi vào đề tài phiếm. Truyện rằng:     

“Bông hồng dù đỏ hay trắng cho Ngày của Mẹ, đối với tôi chỉ là biểu tượng, chẳng ép phê gì. Ký ức về mẹ, dù gần hay xa, mới là điều nhức nhối. Tuổi càng cao, càng dễ quên chuyện trước mắt, nhưng lại hay nhớ chuyện xa xôi. Tuổi đời, tình đời trải miết nay nhớ về mẹ, thôi thì với bao điều thiếu sót và ray rứt, cứ giá mà… giá mà….

Hai mươi năm trước, ông tổng giám đốc công ty tôi mất mẹ. Lúc đương quyền, ông đem mẹ vào Sàigòn ở với ông. Khi ông về hưu, bà đòi về quê ở ngoại ô Hà Nội và mất ở đó.

Tôi đến thăm khi ông trở lại Sàigòn được vài tháng. Tuổi già được về quê sống những năm tháng cuối đời, rồi mất nhẹ nhàng như thế thì còn gì bằng, nên tôi an ủi:
- Mất mẹ, tớ cảm thấy như thiêu thiếu thế nào ấy…
- Thiếu cái gì?
- Tớ muốn trồng dàn bầu hay dàn mướp ở sau nhà cho mát, trồng cây nào hay hơn vì tớ sợ kiến… Tớ vẫn hay hỏi bà những chuyện lặt vặt như thế. Tớ sinh ra ở quê, nhưng có sống ở quê đâu. Bây giờ bà mất, tớ chẳng biết hỏi ai… Hồi đó tôi mới xấp xỉ U 40, còn mẹ, thấy cái thiêu thiếu của ông đúng là lẩm cẩm. Mấy chuyện vặt đó hỏi đâu chẳng được. Bây giờ thì tôi cảm được cái thiêu thiếu của ông thế nào rồi.

Tôi có thằng bạn hồi trung học. Tay này quậy phá thầy cô dàn trời. Trường đuổi học, mời phụ huynh đến thông báo. Mẹ nó đến, đứng khoanh tay như người phạm tội, nhẫn nhục nghe thầy tổng giám thị trút cơn thịnh nộ, hài tội thằng con gần nửa tiếng đồng hồ. Mẹ nó chảy nước mắt:
-Nhà cháu nghèo, chạy cơm từng bữa cho anh em nhà nó có cái ăn. Nhà cháu lại không biết chữ, biết thế nào mà dạy nó. Nhờ thầy cô thương đến mà dạy dỗ. Đuổi học, thì nó học ở đâu? Ra trường tư làm gì có tiền. Trăm sự nhờ thầy thương cháu, roi vọt cho cháu nên người. Để rồi tối về, nhà cháu răn đe nó…

Cơn thịnh nộ trôi qua, dường như thương cảm với người đàn bà quê mùa trước mặt, thầy tổng giám thị rồi cũng bỏ qua. Tôi và thằng ông mãnh đó lấp ló ngoài văn phòng theo dõi. Nó cười hi hí khi biết mình tai qua nạn khỏi. Chưa hết, hôm sau nó hớn hở nói:
-May quá, bà già tao giấu biệt chuyện này với ông già, nếu không thì… hì…hì…”.

Nó tiếp tục quậy phá, nhưng kín đáo hơn, quậy phá cho đến khi vào lính vẫn còn, nên lãnh “củ” đều đều. Lần này thì chẳng ai nhẫn nhục thay cho nó. Hôm rồi, thằng ông mãnh về nhà sau ca đêm, ngồi uống rượu một mình, lướt “net”, đọc được bài “Cá bống kho tiêu” nào đó, gọi phone cho tôi từ Mỹ, nói rằng, tự nhiên nhớ mẹ, rồi khóc hu…hu… qua điện thoại:
-Cả đời tao làm khổ bà già. Bà già bệnh, tao bận việc, cứ hẹn lần hẹn lữa, không về chăm sóc được. Bà già mất, tao về, không kịp nhìn mặt… Tiền bạc bây giờ có ích gì…

Mẹ nó mất cũng gần 10 năm rồi… Càng quậy phá, càng mềm nhũn. Nguôi ngoai gì nổi! Mẹ tôi mất hồi đầu năm. Thấy tôi buồn, thằng bạn học rủ về quê nó ở Châu Đốc chơi cho khuây khỏa. Chén thù chén tạc, say túy lúy, cả bọn chuệnh choạng kéo nhau đi hát… karaoke. Thằng bạn cầm micro nói:
-Xin giới thiệu với anh em miệt Châu Đốc, thằng bạn tôi đây ở Sàigòn vừa mất mẹ. Tôi xin hát tặng nó bài… “Bông hồng cài áo”…  Rồi nó say sưa hát, động tác biểu diễn như một ca sĩ chuyên nghiệp. Bỗng nhiên giọng hát run run… Nó khóc nấc lên.

