Saturday, 11 January 2014

“Hỡi anh đi đường cái quan,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 2 mùa thường niên Năm A 19-01-2013

“Hỡi anh đi đường cái quan,”
Dừng chân đứng lại cho em đây than đôi lời...
Đi đâu vội mấy anh ơi.”
 (Phạm Duy – Trường Ca Con Đường Cái Quan)

(Lc 2: 1-2)

            Đang phom phom trên đường tráng nhựa, dù không phải là đường cái rất quan dân, mà nghe em ới gọi giựt lại để mà than, cũng hơi ngại. Ngại, là vì em gọi lại để than, chứ không phải để kể đôi ba truyện lan man rất cuộc đời.
            Câu chuyện đầu, bần đạo muốn bạn và tôi, ta gợi nhớ đôi chút, là chuyện tình của ai đó giống hệt nhạc sĩ họ Trịnh mang tên Công Sơn, gửi người tình Dao Ánh rất như sau:

“Blao, 17/9/1964
Buổi chiều thật yên tĩnh. Anh đứng nhìn sự yên tĩnh đó rơi xuống từ một đầu cỏ, một con đường dốc, một nóc nhà rồi một thân anh. Hạnh phúc thật đơn sơ –như một phép lạ thật mầu nhiệm bức thư Ánh đến ngay lúc này ném anh về một đỉnh cao ở đó, anh bàng hoàng nghe loài chim lạ nọ. Anh xúc động như vừa tìm lại được một vẻ kỳ bí nào đã đánh mất.

Anh đốt lên điếu thuốc buổi chiều để ngửi mùi hoa cỏ dấy lên từ những tờ thư. Ôi hạnh phúc của một con người đã đi qua bao nhiêu con đường rộng, đã ướt bao nhiêu lần mưa, đã cúi đầu trên những con đường dốc sương mù. Sương mù. Làm sao anh có thư Ánh để đọc. Thật như một ân huệ của những ngày anh nằm heo hút ở đây mà nghe mình đánh mất dần tất cả.

Mây đã xuống thấp và tối mù trước mặt. Trời ở đây thật bất thường Ánh ạ. Những cơn mưa chiều đột ngột vô cùng. Bao giờ sắp mưa thành phố không còn biên giới. Trời, đất, núi, nhà, cây cỏ như dán liền với nhau. Anh ngồi nhìn và nghĩ mình như đang được nhốt vào chum đen nghịt. Thật buồn đó Ánh....

Anh đã một lần trót phạm tội xin – mặt – trời – ngủ - yên. Ôi người phù thủy đã nói với anh rằng: vĩnh cửu chỉ có trong cái chết (l’éternité est dans la mort) nên từ đó đã xin – mặt – trời – cùng – người vong thân.

Anh cảm ơn Ánh nghìn lần đã yêu thích thiên đàng – sương – mù của anh. Anh sẽ cố gắng yêu thích lấy nó đến bao giờ không thể. Ở đây có cái tự do của con người mỗi ngày chỉ thấy mình và trời đất. Nhưng Ánh có biết rằng thằng mọi trong rừng sâu nó cũng thế, làm sao không thấy mình bị hất hủi, bị đặt bên lề...” (x. Trịnh Công Sơn, Thư Tình Gửi Một Người, Nxb Trẻ 2011, tr. 18-19)

            Chuyện của anh, hôm nay nghe thì vẫn thế. Vẫn nhè nhẹ, sầu buồn mãi khôn nguôi. Nhưng, câu chuyện của ngày hôm nay, bần đạo đây lại vẫn muốn trích dẫn đôi giòng kể giống như thế để bảo rằng: trong giòng đời kiếm tìm và học biết cách sống bình thường cũng không dễ, bần đạo đây lại cứ gặp đôi giòng chảy cũng giống những điều, được tác giả ghi thêm ở bên dưới:

“Anh nghĩ rằng Ánh sẽ không buồn lâu đâu. Tất cả những ưu phiền của Ánh sẽ qua. Cuộc sống của Ánh phải là một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác đã có, như Diễm, Dung, hay kể thêm Phương Thảo, Diệm My. Và cả xứ Huế đó, quê hương đó mà anh không còn mong quay về.

