Saturday, 25 October 2014

“Này đây, bước chân xin tìm đến người,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 31 mùa Thường niên năm A 03-11-2014

“Này đây, bước chân xin tìm đến người,”
“Này đây, cánh tay xin chào đón người,
Này đây, cỏ cây xanh gợn ý tình,
Này đây, gió mây nghe hồn tái sinh”.
(Nhạc ngoại quốc – Lời Việt: Nguyễn Trung Cang)
(2Cor 1: 3-5)
            “Tìm đến người”, bằng bước chân hôm trước vẫn như thế. Thế còn, bước chân hôm nay thì sao? Có ai còn hát câu: Này đây, cỏ cây xanh gợn ý-tình”, “Gió mây nghe hồn tái sinh” nữa hay không”?
            Ngày nay mà lại hát những lời như thế, kể ra thì cũng khó. Khó, không chỉ ở mỗi câu trả lời mà thôi. Nhưng, còn ở cả ca-từ những nào “này đây” rồi lại “này hỡi” rất sau đây:

            Này đây, cánh hoa xin dâng đến người,
Đời như, nở hoa trong vạn tiếng cười.
Ầm vang suối reo như dậy núi rừng,
Bầy chim hót ca theo từng bước chân.
Này hỡi, trái chín thơm ngọt quá,
Này hỡi, những đóa hoa rực lá.
Này hỡi, suối mát chim rừng ca.
Hãy lắng nghe tình ta yêu nhau không rời xa!”
(Lời Việt: Nguyễn Trung Cang – bđd)

Có hát hay có chào, thì bao giờ mà chả như thế! Như thế, là bảo: hát hò gì, mà sao toàn hát những tình-tự rất hay ho, có thi-ca và âm-nhạc rất thực tế. Thế nhưng, thực tế ở đời, ít khi nào lại thấy xảy ra cuộc đời những “sống thực” nơi bạn và tôi, có khi chỉ thấy những truyện kể khá hi-hữu, vốn tức cười, mà thôi. Và đôi khi, vừa tức lại vừa cười như truyện tiếu lâm ngắn ở bên dưới:

“Truyện rằng:
Ngày xưa, có hai vợ chồng rất yêu-đương, hẹn hò nên họ bảo nhau lên chiếc tàu có tên là “Titanic” mà thưởng ngoạn cuộc du-lịch có một không hai trên đời. Tàu đi chưa đuợc bao xa, đã bị đắm. Cũng may là phần số của người vợ hôm ấy vẫn còn hên, nên bà được người ta đem xuồng cứu-hộ đưa vào một hoang đảo nhỏ ở cực Bắc. Liền khi ấy, ông chồng bà cũng vớ được tấm ván nhỏ, đã vật lộn với sóng biển suốt ngày trời, cuối cùng rồi cũng đến được bờ đại dương, ngay ngày hôm sau. Thoạt trông thấy mặt mũi ông chồng mình, bà vợ nọ bèn rít lên những âm thanh nghe qua ai cũng sợ, huống chi là ông chồng đang còn chết khiếp vì nhiều thứ:
-Suốt từ hôm qua đến nay, anh ở nơi nào mà chẳng thấy mặt mũi tăm hơi gì hết thế? Tàu đắm hôm qua, chứ có đắm hôm nay đâu mà lúc nào cũng trễ tràng? Anh mà không thật lòng khai báo, thì cứ biết đấy!...”

Vâng đúng thế. Anh mà không kể ra, thì có ma nào biết đâu, giời ạ. Thôi thì, giời hay đất ở hoàn cảnh này, cũng đều sợ vía “bà” hết mà thôi! Hình như câu của mấy ông chồng thuộc hội “sơ vơ nặng vợ” cũng đành nghe quen, thì phải?   
Vâng, đúng là như vậy. Nhưng ai từng sống đời vợ/chồng ở trời Tây hay bên Tàu, đều ít nhiều trải-nghiệm từng lai rai từa tựa như thế. Như thế, tức: cũng hệt như ở quê nhà khá là “nhà quê”, thì… bần đạo đây xin giơ 2 tay lên trời mà chào thua, thôi. Bởi, đã hơn hai thập-niên rồi, bần đạo đây vẫn là “người xa quê chưa một lần trở về”, nên chẳng biết gì về tình-hình vợ/chồng, chồng/vợ sống bên nhau ở quê nhà, ra sao hết.
Ở bên này, bần đạo chỉ biết có mỗi điều, là: nhà Đạo mình vẫn còn đó những chuyện và những lời khuyên để đời, hầu giúp mọi người sống “tốt Đạo/đẹp đời” cho phải lẽ. Nghĩ thế rồi, bần đạo xin vào ngay đề-tài chính-yếu, theo kiểu “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Mà, “miếng trầu đây hôm nay, là truyện kể để dẫn nhập cho bài phiếm lòng thòng khá cũng khô, ngõ hầu có dịp thanh minh với bạn mình, như sau:

“Vào thế kỷ đầu của Đạo Chúa, nhiều người có quan-niệm là: một khi đã đi tu rồi, thì ai cũng phải sống lánh xa các sinh-hoạt ở thế-gian, hoặc vào chốn sa-mạc mà hãm mình và chịu mọi khắc khổ, để nên thánh.

Nhân dịp Tuần Thánh năm ấy, cha Bề Trên Dòng khổ-tu dẫn các thày dòng của mình vào chốn sa-mạc, hoang-dã để ăn chay, hãm mình mà chuộc tội (?). Nhằm giúp các thày cầu nguyện cho dễ, nên mỗi thày ở một chòi riêng biệt, không ai tiếp xúc với ai hết. Vào khoảng giữa tuần, một vài thày ở tu-viện khác ghé vào chòi riêng của Cha Bề Trên để thăm ngài. Thấy các thày này đói bụng, cha Bề Trên nấu cho họ chút đồ ăn và cũng vì lịch sự, ngài cũng dùng đôi chút với họ. Các thày khác thấy khói bốc lên từ chòi của cha Bề Trên, nên đoán được là Bề trên của mình đã “phá chay”, bèn đến chất vấn. Thấy các thày đến, cha Bề Trên bước ra hỏi:
-Tôi đã sơ xuất phạm phải lỗi lầm gì mà các thày nhìn tôi bằng cái nhìn có vẻ xét-đoán thế?” Các vị bèn trả lời:
-Thưa cha, hôm nay cha đã vi-phạm luật chay kiêng mà tất cả chúng ta đã tình-nguyện tuân-giữ vì yêu mến Đức Kitô, Đấng đã chịu muôn vàn đau khổ vì lỗi phạm của chúng ta…
Cha Bề Trên từ tốn nhìn các thày bằng ánh nhìn thông-cảm rồi ôn-tồn bảo:
-Đúng thế. Cha đã phạm luật giữ chay, hôm nay. Duy có điều, là: hôm nay, Cha chỉ mỗi không giữ luật do con người đặt ra khi san sẻ thức ăn với mấy thày ở nhà khác đến thăm mình. Nhưng, cha vẫn nhận ra là mình đã sống luật của Chúa dạy. Thế, các thày không nghĩ là Đức Giêsu cũng từng làm như vậy sao? Thật ra thì, các thày lại đã xé Tin Mừng Chúa dạy thành hai mảnh riêng biệt. Các thày có nhớ Lời Chúa dạy là: trong 10 giới lệnh, chỉ có hai điều quan-trọng, chứ không chỉ một mà thôi, sao? Đúng là ta phải yêu mến Chúa hết lòng hết trí khôn, và yêu tha-nhân như chính mình. Chúng ta không vào sa-mạc để trốn-tránh lời thị-phi hoặc để sống một mình với Chúa; nhưng, để tìm kiếm tha-nhân và yêu-thương họ trong Chúa…” (truyện tích do Lm Mai Văn Thịnh CSsR kể trong bài: Nối Kết Lề-Luật, www.giadinhanphong.blogspot.com 21/8/2010)