Cách đây 2 năm, tôi ghé Châu Đốc dự đám tang mẹ nó… Lại một chuyện khác, lần này không phải thằng, mà là …bà già. Tôi có cô bạn người Ý cũng trạc tuổi như tôi, mỗi lần về Milan, ra nghĩa trang thăm mẹ, mang theo thỏi chocolate, ngày xưa bà thích ăn (mà cô ta cũng thích nữa), bẻ chocolate, cùng ăn với cái… bóng mẹ. Chocolate Tây thay cho nhang đèn Ta, cũng chỉ là tấm lòng. Mẹ cô ta mất cũng 10 năm rồi.
Lại có thằng, có thức ăn hay trái cây nào hay hay, lại mang để trên bàn thờ mẹ, và đặc biệt chỉ thích món ăn lấy từ bàn thờ mẹ. Khách đến chơi, thân thiết lắm, mới mang đồ cúng mẹ xuống đãi. Hỏi vì sao? Ừ, thì cũng như hồi xưa bà cho mình ăn vậy, có đồ gì ngon cũng để dành cho mình…

Mà có thằng con nào, dù có làm tới cái ông gì vĩ đại đến đâu, mà trưởng thành dưới con mắt của mẹ mình đâu nhỉ? Có thằng 6 bó rồi, xách xe ra khỏi nhà, vẫn bị gọi lại “Lại quên mang nón (bảo hiểm)”. Mùa mưa, trời chưa mưa, ngồi một chỗ, nhưng vẫn gọi vói thêm thằng con «Mang theo áo mưa».
Tôi có thằng bạn trẻ người Đức chừng… 50, ra ngoài đường cũng bị bà già vói theo “Alex, quên mang dù!” Thằng này lúc nào cũng vênh váo tự hào vì còn mẹ. Nó khoe: “Từ hồi tôi qua Việt Nam, mẹ tôi lấy làm lạ vì tôi quan tâm tới bả khác xưa nhiều lắm. Bả vui!”. Alex làm ăn ở Việt Nam hơn 12 năm rồi.

Bông hồng đỏ hay trắng cho Ngày của Mẹ, với tôi chỉ là biểu tượng, chẳng ép phê gì. Ký ức về mẹ, dù gần hay xa, mới là điều nhức nhối. Tuổi càng cao, càng dễ quên chuyện trước mắt, nhưng càng nhớ chuyện xa xưa. Tuổi đời, tình đời trải miết, nay nhớ về mẹ, thôi thì với bao điều thiếu sót và ray rứt, cứ giá mà… giá mà…. Nụ cười của người già, dù là nghễnh ngãng, dù là mù lòa… nhớ lại, sao mà dễ thương chi lạ, nhớ xoáy tận đáy lòng. Ray rứt và ân hận là thế! Ước gì thời gian lùi lại, sẽ tìm cách ghẹo bà, để có nhiều hơn nụ cười móm mém như thế. Nụ cười của mẹ già là nụ cười mãn nguyện, con cháu chưa quên bà, vẫn ở bên bà. Tôi viết bài này, tặng cho các bạn trẻ U 30, 40.. gì đó. Các bạn hẳn có nhiều cơ may còn mẹ. Hãy biết trân trọng thời gian bên mẹ.
Tôi biết (cũng như tôi ngày xưa), cách biện minh dễ nhất là bận việc và cứ hẹn lần. Thời gian chắc gì đã làm nguôi ngoai nỗi nhớ? Nhà thơ Nguyễn Khuyến có câu thơ khóc bạn: «Tuổi già giọt lệ như sương, hơi đâu ứa lấy hai hàng chứa chan».
Ừ, nếu giọt lệ già này mà nhớ mẹ, thì ray rứt biết chừng nào !” (trích bài viết có tựa đề “Những thằng già nhớ mẹ” qua điện thư cũng như trên mạng)

            Thật ra thì, nơi cõi đời rất muốn “phiếm” này, người người vẫn cứ kể. Kể về chuyện còn hay mất mẹ, cũng đều kể về chuyện của mình. Của chúng mình. Hôm nay, bần đạo lục lọi ký ức để sẽ phiếm. Phiếm loạn về chuyện chúng mình, về anh về em, về những chuyện thoạt nghe thấy giống ca từ ở giòng nhạc bên dưới:

“Chuyện của hai người, chuyện của lứa đôi
Mặc kệ ai cười, mặc người bĩu môi
Có gì đâu, ta sẽ chết
Nhưng tình ta không chết
Vì mở đầu nhân loại: cuộc chơi riêng.”
(Nguyên Bích/Du Tử Lê – bđd)

Phiếm, câu chuyện của hai người hay nhiều người, bần đạo đây chẳng bao giờ chuyên trách những chuyện mách giúp này nọ, chỉ dám xin bạn/xin tôi, ta miễn cho nhau phần đáp trả. Chỉ xin phiếm nhẹ về đời mình/đời người và cuộc sống chung đụng của lứa đôi, tác hại hơn ly thân, lẫn ly dị. 
            Bởi muốn phiếm, nên vừa rồi, có khảo sát về đám trẻ vẫn sống bên mẹ mình, nhưng mẹ lại cứ sống chung với người khác, khiến tình huống nơi trẻ lại sẽ tồi tệ, rất nhiều bề. Khảo sát mang tựa đề: “Hôn nhân, sao trở thành vấn đề?” do Trung tâm Nghiên cứu về Gia đình Người Mỹ đặt địa bàn tại Đại Học đường Virginia, Hoa Kỳ có đôi ba nhận xét rất như sau:

“Xảy ra sự kiện là: hôn nhân ngày nay bớt liên kết vào với chuyện sinh con đẻ cái hơn thời trước, nên đám trẻ hôm nay chừng như rơi vào tình thế quay vòng vòng hết ở với người này lại bay qua ở với bậc trưởng thượng khác, các vị cứ đi ra rồi lại đi vào cuộc đời của chúng, đến chóng cả mặt.

