Wednesday, 5 December 2018

“Dìu em đến đem cho đời anh thôi hoang vắng"


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ Hai mùa Vọng năm C 09-12-2018

“Dìu em đến đem cho đời anh thôi hoang vắng"
Tim ta say đắm đã yêu em trong cuộc tình
Giòng tháng năm đó đã cho tình yêu em tha thiết
Những ái ân để phôi pha.”
(Nhạc Pháp – Lời Việt: Lạc Mất Mùa Xuân của Lữ Liên)

(Gioan 17: 19)

“Những ái ân để phôi pha”. Chao ôi là lời nhạc. Đã là “Ái ân” rồi sao lại “phôi pha”. Ối chà là thi-ca. Sao lại là “Dìu em đến đem cho đời thôi hoang vắng”? Thế nghĩa là, thi ca hay âm nhạc vẫn là những phương tiện để chuyển tải tình-tiết rất phôi pha, tha thiết, rồi “hoang vắng”.

Thôi thì, ta cứ tiếp tục nghe người nghệ sĩ hát thêm những ca-từ ở bên dưới:

“Đành hỡi đuyên kiếp em bước đi trong chiều mưa rơi
Lặng đứng trên bến anh với trông thuyền ra khơi
Những tháng năm đếm lá theo mùa thu chết
Những thu chết
Xuân về cho cây xanh lá,
có riêng mình anh, lạc mất mùa xuân
(Cớ sao tình ta chỉ có mùa thu)
Đêm đêm nằm nghe hồn bâng khuâng,
Bên song anh trông đầu non trăng xế
Thương bèo trôi theo sông nước
biết bây giờ em lạc bước về đâu
Tương tư về thương đôi mắt nâu
Đêm đêm tìm trong màn tối muôn sao
Ngồi suốt canh vắng lãng quên sầu thương trong men đắng
Cơn say mê đắm sóng dâng cao ngọn thủy triều
Rồi thấy thấp thoáng bóng em về chìm trong đáy cốc
Đôi mắt ưu buồn thiên thu
Rồi nắng mai đến mây trắng bay khi tàn cơn say
Tình đã xa vắng nỗi nhớ vẫn còn đâu đây
Những tháng năm đến lá theo mùa thu chết
Những thu chết
Xuân về cho cây xanh lá,
cớ sao tình ta chỉ có mùa thu
Đêm đêm nằm nghe hồn tương tư
Bên song đầu non tàn canh bóng xế
Thương bèo trôi theo muôn hướng
biết bây giờ em lạc bước về đâu
Em ơi, chờ em đến kiếp nao?
Xin cho ngày sau, mình mãi bên nhau.
(Nhạc Pháp – bđd)

Cứ mỗi lần người nghệ sĩ hát lên những ca ân ái, lại sẽ thấy những nào “mùa thu chết”, “chờ em đến kiếp sau”… ôi thôi là tỉ tê, với tê tái, đến mê dại. Thôi thì, ta cứ cho là như thế, để rồi xem thử ở nhà Đạo mình có điều gì khác lạ hơn thế, mỗi khi đề cập đến tình yêu lai láng, rất thân thương. Tình, là tình thương yêu người nhà Đạo có những lời hỏi đáp nhập nhằng rất nhiều lẽ. Hỏi, là hỏi những thế này:

“Kính gửi Cha,

Bà nhà tôi, xuất xứ từ đất nước Tây Ban Nha. Và, ở bên ấy, ngày lễ Các Thánh Nam Nữ vẫn được coi là lễ trọng thể và là ngày nghỉ. Bà ấy còn hỏi tôi: tại sao ở Úc này, người ta không coi ngày ấy như một ngày bắt buộc cơ quan, mọi người phải nghỉ, giống như Tây Ban Nha? Tại sao mỗi nước mỗi khác, dù vẫn theo văn minh Tây Phương, rất Công giáo?”

Và, câu trả lời của đấng bậc nhà Đạo, đương nhiên phải là chính quy, đặc trưng/đặc thù rất công-khai như sau:

“Vấn đề ngày nghỉ lễ xưa nay vẫn là chuyện dài thế kỷ, khá thích thú. Thời Trung Cổ, có nhiều ngày lễ trọng bắt buộc người có Đạo phải nghỉ để đi nhà thờ dự thánh-lễ. Kịp đến năm 1642, Đức Giáo Hoàng Urbanô thứ 8 đã cắt giảm con số những ngày này xuống còn 36 ngày một năm. Rồi đến đầu thế kỷ thứ 20, Đức Giáo Hoàng Piô thứ 10 lại ra lệnh cho giảm những ngày này xuống còn 8 ngày, rồi đến năm 1917, con số những ngày này lại được Luật Hội thánh gia-tăng lên thành 10 ngày. Dù sao thì, mỗi vị Giám mục được quyền ấn-định số ngày nghỉ lễ khiến giáo dân của các ngài phải tuân giữ trong địa phận mình.

Năm 1983, Giáo luật vẫn duy trì con số các ngày này thành 10 ngày, đó là: Lễ Giáng Sinh, Lễ Hiển Linh (còn gọi là lễ Ba Vua), Lễ Thăng Thiên, Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Lễ Thánh Cả Giuse, Lễ Thánh Phêrô và Phaolô và cuối cùng là Lễ Các Thánh Nam Nữ.” (Giáo luật số 1246, đoạn #1).

Theo nghĩa của câu cuối, ta có thể giải thích tại sao có nước thì mừng lễ này, có nước lại không làm thế. Chẳng hạn như, chính tại Tòa Thánh Vatican, chứ không ở giáo phận còn lại của Rôma, như giáo phận Luganô bên Thụy Sĩ chẳng hạn, bà con bên đó vẫn buộc mừng tất cả 10 ngày nghỉ lễ. Còn ở các nước khác, con số này thường ít hơn và thay đổi cũng khá nhiều.