Anh chưa dám nghĩ rằng Ánh sẽ là một ngoại lệ nên không hồ đồ vui mừng có được một người thấy rõ mình hơn.

Chúng anh không trách ai cả. Tất cả một cuộc sống lì lợm đều đặn với ăn, ngủ, cười, nói, thứ hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, đi học, đỗ đạt, làm quan, lấy vợ đẹp, gia đình,... đã làm nhiều ý thức chán mứa, buồn nôn. Nhưng con người đã lỡ bị giam hãm trong vòng đai đó như một đương nhiên nên không thể trách móc gì được. Có điều phải biết nhận lấy sự hèn nhát, sự bất lực của mình. Đó là sự can đảm tối thiểu còn lại cho con người. Vì thế anh ghét nhất điều dối gạt. Dù làm điều xấu cũng phải có can đảm nhận chịu, phải tự trách nhiệm lấy mình; đừng bao giờ phủ nhận hành động do chính mình vì như thế mình đã vô tình phủ nhận chính sự có mặt của mình ở đó...” (x. Trịnh Công Sơn, bđd)

Trích dẫn giòng thư riêng tư ở đây, bần đạo lại muốn trích và dẫn thêm những ý/lời cùng tâm tình của những người trong/ngoài nhà Đạo, có cảm nghĩ hoặc tâm tình buồn vui lẫn lộn. Vui ít, buồn nhiều hoặc vui nhiều buồn không thiếu rất lẫn lộn. Buồn hay vui, vẫn là tâm tình nhè nhẹ hỏi han lan man nhiều. Những thứ và những sự khiến nhiều người lo lắng đôi ba chuyện chẳng có gì mới mẻ.
Dù có thế, trước khi đi vào hỏi/đáp có chữ viết, xin bạn và tôi, ta về với giòng nhạc ở trên có thêm trích-đoạn trường ca “Con Đường Cái Quan” vừa được cất lên trong buổi “Hát Cho Nhau Nghe” với chủ đề “Những Nẻo Đường Quê Hương” ở Sydney rất thân thương có lời ca như sau:

“Tôi đi từ ải Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ (è e é)
Chia đôi một họ trăm con đã lên đường...
Năm mươi người ngược núi rừng đã dựng vòng biên ải (i i í)
Năm mươi người trẩy theo sông tới khơi chừng...”
(Phạm Duy – bđd)

Hát mấy câu ê a như thế rồi, nay bần đạo xin mời bạn/mời tôi, ta đi vào vấn đề của người hỏi có những ưu tư/trăn trở, lại hỏi rằng:

“Thưa cha,
Con gái của con vừa đi học về đã lon ton chạy đến hỏi như một “phát giác kinh khủng” rằng: cô giáo của cháu bảo rằng: Chúa của Đạo mình, đúng ra đã sinh vào mấy năm trước Công nguyên, tức: Chúa sinh ra trước cả Đức Kitô nữa. Theo con nghĩ: Đạo mình lập niên-lịch tính từ năm sinh của Chúa là năm thứ nhất của Dương lịch. Nói thế có đúng không? con cũng không biết. Con xin Cha cho một lời giải thích để bọn con nay còn biết mà nói chuyện với người khác. Cảm ơn Cha. (Câu hỏi, nay là của một người, hình như là phụ nữ).