Khảo sát phát hiện rằng: có đến 24% số trẻ sinh từ cặp phối ngẫu sống cùng giường, tức là trẻ nào sinh tự các cặp nam nữ chung với nhau vẫn nhiều hơn là tự người mẹ đơn chiếc, sống ở vậy.

Chuyên gia khảo sát là Bradford Wilcox thuộc Đại học Virginia, Hoa Kỳ đã tường trình là hiện tượng này còn cho thấy: bà mẹ nào chung sống với bạn khác, thì con của bà ít thấy mình được tin tưởng và ít thấy an toàn về cảm xúc trong quan hệ với nhiều người. Các em thiếu hoặc mất đi tính chung thuỷ về tình dục. Theo tác giả khảo sát thì kết quả cho thấy nhiều điều tồi tệ đem đến với cuộc sống của trẻ. Tác giả còn nói: giả như bậc cha mẹ trên lại sống như thể không cần hôn thú hoặc thủ tục này khác, thì cuộc sống của trẻ dễ bị sói mòn và không an toàn.

Đồng thời, qua phỏng vấn với phóng viên tờ Catholic News Service ở Denver cho thấy tình trạng sống của cha mẹ đã ly dị nay ở chung với người khác trong gia đình đang gia tăng đáng kể. Nhiều người lại cũng trải nghiệm chuyện ly dị của một thành viên trong gia đình và/hoặc thấy bạn bè từng ly thân ly dị cũng khá nhiều, đã khiến họ ngần ngại chuyện hôn nhân, hơn trước rất nhiều. Tuy thế, cũng có người thấy bậc cha mẹ tuy đã ly dị , nay lại quyết tâm xử sự khác đi bằng cách dấn thân hơn vào chuyện lập gia đình. Những người như thế nay gia tăng phấn đấu chuẩn bị cho hôn nhân của mình kỹ hơn bậc cha mẹ từng làm vào thời trước.” (x. Mark Pattison, National Catholic Reporter 25/8/2011)

            Đọc những cảm nghiệm do nhà khảo sát kiêm tác giả Bradford Wilcox là phải nghe thêm lời ca ta vẫn nghe hát để không bị phân tâm bởi các hiện tượng xảy ra ở Mỹ. Chỉ khi nào mấy chuyện như thế xảy đến trên quê nhà người mình, thì khi ấy mới thấy bận tâm cần xem xét sự việc. Nói thế, là để chào mời bạn bè/người thân nghe tiếp đôi ba ca từ của nghệ sĩ vừa trích dẫn, rằng:

“Khi em khóc tôi biến thành nước mắt
Chảy giùm em - cho cạn nỗi ưu tư
Để mắt em xanh - để môi em mềm
Tôi thành lá giữa khi chiều sắp tối.”
  (Nguyên Bích/Du Tử Lê – bđd)

            Nghe nghệ sĩ hát lời đau buốt, có “nước mắt chảy giùm em” tưởng cũng nên nghe tiếp lời phát biều của học giả khác có tên là Garcia, Thư ký Trưởng Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ trả lời phỏng vấn trên tờ Catholic News Service đôi nhận xét sau:

“Ít năm gần đây, bà con thấy rõ sự kiện hôn nhân ở Mỹ có khoảng cách đáng kể. Nói khoảng cách, ý tôi muốn nói đến hiện tượng người có học hoặc khá giả đã có chiều hướng nay kết hôn nhiều hơn là những người không có lợi thế như họ. Nói cho ngay, thì người thuộc tầng lớp lao động ít có khuynh hướng lo chuyện cưới hỏi như lớp người nói ở trên. Về kinh tế, việc cưới hỏi vợ chồng cũng đem lại nhiều điều lợi. Thành thử, giả như giới lao động không đánh giá cao chuyện hôn nhân như trước, thì đấy mới thành vấn đề. Bởi, hôn nhân là cơ sở từ thiện giúp ta xây đắp giàu sang, lành mạnh cho chính mình.” (x. Mark Pattison, bđd)

            Nói thế, là nói theo bản tường trình của Hội đồng Giám mục ở Mỹ. Còn, nói như bài viết có tựa đề nổi cộm như: “Sao chuyện vợ chồng lại trở thành vấn đề, đến như thế?” thì nói như thế này:

“Hôn nhân là quan hệ cần thiết rất tốt lành cho chúng dân. Nhưng nếu liên kết với các điều lợi về kinh tế, sức khoẻ, giáo dục và an toàn phúc lợi giúp chính quyền cấp lớn nhỏ từ địa phương cho chí tiểu bang và liên bang có thể phục vụ lợi ích chung cho những người đi đến hôn nhân nay trải dài đến người lao động, nghèo túng hoặc  thiểu số trong 4 thập niên qua, thì ta sẽ thấy con số các vị có gia đình đã trở nên ngày càng suy yếu nhiều trong cộng đồng mọi giới.” (x. bđd)

            Hội thánh vẫn giáo dục con dân mình rằng: mọi quan hệ dục tình ngoài hôn nhân đều mang tính phạm pháp, rất có tội. Giả như nam nhân nữ phụ nào sống chung với nhau tìm cách đi đến hôn nhân theo khuôn khổ luật buộc, theo cung cách chuẩn bị đi đến hôn nhân như giáo phận đề bạt, thì các thừa tác viên/mục tử cũng nên khích lệ các cặp nam thanh nữ tú nên sống riêng rẽ cho đến ngày cưới, mới là phải phép.
            Thống kê của Uỷ ban Hôn nhân và Đời sống Gia đình cùng Giới trẻ thuộc Hội đồng Giám mục Mỹ cũng cho biết: “Hầu hết các cặp nam thanh nữ tú đến với Hội thánh Công giáo chuẩn bị hôn nhân đều đã có quan hệ gần gũi rất chung sống.” Thông kê chính thức của Giáo hội ở Mỹ cũng cho biết: vào năm 1974, có 406,908 cặp nam thanh nữ tú lập gia đình theo luật Hội thánh Công giáo. Năm 2011, số các cặp nam nữ lập gia đình theo luật buộc xuống thấp chỉ còn 170,172 cặp, mà thôi. Ngoài ra, khảo sát còn cho biết:

“Các cặp nam thanh nữ tú nay không theo qui tắc hôn nhân an toàn nữa, điều này không có nghĩa là vì sự việc như thế gây hại cho con trẻ sống với mình. Dù việc chung sống được nhìn theo khía cạnh gây nguy cơ tạo ảnh hưởng lên con cái về tâm lý và xã hội đi nữa, điều này không có nghĩa là các trẻ ở vào trường hợp như thế đều có kinh nhgiệm tồi tệ, hết.

Thống kê năm nay cho thấy: với lứa tuổi từ 6 đến 11, thì chỉ có chừng 16% số trẻ sống với cha mẹ không hôn phối đã có vấn đề nghiêm trọng về cảm xúc. Dù sao, thì tỷ lệ này vẫn cao hơn số các trẻ sống với gia đình có cha hoặc mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi đi đến hôn nhân đàng hoàng, chỉ hơn có 4% thôi.” (x. bđd)

            Tóm lại, lập trường của Hội đồng Giám mục Mỹ cho thấy: gia đình cưới hỏi đàng hoàng theo luật buộc sống an mạnh về sinh lý vẫn là tiêu chuẩn bằng vàng đối với các gia đình sống ở Mỹ. Lớp trẻ ở đây chừng như đang phấn đấu để sống đúng chức năng về kinh tế, xã hội lẫn tâm lý với gia đình theo cung cách chính đáng.
            Nói cho cùng, thì phán đoán bài bản và chính mạch như đấng bậc nhà Đạo bao giờ chả phán và bảo như thế. Như thế cũng như thể chẳng quan tâm nhiều đến ý kiến phản hồi của bạn đọc trong tuần, như sau:

“Quả là phát giác kinh khủng. Tuy nhiên, có thể đây là trường hợp thống kê nói quá đáng về những tác hại do ly thân/ly dị hoặc do cha mẹ đơn chiếc gây ra, thôi. Thống kê thông thường do viện IIRC cho biết, thì 10% số trẻ sống với gia đình không bị gãy đổ cũng đang gặp rắc rối. Trong khi đó, có đến 15% số trẻ sống trong gia đình có bố hoặc mẹ đơn chiếc sống một mình cũng đang gặp khốn khó, thấy rất rõ. Khoảng cách biệt 50% cũng đáng để ta quan tâm. Dù gì đi nữa, thống kê khác cho thấy cũng có nhu liệu đích đáng để bảo rằng phần đông 90% lớp trẻ sống vui vẻ là thuộc gia đình không bị hề hấn vì chuyện ly thân ly dị.

            Tiếp tục ý kiến phản hồi rất chầm chậm trên báo, lại có lập trường của người khác, như sau:

“Thế, chuyện xách nhiễu tình dục trẻ em thì sao? Nhiều trẻ vẫn bị các nam nhân đang chung sống cứ là gạ gẫm mó sờ nhiều hơn người dưng nước lã sống ở ngoài, thì sao đây?”

