Friday, 24 June 2016

“Xuân vương trên ngàn hoa,”

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 13 mùa thường niên C 26/6/2016

“Xuân vương trên ngàn hoa,”
nhắc bao sầu nhớ mơ màng 
mây buông trong chiều vắng
như luyến tiếc giấc mơ đã tàn 
nhớ dưới xuân năm nào

lòng say ước mơ sống trong mộng vàng.”

(Hoàng Bách – Nhớ Bạn)


(1Cor 1: 10-13)

 

Có lúc buồn, bọn tôi thường nhớ nhiều đến nhạc bản “Nhớ Bạn” do ca sĩ có giọng trầm buồn rất dễ thương là: Sĩ Phú. Nghe Sĩ Phú hát, bọn tôi thường mường-tượng về buổi thính-phòng nào đó, trong quá khứ. Có thể là phòng-trà “Đêm Mầu Hồng” hoặc quán “Ritz” ở Sàigòn thập-niên 1960s lúc thị thành còn sôi-động.

 

Giọng trầm và ấm của Sĩ Phú vẫn đưa lòng người về với nhớ nhung. Nhớ rất nhiều, là đám bầu bạn thân-thương thuở cắp sách đến trường. Nhớ, bạn cùng trang-lứa có những ngày trốn học rủ nhau đi Xinê, nghe nhạc hoặc tìm nơi chuyện trò cũng dễ thương. Nói chung, bọn tôi “Nhớ Bạn” cũng rất “khủng” tưởng chừng như sẽ không còn gặp lại nhau, bao giờ nữa.

 

Quả, như lời bài hát vẫn đưa bọn tôi vào chốn thân quen bàng bạc một tình-tự, như sau:

 

“Chiều nay niềm ái ân xưa

tìm đến bên ai

kể nỗi nhớ thương

lời thề cùng cánh hoa rơi

tàn úa bên song dưới ánh tà dương. 

Xuân nay bao sầu nhớ xuân xưa, 
Tiếc mối tình phai hương đan lòng hầu dứt, 
muôn đường tơ vương, 
sầu vương áng mây bao nhuốm màu tang.  

Bóng dáng xa khuất ngàn
trùng dương nhớ nhung càng suy lòng vấn vương 
cung đàn lỡ bao nhịp
luyến thương đường đời vạn nẻo 
nhuốm mối đau thương 
nhớ phút giây êm đềm say đắm 
tiếc bao giờ mơ màng dưới trăng 
xa kìa bướm ong đùa cùng với muôn hoa 
lòng mơ ước thầm ai say hòa nhân duyên.”
(Hoàng Bách – bđd)


Nỗi nhớ niềm thương ở đời, là như thế. Niềm thương/nỗi nhớ đầy ân-huệ ở nhà Đạo, lại khác thế cũng rất nhiều. Khác, nhưvừa rồi ở trời Tây bên ấy, đã có đấng bậc nọ từng dẫn-giải tình-tự đầy tiếc nuối, như sau:

“Hôm ấy, nhân kỷ-niệm 500 năm cải-cách của giới Thệ-Phản, lm Raneiro Cantalamessa có nói rằng: lãnh-đạo Kitô-giáo phải tập-trung nhiều hơn vào niềm tin mình đang san-sẻ hơn là cãi-tranh nhau về công-thức đạo-lý/tín-điều. Linh mục này có nói:

Cùng lúc có các cuộc bàn-luận về tín-lý, ta phải có cuộc đại-kết giáp-mặt riêng tư thân-thiện và hòa-hợp tâm-can, thì tốt hơn. Bởi, có như thế ta mới lôi kéo cộng-đồng Đạo Chúa xích lại gần nhau hơn như đã xảy ra trong vài thập-niên vừa qua. Lâu nay, giữa người Công-giáo và Thệ-Phản vẫn có xung-đột dựa trên nền-tảng không hiểu rõ ràng thông-điệp của thánh Phaolô về những sự việc như thể để biện minh cho mình luôn là đúng.

Khi xưa, thánh Phaolô tông-đồ, qua thư Rôma ở chương 3, chỉ muốn khẳng-định rằng những gì ta biện-minh/bào-chữa cho chính mình bằng niềm tin chính là biện-minh niềm tin vào Đấng Kitô. Thường thì, ta cũng không mấy đặt nặng việc mình bào chữa nhờ ân-huệ cho bằng nhờ ân-huệ do Đấng Kitô ban cho ta.