Nữ hay nam/nam hay nữ, một khi đã hỏi là có thắc mắc đôi điều còn để trong đầu, dù liên quan hay không đến chuyện Đạo/đời, cũng đâu biết. Chỉ biết rằng, đó là chuyện mà khi ai đó có thắc mắc là có quyền hỏi han. Hỏi ai cũng được, thậm chí có hỏi đấng bậc nhà Đạo chuyên nắm rõ nhiều chân-lý về đạo như Đức thày giòng họ Flader ở Sydney, cũng tốt thôi. Bởi, Đức thày đây không chỉ phán mà thôi, nhưng đặc biệt hôm nay, Đức thày còn muốn giải toả đôi điều thắc mắc về niên lịch lẫn niên biểu ngày sinh của Chúa tính toán kỹ như sau:  

“Thật ra thì, bậc thày dạy dỗ con gái của anh/chị rất có lý khi bảo rằng: niên-lịch mà ta vẫn dùng có đôi điều vẫn không đúng. Hôm nay, tôi xin mạn phép có ít phút để giải thích một lần cho xong.

Thánh Luca có nói rất rõ: Khi Quirinius làm tổng trấn xứ Syria thì khi ấy Hoàng đế Augustus đã ra chỉ thị lập kiểm tra dân số trên toàn cõi đế quốc của ông và chính vì lệnh kiểm tra này đã khiến Đức Maria và thánh cả Giuse phải hành-trình đi Bét-lê-hem để rồi sinh-hạ Đức Kitô ở nơi đó. (Lc 2: 1-2)  

Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 cũng có viết trong cuốn sách của ngài có tựa đề là “Đức Giêsu thành Nazarét – Truyện kể về một thời thơ ấu” có đề cập đến chuyện ngày tháng kiểm tra dân số, và Đức Giáo Hoàng cũng đưa ra một lời bình luận khá thú vị về mối tương-quan giữa Augustus và Đức Kitô. Đức Giáo Hoàng lại cũng viết: Priênê có ghi rõ: từ năm thứ 9 trước Công nguyên, ngày sinh của Hoàng đế đã tạo cho đế quốc này một bản-sắc mới về sự-thể là mọi việc sẽ đi vào đổ vỡ nếu không có sự kiện tỏa sáng nơi ông, đó là: Đấng Quan Phòng vừa hạ sinh và Hoàng-đế dạy là mọi sự đầy tràn nơi Đấng Quan Phòng bằng đặc trưng do Ngài mang tính người và Ngài được sai đến làm Đấng Cứu Độ cho ta và con cháu của ta... Khi Đấng Quan Phòng sinh hạ là đã khởi đầu sắp xếp thật tốt đẹp mà Ngài từng đem đến cho nhân-loại. Và, cũng do từ sự hạ sinh này, nhận thức mới về thời-gian cũng đã bắt đầu như thế.” (sđd tr. 59)

Thật ra, cũng chẳng mấy khó khăn để ta có thể nhận ra chuyện nói về vị hoàng-đế La Mã càng dễ áp-dụng một cách xứng-hợp vào Đức Giêsu. Nói cho đúng, thì chính Đức Kitô (chứ không phải Augustus) mới là Đấng ban cho nhân-loại một ân-huệ mới là được đầy tràn nhân-đức mà con người đáng được hưởng. Đó là có được Đấng Cứu Độ sinh ra khởi đầu cho một nền trật tự tốt đẹp, nhờ đó dấy lên nhận-thức mới về thời-gian như từng xảy ra trên thực-tế. Lại nữa, vào năm 27 trước Công nguyên, tức 3 năm sau ngày Augustus trở thành Hoàng-đế, nghị-viện La Mã đã thưởng công cho ông danh-hiệu Augustus có nghĩa là “người xứng đáng được lạy thờ”, tức một danh-xưng thích hợp với Đức Kitô hơn với con người thường vì chính Ngài là Người Con của Thiên Chúa.