Xem thế thì, sống đạo trong đời dù sống cùng/sống chung với người đồng Đạo hay đồng môn/đồng thuyền, người người vẫn luôn gặp nhiều cảnh-tình có những phê-bình hoặc phản-đối. Hệt như câu truyện để minh-hoạ, rất ở trên.
Sống đúng vai-trò người đi Đạo và giữ Đạo của Chúa, lắm lúc thấy đôi điều cũng khó khăn, căng thẳng, nhiều chỉ-trích. Hệt như nhận-định của vị thức-giả nọ ở Úc có tên là Ts Kevin Donnelly, từng viết trên tuần báo Đạo, hôm đó, như sau:

“Thời buổi hôm nay, không là thời-khắc tốt để ta chứng-tỏ mình là người đi Đạo, chí ít là Công-giáo. Bạn cứ mở nhật-báo ở Úc ra mà xem sẽ thấy các tờ: The Age, The Sydney Morning Herald hoặc mở đài ABC của Úc ra mà nghe, sẽ thấy nhiều tác-giả trong đó có Irfan Yusuf cứ viết dài dài những đoản-khúc phê-bình người đi Đạo, thấy rất rõ.

Thêm vào đó, có cô nọ tên là Wendy Squires lại cứ tung lên nhật-báo The Age ở Melbourne, các bài chua cay/châm-chích cốt vận-động quần-chúng làm phai mờ tinh-thần của Đạo-giáo và xói mòn dần niềm tin của 61% người Úc vẫn tự coi mình là Kitô-hữu.

Những người như tác-giả Wendy Squires lại quên bẵng đi rằng: một trong các hòn đá tảng làm cơ-sở cho nền văn-hoá và xã-hội Úc…

Ngay cả khi tác-giả đây phê-bình về phẩm-chất đạo-đức của hàng ngũ linh-mục trong các vụ xâm-phạm tình-dục trẻ thơ không có nghĩa bảo rằng: Đạo Chúa không có giá-trị tốt-đẹp, hoặc cứ lên án chúng ta là đã quay lưng mà kình-chống Chúa.

Bản thân tôi, từng lớn lên từ giai-cấp lao-động, sống tại khu gia-cư chính-phủ cấp ở vùng Broadmeadows, Sydney; có cha là đảng-viên Cộng-sản Úc và mẹ là người Công giáo, tôi vẫn cùng mẹ đều đều tham-dự thánh-lễ ngày Chúa nhật và vẫn thường tham-gia phong-trào Giới trẻ gọi là Eureka vào các  ngày Thứ Ba trong tuần. Cha mẹ tôi vẫn dạy dỗ con cái ngay từ buổi đầu về ký-giả chống Cộng B.A Santamaria cũng như lực-lượng rất có uy-tín và từng tạo nhiều ảnh-hưởng trong xã-hội suốt thể-kỷ 20 vừa qua, ở đây.

Cha tôi dạy cho con mình biết đôi chút về lập-trường xã-hội chuyên phân-phát lợi-nhuận tùy nhu-cầu của mỗi người. Còn mẹ tôi, lại dạy cho con mình biết lần hạt Mân Côi và đi đàng Thánh giá. Là người Công-giáo, tôi còn được dạy cho biết mình có lương-tâm chân-chính và ý-chí tự-do được Chúa ban cho để biết rằng: đời người gồm thiện/ác hai mặt rất phân-minh và cuộc sống ở thế-trần chưa hẳn đã là trọn-hảo rằng: phần tâm-linh cùng việc thăng-tiến bản-chất con người đều có tầm quan-trọng ngang bằng nhau vượt lên trên phần thể-lý/xác-phàm; bởi thế nên, cũng vẫn cần đến thế-giới và công cuộc vận-động thăng-tiến con người.

Hồi còn nhỏ, tôi vẫn được nghe kể về các dụ-ngôn đọc ở Tin Mừng và Lời Chúa nói ở KInh-thánh. Và, cho đến nay, những điều như thế vẫn còn vang vọng nói lên việc thiết-yếu đáng kể về bản-chất con người. Và, các câu truyện khác tôi còn được giảng giải rất kỹ từ thời ấu-thơ, đến nay vẫn tác-động lên tuổi đời của tôi nên khác với nhiều người, trái lại, chỉ đeo đuổi chuyện vật-chất, bạc tiền.

Lên bậc đại-học, tôi lại đeo đuổi chuyên-ngành văn-chương/chữ-nghĩa ở phương Tây, cùng với âm-nhạc nghệ-thuật. Các tác-phẩm về âm-nhạc cổ-điển nghe từ nhạc-sĩ phong-hồ-cầm tài danh là John Sebastian Bach như bản Thánh Lễ Cung Mi Thứ được trình-tấu nhiều lần tại trung-tâm thính-nhạc Melbourne vừa qua đã nhấn mạnh nhiều lên sự thể là Đạo Chúa của ta cũng đã gây ảnh-huởng đậm-sâu lên nền âm-nhạc đến độ nó đã là thành-phần nền-tảng của nền văn-hoá Tây Phương.

Nói một cách thực-tế hơn, nền luân-lý đạo-đức và niềm tin Kitô-giáo còn là động-lực chính-yếu từng gây ảnh-hưởng lên các sinh-hoạt bác-ái/từ-thiện qua các tổ-chức nổi danh như Salvation Army, The Brotherhood of St Lawrence và cơ-quan Caritas Úc Châu, vv…

Ngoài ra, ngày nay, chẳng còn ai nghi ngờ gì nữa, khi nghĩ là: hệ-thống bệnh-viện và giáo-dục có lẽ sẽ sụp đổ, ít ra là đối với người Công-giáo ở Úc, nơi có đến 20% học sinh, sinh viên nguời Úc cũng như những người từng đóng thuế cho chính-phủ đã tiết-kiệm cả tỷ đô cho đất nước này, vì đám học-trò tư-thục ấy đã giúp chính-phủ bớt đi được mối lo phải tài trợ khoản tiền này, nếu nền giáo dục Kitô-giáo không tồn-tại như trước.

Vốn là một người cha từng bị mất đi đứa con trai yêu quí trong vụ việc tài xế nào đó chạy xe đụng chết rồi bỏ chạy, nhiều lần tôi cũng trải-nghiệm nỗi đớn đau, sầu khổ về sự mất mát này khác và cũng ưu-tư lo ngại cho Đạo mình. Nhưng tôi vẫn tin rằng Đạo của chúng ta luôn được ban tặng sự an-bình cùng mọi hiểu-biết, vẫn tạo cho ta có dịp giúp-đỡ người buồn phiền và khổ đau mang hy vọng nhiều vào mai ngày.                  