Riêng tại Úc, luật hội-thánh ban hành trước năm 1983 đã ấn-định 5 ngày nghỉ lễ chính-thức là: Lễ Giáng Sinh, Tết Tây (lúc đầu được gọi là Lễ Đức Giêsu chịu phép Cắt Bì, về sau lại gọi là Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa), Lễ Chúa Thăng Thiên, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời và Lễ Các Thánh Nam Nữ.

Khi Đạo Luật mới được áp-dụng, thì vào năm 2001 Hội Đồng Giám Mục Úc đã giảm bớt con số các ngày nghỉ lễ xuống còn 2 ngày, đó là: Lễ Giáng Sinh và Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời (tức ngày 15 tháng 8 mỗi năm). Thêm nữa, các Giám mục Úc còn chuyển một số ngày nghỉ lễ được liệt kê trong Giáo-Luật vào 1 ngày Chúa Nhật trong năm, đó là: Lễ Hiển Linh, Lễ Thăng Thiên  và Lễ Mình Máu Chúa, thành thử những ngày lễ này có thể được mọi giáo dân mừng kính dễ dàng hơn.

Tại Tây Ban Nha, là xứ sở nơi phu-nhân của anh xuất phát, tổng cộng có 7 ngày nghỉ lễ cả thảy, đó là: Lễ Giáng Sinh, Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Lễ Hiển Linh, Lễ Thánh Cả Giuse, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời, Lễ Các Thánh Nam Nữ và Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Tại Hoa Kỳ, có tất cả là 6 lễ, đó là: Lễ Giáng Sing, Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Lễ Thăng Thiên, Lễ Đức Mẹ Về Trời, Lễ Các Thánh Nam Nữ và Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Ở Ý, cũng có 6 ngày nghỉ lễ cả thảy, đó là: Lễ Giáng Sinh, Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Lễ Hiển Linh, Lễ Đức Mẹ Về Trời, Lễ Các Thánh Nam Nữ, và Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Ở Ái Nhĩ Lan cũng thế, có 6 ngày nghỉ lễ tất cả, đó là: Lễ Giáng Sinh, Lễ Hiển Linh, Lễ thánh Patrick, Lể Đức Mẹ Về Trời, Lễ Các Thánh Nam Nữ và Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Có điều lạ, là: ở Mã Lai và Singapore, Thứ Tư Lễ Tro lại là ngày nghỉ lễ bắt buộc. Bên Giáo hội Công-giáo Phương Đông, thì luật Hội-thánh dành cho Giáo hội ở đây định rằng: có 5 ngày nghỉ lễ công cộng dành cho các Giáo hội, đó là: Lễ Giáng Sinh, Lễ Hiển Linh, Lễ Thăng Thiên, Lễ Đức Mẹ đi ngủ và Lễ Thánh Phêrô và Phaolô (X. Giáo luật hội thánh Phương Đông, luật số 880). Riêng Lễ Đức Mẹ đi ngủ là ngày giáo dân mừng kính Mẹ ngủ nghỉ hoặc qua đời  đồng thời sau đó Mẹ Về Trời được mừng kính vào ngày 15 tháng 8 mỗi năm.

Có một thắc mắc mà phần đông các giáo dân thường đưa ra, đó là hỏi rằng: ta có buộc phải tuân-giữ các ngày lễ nghỉ tại nước của mình trong lúc đi du lịch hoặc sống ở nước ngoài không. Trường hợp đi du lịch hoặc xa xứ, thì theo lẽ thường tình những người này vẫn được khuyến khích tuân giữ các ngày nghỉ lễ của nước mình; thế nhưng, không buộc phải giữ các ngày lễ nghỉ của nước mình vào đúng ngày giờ  ở bên ấy. Và, khi họ dọn luôn sang sống ở đất nước mình mới đến, thì buộc phải giữ các ngày nghỉ lễ của đất nước mới của mình. (X. Lm John Flader, An All Saints Obligation?, The Catholic Weekly 18/11/2018 tr. 21)        

Nói về luật-lệ trong Giáo-hội, dù là ngày nghỉ lễ hoặc ngày lễ buộc phải đi nhà thờ, vẫn là chuyện thường ngày đối với một số người ở huyện nhà. Thế nhưng, hỏi rằng với giới trẻ ngày nay thì sao? Thiết tưởng, giới trẻ ngày nay có lẽ chỉ chú tâm đến ngày nghỉ để còn lên kế-hoạch đi chơi, tiệc tùng vui chơi cho qua ngày đoạn tháng, mà thôi. 

Ngày nay, hiếm khi thấy lớp người trẻ tuổi thời bây giờ lại cứ bận tâm đến chuyện ngủ nghỉ hoặc đi làm “suốt”. Đó là, sự thể diễn ra với người thường ở huyện, tức: những người có thói quen đi nhà thờ nhà thánh thường xuyên, bất kể ngày ấy có là ngày nghỉ. Chỉ khác một điều, là: ngày ấy các cha tổ chức bao nhiêu thánh-lễ trong ngày? Và, các thánh-lễ như thế có diễn ra vào thời khắc thích-hợp cho người trẻ thích vui chơi, nghỉ ngơi, không?

Câu trả lời, xin dành cho mỗi người dù già hay trẻ. Bần đạo bầy tôi đây không dám có ý-kiến ý cò gì ráo trọi vì liên quan đến phần hồn của người khác. Dù người đó có là phu-quân/phu-nhân con cái hoặc cháu chắt trong nhà. Bởi lẽ, thời nay bần đạo nghe quá nhiều về quyết tâm mang tên “Hồn ai nấy giữ”. Đằng khác, còn có vấn-đề nữa là: hồn ai nấy giữ nhưng hồn người có còn trinh trong, vẹn-toàn hoặc nhiều ngõ ngách không, mà thôi.