Về tháng ngày xảy ra cuộc tổng kiểm tra dân số, Đức Bênêđíchtô 16 có lời bình-luận rằng: “Vì ngày ấy xảy đến vào triều đại vua Hêrôđê Cả chết vào năm thứ 4 trước Công nguyên, thì ít ra ngày Chúa giáng sinh cũng xảy đến vào cùng năm đó hoặc trước nữa. Thêm vào đó, do bởi Hêrôđê ra lệnh giết chết mọi con trẻ dưới 2 tuổi (xem Mt 2: 16), thì lẽ đáng ra, Đức Kitô phải sinh ra khá sớm tức vào năm thứ 6 hoặc thứ 5 trước Công nguyên.”

Đức Bênêđíchtô 16 lại cũng nói: có nhiều tranh/cãi biện luận về niên-biểu đích-xác của cuộc tổng kiểm tra này. Theo sử gia Flavius Josephus thì: sự kiện này xảy đến vào năm thứ 6 trước Công nguyên vào triều-đại của tổng trấn Quirinius. Sử gia Josephus còn nói: Quirinius chỉ họat động chính tại Syria và Giuđêa kể từ năm ấy trở đi thôi; và, điều này không có gì chắc cho lắm. Dù sao thì Quirinius cũng là người phục-vụ Hoàng-đế tại Syria trước sau niên biểu thứ 9 trước Công nguyên. Một số học-giả khác lại cho rằng cuộc tổng kiểm tra này là một sự-kiện xảy đến làm 2 đợt và kéo dài suốt nhiều năm. Đó là lý-do khiến ta có nhiều lối giải-thích rất khác biệt. Quả là: thánh Luca nói rất đúng: đây là lần đăng ký dân số đầu tiên thuộc lọai này. (x. Lc 2: 2)

Lại cũng có chủ-trương cho rằng năm sinh của Chúa đúng ra phải bắt đầu vào lúc có “vì sao lạ” dẫn đường cho 3 nhà đạo-sĩ đến Giêrusalem rồi đi Bét-lê-hem thăm viếng Chúa Hài Đồng (x. Mt 2: 1-2). Một số tác-giả như thánh Chrysostôm (x. Bài giảng Tin Mừng đọan VI câu 2) lại khẳng-định: “vì sao lạ” không có nghĩa là trăng sao tinh tú ta thấy được bằng mắt thịt, mà là luồng ánh sáng đặc trưng soi dọi tâm hồn các nhà đạo sĩ hoặc ai khác. Có nhiều vị thức-giả lại cố kiếm tìm niên-biểu nào đó có hiện-tượng rực sáng trên bầu trời, vào thời đó, khả dĩ lôi kéo các hiền-nhân. Đặc biệt là tác-giả Johannes Kepler (mất vào năm 1630) đã tính toán kỹ và cho biết rằng: vào năm thứ 7 hoặc 6 trước Công nguyên, khi ấy có sự đụng độ hoặc nối kết sao đó giữa các hành-tinh như: Mộc Tinh, Thổ tinh và Hỏa tinh có thể đã dẫn dắt các chiêm-tinh-gia lập hành-trình đi Bét-lê-hem để xem. Đại lọai là như vậy. Và, chừng như ở Trung Hoa lúc đó cũng có chỉ-dẫn cho biết có “sao lạ” xuất-hiện vào năm thứ tư trước Công-nguyên và nhiều người đã thấy “sao lạ” ấy suốt một thời-gian dài. Nói tóm lại, vẫn có điều gì đó không chắc lắm dù một số các học-giả đã định ra năm sinh của Chúa vào niên-biểu từ năm thứ 6 đến năm thứ tư trước Công nguyên. Có vị khác lại cho rằng: có thể là từ năm thứ 7 đến năm thứ 2, trước Công-nguyên cũng không chừng.