            Người đọc có hỏi nhiều như thế, cũng chỉ là hỏi để mà hỏi, chứ đã nào nhận được câu đáp trả từ đâu đó. Hỏi, cũng chỉ để tự nhắc nhở mình về những khuyên hoặc bàn luận từ đấng thánh nhân hiền, vẫn cứ bảo:           
     
“Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin,
nhưng hãy nghiệm xét các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa không,
vì có lắm ngôn sứ giả xuất hiện trên thế gian này.”
(1Ga 4: 1)

            Nói như thánh nhân không phải là nghi kỵ hết mọi ý kiến của khảo sát thống kê hay báo cáo với tường trình, mà là cẩn trọng với mọi đường lối hoặc cung cách thăng tiến lẫn nhau. Thăng tiến, trong tình thương yêu nên có Chúa hướng dẫn và ngự trị. Cẩn trọng và xem xét cho kỹ, rồi nghe thêm lời trần tình của nghệ sĩ, mà ngâm nga, những là ca hát:

                        “Chuyện của hai người, chuyện của lứa đôi,
                        mặc kệ ai cười, mặc người bĩu môi.
                        Có gì đâu, ta sẽ chết,
                        nhưng tình ta không chết
                        vì mở đầu nhân loại: cuộc chơi riêng.”
                        (Nguyên Bích/Du Tử Lê – bđd)

            Chao ôi! Sao lại tình tứ thế nhỉ? Dù người tình có chết đi, nhưng tình người đâu chết được, mà chỉ là mở đầu bằng cuộc chơi riêng, mà thôi. Cuộc chơi riêng, có là cuộc đời của riêng ai, một mình hoặc qua chung sống, vẫn là cuộc chơi của người đời. Của tôi. Của bạn. Rất để đời.

            Trần Ngọc Mười Hai
            lâu nay từng ngẫm nghĩ:
chẳng cuộc chơi nào là riêng rẽ.
            nhưng cứ là ân huệ Bề Trên gửi đến vẫn cho tôi.
            Cho mọi người.
Ở đời.

           
 

      



            
    
 

Saturday, 7 January 2012

“Đố ai biết lúa… mấy cây”


“Đố ai biết lúa… mấy cây”
“biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng...”
 (Phạm Duy – Đố Ai)
(Ep 4: 17-24)
            Có những câu đố chữ, nghe qua cũng hay dữ. Nhưng nghe lại, khó mà hiểu được. Hiểu rằng, đố như thế chỉ là để như “đố vui để học”, hay “đố vui để chọc” cho vui mà thôi. Có một thời, ở Sàigòn, Trung Tâm Học Liệu đường Trần Bình Trọng, Quận 5 từng khai sáng ra chương trình này “đố vui” này, trên truyền hình. 
            Bần đạo nhớ không lầm, thì: cũng có một thời, các vị từng làm rộn chương trình này lên phải kể đến người thày nọ có tên và họ là Cao Thanh Tùng, một đàn sĩ lão luyện và quý hiếm chuyên chơi Trung hồ Cầm (Cello/Violoncelle) ở Sài Gòn thời đó, và một cụ nữa là linh mục Dòng cùng thời với bần đạo mang tên rất ư là Tiến Lộc Dòng Chúa Cứu Thế, đã tiếp nối công trình của người tiền nhiệm nay ở Mỹ.
            Về những câu thơ đố chữ, bố ai mà trả lời được, những là: quét sạch lá rừng, sông kia mấy khúc, lúa nọ mấy cây? Nhưng, có câu đố mang chất liệu rất thi ca, cứ tà tà đố mãi chỉ như sau:

                                    “Đố ai nằm võng không đưa,
                                    Đố ai gặp lại người xưa không nhìn.
                                    Đố ai quên được chữ tình,
                                    Đố ai quên được bóng hình người yêu.”
(trích điện thư của một bạn tìm lại mãi trong trí nhớ vẫn không nhớ)

            Không biết có phải vì người đố chờ mãi chẳng thấy ma nào giải được, bèn có thơ rất “con cóc” như sau:

                                    “Người ta nói yêu là ngốc,
                                    Bởi chữ tình là nguồn gốc chữ ngu…
                                    Đôi khi con người, ta cần dừng lại…
                                    Dừng lại, để rồi bước nhanh hơn.
                                    Đôi khi con người, ta cần buông tay…
                                    Cần cho đi, để rồi có nhiều hơn.
                                    Đôi khi con người ta cần khóc,
                                    khóc thật lớn, để rồi cười thật to…
                                    Đôi khi con người lại cần ở một mình,
                                    một mình, để biết có nhau quan trọng như thế nào.”
(trích dẫn cũng từ một điện thư như trên)

            Có câu đố lại cứ hư hư thực thực, rất như sau:

“Ai bảo chăn trâu là khổ.
Tôi đây chăn nàng còn khổ hơn trâu!”
(trích từ nhiều điện thư bay đến như bướm trắng)  

            Ấy thế nhưng, có câu đố mà rất ít người dám đưa ra để chọc hay để học, dù cũng là đố vè lè nhè nhiều tình tiết nhưng không làm sao biết mà trả lời trả vốn cho đúng cách. Hoặc, có đố thì đố rất nhẹ nhưng câu đáp chẳng ăn khớp, hoặc không mấy thích hợp mỗi thế này:

                        “Thập niên năm đó, có tương lai
                        đố ai biết được phụ nữ người gì? ở đâu? Từ bao giờ?
                        vốn điếc nên không sợ súng, cũng chẳng màng mối sợ nạn nhân mãn,
                        đã quyết định từ nay không bao giờ lấy chồng, hoặc đẻ con nữa.
Đố ai biết dân tộc ấy người gì?” (trích câu đó của truyền thông không đại chúng)

            Bần đạo nghe đố, thấy sao giông giống các câu hỏi của cha cố với đức thày khi bắt đầu một bài giảng ở nhà thờ đến là như thế, bèn xục xạo trên thư viện mạng tìm phần diễn giải từ các bậc thày ở trên cao, mà hội ý. Bỗng chốc, bắt gặp giòng chảy tư tưởng, rất như sau:

“Mới đây, tuần báo The Economist và tờ London Telegraph đã cảnh báo rằng chủ thuyết duy vật nay chừng lại, tại Trung Quốc.