Tắt một lời, mỗi người đi Đạo hoặc sống trong Đạo Chúa nay vẫn có quyết-tâm riêng mà người ngoại cuộc không được phép dính dự. Để minh-họa chuyện này, có lẽ cũng nên quay về với lập-trường của bậc thánh hiền trong Đạo khi xưa cũng có những lời hay/ý đẹp cốt để gìn giữ tinh-thần đạo-mạo, đạo-đức hay đạo-hạnh của mỗi người và mọi người, rằng:

“Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ.
Lời Cha là sự thật.
Như Cha đã sai con đến thế gian,
thì con cũng sai họ đến thế gian.
Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con,
để nhờ sự thật,
họ cũng được thánh hiến.”
(Gioan 17: 19)

Nói cho cùng, thì: có thánh-hiến cá nhân mới mong được thánh-hóa và thánh ‘quá’ như mọi người hằng kỳ vọng. Kỳ vọng hay không, xin dành cái quyền này cho mỗi người trong Đạo. Vấn-đề ở đây hôm nay, là: ta hãy cùng nhau giúp sức mọi người sống đời thánh-hiến như Đức Chúa hằng khuyên nhủ.

Để minh-họa và nhớ vấn đề này, có lẽ cũng nên đề-nghị bạn, đề nghị tôi, ta lao vào vùng trời tuyện kể để kiếm tìm những câu truyện ‘để đời’ mà sống cho ra con người, ở đời. Và, cũng để kết-thúc câu chuyện bạn và tôi đang phiếm lai rai, phiếm đường dài khi rảnh rỗi.

“Truyện rằng:

Liz Woodward là một nhân viên phục vụ trong một cửa hàng thức ăn nhanh phục vụ 24/24h tại New Jersey. Cô luôn bắt đầu ngày làm việc mỗi ngày lúc 4 giờ sáng, khi trời vẫn còn tờ mờ.

Một ngày nọ, hai nhân viên cứu hỏa với gương mặt mệt mỏi bước vào của hàng nơi Liz đang làm việc và nói bằng giọng khản đặc: “Cô gái, cho chúng tôi hai tách cà phê espresso.”

Hai người họ vừa tham gia cứu hỏa cho một vụ cháy lớn. Ngọn lửa trong nhà kho vô cùng dữ dội. Họ đã chiến đấu với nó suốt 12 giờ và cả đêm không hề chợp mắt. Lúc này, họ đang vô cùng kiệt sức và rất cần một ly cà phê để tỉnh táo lại.

Liz chăm chú lắng nghe câu chuyện của hai người lính cứu hỏa Paul và Tom trong khi pha cà phê. Cô rất cảm kích bởi những gì họ đã làm. Cô muốn mời họ 2 ly cà phê và chuẩn bị một bữa sáng thật ngon thay cho lời cảm ơn những người hùng thầm lặng. 

Trên mặt sau của hóa đơn, Liz viết: “Tôi đã trả tiền cho bữa ăn sáng ngày hôm nay. Cảm ơn sự đóng góp của các anh. Khi tất cả mọi người đều tìm cách thoát thân, các anh lại không màng tính mạng lao vào ngọn lửa. Bất kể trách nhiệm là gì, các anh là người dũng cảm, mạnh mẽ nhất, cũng là tấm gương tốt nhất cho tất cả mọi người. Cám ơn vì mọi việc các anh đã làm, hãy nghỉ ngơi thật tốt”.

Hai người đàn ông mạnh mẽ bỗng bật khóc sau khi đọc được những lời khích lệ ấm áp từ cô gái trẻ. Họ đã làm công việc này rất nhiều năm, chứng kiến biết bao nỗi đau thương tâm sau mỗi vụ hỏa hoạn, nhưng có lẽ chẳng mấy người có thể hiểu được nỗi nhọc nhằn của những người làm lính cứu hỏa. Sự quan tâm của một cô gái trẻ chưa từng quen biết đã chạm tới trái tim mềm yếu của họ. Liz nhìn hai người đàn ông đang rưng rưng nước mắt, hai người cũng nhìn Liz. Họ dành cho nhau ánh mắt ấm áp và nở nụ cười, cuối cùng vẫy tay từ biệt. 

Sau khi trở về nhà, càng nghĩ về Liz, Tim càng cảm thấy cảm động. Anh đã chia sẻ câu chuyện này trên mạng xã hội, kèm theo lời nhắn gửi tới bạn bè: Hãy tới cửa hàng đầy ấm áp đó. Nếu như gặp được cô gái lương thiện này, hãy trả thêm một ít tiền.

Thật bất ngờ, chỉ trong một đêm, lời nhắn nhủ của Tim đã nhận được rất nhiều ủng hộ từ cư dân mạng. Tấm lòng lương thiện của Liz được truyền đi khắp nơi. Nhiều người còn đích thân tới cửa hàng để khen ngợi, ủng hộ với cô gái.

Lúc này, mọi người mới biết về hoàn cảnh của Liz. Trên thực tế, gia đình của Liz không giàu có, thậm chí là khá túng thiếu. Đầu năm 2010, cha cô bị liệt do tổn thương não. Gia đình không đủ khả năng mua một chiếc xe hơi  có hệ thống đưa xe lăn lên xuống, nên người cha bị ốm của cô quanh năm phải nằm trên giường. Còn Liz, cô phải gánh vác toàn bộ công việc gia đình. Hiện tại, cô đang làm 3 công việc bán thời gian suốt ngày đêm.

Sau khi biết được hoàn cảnh của Liz, chàng lính cứu hỏa Tim không thể diễn tả được tâm trạng của mình. Anh đã cùng với một số đồng nghiệp của mình lên kế hoạch giúp đỡ cô gái lương thiện này. Chẳng mấy chốc họ đã tạo ra một trang gây quỹ cộng đồng để mua một chiếc ô tô cho cha của Liz. Ban đầu họ chỉ kỳ vọng quyên góp được $17.000 USD, không ngờ rằng số lượng người tham gia rất lớn và số tiền thu được lên đến $86.000 USD.

Khi Tim tới thăm cha của Liz và trao cho cô số tiền đó. Liz đã ôm lấy anh và bật khóc. Cảnh tượng này cũng khiến cho những anh chàng cứu hỏa đi cùng rơi nước mắt. Có lẽ Liz cũng không ngờ rằng một hành động nhỏ của mình lại nhận được sự báo đáp lớn đến như vậy. 