Bằng vào việc tin-tưởng vào Đấng Ki-tô, người Công-giáo cũng như Thệ-Phản mới có thể lướt thắng khác-biệt của nhau. Nay, không còn chiến-tranh tôn-giáo giữa người Công-giáo và Thệ-Phản nữa rồi. Nên, cần nghĩ đến những việc tốt đẹp nào khác để làm hơn là cãi-vã hoặc tranh-luận với nhau nữa. (x. phần tin: Focus on beliefs, not doctrine, says papal preacher, trên The Catholic Weekly này 27/3/2016, tr. 12)

Nếu cứ xét chuyện đạo-lý thần-học trong Giáo-triều đầy quyền-bính, hẳn là người Đạo Chúa sẽ thấy rằng: mọi sự trong Đạo không phải lúc nào cũng mang dáng-dấp mầu hồng, bao giờ hết. Đó, còn là ý-tưởng được Đức Giáo Tông nói lên vào một buổi triều-yết có giảng-giải ở Rôma, được các phóng-viên ghi lại qua tiêu-đề là Nhưng bên trong Giáo hội, con đường không đầy màu hồng với Đức Phanxicô như sau:

Lúc Đức Bênêđictô XVI thoái vị, Giáo triều Roma, nội các của giáo hoàng với các hồng y và giám mục điều hành thể chế Giáo hội ở trong cơn khủng hoảng. Các tin đồn về nạn đấu đá và vấn đề tài chính đáng ngờ đang nhan nhản. Quản gia riêng của Đức Bênêđictô đã phản bội ngài, ông tiết lộ các tài liệu nội bộ cho truyền thông.

Trong những ngày trước khi xảy ra mật nghị hồi tháng ba năm 2013, các hồng y, những người chịu trách nhiệm trong việc bầu giáo-hoàng ý-thức mình phải làm gì đó. Vatican cần một người đến từ bên ngoài, một người không ngại lay chuyển mọi sự và đưa nhà Giáo hội vào trật tự. Người đó, tất nhiên, là Đức Giáo hoàng Phanxicô.

Được bầu lên như một nhà cải cách ở tuổi 76, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhận ngai tòa Phêrô với ý thức rằng mình không có nhiều thời gian để tạo nên sự khác biệt. Nên ngài vận động nhanh chóng, lập các văn phòng mới để quản lý tình trạng tài chính khó kiểm soát của Vatican. Ngài giới hạn quyền lực của Giáo triều bằng cách lập nhóm chín hồng y cố vấn, họp thường xuyên để định hướng công việc. Và ngài cắt bớt vây cánh của những người đối lập muốn tìm cách phá hoại các nỗ lực của ngài.

Là những con người của Chúa, các hồng y và giám mục đột nhiên bị tước quyền này, họ nuốt kiêu hãnh xuống và cùng chung sức làm việc với Đức Phanxicô, lãnh đạo mới của mình. Nhưng không phải ai cũng thế. Một số không đi chung đường với Đức Phanxicô, họ mở một chiến dịch xì xào với đủ kiểu đàm tiếu và ước-đoán, để làm giảm giá trị các cải cách của Đức Giáo hoàng. Những lời ám chỉ, tin đồn, và dối trá trắng trợn mà một vài cấp lãnh đạo trong Giáo hội đã tiết lộ cho truyền thông làm Vatican phải hổ thẹn.

Một trong những người cốt cán được Đức Phanxicô bổ nhiệm vào Ngân hàng Vatican, bị cáo buộc là có quan hệ đồng tính. Về sau, trong Hội đồng Gia đình, các giám mục có cảm tình với cải cách tự do trong Giáo hội bị cáo buộc là hấp tấp phát hành một báo cáo hội đồng với ngôn từ thân thiện với những người đồng tính và những người ly dị rồi tái hôn.

Lại có lời đồn rằng phòng thư từ Vatican đã không chuyển các quyển sách mang tính bảo vệ giáo huấn của Giáo hội hiện thời cho các thành viên hội đồng. Khi các cải cách tài chính của Đức Giáo hoàng được đẩy lên cao độ, thì nhân vật cốt cán được ngài giao phó kiểm tra chuyện tiền bạc, bị đồn là tiêu xài hoang phí cho trang trí văn phòng và trang phục. Đàm tiếu đang hung hăng vượt lên, muốn diệt các đồng minh của Đức Phanxicô.

Một hồng y người Mỹ có uy-thế ở Vatican, trở thành biểu tượng cho những người nghi ngờ cương vị lãnh đạo của Đức Giáo hoàng. Hồng y này nói là “nhiều” người bày tỏ “quan ngại” về Đức Giáo hoàng Phanxicô.

Trong buổi phỏng vấn ngày 30 tháng mười, với tờ báo Công giáo Tây Ban Nha Vida Vueave, hồng y này nói, “có một suy nghĩ mạnh cho rằng giáo hội như con thuyền không bánh lái.” Ông nói rằng đây không phải là cảm giác của riêng ông, nhưng là của một người khác, với ý muốn làm rõ là những người chỉ trích Đức Giáo hoàng sẽ có một đồng minh mạnh ở Roma.