Như tác-giả Julian Norwich từng đoan-quyết: “Vào những lúc cảm thấy tối-mù đầy tuyệt-vọng, ta vẫn còn cơ-hội tìm lại được sự ủi-an, yên lòng để thắng vượt.” Đúng thế tuy cuộc chiến phấn đấu chưa toàn-thắng và hành-trình cuộc đời chưa hoàn-tất, nhưng ta vẫn biết rằng ánh sáng ở cuối đường hầm cuộc vẫn còn loé sáng. Ánh sáng của hy-vọng vẫn là nguồn gốc cho cuộc đời mình, chí ít là cuộc đời của người đi Đạo. Thế nên, hãy vững lòng mà sống đúng vị-thế của Kitô-hữu, bởi dù có thế nào ta cũng không tránh được mọi khổ đau/buồn sầu dồn đến với mình. Đời người vẫn có những mặt đen tối và theo chủ-thuyết hiện-thực, thì ta vẫn bị thúc-bách giáp mặt với thực-tại. Và cũng một chủ-thuyết như thế lại vẫn luôn vực đỡ để ta tin tưởng vào ánh sáng, vào cả cuộc sống và tình thương-yêu trong đó ta luôn đuợc ôm ấp,  đùm bọc và bảo quản trước mọi phê-bình, chỉ trích bất kể nó từ đâu tuôn đến.” (xem Kevin Donnelly, Ignore the critics. Be a Christian, The Catholic Weekly 14/9/2014 tr. 19)

Thế đó, là: quyết tâm trong nhận-định có từ người nhà Đạo. Còn đây, lại là ca-từ của bạn bè từ muôn nơi gửi đến thêm câu hát, nhưng rằng:         

“Từ đây có nhau trên vạn nẻo đời
Cầm tay dắt nhau đi trọn kiếp người
Và ta sẽ chia yêu thương khắp trời
Tình yêu chúng ta lan rộng khắp nơi!”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

“Có nhau trên vạn nẻo đời”, và “Ta sẽ chia yêu thương khắp trời”, để rồi: “Tình yêu chúng ta lan rộng khắp nơi!” Quả thật cũng giống như ý-tưởng của phần lớn các bài giảng ta nghe mãi ở nhà thờ. Nhưng, hỏi rằng: ta có áp-dụng tinh-thần và đuờng-lối giáo-dục có từ Đạo Chúa hay không? Đó mới là vấn đề.
Vấn-đề ở đây, hôm nay còn là hỏi rằng: để thực hiện những điều mình từng nghe giảng giải và học-hỏi từ trường/lớp rất Đạo Chúa, tự nơi ta phải có được đặc-tính nào hầu làm được như thế?
Trong tinh-thần “học thày không tày học bạn” về sự đời, bần đạo đây cũng từng được nghe người anh em linh mục cùng Dòng, đã san sẻ các ý-tưởng có được từ các bậc thày, nay trích thêm để bà con mình suy nghĩ:

“Những năm tháng trở về trước, hệ thống truyền-hình-giây-cáp-có-tính-tiền ở Úc đã cho trình-chiếu một đoạn phim tài-liệu rất có nghĩa. Đoạn phim này, quay lại cảnh một chiếc xe tải chở đầy tiền bị đâm vào cột điện, ở bên đường. Do chạm mạnh, cánh cửa xe bên trái bị bật tung và người ta thấy rất nhiều đồng đô-la tiền giấy rớt xuống, vãi tung toé ngay cạnh đường. Lập tức lúc đó, có người đàn ông nọ đang tàn tàn đi dạo mát, hay chạy bộ thấy thế bèn đứng lại. Nhưng, thay vì chạy về phía ca-bin xem bác tài bị nạn nguy-cơ đến độ nào, thì ông ta chỉ lo vơ vét số tiền vãi tung, nhét đầy bụng và túi rồi thản-nhiên đi tiếp quãng đường còn lại, làm như không nhận biết chuyện gì xảy ra, lúc ấy. Dĩ nhiên, vì là phim tuởng tượng, nên trên đoạn đường hôm ấy chẳng thấy ai khác, ngoài người quay phim mà thôi…

Chương-trình truyền-hình nói trên là đoạn phim mang tính-chất giáo-dục người xem. Số đô-la tiền mặt mà khách bộ-hành kia vơ-vét/nhặt nhạnh chỉ là tiền giả do nhà sản-xuất cốt đề ra để người xem truyền-hình tự đặt cho mình câu hỏi về đạo-đức, như vẫn bảo: “Trong tình-huống đánh động như thế, người trong cuộc sẽ hành-xử ra sao cho phải lẽ? Có thể người xem, mỗi người một ý. Có người đồng ý với khách bộ-hành bàng quan cứ lý-sự: “Tiền rơi rớt bên đường là tiền vô chủ, ta không nhặt nhạnh thì người khác cũng nhặt thôi.” Có thể có khán-giả khôn-ngoan hơn, lại sẽ cho rằng: ở vào tình-huống như thế, thái-độ phải lẽ và thích-hợp nhất của người nhìn thấy tai-nạn, là: chạy đến xem người tài-xế có bị sứt mẻ gì không; nếu có, lại sẽ gọi điện cho cảnh-sát và/hoặc xe cứu-thương để kịp cứu-chữa.” (x. Lm Mai Văn Thịnh, Sống Khôn là Sống thật, www.giadinhanphong.blogspot.com ngày 24/8/2010)

Như Ts Kevin Donnelly ở trên bình-luận về ảnh-hưởng của văn-hoá/giáo-dục từ Đạo Chúa, người đi Đạo như bạn và tôi, không chừng chính chúng ta cũng từng trải-nghiệm nhiều tình-huống giống như thế. Vấn-đề lại đặt ra, là: ta có hành-xử đúng tinh-thần Tin Mừng không? Hoặc, vẫn “giữ đạo như máy” giống nhiều thập-niên trước: chỉ biết đọc kinh, đi nhà thờ, hoặc cũng chay kiêng, xưng tội, đền tội mà chẳng lý gì đến người khác đang sống ra sao, hết?
Chủ-đề phiếm hôm nay, không để hỏi: ta có sợ bị người khác phê-bình/chỉ trích về lối sống Đạo của mình, không? Mà là, ta quan-tâm cỡ nào, về lời dạy từ Tin Mừng của Chúa. Hỏi đây, tức: cũng tự trả lời phần nào rồi.
Vấn-đề còn lại, là: cứ rút tỉa lời vàng từ đấng bậc hiền từ ở nhà Đạo, để suy-tư như sau:

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô,
Chúa chúng ta.
Ngài là Cha giàu lòng từ-bi lân-ái,
và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an.
Ngài luôn nâng-đỡ ủi-an chúng ta
trong mọi cơn gian nan thử thách,
để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ,
chính chúng ta cũng biết an ủi
những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.
Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô,
thì nhờ Ngài,
chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi”.
(2Cor 1: 3-5)

Suy-tư thế rồi, có lẽ cũng nên làm nhẹ câu chuyện phiếm ở đây, hôm nay, bằng một truyện kể ghi-chú đầy trên trang mạng. Hôm nay đây, cũng nên trích dẫn thêm một truyện dân-gian thường nghe ở đâu đó, có ký tên như sau:

Cuối tháng này là sinh nhật cháu tôi. Đứa cháu trai duy nhất trong gia đình. Đứa cháu nội mà tôi thương nhất. Chẳng phải tôi thiên vị vì nó là con trai hay là vì nó là cháu nội. Mà vì nó ở quá xa. Nó lớn lên từng ngày không có tôi bên cạnh. Nhiều khi nhớ quá muốn ôm nó vào lòng mà hai tay trống rỗng. Muốn đi thăm nó thì ông chồng già chẳng biết bỏ cho ai. Thằng con trai cứ năn nỉ, “Má ơi! Qua đây một chuyến. Con sẽ đem má đi khắp Âu Châu cho biết với người ta.” Tôi cười cầu tài nói cho con yên lòng. Nhìn ông chồng đau yếu mà thương. Thôi đành thúc thủ.
Tôi đã có viết một bài về “Hai Ông Cháu” khi cháu tôi mới vài tháng tuổi. Bây giờ còn một tuần nữa cháu tôi sinh nhật lần thứ hai.
Tôi nhìn chồng mình càng ngày càng yếu để thấy sự đào thải của thời gian và thân phận của kiếp con người.
Ngày xưa, lúc cháu được vài tháng tuổi, mỗi lần đi đâu con dâu đem một giỏ tã, sữa cho con, còn bà nội cũng lè kè một túi cho chồng. Mỗi khi cần vào phòng vệ sinh thay tã, bà nội lại nhờ con dâu xem chừng phòng nữ có vắng hay không rồi đem chồng vào làm vệ sinh. Xong xuôi cháu cũng sạch mà ông cũng sạch.
Bây giờ cháu đã bỏ tã, nó mặc quần lót đàng hoàng. Lần đầu tiên bỏ tã, trên
webcam con trai bảo nó kéo quần xuống cho nội xem. Nó mừng rỡ chỉ cái quần lót hình Superman bí bô khoe. Bà nội chẳng hiểu cháu nói gì, chỉ cười cười. Thương quá đổi!
Còn ông nội, ngày xưa chỉ mang tã lúc đi đâu hay những lúc cần. Bây giờ ông phải mang tã cả ngày vì ông cũng không biết lúc nào mình cần giải quyết. Những ngày quan trọng cần thiết, bà nội mang khẩu trang, đeo găng tay làm y tá giải quyết những cục nợ đời hôi tanh mà ông không có sức rặn ra. Những ngày đó tã thay không biết bao nhiêu cái.
Bây giờ cháu đã biết đâu là phòng vệ sinh để vào, còn ông thì phòng vệ sinh ngay trước mặt cũng không biết mà vô, bà nội nắm tay ông lôi vào và làm từ A tới Z.
Cháu bây giờ đã biết bắt ghế đứng lên tự đánh răng. Còn ông nội thì bà nội phải đưa ly vào miệng cho ông từng ngụm nước. Bỏ kem vào bàn chải và giúp ông đánh răng. Xong lau mặt, lau tay đưa ông ra khỏi phòng.
Kết luận bây giờ, hai năm sau cháu đã vượt qua mặt ông cái vù về phương diện vệ sinh cá nhân.
Vấn đề ăn thì sao? Cháu bây giờ đã biết ngồi ăn chững chạc dù mẹ phải đút, bởi không đút là cháu ham chơi ăn không no. Cháu tự múc ăn khi nào đó là ăn chơi hay cháu thật đói. Còn ông thì bây giờ hoàn toàn không chủ động. Đút gì ông ăn đó, ăn xong thỉnh thoảng càm ràm bà nội, “Sao từ qua tới nay không cho tui ăn.”
Cháu bây giờ rất gọn gàng không cần khăn, còn ông nội thì phải một cái khăn lót ở dưới để hứng thức ăn rơi. Một cái khăn nhỏ ở trên để lau miệng.
Do đó về phương diện ăn uống cháu tiến bộ hơn ông. Ngày xưa cháu đi tắm phải có cái thau riêng, cháu nằm trong đó cho mẹ kỳ cọ. Bây giờ cháu có thể đứng trong bathtub cho cha, mẹ thoa xà bông và xịt nước ấm. Còn ông nội giờ này cũng tệ như xưa. Càng tệ hơn sau khi xong xuôi, bà nội bảo giơ chân lên để mặc tã, ông cũng đứng im. Những giọt nước miếng cứ nhểu lòng thòng rơi trên đầu bà nội. Khi bà vỗ vỗ vào chân ông, nói, “Chân này nè ông, giơ chân lên!” thì ông mới giơ chân lên. Có hôm ông giật mình kéo mạnh chân tống vào càm bà nội bầm một cục.
Ờ mà còn cái vụ nhểu nữa chứ. Cháu bi giờ ngon lành hơn ông nhiều. Cháu hết nhểu, đẹp trai ra, biết nhận diện đâu là mắt, mũi, miệng. Còn ông nội thì càng ngày tốc độ nhểu càng trầm trọng. Không có thuốc men hay phương pháp gì chận lại. Bà nội dùng kim gút gài một cái khăn bên áo để bà nội chùi cho ông để khỏi chạy đi tìm. Ông không thích cái khăn lòng thòng nên giựt tét cả áo, đứt kim băng. Bà nội phải mặc ngoài một cái áo che lại. Khi cần bà lôi khăn ra lau, xong nhét lại. Thế nhưng nước miếng ông vẫn nhểu dài theo nền nhà theo mỗi bước chân đi. Bà nội lúc nào cũng chuẩn bị khăn lau nhà. Thỉnh thoảng bà lại đạp khăn dưới chân xóa đi dấu vết cho đỡ trơn trợt và cũng để mấy đứa cháu ngoại khỏi gớm.
Cháu nội hôm nay đã có bạn, biết các trò chơi và tung tăng như chim sáo. Còn ông thì càng ngày càng quên, càng lẩm cẩm. Mỗi khi đi đâu bà nội nắm tay ông tình tứ như một cặp tình nhân. Nhưng thực ra là giữ ông cho khỏi đi lạc. Ông rất thích tự do. Ờ mà tự do ai không thích. Nhưng tự do trong trật tự. Thế nhưng ông nội nào biết trật tự là gì. Buông tay ông ra là ông đi, không cần biết điểm đến và đi đâu. Bà nội lạc ông mấy lần nên sợ lắm. Bà giữ tay ông trong bàn tay già yếu nhăn nheo. Thế nhưng đôi khi ông gặp một người không quen, ông vẫn nhào tới nói không ra lời hay lôi bà nội chạy theo họ. Ông la, “Bạn tui, bạn tui.” Bà nội biết tẩy của ông nên ngọt ngào dụ dỗ, ''Biết rồi! Họ ra xe đợi mình đó. Đi chợ xong mình sẽ gặp,” có vậy ông mới chịu nghe lời và đi theo bà.
Cháu nội bây giờ đã biết nghe lời cha mẹ. Mỗi khi làm điều gì sai, mẹ cháu bắt xin lỗi, nhận được gì cháu biết cám ơn. Cháu đã bắt đầu học để nhận biết đúng, sai. Còn ông nội tháng ngày trôi qua ông nội càng mù mịt đúng sai. Cái gì ông muốn là ông làm, ông không muốn thì đừng hòng ép. Khi cần ông đứng lại thì ông đi. Khi muốn ông đi thì ông đứng yên một chỗ. Kéo ghì không nhúc nhích. Năn nỉ một hồi ông mới chịu cho kéo đi. Khi cần ông nói thì ông làm thinh hoặc tiếng không thoát ra ngoài , chỉ lầu bầu, lịch phịch theo nước miếng. Nhưng khi ông nói chuyện với những gì ông thích hay bạn bè ảo tưởng của ông thì ông nói ra tiếng, mạnh mẽ và đầy sức sống.
Cho nên hai ông cháu đã đi ngược chiều với nhau không còn giống nhau như xưa.
Mỗi khi vào Webcam nói chuyện, cháu chỉ trên màn ảnh “Bà nọi, bà nọi. My bà nọi.” Còn ông chỉ nhìn cháu như nhìn một cái gì lờ mờ không quen biết. Cặp mắt lơ đảng, ánh nhìn tỉnh khô, môi xệ xuống, nước miếng lòng thòng chảy ra.
Tuy nhiên hai ông cháu cũng có điểm na ná giống nhau là dỗi hờn.
Khi cháu dỗi cháu lăn xuống đất nằm đạp lòng còng. Cha, mẹ cháu kêu đứng dậy và bảo xin lỗi, nếu không sẽ phạt “time out”.
Còn ông nội, ông hay hờn mát. Mỗi khi như vậy ông bỏ đi nằm và bỏ ăn.
Cả nhà năn nỉ, dụ ngọt cả buổi trời ông mới ngồi dậy ăn uống.
Chỉ hai năm thôi, hai năm trôi qua cho tôi thấy một lực hút cuốn mọi người xoay chóng mặt. Đứa cháu ngày nào mới biết lật giờ đã là một cậu bé dễ thương tinh nghịch, ngây thơ. Cháu đang học mọi thứ để tập sự những ngày bước vào trường mầm non.
Còn ông thì mòn hết mọi thứ để đi vào con số không của cuộc đời. Ông như một cây đã cạn hết nhựa. Sống trong một trạng thái mơ hồ và làm theo quán tính của mình.
Người lính của tôi giờ đây già thật rồi. Giả sử chàng không bệnh như hiện nay thì theo thời đại Internet, chàng của tui cũng quậy chẳng thua ai. Chàng sẽ có biết bao nhiêu bạn bè, đồng đội thật để mà hẹn nhau tán gẫu, bàn chuyện cà phê cà pháo, chuyện trên trời dưới đất, chuyện nước nhà, chuyện thế giới, chuyện chân dài, chân ngắn, chuyện cơm, chuyện phở. Lúc đó tôi chỉ là bóng mờ bên cuộc đời đầy màu sắc của chàng.
Ông trời đã cho chàng sống sót sau bao nhiêu năm tù tội gian lao. Đã cho chàng cùng tôi sang đây để xây lại một mái gia đình hạnh phúc. Và bây giờ đã cho chàng ở bên tôi hàng ngày, hàng giờ như tôi đã từng ước mơ, cầu nguyện.
Ông trời đã đùa với tôi. Ổng háy một bên mắt và cười, “Con ạ! Con xin gì ta đã cho con điều đó. Con ước nguyện có chồng một bên không rời xa dù cực khổ bao nhiêu con cũng chịu. Cảm thương con ta cho con toại nguyện. Ta cho nó bên con không rời xa nửa bước. Chúc con hạnh phúc.” Và thế, tôi ôm lấy niềm hạnh phúc ơn trên ban cho tôi và giữ lấy nó bằng cả trái tim. Trái tim của một người phụ nữ Việt Nam yêu chồng. (Bài này được trích đăng từ trang mạng của hội cựu học sinh Ngô Quyền (http://www.ngo-quyen.org/), mang tựa đề “Ông và Cháu” của tác giả Nguyễn Thị Thêm).