Được biết, trước khi cha của Liz bị liệt, ông đã làm “nhân viên khắc phục thảm họa” trong nhiều thập kỷ. Trong mỗi thảm họa, dù lớn hay nhỏ, ông đều lao vào hiện trường để hoàn thành công việc của mình mà không màng tính mạng của bản thân. Lòng tốt ấy của ông có lẽ đã truyền cho con gái mình, và rồi cuối cùng lại quay trở về bên cạnh ông.

Vậy nên, người ta mới nói: Lòng tốt là một vòng tuần hoàn. Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. Khi bạn gieo mầm hạt giống thiện lương, nó sẽ kết hoa thơm trái ngọt. (Hải Dương trích dịch)

Lời Chúa dành cho bạn, cho tôi và cho mọi người hôm nay, hẳn vẫn là câu trích dẫn từ bậc thánh hiền ở trên, rằng: “nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.” Đúng thế. Sự thật luôn là những sự việc đích thực “thánh hiến” hết mọi người, trong đó có cả bạn lẫn tôi, và mọi người.

Hôm nay đây, để kết thúc đoạn phiếm “loạn” hơi bị dài dòng hôm nay, xin gửi đến bạn và đến tôi, lời phán-quyết rất chân thật như thế. Gửi thế rồi, nay đề nghị bạn, đề nghị tôi, ta cứ thế mà tiến tới, như những người thật, việc thật, ở trong đời.


Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ mong rằng
những sự thật trong đời người
sẽ thánh-hóa cuộc đời của bạn và của tôi
như đời mọi người.             

Tuesday, 27 November 2018

“Sống trên đời này”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ nhất mùa Vọng năm C 02-12-2018

“Sống trên đời này”
người giàu sang cũng như người nghèo khó.”
Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau
Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau
Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”
(Lê Dinh – Trở Về Cát Bụi)
(Lc 2: 41)

“Trở Về Cát Bụi”, lại có nghĩa “đi vào lòng đất”, lòng người và lòng đời, rất khơi khơi. “Trở về cát bụi” còn là và sẽ là trở về với nhà Đạo nhiều tầng lớp. Có lớp tầng đầy vàng son. Có tầng lớp lợi danh với chức quyền, như nhạc bản còn lên tiếng, như sau:

“Này nhà lớn lầu vàng son
Này lợi danh, chức quyền cao sang
Có nghĩa gì đâu… sao chắc bền lâu
Như nước trôi qua cầu
Này lời hứa…
Này thủy chung…
Này tình yêu… Chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi
Sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời
Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất.
Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen
Nào người sang giàu đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em
Người ơi xin nhớ cát bụi là ta… mai này chóng phai
Người nhớ cho ta là cát bụi trở về cát bụi
Xin người nhớ cho.”
(Lê Dinh – bđd)

“Người nhớ cho”, xin nhớ đủ mọi thứ chuyện. Cả đến truyện kể không nặng nề, nghe cũng thấy mê, đọc được ở bên dưới:

“Truyện rằng:
Một người đàn ông chết rồi, mới ý thức được rằng cuộc đời mình thật ngắn ngủi. Lúc đó, anh ta nhìn thấy Phật tổ tay xách một cái hòm, tiến lại phía mình. Phật tổ nói:
-Con trai, chúng ta đi thôi.
Người đàn ông đáp:
-Sao nhanh quá vậy, con còn rất nhiều việc vẫn chưa hoàn thành.”
Phật tổ nói:
-Ta rất xin lỗi, nhưng thời gian của con hết mất rồi!
Người đàn ông lại hỏi:
-Vậy thưa Phật tổ, trong chiếc hòm của ngài có chứa thứ gì vậy?
-Đó là di vật của con, Phật tổ trả lời.
Người đàn ông tỏ ra nghi ngờ, hỏi tiếp:
-Là di vật của con sao? Ý của người: đó là thứ thuộc về con, có phải là quần áo và tiền không ạ?”
Phật tổ đáp:
-Những thứ đó trước giờ chưa bao giờ thuộc về con, chúng thuộc về địa cầu.
-Vậy có phải trong đó là ký ức của con không?
Người đàn ông ngẫm nghĩ một lát rồi phỏng đoán..
-Không phải, ký ức thuộc về thời gian.
Người đàn ông lại đoán:
-Có phải là tài năng thiên phú của con?
-Không, chúng thuộc về cảnh ngộ.
Người đàn ông băn khoăn:
-Lẽ nào trong đó là bạn bè và người nhà con?
-Con trai ạ, không phải vậy đâu. Họ thuộc về hành trình mà con đã đi qua.
-Vậy có phải là vợ và các con của con trong đó không thưa Phật tổ? người đàn ông hỏi tiếp.
-Không, họ thuộc về trái tim con..
Người đàn ông lại phỏng đoán:
-Vậy nhất định đó là thân xác của con rồi.
-Không, thân xác của con thuộc về cát bụi.
Cuối cùng, người đàn ông khẳng định chắc chắn:
-Vậy đó nhất định là linh hồn của con!
Lúc này, Phật tổ mỉm cười, đáp:
-Con trai, con hoàn toàn sai. Linh hồn của con thuộc về ta.
Mắt ngấn nước, người đàn ông nhận chiếc hòm từ tay Phật tổ bên trong chiếm hòm trống rỗng. Nước mắt chảy dài trên má, trái tim vỡ vụn, người đàn ông hỏi Phật tổ:
-Lẽ nào từ trước tới nay con chẳng sở hữu bất cứ thứ gì sao?
Phật tổ đáp:
-Đúng thế con ạ. Trên thế giới này bây giờ chẳng có bất cứ thứ gì thực sự thuộc về con.
-Vậy thì cái gì mới là của con?
-Mỗi tích tắc khi con đang còn sống, chúng thuộc về con, còn bây giờ, con chẳng còn gì cả.