Chuyện này không kéo dài lâu. Khoảng một tuần sau, ông bị đẩy khỏi vai trò lãnh đạo Tòa Thượng Thẩm, và được bổ nhiệm vào một vai trò mang tính hình thức là tuyên úy cho Hội Hiệp sĩ Malta. Trường hợp đặc biệt này cũng là trường hợp cực đoan nhất, khi một hồng y đầy uy-thế công-khai chất vấn cương vị lãnh đạo của Đức Giáo hoàng và không lâu sau bị thuyên chuyển chức vụ, nhưng không phải là duy nhất.

Một giám mục Hoa Kỳ nói rằng Đức Phanxicô đang hạ bệ những người Công giáo bảo thủ. Một hồng y khác chất vấn không biết Đức Giáo hoàng có thực sự hiểụ được các bài diễn văn và bài giảng của ngài có tác động toàn cầu thế nào hay không. Và nhiều linh mục cũng như giáo dân, tiếp tục tỏ ra khó chịu mỗi khi Đức Phanxicô bỏ qua bài soạn sẵn, mà nói tự phát, từ trái tim và làm cho báo giới tốn nhiều giấy mực.

Vài người ở Vatican nghĩ, cách tốt nhất để chống lại các thay đổi của Đức Giáo hoàng là làm rò rỉ thông tin và nói bóng gió cạnh-khoé để loại trừ các đồng minh của Đức Phanxicô. Những chiến thuật này thường được các chức-sắc muốn giữ ghế áp dụng, và đôi khi bất chấp tác hại của nó với công việc phúc âm hóa. Đức Phanxicô đã có một thông điệp gởi đến các giám mục này: hãy thôi đi.

Các câu tweet của Đức Giáo hoàng về ngồi lê đôi mách cũng giống như “quả trứng Phục Sinh” với nhiều ẩn nghĩa mà tôi đã mô tả trong chương trước, và thực sự có tác động đến những người này. Chỉ có hai tweet trực tiếp nói về thói đàm tiếu, nhưng khi hiểu được những gì sau màn ảnh, chúng ta thấy đây là cú đấm mạnh hơn nhiều.

Đức Phanxicô muốn các giám mục hãy thôi ám ảnh về quyền lực và danh tiếng của mình, và phải biết đi vào trong thế giới. Chặn đứng thói đàm tiếu là một trong các bước đầu tiên của ngài. Nhưng ngài không tweet về đàm tiếu chỉ để chấn chỉnh hàng ngũ (dù chắc chắn là chúng có tác động tốt này). Nhưng ngài muốn mỗi một tín hữu biết noi gương Chúa Giêsu hơn nữa, mà chuyện đàm tiếu lại kéo chúng ta đi ngược lại con đường này.

Cuộc Cách mạng Phanxicô không diễn ra với những thay đổi lớn trong giáo huấn của Giáo hội, hay bán các tác phẩm nghệ thuật vô giá để lấy tiền phát cháo cho người nghèo. Nhưng cuộc Cách mạng Phanxicô sẽ đến khi các tín hữu bắt đầu sống giống Chúa Giêsu hơn, từ những giáo dân bình thường cho đến các hồng y cao cấp của Giáo triều.”

Muốn diễn-đạt tình-trạng sống Tin Mừng ở nhà Đạo, theo cách người ngoài đời vẫn làm, tưởng cũng nên quay về với truyện kể ngắn gọn nhưng bàn về “cái thâm thúy của người xưa”, từng sống đời thực-tế như sau:                                                                                                        

“Cao nhân chân-chính, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại.

Thế nào gọi là cao nhân? Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.

Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.

Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!” Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.

Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa.

Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván. Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy. Vị chủ nhân đáp:

-Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!

Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.

Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao? Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh. Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ. Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.

Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.
Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.
Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.
Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.
Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.

Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là gì? Là bằng cấp hay kinh nghiệm? Hoặc sự từng trải? Câu trả lời: tt cả đều không phải! Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:

1.Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.
2.Tự giác không cần nhắc nhở.
3.Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.
4.Suy nghĩ lương thiện vì người khác.  (Dịch giả: Minh Nữ)

“Văn hóa” nhà Đạo, nay cũng thế. Cũng có khi, người nhà Đạo quyết-chí đào-sâu tu-dưỡng nội-tâm. Cũng có lúc, hơi bị “chểnh mảng” đi chệch ra ngoài mục-tiêu và mục-đích do Đạo đề ra. Thế nên, cũng phải tự-giác, lấy ước-thúc làm tiền-đề cho tự-do và suy-nghĩ lương-thiện vì người khác.