            Trích ở đâu thì trích, vẫn cứ là truyện kể, để phiếm. Phiếm nhẹ nhàng, cả chuyện Đạo lẫn truyện kể ở đời, cho vui. Dù, có ai ở đâu đó đang thấy cay cay nơi con mắt
            Thế đó, một vài tư-tuởng nhỏ, vẫn do bầy tôi bần đạo đây, chỉ muốn phiếm nhè nhẹ để hôm nay vui, mà thôi.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Có những ngày ngồi phiếm
            chẳng biết có đạt hay không, vẫn cứ làm.

Saturday, 18 October 2014

“Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 30 mùa Thường niên năm A 26-10-2014

“Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.”
Về đây với mầu gió ngày lang thang
Về đây xác hiu hắt lạnh lùng.
Ôi lãng du quay về điêu tàn.
Đâu tiếng đàn ngoài hiên mưa?
Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa?
Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa.”
(Nhạc: Come back to Sorrento – Lời Phạm Duy: Trở Về Mái Nhà Xưa)

(Rm 9: 1-5)
Về đây là về đâu thế? Chốn nào đây? Về Sorrento ư? Nơi “khỉ ho cò gáy” nào mà xa thế? Về để làm gì mà sao nghệ-sĩ nhà mình cứ gọi mãi bằng những lời “buồn như chấu cắn”, thế này đây:

“Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan.
Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan.
Về đây nhé ! Cắm xong chiếc thuyền hồn
Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn.”
(Lời Việt: Phạm Duy – bđd)

Ôi thôi! Đó là chuyện của nghệ sĩ đời, sống ở đời. Với nhà Đạo, lại có những lời mời mọc như muốn bảo người đọc hãy cứ trở về với vấn-đề gai góc hôm xưa, nay ê hề, mà không là chuyện cũ.
Vừa qua, bần đạo được một người bạn thảy cho đọc bài viết nọ nói về những chuyện lạ kỳ ở nhà đạo, đại để cũng hơi giống lời ca ta vẫn hát:

“Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh.
Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh.
Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh.
Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn…

Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh.
Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh.
Và nghe thấy kiếp xưa bước nhẹ về
Đang khóc than trên đường não nề”.
(Lời Việt: Phạm Duy – bđd)

Chao ôi, lời hát với ca từ nào những là: “đèn in bóng vào rêu xanh”, rồi “sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh”. Và đêm ấy, thấy nhiều người vẫn cứ lần giở trước đèn trang báo Đạo ghi bài viết khá lạ về tác-vụ giảng rao Tin Mừng mà người đi Đạo nay thực hiện.
Nói chung thì, sự việc như lời kể của người viết trẻ ở Úc tên là Ann Rennie như sau:

“Rao truyền Tin Mừng đâu chỉ mỗi giảng-giải hoặc rao báo Lời của Chúa mà thôi đâu. Đó vẫn là: quyết sống Lời Ngài trong quan-hệ với mọi người, ở đời. Qua tương-quan với mọi người trong đời, tôi lại cứ luôn nói về cuộc sống của thánh Phanxicô thành Assisi là đấng thánh hiền-lành từng khuyên nhủ mọi người: ‘Hãy truyền-bá Tin Mừng của Chúa, nếu cần, hãy dùng lời lẽ bình thường mà làm thế”. Riêng tôi, lại vẫn nghĩ: rao truyền Lời Chúa, đích-thị là quảng bá lối sống phù-hợp với Tin Vui An Bình mỗi ngày trong đời mình được nghe biết một cách rất chi tiết.

Có thể nói, việc này biểu-hiện sự tử-tế, là thứ ân-huệ keo sơn để ta cảm thông mà san sẻ với những người đang cùng sống với ta. Việc này, còn là thời-gian ta bỏ ra để lắng nghe bậc cao niên ở đâu đó cứ ngồi hằng giờ để kể về những chuyện tồn-đọng nơi “bộ nhớ” của các cụ. Làm như thế, còn có nghĩa: ta sẽ bỏ hết công sức của mình ra mà tranh-đấu cho các sự việc tốt-lành/hạnh-đạo được thành sự. Những việc như để biểu-lộ mức ngạc nhiên, vui mừng khi ta hành-xử theo đúng lương-tâm của ta…” (xem Ann Rennie, How will they know if we really love them? The Australian Catholics số mùa Hè năm 2014, tr. 16)

Vâng. Đặt vấn-đề thì bao giờ chả đặt ra như thế. Như thế, còn để thêm mắm muối dưa hành cho ca-từ nghệ-sĩ ở trên hát đã khá hơn, như sau:

“Thôi nhé đừng hoài âm xưa
Giọt mưa đã gieo trên thềm nhà
Người ngồi im bóng
Lắng nghe tháng ngày qua”.
(Lời Việt: Phạm Duy)

Vâng. Đúng là như thế. Có “hoài âm xưa”, thì cũng cứ “ngồi im bóng” “lắng nghe tháng ngày qua” thiên hạ/mọi người ở nhà Đạo vẫn cứ đề-cập đến những chuyện thương-yêu, lương-tâm/trách-nhiệm, như bậc thày ở Úc có lần từng xác-quyết như sau:

“Thiên-Chúa, Ngài cũng có cử-chỉ đẹp hoặc bí-kíp lịch-duyệt Ngài vẫn dành riêng cho ta. Ngài là Đấng có kinh-nghiệm hơn ai hết, về mọi thứ. Còn ta, chỉ là tay mơ luôn lần mò/chập-chững trong hành-trình sống, nhiều khiếm-khuyết.