Đến lúc này, người đàn ông mới như được thông suốt. Thì ra, sinh mệnh, đời người chỉ là những cái tích tắc ngắn ngủi và điều chúng ta nên làm nhất, là tận dụng nó sao cho thật hiệu quả, thật tốt, yêu quý nó, hưởng thụ nó. Còn được sống, đó đã là một sự chiến thắng vẻ vang. Việc kiếm tiền chỉ là một trò chơi không hơn không kém. Khỏe mạnh mới là mục đích và vui vẻ, hoan lạc mới là chân đế!

Vậy nhưng trong cuộc sống này, thử hỏi có bao nhiêu người đang ra bị cuốn vào vòng quay tiền tài, danh vọng? Có bao nhiêu người vì chút lợi ích của bản thân mà làm tổn hại người khác và làm tổn thương chính mình mà không nhận ra? Có bao nhiêu người sẵn sàng bán sức, đánh đổi sức khỏe để lấy những vật ngoài thân…?

Các bạn biết không, đó là sai lầm lớn nhất cuộc đời, bởi đến lúc chết, chẳng có bất cứ thứ gì trên thế giới này còn thuộc về chúng ta. Vậy thì tại sao không tận hưởng một cách triệt để nhất mỗi tích tắc được sống trên đời? Tại sao không làm cho quãng thời gian ngắn ngủi ấy trở nên ý nghĩa, trọn vẹn nhất?

Từ lúc này, mỗi chúng ta hãy chọn cho mình một cách tận hưởng thời gian hiệu quả nhất, đơn giản thôi, đừng quá nặng nề với những yêu cầu xa vời, chúng chỉ khiến cuộc sống của chúng ta thêm mỏi mệt. Và cũng bởi cuộc đời rất ngắn, nên hãy dành cho những người xung quanh ta sự trân trọng, yêu quý hết sức có thể, đừng tranh chấp, cũng đừng giận dữ, hãy lựa lời, cùng thấu hiểu và thông cảm cho nhau.

Thời gian của mỗi người trên đời càng đi càng ngắn lại, dù là thân thiết gắn bó đến đâu, cuối cùng cũng vẫn phải chia ly”. (Theo báo Trí Thức Trẻ)

Thời gian dài ngắn, đến trước đến sau, đều có những sự kiện để đời. Hệt như Đạo Chúa cũng có những sự-kiện để đời khiến con người không thể chối bỏ, tránh né hoặc bỏ bê không tham-dự. Chính đó, là lễ hội ở nhà Đạo được ghi nhận như sau:

“Mọi người chúng ta nên biết đôi điều về các ngày lễ được nêu tên trong Tân Ước diễn tả cuộc sống rất đặc trưng của Đức Chúa. Tôi sẽ kể ra đây một vài lễ hội quan trọng của Do-thái-giáo. Trước tiên, ngày trọng đại nhất là Lễ Vượt Qua. Đây là lễ hội chính trong năm kỷ niệm cuộc giải thoát dân Israel sau 400 năm sống đời cơ-cực ở Ai Cập.
   
Hẳn mọi người còn nhớ Joseph, con trai của Giacóp bị các người anh của mình bán làm nô lệ cho Ai Cập, nhưng anh đã trỗi-dậy trở thành người quản-gia phục-vụ trong triều Pharaô. Suốt nhiều năm tháng kể từ ngày Israel phải chịu cơn đói kém trải dài, mấy người anh của Joseph đã thân chinh lên đường đi Ai Cập để kiếm cách độ nhật. Và theo lệnh Joseph, toàn-thể gia đình những người thân đã qua đó làm nô-lệ phục-vụ vua quan ở đó suốt 400 năm, khiến gia-tăng dân số lên gấp bội.

Kế đó, tổ-phụ Môsê cũng đưa họ ra khỏi Ai Cập mãi đến lúc tử-thần chợt đến vào ban đêm giết sạch các con trai đầu lòng và cả thú vật của họ; riêng dân Do-thái được lệnh bôi máu chiên lên thành cửa thoát nạn, tình-hình khi ấy trở nên thập phần bi-đát khiến vua Pharaô biết chuyện đành phải thả họ về nước. (X. Sách Xuất hành đoạn 12 câu 1 đến câu 32)

Sau đó không lâu, người Do-thái-giáo đã cử-hành mừng lễ hội này vào mỗi tháng, tức: đúng buổi chiều ngày thứ 14 tháng Nisan, tức ngày tròn trăng của mùa Xuân. Và khi ấy, đã có lệnh lan truyền rằng: mỗi gia đình đều phải ăn một con trừu được hiến tế vào sáng sớm trong ngày cùng với bánh không men và rau đắng; đồng thời, mọi người được bảo phải uống thật nhiều rượu và đọc lời cầu sau nghi thức được chỉ định.

Mọi nam-nhân khi ấy đều phải chuẩn bị đi Giêrusalem dự lễ hội và Đức Maria cùng thánh Giuse cũng đều tới đó mỗi năm (Lc 2: 41; Xh 23: 14-17). Lễ hội Vượt Qua kéo dài một tuần lễ, trong những ngày này mọi người chỉ được phép ăn bánh không men thôi.

Tin Mừng thánh Mátthêu, Máccô và Luca, rõ ràng có chép: Đức Giêsu cũng cử-hành tiệc Tạ-từ qua nghi-thức mừng Lễ Vượt Qua như mọi người (Mc 26: 17). Làm thế, Ngài đã biến Lễ hội Vượt Qua thành Tiệc Thánh Thể mừng kính sự-kiện Thiên Chúa giải-thoát dân con loài người khỏi tình-trạng nô-lệ tội lỗi, nỗi chết và ác thần sự dữ bằng cái chết của Con Chiên Thiên Chúa trên thập-tự.