Nhà Đạo mình, nhiều lúc cũng quên đào sâu tư-tưởng và chiều-hướng được nhấn mạnh ở lời vàng thánh kinh, nên mới thế. Đào sâu tư-tưởng ở thánh kinh, ta sẽ thấy đấng thánh nhân hiền từng bảo rằng:

“Tôi khuyên tất cả anh em
hãy nhất trí với nhau
trong lời ăn tiếng nói,
và đừng để có sự chia rẽ
giữa anh em,
nhưng hãy sống hoà thuận,
một lòng một ý với nhau.”
(1Cor 1: 10-13)

Như thế có nghĩa: chuyện chia rẽ giữa anh chị em cùng thờ một Chúa, là chuyện thường ngày ở huyện từng xảy ra trước đây, ở Corintho6 và nhiều nơi khác. Xảy ra, là bởi vì người cùng một Đạo Chúa hay đạo làm người đã không còn biết sống hòa-thuận/một lòng một ý với nhau, như được khuyên.

Như thế tức là, ở mọi thời đều có những vấn-đề cần giải-quyết. Cả vấn đề sống đạo hoặc giữ gìn lời nói với nhau, trong mọi sự.

Nói như thế, tức là mọi chuyện xung khắc xảy ra trong đời người, phần lớn là do lời nói, tư-tưởng hoặc lối đối xử không nhất trí theo cùng một tinh-thần nương-tựa giùm giúp và sẻ san điều hay điều tốt với nhau, mà thôi.

Trong nhận thức rất như thế, nay mời bạn và mơi tôi, ta lại cất lên tiếng hát trích-dẫn ở trên để nhớ đời, rồi sống. Hát, là hát những lời như sau:

 

“Chiều nay niềm ái ân xưa tìm đến bên ai

kể nỗi nhớ thương lời thề cùng cánh hoa rơi

tàn úa bên song dưới ánh tà dương. 

Xuân nay bao sầu nhớ xuân xưa, 
Tiếc mối tình phai hương đan lòng hầu dứt, 
muôn đường tơ vương, 
sầu vương áng mây bao nhuốm màu tang.  

Bóng dáng xa khuất ngàn
trùng dương nhớ nhung càng suy lòng vấn vương 
cung đàn lỡ bao nhịp luyến thương đường đời vạn nẻo 
nhuốm mối đau thương 
nhớ phút giây êm đềm say đắm 
tiếc bao giờ mơ màng dưới trăng 
xa kìa bướm ong đùa cùng với muôn hoa 
lòng mơ ước thầm ai say hòa nhân duyên.”
(Hoàng Bách – bđd)


Trần Ngọc Mười Hai
Có những lúc những thời
Vẫn liên-tưởng
đến những khó khan
trong đời đi Đạo
vốn dĩ là thế.

Saturday, 18 June 2016

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 12 mùa thường niên C 19/6/2016

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng”
Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê.
Non nước ơi! Hồn thiêng của núi song.
Kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa.”
(Nguyễn Văn Đông - Mấy Dặm Sơn Khê)

(Cách Ngôn 31: 10-31)

Thế đó, một tưởng tượng! Khi bọn đàn em bé nhỏ là chúng tôi, cuối cùng lại cũng được tin Đức Giáo Tông nhà mình lập ban nhiên-cứu cho phép phụ-nữ làm Phó Tế.

Ấy đấy, một hiện-thực! Khi đám con cháu trong nhà bọn tôi, nhân chuyến “hành-hương đô-thị” sà vào quán sách nhỏ có bầy bán một số “cảo chỉ” về thần-học. Và, cháu “tóm” được cuốn “Mary Magdalene, her story and myths revealed”

Này đây, một thao-thức! Bỗng nảy-sinh trong đầu của bầy tôi đây là bần-đạo cứ mải suy về thân-phận và vai-trò của bậc nữ-lưu lâu nay cứ là “thấp cổ bé họng” về tư-tưởng.

Nhưng thật ra, các vị này mới là người sâu-sắc nhưng ít nói, chỉ mỗi làm và làm. Và, khi các vị đã làm là làm cho ra nhẽ. Rất thật tình. Đâu ra đó.

Và đây, một ý-lực! Vốn dĩ hiển-hiện từ câu hát tưởng chừng như vẩn vơ, chinh-chiến, chóng qua. Nhưng, đích-thực là tâm-huyết của giới văn-chương, văn-nghệ chỉ thích hát và hát. Hát, nhưng lời “vẩn vơ”/”vớ-vẩn”! Ai hiểu được thì tốt. Ai chậm hiểu hay không không hiểu, cũng không sao. Ý-lực ấy, nay như thế này:

“Bao giấc mơ giữa khung trời phiêu lãng,
Chờ mùa Xuân tươi sang,
những mùa thắm chưa sang
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây,
Chốn phương trời ấm lạnh
hòa chung mái nhà tranh.