Vấn đề còn lại khiến nhiều người còn hỏi, là: niên-lịch cổ-đại như thế thì làm sao có thể sai sót được? Từ đó, lại có thêm vấn nạn hỏi rằng: khi nào thì tòan thể thế giới bắt đầu sử dụng niên-lịch sai lầm này? Để trả lời, có tu sĩ thuộc Dòng Khắc kỷ tên là Dionysius Exiguus (mất vào năm 550 Dương-lịch) là người từng đề-nghị ra năm sinh của Chúa dựa vào niên-lịch thì như thế. Vào năm này, chính ông là người từng khẳng-định rằng: Chúa Cứu Thế chào đời ngày 25 tháng Chạp năm thứ nhất rất Công nguyên. Dĩ nhiên, ông có thể sai sót đôi điều về năm tháng nhất thứ là khi đã hơn 500 năm qua, kể từ ngày Chúa Giáng hạ.

Đây là sử-liệu khá thú vị và như thế có lẽ ta cũng không thể biết rõ năm tháng ngày giờ Chúa hạ sinh được. Điều quan trọng hơn cả, là: ta hãy cứ mừng kính lễ hội Chúa Giáng trần với niềm hoan lạc và long trọng của ngày lễ.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 22/12/2013, tr. 10)

Trần tình về năm tháng ngày giờ Chúa Giáng hạ làm người thì như thế. Dĩ nhiên, ta không thể nói cho đúng và cho hết những gì liên quan đến niên hiệu cổ đại được. Bởi, ngay đến thánh-sử Luca cũng chỉ ghi và chép sách Công vụ lẫn Tin Mừng chỉ vào thập niên 60 hay 70 sau ngày Chúa hạ sinh, mà thôi. Và, thánh-nhân có ghi và chép Tin Mừng cứu độ của Đức-Chúa-làm-người, thì thánh-nhân lại cũng dựa phần lớn vào văn bản có từ trước của thánh Mác-cô, thôi. Mà, thánh Mác-cô lại chỉ viết về đời họat-động của Chúa lúc trưởng thành, thôi. Thành thử, Tin Mừng Chúa Kitô lịch-sử là Tin Mừng về chính sự Mừng Mừng Vui đích-thực bằng xương bằng thịt, cho mọi người
Tin Mừng Chúa loan đi, là Tin rất Vui Mừng về sự thể Chúa xuống thế làm người để cứu-chuộc trần-gian, đưa con người về với Tình Thương Yêu giữa Chúa Cha và triều thần thánh Nước Trời, cho con người như thánh-sử Gioan từng viết:

“Từ ban đầu đã có Ngôi Lời.”
(Ga 1: 1)

Ngôi Lời đã đi vào đời để làm người, là Ngài tự mình chấp-nhận cuộc sống của con người, như người đời. Nếu dùng ảnh-hình lời lẽ của người Việt mình, thì Ngôi Lời cũng sẽ ngang qua nhiều chốn vùng có trăng sao sông nước như được hát:  

“Hỡi ai đi kiếm hạnh phúc trên đời,
Mà chưa tìm thấy yên vui.
Lặng nghe tôi gởi (ó) mấy lời gió trăng...
Ca rằng...khoan hỡi hò khoan,
Yêu đời sóng gió lầm than,
Trên giòng sông mênh mang...
Riêng mình ta thênh thang.”
(Phạm Duy – Tiếng hát trên sông Lô)                      

Cũng hệt thế, hôm nay đây, Chúa vẫn đi vào giòng đời có lòng người. Và, giòng đời hôm nay, người người không chỉ ưu tư về tính chính-xác của năm tháng ngày giờ có chữ “N” như năm nào. Nhưng, đi vào giòng đời, Ngài đã thổ lộ với dân gian người đời về những thứ, những chuyện mà người đời, nhiều lúc, vì húy-kỵ chẳng dám nghĩ tới. Chúa đi và đến với con người bằng nhiều kiểu cách. Những kiểu và những cách được nhiều đấng bậc vị vọng trong Đạo diễn-tả bằng ngôn-từ rất thời thượng, để người nghe sẽ cảm kích.
Thông thường thì, các đấng bậc vị vọng vẫn dùng nhiều truyện kể để giải thích về nhiệm tích nhập-thể bằng ngôn ngữ tươi vui, dễ nhớ. Nhưng có điều là người nghe vẫn chỉ nhớ mỗi câu truyện kể chứ không hiểu và không nhớ các chi tiết mà linh mục muốn nhét vào đầu người nghe, là giáo dân. Chí ít, là thần học khô cứng về nhập thế và nhập thể, rất khó hiểu.
Hôm nay đây, bần đạo cũng xin tóm lược câu chuyện kể về Chúa nhập thể làm người phàm bằng một chuyện vui để nhớ, nhưng không phải để áp-dụng vào cuộc sống.