Lại có lễ-hội khác, qua đó người Do-thái-giáo nối-kết với Lễ hội Vượt qua, là Lễ Bánh không men, bên tiếng Hy Lạp gọi là Azymes, tức: lễ hội ngày mùa qua đó nhà nông cùng nhau tụ-tập tiến dâng hoa quả đầu mùa lên Thiên Chúa  (x. Sách Lêvi 23: 15; sách Đệ Nhị Luật 16: 9)             

Do bởi người Do-thái không có khả năng trồng trọt và canh-tác mãi đến lúc họ trở về vùng đất hứa 40 năm sau  khi rời bỏ đất Ai Cập, rõ ràng là lễ hội này được định-vị từ ngày ấy mà thôi. Như thế còn có nghĩa, đã từ lâu lễ này được cử hàng cùng với lễ Vượt Qua bởi lẽ cả hai lễ hội đều chú trọng đến bánh không men và cả hai đều được mừng kính cùng một thời-điểm trong năm.

Nghi-lễ này chính-thức được định-vị trong những năm tháng ngày dài sau đó, cả hai lễ hội này đều được mừng kính tại Giêrusalem. Nghi-thức được cử-hành bằng thức ăn của lễ Vượt Qua vào đêm tối trước ngày 14 tháng Nisan. Lễ hội này kéo dài suốt tuần lễ và suốt thời gian này dân con mọi người bị cấm chỉ không được ăn bánh có lên men hoặc men bột được cất giữ ở trong nhà. Và, các ngày lễ trọng thể nhất là ngày đầu và ngày cuối của lễ hội ấy cùng với ngày sabát rơi vào những ngày từ 14 đến 21 của tháng Nisan.

Ngoài ra, còn một lễ hội khác cũng quan trọng không kém đối với người theo Do-thái-giáo, đó là: Lễ Ngũ Tuần hoặc còn gọi là Lễ Hiện Xuống. Lễ này được thiết-lập để dân con trong Đạo cảm-tạ Thiên Chúa đã phú ban cho họ hoa quả, đậu hạt, lúa miến, lúa mạch cùng nhiều lúa khác có màu đen. Dân con trong Đạo cử hành mừng lễ thất tuần hoặc 50 ngày sau lễ hội Bánh KHông Men , bên tiếng Hy Lạp gọi là Lễ Ngũ Tuần (Hiện Xuống).

Đương nhiên, lễ hội này được nối kết chặt chẽ với lễ Bánh Không Men được cử hành xen kẽ vào ngày đầu và cuối vụ gặt. Với Lễ Vượt Qua, tất cả nam-nhân Do-thái phải có mặt ở đền thờ ở Giêrusalem để mừng lễ Hiện Xuống.

Điều này cũng giải thích lý do tại sao tất cả mọi người Do-thái-giáo ở khắp mọi nơi trên thế-giới đều về Giêrusalem mừng lễ kỷ niệm ngày Thánh Thần Chúa hiện xuống với các thánh tông-đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần (x. sách Công vụ đoạn 2 câu 5-11). Bầu khí tưng bừng vây quanh lễ hội này, là niềm vui cao cả, trong đó có yến-tiệc linh-đình hội-tụ tất cả mọi thành viên trong gia đình, từ người giúp việc cho đến khách quí được mời như người cùng nhà.” (X. Lm John Flader, Jewish feasts the roots of today’s Christian faith, The Catholic Weekly 14/8/2018 tr. 29)      

Trong những ngày vui đình đám như thế, giả như ai đó trong nhóm dân con đi Đạo lại cứ rủ nhau quay quần mà vui chơi, ăn uống luôn tiện mừng kính mọi ý-nghĩa này khác của đời người, hẳn mọi người sẽ không còn bận tâm gì đến lời lẽ của nhạc phẩm được trích dẫn ở trên với những ca-từ từa tựa như:

Sống trên đời này
người giàu sang cũng như người nghèo khó.
Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau
Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau
Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”
(Lê Dinh – bđd)

Để minh-họa tình-tiết của lễ-hội vui, buồn đình đám nói ở trên, thiết tưởng cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để kiếm tìm một câu truyện làm nền, hầu ghi nhớ. Truyện, là những câu chuyện được gửi gắm cho nhau, đến với nhau, những niềm vui như sau:

Tôi không phiền lòng chuyện bạn tù của tôi là một “vợ”. Hắn rộng rãi chia với tôi những thỏi chocolate và thuốc lá mà bọn “chồng” mua cho hắn. Tôi cũng không khó chịu việc hắn là trí thức. Tôi cũng trí thức. Trong chốn này, chỉ cần kể được tên thủ phủ hai tiểu bang và đọc bảng chữ cái không vấp, người ta được coi là trí thức. Nhưng chúng tôi trí thức thứ thiệt. Chúng tôi biết cách lý lẽ. Khác nhau duy nhất giữa tôi và hắn: tôi trí thức hữu cơ, hắn trí thức vô cơ.

Tôi nói vô cơ theo nghĩa, logic của hắn không được logic lắm. Hắn cho biết cả đời bị ám ảnh vì hình dạng những lưỡi kéo: “Tao khoái một số lưỡi kéo đầu tà, một số đầu nhọn. Chúng có thể đâm, cắt, mở toang hoác như miệng.” Hắn đưa hai ngón tay ngang mũi làm động tác cắt, cười tinh quái. Hắn nói cảm thấy ngây ngất được ở chốn này: “Suốt đời tao mong vào đây, dù không biết nó thế nào. Không phải sai lầm đâu, chỉ là một chọn lựa. Người ta chọn số phận mình.”

Vớ vẩn. Tôi đâu chọn vào đây. Không ai chọn vào đây. Lý do đẩy tôi vào tù là một cơn bệnh ngoài tầm kiểm soát. Không ai có thể nói tôi thích tù hơn cuộc sống bên ngoài. Vì kiểu lý lẽ đó, hắn là một trí thức vô cơ. Hắn suy diễn những quy luật phổ quát dựa trên nhầm lẫn cá nhân. Hắn nói thêm: “Biết chấp nhận số phận, thậm chí một số phận quái đản, đầy đau đớn khổ sở của chính mình và kẻ khác, sau cùng ta trở nên thanh thản, thăng hoa!”