Anh như ngàn gió,
hát ngược xuôi, theo đường mây,
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương,
Nước non còn đó một tấc lòng,
không mờ xóa cùng năm tháng,
nhớ ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên,

Khoác lên vòng hoa trắng,
cầm tay nhau đi anh
Tơ trời quá mong manh
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh,
giữa khung trời gió lộng,
nghìn sau tiếc nghìn xưa.”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)

Vâng. Đúng thế. “Anh như làn gió, hát ngược xuôi, theo đường mây…” Ôi! Toàn là những lời nhè nhẹ, bay bổng theo làn gió, “giữa khung trời phiêu-lãng…” Và những là: “Cầm tay nhau đi anh! Tơ trời quá mong-manh!”, “Vui đấu tranh”, “Nghìn sau tiếc nghìn xưa!”

Quả có thế. Nghìn sau/hôm nay, sẽ lại có người tiếc nghìn xưa sao không hát “Chị hỡi chị!” , “Chờ mùa Xuân tươi sáng”, “Những mùa thắm chưa sang!..” Ấy đấy, có hát hoặc có nêu lên những ý-lực đầy “phiếm” hôm nay, cũng chỉ để “phiếm” chuyện đời rồi sẽ “phiếm” cả chuyện Đạo, về những điều “lạo-xạo” đáng phiếm, rất hôm nay. Như chuyện nữ-phụ nhà Đạo nay được nâng nhấc lên bậc “Nữ-phó-tế”, như thông-tin vừa hé mở.

Thế nhưng, ở Đạo mình, vẫn thường có những đấng bậc rất-ư-là “Kỳ-đà cản mũi” cũng tiêu-cực không kém ai, qua luận-điệu sau đây:

“Ở thời đầu, Giáo-hội ta có nhiều phụ-nữ làm phó-tế, hoặc nói đúng hơn, nhiều Nữ thừa-tác-viên năng-nổ. Thế nhưng, các bà đây lại không là phó-tế theo nghĩa thời hiện-đại, tức quyền-năng hoặc chức thánh như Phó-tế đích-thực. Các bà vẫn chỉ mang tư-cách giáo-dân, mà thôi. Cũng nên biết rằng: theo tiếng Hy-Lạp, thì danh-xưng Phó-tế hoặc “diakonos” là ngôn-từ nói chung mang ý-nghĩa của người nâng-dỡ/giùm giúp hoặc tôi-tớ, chứ không nhất thiết bao-hàm việc nhận-lãnh chức thánh, nào hết.

Thánh Phaolô cũng nhắc đến các nữ thừa-tác-viên trong thư ông gửi giáo-đoàn Rôma, vào thời đó, như sau:

“Tôi xin giới thiệu với anh chị em đây, chị Phêbê, người chị em của chúng ta, là nữ-trợ-tá Hội-Thánh Kenkhơrê. Mong anh chị em tiếp đón chị trong Chúa cách xứng-đáng, như dân thánh đối-xử với nhau. Chị có việc gì cần đến anh chị em, xin anh chị em giúp đỡ, vì chính chị cũng đã bảo-trợ nhiều người, kể cả tôi nữa.”

Xem thế thì, cụm-từ “Nữ trợ-tá” dịch ở đây, vào thời đó, chỉ có nghĩa như người nữ chuyên phụ-giúp công-việc này khác, theo nghĩa rộng, mà thôi.

Kịp đến thế-kỷ thứ 3, nhiều xứ/nhiều vùng ở trời Đông, cũng thiết-lập hoặc ủy-thác chức Nữ-Phó-tế như thế để trợ-giúp các công việc như: bảo-ban/dạy dỗ hoặc thanh-tẩy phụ-nữ, thăm kẻ liệt là nữ-phụ cần tắm gội/chùi rửa thân mình hoặc trao ban Mình Thánh Chúa cho những người như thế. Vậy nên, các vị náy bèn thiết-lập một nhóm-hội/đoàn thể trong Giáo-hội như Hội Phụ-nữ chuyên-trách lo cho các bà góa. Ở một số chốn miền, các nữ-phụ gia-nhập nhóm/hội này đều trải qua nghi-thức có dính-dự động-tác đặt tay lên thân mình người cần đặt.

Các nữ-phó-tế như thế, không lĩnh-nhận chức thánh nào hết và hoàn toàn khác với linh-mục hoặc phó-tế thực-thụ theo nghĩa đã định ở tông-sắc Apostolic Constitutions ban hành vào năm 400 sau Công-nguyên...