Rõ ràng là, nhiều tuần trước đây ta thấy hiện tượng ly dị đã rộ lên tại nhiều nơi. Đặc biệt hơn cả, là: phụ nữ Trung Hoa sống ở thị thành lại cứ muốn xét lại chuyện cưới hỏi cho đến khi họ gặp được “ý trung nhân” giàu có đủ để có thể giúp họ tậu nhà, sắm xe. Người dân thị thành coi đây là chuyện lạ và đặt cho nó cái tên cũng rất ngộ là “hôn nhân trần trùi trụi”. Có thể nói, đây là chiều hướng từng bị ngành truyền hình tạo ra để lôi cuốn người xem thôi. Nhưng, trong một buổi mạn đàm trên đài, có cô gái trẻ tuổi mới hai bốn đã dám hùng hồn tuyên bố rằng cô chỉ muốn chọn có được căn hộ tươm tất, hoành tráng hơn chọn bạn trai. Bởi, nhà sang cửa rộng vẫn sướng hơn cặp bồ.   

Sự thật thì, chính quyền Trung Quốc chẳng mấy thích thú chuyện này. Là bởi vì nghĩ rằng họ đã tạo khúc mắc trong chính sách dân số chăng. Trung quốc, là nước từng chủ trương chính sách “chỉ một con”, nay phải gặp phải tình trạng hiếm muộn phụ nữ -do việc ai cũng chỉ muốn có con trai để nối dõi tông đường nên hễ cứ gặp thai con gái là quyết định đem phá. Và thêm cái tội khác là, số lượng người già sống rất thọ, nay mới đáng sợ. Và chuyện ngưng không lấy chồng của dân con người thường ở Trung Quốc không thuộc vào chính sách nào của giới cầm quyền đưa ra hết.

Để giải quyết tình trạng “không có gì mà ầm ĩ” này, Tối cao Pháp viện của Trung Quốc bèn ra quyết định, là: ai mua nhà chuẩn bị cho gia đình mình về sống; hoặc cha mẹ nào ứng tiền ra mua cho con cái thì vẫn được giữ nó cả sau khi ly dị. Về quyết định này, một luật sư tên là Hồ Bá Chu làm việc tại tỉnh Phù Nam có nói:

“May ra điều này giúp được giới trẻ, đặc biệt là nữ giới trẻ, nay có động thái độc lập hơn trước rất nhiều. Nhờ vào đó, họ  có thể suy tư tính toán về chuyện cưới hỏi một cách đàng hoàng đúng đắn hơn là chỉ chú  trọng vào tiền của.”   
   
Ở các nước châu Á khác, xem ra người trẻ sống ở thị thành cũng bắt đầu có khuynh hướng gọi là “ta cứ từ từ mà suy tính chuyện lập gia đình”. Theo The Economist xuất bản ở Luân Đôn, thì tại các nước có đời sống khá giả như Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Hồng Kông, tuổi trung bình để nam thanh nữ tú tính chuyện gia đình đã tăng nhanh từ thập niên qua, tức là: nay ở độ tuổi 29-30 cho nữ và 31-33 cho nam. Nhưng không phải chỉ có thế, báo này còn cảnh giác:

“Nhiều người Á đông không chỉ muốn lập gia đình rất trễ mà thôi, mà họ cũng chẳng muốn lập gia đình nữa, đó mới là chuyện đáng ngại. Ở Nhật, tính ra có đến gần 30% phụ nữ Nhật không lập gia đình vào hàng tuổi ba mươi. Có nơi còn lên đến 50% số những người này hẹn sẽ làm như thế, đến suốt đời. Với phụ nữ xứ Đài, có đến 20% số phụ nữ còn độc thân dù ở tuổi sắp lên hàng bốn chục. Và, một khi đã bước vào hàng tuổi này rồi, thì hầu như các cô nhất quyết sẽ không còn chịu lập gia đình nữa. Ở nhiều nơi, tỷ lệ những người không chịu lập gia đình còn ghê gớm hơn thế nữa. Riêng ở Bangkok, có đến 20% phụ nữ tuổi từ 40-44 không lấy chồng. Với dân thị thành ở Tokyo, thì 21% nữ sinh viên tốt nghiệp đại học thường ở vậy, không lấy chồng. Singapore còn hơn thế, tỷ lệ nữ giới ở đây đạt mức 27% số nữ sinh quyết không lấy chồng. Cho đến nay, khuynh hướng này chưa ập tràn qua Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước cố dân đông nhất thế giới nhưng chắc rồi cũng sẽ như thế; bởi, nền kinh tế ở hai nước này đã và đang khấm khá hơn trước nhiều. Hậu quả của nền kinh tế phát triển kéo theo việc dân chúng ở nước họ, muốn chọn lựa chuyện nên lập gia đình, nhất là nữ giới, với thế hệ có sinh xuất cao. Đến năm 2050, sẽ có sự chênh lệch khoảng 60 triệu phụ nữ ở độ tuổi dễ lấy chồng nhưng chưa tính, đó là hiện tượng đang xảy đến ở Ấn Độ và Trung Quốc. Điều đó có nghĩa: phụ nữ hai nước này đang bắt đầu đặt vấn đề về chuyện có nên lấy chồng ngay hay không…”
                       