Ý tưởng này đến từ tên tù chung thân không có khả năng được ân xá! Chuyện hắn đã làm chắc chắn là tội ác, nhưng không ghê tởm hơn tôi, hay hầu hết những kẻ trong này. Tôi không lên án hắn. Cũng không mong hắn ăn năn. Ðiều tôi phản đối là cách hắn nhìn tội ác như một phương tiện khám phá bản thể. “Ðể hoàn thiện một người,” hắn triết lý, “nhiều kẻ khác phải bị hủy hoại. Ðiều này cũng đúng với những quốc gia.”

Nếu điều này là sự thật, tôi không hứng thú với sự viên mãn kiểu đó. Tôi thà làm nửa người đứng đắn còn hơn thành quỷ sứ nguyên con. Tôi vào đây vì đã làm tổn thọ mười hai mạng. Tôi không hãnh diện. Tôi lấy làm tiếc việc phải tiêu phần đời còn lại của chính mình trong sở thú bê-tông và song sắt, giữa đám nửa người nửa ngợm. (Tôi phục vụ trong quân đội bốn năm, nhưng chuyện đó chẳng nhằm nhò gì so với tù.)

Hàng tuần, trước khi được uống Depo-Provera, một thần dược giúp giảm cơn dày vò tính đực, tôi là kẻ nửa người nửa quái vật, nhưng lúc này quái vật đang ngủ yên trong ruột, nên phần lớn tôi có thể được xem là người.

Tôi tổn thương, khích động và căng thẳng đến mức bất kỳ kích thích nhỏ nào - mẩu quảng cáo đồ lót, tách cafe, chiếc bánh donut - cũng đủ khiến tôi nghĩ: Máu! Tôi từng nghĩ thân thể mình là lưỡi dao dài, ngày ngày thọc về phía trước tìm kiếm nạn nhân.

Khởi đầu, tôi nhắm mắt giết bừa, như điên, chẳng triết lý, nhưng đến khi nạn nhân thứ sáu hoặc bảy gì đó câm miệng (Diana? Susan?), khi là kẻ duy nhất còn lại trong phòng, tôi bỗng nhận chân được mục đích. Hơn cả chuyện dứt bóng những mạng sống, tôi quan tâm việc tạo mối liên hệ với nạn nhân thông qua sự làm nhục. (Còn gì gần gũi hơn việc chia xẻ ô nhục). Sau phát hiện đó, mỗi lần chuẩn bị cắt cổ nạn nhân, tôi nói: “Giờ thì chúng ta đã biết bí mật nhau, đã hạ nhục nhau, chẳng còn gì ngoài việc gặp lại kiếp sau. Anh yêu em.” Quá xúc động bởi tuyên bố tình yêu, mắt tôi đẫm lệ. Tôi hôn hàm răng lạnh giá những người đàn bà.

Có một sự im lặng kỳ lạ sau mỗi lần ra tay. Có vẻ xác chết đang hút hết tiếng động thế giới vào quỹ đạo phân rã của nó. Ngay khi vừa giết xong, ta có cảm tưởng mình là người cuối cùng trên mặt đất. Một cảm giác thanh bình, tuyệt diệu. Người ta từng bịt mắt cả tá nô lệ ném vào vòng đánh nhau cho đến khi chỉ sót lại một mạng.

Sau nạn nhân thứ mười, tôi cảm thấy ngây ngất đến độ tin rằng Thượng Ðế sẽ gọi tôi. Tôi chăm chú nhìn chiếc điện thoại, chắc rằng nó sẽ reng. Tôi tin Thượng Ðế sẽ chúc mừng tôi việc tham dự trò đùa của ngài. Phụ nữ thông hiệp với Thượng Ðế ở điểm khởi đầu trò đùa bằng sinh sản. Ðàn ông ở điểm kết thúc, bằng giết chóc.

Mắt của nạn nhân thứ mười một mở trừng trừng. Tôi hơi run. Trong lớp dạy làm thơ, tôi được học về chủ nghĩa Tượng trưng và Siêu thực. Tôi viết: “Mắt là cửa sổ tâm hồn. Khi tâm hồn rời chỗ lưu tồn, mắt nên nhắm lại.” (Thầy giáo tôi, Mr. William, khen ngợi hiệp vần “hồn” với “tồn”, “sổ” với “chỗ”). Tôi tham dự tất cả những lớp học trong tù. Ðiều quan trọng là không phung phí thời gian và phải mở rộng chân trời hiểu biết.

Nhưng nhân tố lớn nhất giúp tôi hồi phục sự tỉnh táo là những trao đổi với một bạn thư, tên Julie.
Julie ở Úc. Nàng ba mươi chín tuổi, ly dị, và ung thư vú. Trong quá khứ, khi đau khổ của người khác là nguồn mạch hoan lạc của tôi, sự kiện sau cùng này sẽ khiến tôi ngây ngất. Nhưng giờ đây, tôi chỉ gởi lời an ủi đến nàng. Tôi cũng đều đặn tiêm cho nàng những liều bất hạnh của tôi, phóng đại khi cần thiết, để nàng cảm thấy dễ chịu khi so sánh. Tôi quan tâm Julie đến nỗi để giành lại hầu hết những chuyện tồi tệ nhất của đời sống ngục tù, chỉ chia xẻ khi nàng thật sự xuống tinh thần. Tôi nhạy cảm đến thế.

Tôi cũng lưu ý giữ cân bằng giữa những chuyện kinh tởm và những chuyện thuần túy khôi hài. Chỉ trong thư thứ ba, tôi kể chuyện những tay gác tù phải khám dái và đít tôi thế nào trước khi cho phép vào sân đi dạo. Làm phụ nữ cười là điều tốt. Nụ cười sảng khoái có thể trì hoãn ung thư. Nhưng tôi thấy bạn đang nhăn. Bạn thấy tôi rơi vào trò tự bốc thơm. Bọn tù chúng tôi vẫn thường được coi là chỉ quan tâm đến mình. Ðủ rồi. Tôi phải hít một hơi dài và đổi giọng đơn điệu.