Thiên-Chúa, là Đấng không chỉ ban cho ta mỗi cử-chỉ đẹp mà thôi; nhưng, Ngài còn ban cho ta cung-cách lịch-duyệt đầy yêu-thương, nữa. Ngài vẫn tôn-trọng ta, nên mới để ta thử sức mình trước mắt Ngài. Và, Ngài có mặt ở đây đó, để hỗ-trợ cho ta cả vào lúc luật-lệ hoặc bí-kíp thực-hiện cuộc sống tốt-lành/hạnh-đạo chưa phổ biến rõ ràng.

Thiên-Chúa, còn là Đấng sẵn-sàng để những kẻ mỏng-dòn/dễ-vỡ như ta được đồng-hành với Ngài bằng sáng-kiến đi bước truớc. Chúa biết rõ tính mỏng dòn/dễ vỡ của ta. Và, ta cũng biết rõ cử-chỉ lịch-duyệt của Ngài. Đó là căn-bản sự sống và là hoạt-động theo tinh-thần đồng-đội, tức: tinh-thần hợp-tác có hỗ-tương, trong mọi lúc. Ta là tạo-vật có giới-hạn, còn Ngài là Đấng Quyền-uy Cao-cả làm hết mọi sự. Nhưng giữa ta và Ngài, mọi khác-biệt vẫn quên đi, nhờ vào ân-huệ và nhờ ta cùng Chúa tin-tưởng lẫn nhau. Cả hai bên, Thiên-Chúa và con người đều sống thực những gì mình có khả-năng thể-hiện, trên thực-tế. Chúa biết rõ việc Ngài làm. Đó, là sự thực mà người bình-thường ở đời và/hoặc người không tự đứng-vững vẫn sống cách khác, có kinh-nghiệm.

Quả là chuyện tuyệt-vời. Bởi sau những khó-khăn ta gặp phải, chắc-chắn sẽ có những kinh-nghiệm đạo-đức nói về ta và về Chúa, thì: ta và Ngài đều làm công việc ấy, chung với nhau.

Đó, là ý-nghĩa thực của lương-tâm.

Lương-tâm, là từ-vựng có gốc-nguồn từ tiếng La-tinh, trong đó gồm hai chữ “Con” và “Scientia”, mà tiếng Anh và tiếng Pháp thường gọi là: “Conscience”.

Lương-tâm, là: hiểu-biết nhau hoặc thông-cảm lẫn nhau, trong mọi sự. Thiên-Chúa chấp-nhận quyết-định của ta theo tiếng lương-tâm. Chúa và ta, có trách-nhiệm đồng-đều về những quyết-định như thế. Kết-quả là, ân-huệ từ đó đến với ta. Thứ ân-huệ của sự tự-trọng về đạo-đức. Và, đó cũng là phúc-lành Chúa ban lên những gì khả-thi, bình-dị và thông-thường, theo tính khôn-ngoan của những người con chân-phương, bé nhỏ.

Lương-tâm, đích-thị là “lẽ thường” rất phải, vẫn đặt-định những gì thường-tình rất phải lẽ đến cho ta và với Chúa, Đấng hiểu biết mọi sự và cảm-thông với hết mọi người.                    

Một lần nọ, khi tôi đang giải-nghĩa điều này cho các học-viên thuộc Đại-học nọ, thì có một học-viên đưa ngay một phản-hồi, rồi hỏi: “Thày nói thế, tức là em cũng…OK, phải không?” “Đúng. Đúng là như thế!” Ngay sau đó, học-viên ấy lại hỏi tiếp: “Nói như thế, tức là Chúa cũng OK với em chứ?” “Đúng thực như vậy!”

Thật thế, Thiên-Chúa vẫn muốn như vậy. Và, Ngài rất vui lòng đồng-hành với ta, bởi ta có tự-do để làm thế. Và, Chúa vẫn cùng ta sử-dụng tự-do-tuy-có-giới-hạn ở nơi ta, nhưng ta sử-dụng nó một cách có trách-nhiệm. Chúa rất vui, bao lâu ta và Ngài tiếp-tục có quan-hệ hỗ-tương, muôn đời. Theo tôi, thì: Chúa rất vui khi trở-thành diễn-viên trong câu truyện ta kể lại. Đồng thời, Ngài để tai ra mà lắng nghe ta thuật truyện cho Ngài. Ngài vẫn nghe hoài và nghe mãi, đến bất tận.

Nhiều người lại có những thứ, mà tôi gọi là kinh-nghiệm đạo-đức rất thực, cả khi họ khám-phá ra Chúa, trong các tình-huống như thế. Nhưng tiếc thay, những người như thế lại cũng giống như ta, ở chỗ: họ không tìm ra ngôn-từ nào thích-hợp, để nói lên sự việc này.

Thành thử, ta và mọi người vẫn thận-trọng khi có yêu-cầu, mà theo tôi, họ rất có lý để yêu-cầu. Và thường thì: yêu-cầu của họ luôn có tính hào-hùng, phải lẽ. Tuy thế, nỗi khổ-đau và niềm ưu-tư/khắc-khoải mà họ và ta cảm-nghiệm, đều đưa ra chứng-cứ cho thấy: ta và họ đều yêu Chúa vẫn rất mực. Vì thế nên, nhiều lúc, họ và ta cũng đánh liều tìm cách làm những điều Chúa dạy bảo, cho phải đạo. Và, riêng tôi lại vẫn nghĩ: Chúa thấy mọi sự theo cung-cách tựa hồ như thế.” (xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Lương tâm trưởng thành trong đạo đức, www.giadinhanphong.blogspot.com ngày 20/9/2014)

Đấng bậc thày dạy mà còn nghĩ như thế, huống hồ là đàn em bé nhỏ, rất học trò. Về lương tâm, đáng thánh hiền-từ ở Kinh/Sách, lại cũng có những lời khuyên nhủ, rất như sau:

“Có Đức Kitô chứng giám,
tôi xin nói sự thật,
tôi không nói dối và lương tâm tôi,
được Thánh Thần hướng dẫn,
cũng làm chứng cho tôi rằng:
lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi.
Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống,
mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng
Họ là người Israel, đã được Thiên Chúa nhận làm con,
được Ngài cho thấy vinh quang,
ban tặng các giao ước, lề luật,
một nền phụng tự và các lời hứa;
họ là con cháu các tổ phụ;
và sau hết, chính Đức Kitô, xét theo huyết thống,
cũng cùng một nòi giống với họ.
Ngài là Thiên Chúa,
Đấng vượt trên mọi sự.
Chúc tụng Ngài đến muôn thuở muôn đời.”
(Rm 9: 1-5)

Xem như thế, thì: với lương-tâm không bao giờ nói dối, con người vẫn luôn được Thánh Thần Chúa hướng-dẫn để sống lướt vượt mọi sự, mà chúc tụng Ngài đến muôn thuở muôn đời. Chúc-tụng Chúa, không chỉ bằng môi miệng qua kinh-kệ hoặc bằng việc hành hạ thân xác với hãm mình, nhưng bằng vào cả những lời ca, hoặc hành-xử rất nên làm. 
Chúc tụng Chúa, không chỉ bằng những hát vang những ca từ rất buồn và cũng rất phiền theo kiểu đọc những kinh như “Từ Vực Sâu u tối”, hoặc những bài hát uỷ-mị rất “luyện tội” như “Từ Chốn Luyện Hình” của ai đó. Trái lại, vẫn hiên ngang hát lên lời lẽ tuy cũng buồn như “chuồn chuồn bay trong mưa”, mà là những ca từ được dịch như trên, những hát rằng:

“Thôi nhé đừng hoài âm xưa
Giọt mưa đã gieo trên thềm nhà
Người ngồi im bóng
Lắng nghe tháng ngày qua”.
(Lời Việt: Phạm Duy)

Chúc tụng Chúa, còn là động-thái sáng giá nhất trong nguyện cầu. Bởi nguyện cầu tuy có chữ “cầu” ở trong đó, vẫn không là động-thái những “xin xỏ”, khẩn nài”, lạy van chút nào hết. Nguyện và cầu trong yêu-thương có trách-nhiệm của một lương-tâm trong trắng, vẫn là động-thái của người đời và tín-hữu đi Đạo, ở mọi nơi, mọi đạo.
Chúc-tụng Chúa, còn là chúc và tụng những công việc Ngài làm cho ta, ngang qua hết mọi người, mọi đạo ở đời. Chúc-tụng Chúa, cả vào khi ta nhận-lĩnh quà tặng “Cứu-chuộc” Ngài ban cho ta và cho mọi người, qua đó ta sống yêu-thương hài-hoà cả với người cùng Đạo hay khác tôn-giáo, như lời của bậc thày giảng-dạy từng có lần đoan-quyết, như sau:   

Đạo Chúa coi Ơn Cứu-chuộc như tiến-trình không bị triệt-tiêu, nhưng tháp-nhập và hội-nhập vào bản-thể con người. Bản-thể của ta hiện-hữu mà không bị tắt ngúm hoặc hủy-diệt, nhưng vẫn vĩnh-cửu trong Chúa. Kitô-hữu sinh ra, là để thương-yêu người đồng-loại như yêu-thương chính mình; còn, người nhà Phật lại vẫn nghĩ: không “ngã” nào trên đời khiến con người biết yêu-thương người khác, hết.       

Với nhà Phật, sống là truy-tầm cái “Ngã” đích-thực, vượt mọi thể-hình hoặc thể-loại nào vốn có. “Ngã” đích-thực, là lối nói một chiều về “vô ngã/vô thường” đã lạc mất; nên con người cứ luyến nhớ điều đó, cách khôn nguôi.

Ta để lạc mất nó, là do thế-giới có thiếu-hụt căn-bản. Thế-giới ta sống, là sống hữu-hạn, không miên-trường, lại đem cái “Dục” vào thân; đồng thời, lại dính-liền với cái “Dục” ấy. Các yếu-tố này, là căn-nguyên/cội-nguồn hi-hữu tạo nên Khổ đau, âu sầu, dị-biệt.

Bằng vào Tông-thư “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy-Vọng”, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị đã mô-tả Phật-giáo như thứ tôn-giáo tiêu-cực trong đó người nhà Phật tin rằng thế-giới là ác-quỉ, bắt nguồn từ sự-dữ mà ra. Trong khi đó, Đức Bênêđíchtô 16, khi còn là Hồng Y Ratzinger, lại viết một câu như thể bảo: Đạo Phật tự tạo cho mình thứ “Dục Tự-tại”.

Thật ra thì, ngôn-từ do các đấng bậc trên cao sử-dụng là cốt để so với Ơn Cứu-chuộc Kitô-giáo, cũng hơi quá đáng và không thích-hợp cho công-cuộc Đại-kết. Theo nhà Phật, thế-giới ta sống, không là thế-giới đích-thực mà chỉ là Khát vọng. Là, “Lòng Dục”, tức: nguồn-gốc của sự dữ. Nó còn có nghĩa như thứ gì đó dính-liền một cách không thích-đáng vào bản-thể con người.” (xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Cứu-chuộc Thế-Gian Qua Các Đạo Nơi Trần Thế, www.giadinhanphong.blogspot.com ngày 08/10/2014) 

Nói như đấng bậc thày dạy trường lớp như trên, còn là nói có kinh-nghiệm bản thân và những trải-nghiệm về công cuộc Đại-kết hết mọi người thuộc các tôn giáo khác nhau, ở trên đời.
Nói như người bé nhỏ ở đời, là nói bằng ca từ hoặc truyện kể, không dễ nể nhưng vẫn để ta nhớ mà thực-hiện cho mình, trong đời mình. Thực-hiện cuộc sống có yêu thương rộng khắp, hết mọi người. Không cần biết họ là ai. Con trai hay con gái. Có tin vào thuyết này/Kinh nọ không. Chỉ cần biết một điều, là: họ cũng như ta, cũng là con cùng Cha trên trời. Ở đời. Bởi, Cha đang hiện hữu với thế-trần ở nơi họ và ngang qua họ.
Nhận-định rồi, tưởng cũng nên kiếm tìm “Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu” qua các chuyện ở đời và trong đời, như sau:

“Truyện rằng:

Ở vùng quê nọ bên nước Anh, có gia đình nọ chuyên nghề làm vườn, gồm hai vợ chồng và đứa con trai duy nhất. Vì hoàn cảnh quá nghèo nên cậu con chưa học hết tiểu học đã phải ở nhà giúp đỡ cha mẹ việc trồng tiả, hoặc đôi khi lên rừng lấy củi, kể cả việc câu cá ở một cái hồ lớn rất đẹp gần nhà để thêm lương thực cho bữa ăn. Trong các việc làm phụ giúp cha mẹ, cậu bé thích nhất là đi câu, bởi vì mỗi buổi đi câu là mỗi lần được tắm, bơi thỏa thích. Cậu bơi tuyệt giỏi, đến mức bạn bè trong xóm gọi cậu là "thằng Rái Cá" (Otter boy).

Một hôm, khi "thằng Rái Cá" cắm xong mớ cần câu ở góc hồ, đang tính cởi áo nhào xuống nước bơi một tăng cho đã đời, thì nó thấy 3 chiếc xe limousine sang trọng trờ tới đậu ngay gần đó nên nó khớp không tắm nữa, leo lên cây đại lăng ở cạnh hồ, núp mình trong tàng lá để canh chừng cần câu và cũng để ngắm nhìn toán du khách sang trọng.

Toán du khách đó chính là một gia đình giầu có, quyền qúy, vào hàng đệ nhất qúy tộc của vương  quốc Anh. Họ từ thủ đô Luân Đôn đi du ngoạn miền quê, thăm dân cho biết sự tình. Dưới trời nắng đẹp ấm áp, một cái tăng lớn được căng lên lộng lẫy.  Bàn ghế picnic bầy ra và thức ăn, cao lương mỹ vị dọn tràn đầy. Tiếng nhạc êm đềm réo rắt tỏa vang rồi đoàn du khách nhập tiệc. Kẻ ăn, người uống, kẻ khiêu vũ, người chụp hình ...

Một lát sau, "thằng Rái cá" ngồi thu mình trên cành cây đại lăng, nhìn thấy một đứa trẻ trong đám du khách, chắc cũng 11, 12 tuổi, cỡ tuổi nó, thay đồ tắm và lội xuống hồ bơi qua bơi lại.   Dường như những người lớn chăm chú vào việc ăn uống chuyện trò, không mấy ai để ý đến đứa trẻ ở dưới hồ. Riêng "thằng Rái Cá" nó tò mò quan sát đứa trẻ...
Ồ, coi kìa, thằng này bơi gì dở ẹc! Rõ ràng là nó không biết bơi ếch, bơi sải, bơi bướm gì cả, đến bơi ngửa chắc cu cậu cũng chẳng làm được! Nó chỉ đập loạn tay chân lên thôi, cái điệu bơi chó như thế là không khá được!