Khuynh hướng này dĩ nhiên là đang gia tăng với các phụ nữ trí thức và/hoặc độc lập về kinh tế. Lý do dễ thấy nhất là: phụ nữ nay không còn mấy thích truyền thống để người đàn ông khuynh loát quyết định mọi chuyện trong gia đình. Số lượng phụ nữ tham gia lực lượng lao động nay đã nhiều hơn. Các người này không còn muốn cảnh ru rú ở nhà chăm lo nội trợ để rồi ngân sách gia đình hoàn toàn tuỳ thuộc vào đồng lương của người đàn ông là gia chủ mà thôi. Nói cách khác, phụ nữ người châu Á nay không còn thích ở nhà làm những việc không tên trong gia đình nữa.

Không riêng gì Trung Quốc, mà tại các nước khác ở châu Á, chuyện “phụ nữ không muốn lập gia đình nữa” có nghĩa là số con cái trong gia đình cũng sẽ giảm sút. Từ đó, lại có thêm vấn đề là đàn ông xứ này sẽ mất dần ảnh hưởng xã hội do không có người để mình cưới và tình phụ tử sẽ biến vào thiên thu. Chuyện đóng vai làm trụ cột gia đình nâng đỡ người già cả/bệnh tật cũng sẽ giảm sút. Cuối cùng, theo quan điểm của tờ The Economist, thì rồi ra chuyện này cũng sẽ là một trong các vấn đề nghiêm trọng không chỉ cho châu Á thôi, mà cho cả thế giới nữa.” (x.Carolyn Moynihan, The Asian marriage in trouble, MercatorNet 24/8/2011)

            Đọc tường trình của mấy tờ báo lớn “không nói láo ăn tiền” như thế, chắc hẳn bạn cũng như tôi, ta sẽ khựng lại chừng đôi phút, để khi tỉnh táo, sẽ lại nhớ bài ca “đố ai”, vẫn còn đó câu hát:

                                                “Đố ai biết gió ở đâu,
                                                Gió hay đi vắng lúc nao có nhà.
                                                Đố trăng mấy tuổi trăng già,
                                                để em lên tiếng mặn mà yêu anh…”
                                                (Phạm Duy – bđd)

            Hát bấy nhiêu chắc chưa đủ, để diễn tả tình trạng “khá căng” đối với những người xưa nay vẫn cứ bị đố nhăng đố cuội. Đố, cả những câu ca ta từng nghe hát:

                                                “Đố ai tìm được tim ai,
                                                Biết ai nhặt được tim em
                                                Để em ca hát… cho đời nên thơ
                                                Để anh âu yếm, dâng người trong mơ.”
                                                (Phạm Duy – bđd)

            Nghe xong câu hát này, hẳn bạn và tôi, ta lại sẽ giật mình mà hỏi rằng, nghệ sĩ già họ Phạm có nghĩ trước những chuyện xảy ra hôm nay ở trời Đông như được cảnh báo không? Chuyện xảy ra, là sao mà “nhặt được tim em”, để “em ca hát, cho đời nên thơ”, được! Bởi rõ ràng, là: chuyện phụ nữ Á Châu nay từ chối không chịu lấy chồng nữa, thì đâu dễ để kết thúc chỉ một bài báo thôi. 
            Đọc bài báo trên tờ The Economist, chắc hẳn nhiều độc giả cũng thấy ái ngại không ít. Nhất thứ là độc giả gốc người Á Đông vốn có nền văn hoá và văn minh văn hiến rất chính mạch, thường thì không mấy đồng ý. Quan ngại nhiều thì đúng hơn. Quan ngại, là bởi cứ sợ rằng đây là khuynh hướng toàn cầu chịu ảnh hưởng nhiều từ lối sống Âu Tây, do cuộc cách mạng vi tính tạo nên. 
            Một số người quan ngại, lại cứ cho rằng: quan điểm của người tường trình tình hình ở Đông Á xem ra chưa phản ánh được hết mọi mặt của sự quan ngại hoặc, hiện tượng xảy đến, có khi chỉ một chiều. Có vị độc giả còn nại cớ bảo rằng: không thấy tác giả nói gì về động thái của đàn ông Châu Á. Liệu những người này có phản bác ý kiến của người viết không chứ? Đàn ông Á Đông ở độc thân, có phải vì họ tình nguyện sống như thế hay không? Hoặc, cũng có thể lý do là vì họ cũng chần chừ lâu quá, nên quá thời, chăng? 
            Không riêng gì châu Á, bà con ở phương Tây nói chung nay cũng chầm chậm không còn hăng say tính chuyện lập gia đình vào hàng tuổi hai mươi như khi trước, vì vẫn muốn để cho xong đại học và có việc làm ổn định đã. Có người lại coi hàng tuổi hai mươi là thời kỳ có tự do bay nhảy; vui chơi cho thỏa thích cho đến khi đứng tuổi, chững chạc mới tính chuyện cam kết với trách nhiệm.
            Hiện tượng trì hoãn trưởng thành nay trở nên phổ biến rộng khắp nơi trên thế giới chứ không chỉ ở châu Á mà thôi. Nhiều nhà xã hội học gọi đó bằng tên “tuổi trưởng thành đành chịu hố”. Cuối cùng thì, hiện nay trên thế giới đang xảy đến hiện tượng thật rõ nét, đó là:Tây cũng như ta, già cũng như trẻ, ai cũng chỉ muốn có nhiều tự do chứ không còn muốn ràng buộc vào các gò bó, o ép dưới hình thức hôn nhân giả đình, như trước nữa.
            Là dân con nhà Đạo, chắc cũng có ý kiến hỏi rằng: nhà Đạo mình thì sao? Có hiện tượng nào nổi lên như thế không? Và nếu có, ta làm thế nào để dung hoà?     
       