Julie cho phép tôi dòm ngó vào đời sống thường nhật của nàng. Trước nay tôi chưa bao giờ quan hệ bình thường với phụ nữ. Nàng kể chuyện ăn sáng món gì, đọc sách gì. Nàng mô tả chiếc áo choàng đang mặc khi viết thư.

Thư của Julie không mùi. Giấy chẳng có mùi. Tuy vậy, nó đã được chạm vào bởi một phụ nữ, một phụ nữ bằng xương bằng thịt. Vì thế tôi áp chặt lá thư vào mũi hít lấy một cách ngây ngất. Ðây là mẩu giấy có mùi tuyệt dịu nhất trần đời. Tôi không ngại thú nhận rằng tôi cũng vuốt ve mảnh giấy lên những bộ phận khác của cơ thể.

Một vài tay trong tù lạm dụng bạn thư bằng những trò đại loại như yêu cầu các nàng ngồi lên máy photocopy, nhưng tôi không phải loại đó. Thực ra, tôi chưa xin Julie tấm ảnh nào.

Julie chưa bao giờ hỏi lý do tù tội của tôi. “Tất cả chúng ta đều có một quá khứ đáng tiếc,” nàng viết, “Em cũng vậy. Ai cũng có quyền giữ bí mật riêng mình. Nếu tất cả bí mật được phơi bày, chúng ta sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi xã hội loài người.”
“Nếu gặp em cách đây mười năm,” tôi viết, “anh đã không vào tù.”

Kiếp này tôi sẽ chẳng bao giờ được ôm Julie trong tay. Hẹn kiếp sau. Mặt khác, tôi lấy làm vui vì Julie ở rất xa, tôi sẽ chẳng bao giờ làm được chuyện khủng khiếp với nàng. Không phải tôi muốn chuyện như vậy. Julie sẽ không bao giờ là nạn nhân thứ mười ba. Ðiều quan trọng là trong đời, đàn ông ít nhất phải một lần có quan hệ thành công với phụ nữ. Giờ tôi đã làm được chuyện đó.

Bác sĩ tâm lý của chúng tôi, ông Fang, nói sở dĩ tôi sợ đàn bà là vì trong quá khứ họ đã bắt tôi chiều chuộng, ý tứ, đê tiện, hy vọng, và can đảm, tất cả những phẩm chất tôi không có, không bao giờ quan tâm phát triển. Ông nói: “Tất cả các anh đều sợ đàn bà. Ðó là lý do khiến các anh vào đây.”

Trong sâu xa tôi vẫn tin sẽ có ngày thoát khỏi nơi này. Có thể động đất hay một cuộc cách mạng sẽ khiến cửa tù bật mở. Có thể một cuộc xâm chiếm của người hành tinh. Có thể một thiên thạch.
Ðôi khi, khoảng trước giấc ngủ, lúc nửa tỉnh nửa mê, tôi mơ thấy đang thả bộ trên đường Pine ở Philadelphia. Nhưng mình không thể thả bộ được, đang ở tù mà! Trong giấc mơ chập chờn, tôi ý thức đang nằm trên giường, dưới tấm mềm mỏng ngứa ngáy, nhưng lại thấy rất rõ tiệm café Last Drop, đối diện bên kia đường là quán rượu Dirty Frank. Nếu thật tập trung, tôi có thể mở cửa Dirty Frank, bước vào. Tôi cảm thấy cơn giận khủng khiếp dâng lên, mắt mở to, nhìn thấy đáy giường gã bạn tù.

Một lần, trong tình trạng như vậy, tôi gọi gã bằng những cái tên ghê tởm mà tôi lập tức hối hận. Khi hắn thức dậy, tôi biện hộ vừa trải qua cơn ác mộng.

Gã bạn tù của tôi lập gia đình năm năm. Năm năm tuyệt diệu, hắn kể. “Tụi tao làm tình mỗi tuần hai lần, cãi nhau to tiếng mỗi tháng một lần, nấu nướng ngoài trời và đi biển mỗi mùa hè.” Nhưng hắn đã vứt bỏ tất cả chỉ vì bị ám ảnh bởi hình dạng những lưỡi kéo. “Suốt đời, tao bị thôi thúc không chịu nổi việc phải đâm đàn bà. Chỉ sau khi đâm chết vợ trong khi ả đang ngủ, chẳng vì lý do gì, bằng một chiếc kéo, tao mới nhận ra ham muốn thầm kín được ở tù. Tao muốn được ở giữa những thằng đàn ông. Tao muốn đến phiên mình được đâm để thỏa mãn số phận.”

Phan Nhiên Hạo dịch từ nguyên bản tiếng Anh “Two Intellectuals” trong Linh Dinh, Blood and Soap (New York: Seven Stories Press, 2004).

Sống trong đời, mà lại ví dụ như nhà tù, thì thật không phải. Thế nhưng, đời người có gì là phải hoặc không phải. Nói cho cùng, cũng chỉ là lý-luận phải trái với nhau, mà thôi. Lý và luận, hết mọi sự trên đời. Cả trong cuộc đời đi Đạo hoặc sống Đạo ở ngoài đời. Nhất nhất, cũng chỉ là những ngày dài trong cõi đời, nhiều ngày sống.

Nói cách khác, tất cả chỉ là những ngày đi Đạo trong đời người cũng suy-tư, nguyện cầu hoặc nói năng cho trọn ngày, đoạn tháng, cũng thế thôi.

Nói thế rồi, nay mời bạn, mời tôi, ta kết thức câu chuyện phiếm lai rai, đường dài khá lẩn thẩn và vô bổ. Nghĩ thế rồi, nay mời mọi người hãy cùng tôi kết thức những giòng chữ trải dài một cách vô duyên, vô bổ và vô tích sự, ở trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những ngày dài
Vẫn quan niệm
Tựa hồ như thế.