Chợt "thằng Rái Cá" nhoài mình ra chăm chú nhìn. Nó thấy 2 con thiên nga từ xa bơi tới phía đứa trẻ và đứa trẻ chắc là thích con thiên nga nên bơi theo ... Chết chưa ! Nó bơi tuốt ra xa quá rồi, chỗ đó rất sâu, nguy hiểm lắm! Đúng lúc đó, có tiếng thét cấp cứu của đứa trẻ "Help me! Help...Help! !!" Toán du khách khi ấy kịp nghe và nhìn thấy, nhưng thay vì phải nhào ra cứu đứa trẻ thì họ ồn ào, nhốn nháo cả lên. Hai ba người xuống hồ với cả áo quần, nhưng chỉ lội ra nước đến cổ thì đứng lại.

Trời đất! Hóa ra chẳng ai biết bơi cả mà ngoài xa đứa trẻ đuối sức có vẻ muốn chìm rồi!
Không đợi lâu hơn được nữa, từ trên cành cây cao, "thằng Rái cá" phóng xuống chạy bay ra hồ trước con mắt ngạc nhiên của tất cả đoàn du khách. Tới bờ cao, nó nhún mình lao xuống nước trong tư thế plunge tuyệt đẹp và chỉ loáng mắt đã sải tay bơi tới chỗ đứa trẻ bị nạn. Nó hụp lặn xuống xốc nách đứa trẻ và như một chuyên viên rescue lành nghề, nó nghiêng người bơi sải từ từ vào bờ trước sự chứng kiến xúc động và tràng pháo tay reo mừng của mọi người. Khi tới bờ, đứa trẻ bị nạn được nhiều người xúm lại khiêng lên đưa vào giữa tăng và tại đó có sẵn một vị bác sĩ (trong toán du khách) lo việc cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ.

Chừng một tiếng đồng hồ sau, không khí an toàn tươi vui trở lại với mọi người trong toán du khách. Đứa trẻ qua tai nạn hiểm nguy, bây giờ quấn mình trong chiếc mền len và đang được uống mấy muỗng soup. Lúc ấy người ta mới chợt nhớ tới vị ân nhân vừa cứu sống nó.  
-  Ô hay, cái thằng bé con bơi giỏi hồi nãy đâu rồi nhỉ ?

Mọi người đổ xô đi tìm. Lát sau phát giác ra chỗ ẩn của nó. "Thằng Rái Cá" trèo lên ngồi yên chỗ cũ, trên cành cây đại lăng. Nó được gọi xuống và trịnh trọng đưa tới trình diện trước một vị quý tộc, ông này chính là cha của đứa trẻ vừa bị nạn.
- Hỡi con, (vị quý tộc nói với "thằng Rái Cá") con vừa làm một chuyện vĩ đại mà tất cả chúng ta đây không ai làm được. Ta xin thay mặt toàn thể cám ơn con.
- Bẩm ông, ("thằng Rái Cá" lễ phép thưa) con có làm gì vĩ đại đâu! Bơi lội là nghề của con mà! Con cứu em là chuyện nhỏ, chuyện phải làm và cũng là chuyện thường đâu có gì khó khăn vĩ đại. Xin ông đừng bận tâm!
- Không đâu con ơi! con đã cứu mạng con trai ta. Gia đình ta và hội đồng quý tộc mãi mãi mang ơn con. Nay ta muốn đền ơn con, vậy con muốn điều gì hãy nói cho ta biết.

"Thằng Rái Cá" nghe hỏi vậy, ngập ngừng giây lát rồi ngỏ ý muốn xin vài ổ mì dư thừa đem về cho cha mẹ. Lòng hiếu thảo của nó đã khiến cho vị quý tộc và nhiều du khách cảm động rơi lệ. Vị quý tộc ôm nó vào lòng và nói:
- Hỡi con, điều con vừa xin là chuyện nhỏ, và đó chính là bổn phận của ta, ta biết ta sẽ phải làm gì cho con và gia đình con. Nhưng câu hỏi của ta là sau này lớn lên con ước mơ sẽ làm gì?
            "Thằng Rái Cá" chỉ tay vào vị bác sĩ khi nãy cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ bị nạn, trả lời:
            - Lớn lên, con muốn làm việc cứu người như ông kia.
            - Ồ, con muốn làm bác sĩ, tốt lắm! Với ta đó cũng là chuyện nhỏ thôi, ta sẽ giúp con.
  
Câu chuyện nhỏ trên đây có phần kết luân thật là vĩ đại, bởi vì đứa trẻ bị chết đuối hụt có tên là Winston Churchill, sau này là vị Thủ Tướng đã làm rạng danh nước Anh, một vĩ nhân cực kỳ tài giỏi lỗi lạc của thế giới vào thời Đệ Nhị Thế Chiến.

- Còn "thằng Rái Cá", cậu bé đã cứu mạng Churchill tên là Fleming, sau này trở thành vị bác sĩ tài ba lừng danh hoàn cầu. Fleming, chính là nhà bác bọc đã tìm ra thuốc trụ sinh Penicilin, cứu mạng biết bao nhiêu người trên thế giới. Ông đích thực là vị ân nhân vĩ đại của cả nhân loại.

Từ khởi đầu, chuyện chỉ là một chuyện nhỏ, sự hy sinh, vị tha, sự cho đi rất nhỏ nhoi! Nhưng nhờ đó, thành quả sau này đem đến cho cả nhân loại đã vô cùng lớn lao kỳ vỹ.

Câu chuyện còn thêm cho phần kết luận điều lý thú nữa, là một ngày nọ, thủ tướng Churchill bị lâm trọng bịnh đến nỗi đã hôn mê, nhiều bác sĩ phải lắc đầu. Tính mạng ông ở vào lúc nguy kịch nhất, thì Fleming xuất hiện như một tiền duyên định mệnh và vị  bác sĩ tài ba này, đã lại một lần nữa cứu sống người bạn cố tri của mình. Khi tỉnh dậy sau cơn mê, mở mắt ra nhìn thấy Fleming, Churchill ngạc nhiên xúc động và nói rằng:
- Fleming!  Có phải cứ mỗi lần tôi sắp chìm, Chúa lại cho bạn tới vớt tôi lên?
- Churchill, chúng ta hãy cám ơn Chúa ! Nhưng không hẳn là tôi, (Fleming giơ ra một viên thuốc nhỏ tí xíu) bởi cái này đây, chính cái này đã cứu bạn đó ... Chuyện nhỏ mà!
(Chuyện do một người ký tên là Sưu tầm dịch từ truyện tích, rất ngoại quốc)

Chuyện Phiếm Đạo Đời hôm nay, kể lại “Chuyện nhỏ” này không chỉ để ca tụng vị y-sĩ chuyên-khoa chuyên giúp người và cứu đời mà thôi. Nhưng, còn nói lên rằng: ở đời những chuyện được gọi là “Chuyện nhỏ” ở đời, đôi khi và rất nhiều khi, đó lại là chuyện rất lớn. Lớn, vì nó nói lên được tình thương-yêu của nhiều người ở đời. Chẳng cần biết, người ấy có đi Đạo và/hoặc giữ Đạo hay không, miễn ai rao truyền Tình Thương Yêu ở đời, đều là người cùng với Chúa đồng-hành trong đời, rất yêu đời.

Trần Ngọc Mười Hai
Rất đồng ý với bạn và với tôi
Rằng nhiều chuyện đời
đâu là “Chuyện Nhỏ”
của trẻ nhỏ bao giờ.
Nhưng rất lớn
cả với người lớn,
trong đời.