            Hỏi, là hỏi thế chứ ai nào dám có câu trả lời. Chí ít, là đám phó thường dân kiêm giáo dân hạng thứ như bần đạo, thì “biết đâu em trả lời”. Có là bé em như bần đạo nhiều lắm cũng chỉ lạo xạo chạy đến với đấng bậc thân quen mà vấn ý. Đấng bậc bạn bè nghe vấn ý bèn nói nhỏ: vấn gì thì vấn sao không vấn ngay nguồn mạch của ý tưởng chân phương, chân thật rất chân chất là Kinh sách của Đạo. Được lời như cởi tấm lòng, bần đạo nghe thế bèn lấy Phúc Âm ra lần giở trước đèn, gặp ngay câu khuyên rất thật, từ Phaolô thánh nhân, như sau:

                        “Tôi khuyên anh em: đừng ăn ở như dân ngoại nữa,
vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ…
Còn anh em, anh em đã chẳng học biết về Đức Kitô như vậy đâu;
nếu anh em đã được nghe nói về Đức Giêsu
và được dạy dỗ theo tinh thần của Người,
đúng như sự thật ở nơi Đức Giêsu.
Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa,
là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối,
anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em,
và phải mặc lấy con người mới,
là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa
để thật sự sống công chính và thánh thiện.
(Êp 4: 17-24)

            Chẳng giấu gì bạn, gì tôi, bần đạo đây đọc lời khuyên trên suy nghĩ lung lắm bèn tìm đến các truyện kể nhè nhẹ đây đó, để thư giãn bèn tìm ra được một truyện kể, rất nhe, như sau:

“Vào khoảng năm 1982 các giáo sư ra trường từ Đại Học Cao Đẳng Sư Phạm rất nghèo khổ, nên các cô quyết định tìm chồng qua các tiêu chuẩn là: nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách Khoa, bỏ qua Sư Phạm.
Đã vậy, các nàng còn sáng tác và tặng cho một bài thơ độc rằng:
Em chẳng lấy chồng Sư Phạm đâu
Lấy chồng Sư Phạm chẳng bền lâu
Ba năm cao đẳng ho ra máu
Để lại cho em ... lá phổi sầu.
Thiệt là vô cùng ngạo mạn, các chàng giận run người và một cuộc họp khẩn cấp  được triệu tập. Ngài Chủ Tịch ban ra ngay một sắc lệnh tuyển chọn một Trạng Quỳnh để đấu trí với đám con cháu bà Đoàn thị Điểm kia. Và một thiên tài đã xuất hiện đáp trả lại như sau:
Em nên lấy chồng Sư Phạm thôi
Lấy chồng Sư Phạm rất đẹp đôi
Một năm anh nghỉ ba tháng phép
Ấp ủ tình em lúc lẻ loi.
Nghe lời đối đáp như thế này thì thắng lợi hoàn toàn nghiêng về phía các chàng sư
phạm rồi còn gì.” 
Điện thư viết đến đây bèn “tắt tịt” không thấy lời đối đáp của các cô sư phạm nữa. Chắc là đã hẹn bà con kỳ sau chăng?
 
            Đọc truyện rồi, bần đạo chỉ biết kêu lên: “ôi thôi rồi nồi xôi”, sao bọn trẻ bây giờ nhiều ý kiến thế. Kêu lên rồi, đành tắt đèn, xếp bút nguyện cầu Chúa Chí Ái bổ dưỡng thêm cho vài ba ý tưởng chính xác, để còn đối đầu với chuyện của thời đại để còn đọc nữa chứ.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn muốn thiên hạ
            làm theo lời khuyên răn
            của thánh nhân hiền lành
            rất độ lượng.