Chức-năng, vai-trò và ý-nghĩa của nữ-phó-tế lại rất cao được tạo cho vai trò khác nhau tùy nơi tùy vùng. Riêng Hội thánh Ai Cập, Maronite và Slav khi trước tuyệt nhiên không thấy có vai-trò và sự hiện-hữu của chức sắc nào như thế. Và Hội thánh La-tinh ở 5 thế-kỷ đầu đời, cũng không thấy có chức-vị nữ-phó-tế nào như thế hết. Các khác-biệt này, cho thấy: ở các phần đất Giáo hội La-tinh không thấy có chức-năng nữ-phó-tế nào giống thế. Về ý-nghĩa cũng như vai-trò của chức này này, rõ ràng còn chứng-tỏ rằng không có bí-tích nào tạo cho vai-trò của các vị này, do bởi thần-học và kỷ-luật cần-thiết của các thánh-tích đều mang tính phổ-cập trên khắp miền đất của Giáo-hội Đạo Chúa.” (X. Lm John Flader, Why women won’t be deacons”, The Catholic Weekly Question Time 22/5/2016, tr. 8).    

Giả như ngài là đấng bậc thanh-thoát, phóng-thoáng như tác-giả cuốn “Mary Magdalene, her history and myths revealed” , rày đã bộc-lộ những điều như: “Vốn dĩ từng bị Giáo-hội Công-giáo La-Mã đẽo/gọt và tạo chân-dung như người tội-lỗi, Maria Magđalêna nay được hồi-phục chức-năng về vị-thế đáng kính-trọng tước-vị và năng-lực của Chị suốt thời Cổ Sử rất trang-trọng. Thậm chí, ngày hôm nay, rất nhiều đấng/bậc công-nhận Chị, là: vào buổi Đức Chúa sinh-thời, Chị từng là môn-đệ gần cần Đức Giêsu nhất hạng và là người được chỉ-định công-việc chuyển-tải thông-điệp của Ngài vào với thế-giới, cách đặc-biệt.” (X. Karen Ralls, Mary Magdalene, her history and myths revealed, Shelter Harbor Press 2013, bìa 4)

Và, đúng như nhận-định của vị Tổng Giám mục nọ khi bàn về tính-chất “tiêu-cực” mà nhiều đấng bậc trong Đạo vẫn coi người nữ-phụ là “nguồn-cội” của ác-thần/sự dữ, như sau:

“Ngang qua truyện ở vườn Địa-Đàng, hình-phạt đã được định rõ cho con người. Với Ađam, hình-phạt dành cho ông là phải “cạp đất: để kiếm sống. Qua nhân-vật Evà, từ nay mọi nữ-phụ sẽ phải kéo dài sự đau-khổ khi sinh đẻ. Riêng loài rắn, sẽ phải bò sát bụng trên mặt đất đến muôn đời. Và, mọi loài phải rời bỏ chốn Địa Đàng, không còn sống ở hoa vườn nữa.

Và cuối cùng, mọi loài cùng giòng dõi/cháu con của chúng được lập-trình đi vào cõi chết. Từ nay, sự chết trở-thành phận hèn của mọi loài. Tính phổ-cập của sự chết rày sẽ chứng-thực cho tính phổ-cập của lỗi/tội đầu thời nguyên-tổ đem chết chóc đến với thế-giới của Thiên-Chúa. Lỗi/tội ban đầu ấy được coi như bản-chất con người làm sa-đoạ mọi nhân-thân khiến cuộc sống con người không còn khả-năng tái-lập quan-hệ mật-thiết với Thiên-Chúa, được nữa.

Câu truyện về “Địa-đàng Trần-gian” này, đã đi vào lịch-sử nguyên-thủy từng làm, tức bảo rằng: lý do khiến ác-thần/sự dữ và cái chết là những dấu-hiệu hằn in lên nhân-loại là sự bất-tuân của phụ nữ. Tông-đồ Phaolô chắc-chắn đã đóng góp vào định-nghĩa nói ở trên.

Cả đến bậc hiền-nhân quân-tử tử như đấng thánh Âu-Tinh vốn dĩ từng là Giám-mục thành Hippo cũng làm thế vào thế-kỷ thứ 5. Ngài làm thế, đến độ trở-thành “đá tảng” cho tư-duy của mình. Và qua ngài, lại được trù-định để thống-trị tư-tưởng của mọi Kitô-hữu suốt ngàn năm có lẻ. Mãi đến hôm nay, lối đối-xử một cách tiêu-cực với phụ-nữ và giới-tính đã trở-thành đặc-trưng lớn, nếu không muốn gọi là hùng-vĩ, trong cuộc sống đạo-đức của con người.

Cả một hệ-thống rộng lớn về thần-học vẫn dựng-xây trên cốt truyện được kể lại như thế. Ta vẫn có thói-quen qui-chiếu phụ-nữ với cái-gọi-là con quỉ dữ cám-dỗ đám đàn ông thanh-tao, lịch-lãm. Phụ-nữ vẫn được gọi là “trái cấm không nên đụng tới”, là thứ mà thân-xác đàn ông vẫn thèm thuồng. Nữ-phụ lâu nay vẫn được định-nghĩa như con người đồi-bại, như kẻ gây ô-uế phá-hủy sự lành-thánh của nhân-loại. Các bà còn bị phiền-trách như người làm cho phái nam ra bất-lực.

Do bởi câu truyện lỗi/tội đầu đời này mà tính lành-thánh nơi văn-minh Âu-Tây bị liên-lụy, luôn tìm cách tránh né phụ-nữ, và đi đến tình-trạng vô-giới-tính. Lòng trung-trinh nơi phụ-nữ và tình-trạng độc thân/sống một mình nơi nam-nhân được coi như cung-cách cao-sang hơn. Ngay đến hôn-nhân, cũng được coi là một nhượng-bộ tội/lỗi, như ta thấy trước đây, như chọn-lựa ban đầu dành cho người yếu kém, mềm dịu.

Thánh Giêrônimô khi xưa là người dịch Kinh thánh khá xuyên-suốt, nhưng ông sẽ được nhớ nhiều do bởi trường-hợp ông cũng đã rơi vào tình-trạng bế-tắc trong lúc dịch-thuật, nhất thứ là khi ông nhận thấy rằng hôn-nhân chỉ mang tính cứu-độ là khi “sản-sinh ra quá nhiều trinh-nữ”. Tuyên-bố này đã khiến tôi phải nhắm mắt làm ngơ đâm nghi-ngờ tài dịch kinh-thánh của nhiều học-giả.     

Xem như thế, thì phụ-nữ quả thật từng là sự dữ/ác thần đến tận xương-tủy. Và, đó cũng là thông-điệp của Đạo Chúa và điều đặc-biệt là sự/việc ấy lại xây-dựng trên câu truyện của Evà.” (X. TGm John Shelby Spong, The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers, 2005 tr. 91)

Nói gì thì nói, chừng như nhiều vị đi Đạo quên rằng Kinh-thánh Cựu-Ước cũng từng tuyên-dương đặc-tính khôn ngoan/tốt-đẹp của phụ nữ trong câu nói nổi bật ở sách Châm-ngôn sau đây:

“Tìm đâu ra một người vợ đảm đang?
Nàng quý giá vượt xa châu ngọc.
 Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng,
chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc.
Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc
chứ không gây tai hoạ cho chồng.
Nàng tìm kiếm len và vải gai,
rồi vui vẻ ra tay làm việc.
Giống như những thương thuyền,
nàng đem lương thực về từ tận phương xa.
Nàng thức dậy khi trời còn tối,
cung cấp phần ăn cho cả nhà,
và sai bảo con ăn đứa ở.
Nàng để mắt đến một thửa ruộng và tậu lấy;
nàng dùng huê-lợi đôi tay mình làm ra
mà canh tác một vườn nho.
Nàng thắt lưng cho chặt,
luyện cánh tay cho mạnh-mẽ dẻo-dai.
Nàng thấy công việc sinh nhiều lợi nhuận,
đèn trong nhà thắp sáng thâu đêm.
Nàng tra tay vào guồng kéo sợi,
và cầm chắc suốt chỉ trong tay.
Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ
và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.
Nàng không sợ người nhà bị lạnh vì tuyết sương,
bởi cả nhà đều được mặc hai áo.
Nàng tự tay làm lấy chăn mền,
nàng mặc toàn vải gai, vải tía.
Chồng nàng được tiếng thơm nơi cổng thành
khi ngồi chung với hàng kỳ-mục trong dân.
Nàng dệt vải đem bán,
cung cấp dây lưng cho nhà buôn.
Trang-phục của nàng là quyền-uy danh-giá,
nàng mỉm cười khi nghĩ đến tương-lai.
Nàng khôn ngoan trong lời ăn tiếng nói
và dịu-hiền khi dạy-dỗ bảo-ban.
Nàng để mắt trông nom mọi việc trong nhà,
bánh nàng ăn là do mồ hôi nước mắt nàng làm ra,
con nàng đứng lên ca-tụng nàng có phúc,
chồng nàng cũng tấm-tắc ngợi-khen :
"Có nhiều cô đảm-đang,
nhưng em còn trổi-trang gấp bội."
Duyên-dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân.
Người phụ nữ kính sợ Đức Chúa
mới đáng cho người đời ca tụng.
Hãy để cho nàng hưởng những thành-quả tay nàng làm ra.
Ước chi nơi cổng thành nàng luôn được tán dương ca tụng
do những việc nàng làm.”
(Châm ngôn 31: 10-31)

Nhận-định của nhà Đạo từ ngàn xưa là như thế. Như thế, cũng không có nghĩa là sự thể vẫn cứ thế đối với mọi người ở Đạo Chúa đến bây giờ. Chí ít, là các đấng bậc vị vọng trong Giáo Hội Công-giáo La Mã.

Thế nên, Đức Phanxicô nay ngỏ ý muốn thiết-lập một Ủy-ban Giáo-hoàng chuyên nghiên-cứu tái-lập chức-năng/vai-trò của Nữ Phó-Tế xưa, chửa biết chừng. Có thể, là: các vị ấy sẽ là Thừa-tác-viên nữ năng-nổ như Thánh-Nữ Maria Magđalêna, là cộng-sự-viên thân-cận với Đức Giêsu. Cũng có thể, các vị đây sẽ được phong-chức Phó-tế vĩnh-viễn, cũng rất hay. Dưới ánh mặt trời này, chẳng có gì là không-thể-và-có-thể, hết.

Hãy cứ đợi chờ, để rồi sẽ xem sự việc diễn-tiến theo cách nào. Trong khi chờ và đợi việc Giáo-hội mình trả lại chức-năng/danh-dự lẽ đáng phải có từ hệ-cấp thần-quyền Vatican, tưởng cũng nên quay về với vườn hoa truyện kể, để xem người ngoài Đạo nghĩ gì và nói gì các nữ-phụ ở trần-gian lan-man, đôi lời rằng:    
     
“Trong một chiều đi dạo quanh công-viên, ông Jones tình cờ gặp gỡ và có cuộc trò chuyện vô cùng ăn ý với một bà lão. 

Chỉ sau 15 phút, cả hai phát hiện ra họ có rất nhiều điểm chung về tuổi tác, khu vực sinh sống, sở thích, và đều đang độc thân. Đến khi trời sụp tối, ông Jones nhìn bà lão thật lâu và nhẹ nhàng nói:
-Marcia, thú thật từ trước đến nay tôi chưa bao giờ gặp được người nào hợp với mình như bà vậy. Tôi có thể mạo muội hỏi bà hai câu hỏi rất quan trọng này không?

Bà lão nghe thế cảm-động đáp:
-Dĩ nhiên là được rồi! Ông đã cho tôi một khoảng thời gian thật sự rất thoải mái.
-Tôi thấy chúng ta vô cùng hợp nhau, vậy liệu bà có đồng ý dọn về sống chung với tôi suốt quãng đời còn lại không? - Ông Jones khẽ cầm tay Marcia khẩn thiết nói.
Bà lão thẹn thùng gật đầu rồi hỏi:
-Thế còn câu hỏi quan trọng thứ hai là gì?
Ông Jones liền thở phào nhẹ nhõm, từ tốn nói tiếp:
-À, chẳng qua là bây giờ bà đỡ tôi đứng dậy được không? Tôi ngồi lâu quá không đứng dậy được nữa rồi!” (Truyện kể gặp thấy tràn lan trên trang mạng, rất vi-tính)

Nói gì thì nói, khi đến lúc và đã đến thời, người người, nhất thứ là nam-nhân, lại sẽ tâm-sự rất thật với nữ-phụ nọ, dù chưa quen biết nhiều, để đòi một sự hỗ-trợ cần-thiết như bao giờ, trong đời.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta lại sẽ hiên-ngang hát lên những ca-từ dù rất buồn để thấy rằng: khi có người đến thăm, dù là chiến-hữu hoặc thần dân thôi, ai cũng vẫn nhận ra rằng:

“Bao giấc mơ giữa khung trời phiêu lãng,
Chờ mùa Xuân tươi sang,
những mùa thắm chưa sang
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây,
Chốn phương trời ấm lạnh
hòa chung mái nhà tranh.

Anh như ngàn gió,
hát ngược xuôi, theo đường mây,
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương,
Nước non còn đó một tấc lòng,
không mờ xóa cùng năm tháng,
nhớ ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên,

Khoác lên vòng hoa trắng,
cầm tay nhau đi anh
Tơ trời quá mong manh
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh,
giữa khung trời gió lộng,
nghìn sau tiếc nghìn xưa.”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)


Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn muốn hát lên
Những lời nhẹ nhàng như thế,
Rất triền-miên
ở đời người.