Truyện rằng:

Đôi vợ chồng mù trong thôn bà ngoại tôi năm nay đã sắp sửa tám mươi tuổi, đã có một đàn con cháu. Nghe bà ngoại tôi kể lại, khi cưới nhau, chồng ngồi xe bò đi đón vợ. Tuy cô dâu chú rể đều không nhìn thấy màu sắc, song chú rể vẫn sai người cuốn đầy lụa điều lên xe bò và đầu bò. Đón cô dâu về nhà, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, rà mò khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình. Việc khó hơn cả là múc nước ở cạnh giếng, lần nào cũng thế, hai người dắt nhau đi, vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, còn tay kia níu chặt bàn tay chồng. Chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên. Trong thôn có người ra giúp, hai người thường từ chối, họ bảo: "Các ông bà giúp được chúng tôi một giờ, không giúp được chúng tôi một đời".

Cứ như thế, hai vợ chồng luôn luôn tay dắt tay nhau gánh nước cho đến khi đứa con đầu lòng có thể gánh nổi một gánh nước. Dân làng cảm thấy lạ lùng, đã có mười mấy trai gái trẻ trong thôn đã từng vì đất trơn, trượt chân ngã xuống giếng, nhưng hai vợ chồng mù chưa bao giờ bị như vậy. Càng lạ lùng hơn là chuyện, mặc dù có đông người đang cùng nhau nói chuyện hỉ hỉ hả hả, hai người mù vẫn có thễ nhờ vào tiếng hít thở dài dài mà tìm ra nhau.

Bởi không nhìn thấy, dù mưa dù gió, người ta thường trông thấy hình ảnh hai người dắt tay nhau. Dù làm việc gì, họ cũng tay trong tay. Tay trong tay, hình tượng để nhiều nhà văn viết đi viết lại ấy, đã xuất hiện suốt nửa thế kỷ ở cái thôn nhỏ bé chẳng ai biết đến này.

Ông chồng là tay thổi kèn trong ban nhạc ở thôn quê, thường đến các đám cưới của người khác thổi những bài: "trăm con chim phượng hoàng", "niềm vui đầy nhà" ... mặc dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng chỉ có một yêu cầu, cho người vợ mù cùng đi. Để vợ ở nhà một mình, ông không yên tâm thổi kèn. Khi chồng thổi kèn, vợ ngồi bên chồng lặng lẽ nghe, dường như những điệu nhạc vui nhộn này đều là ông thổi cho bà. Trên khuôn mặt người vợ mù thường hay đỏ ửng lên, khiến ai nấy cũng cảm thấy người đàn bà mù đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết chừng nào.

Về sau này, hai vợ chồng đều đã già, không bao giờ đi ra ngoài nữa, chỉ quanh quẩn trồng nhiều hoa trong sân to nhà mình, tất cả đều là những giống hoa tươi rực rỡ, đến kỳ hoa nở, cả sân đỏ rực.

Một lần, ông sơ ý bị ngã què chân. Trong những ngày ông nằm bệnh viện, ba bốn ngày liền bà không ăn một hột cơm vào bụng, bà bảo, không sờ thấy bàn tay quen thuộc kia, bà chẳng còn lòng dạ nào mà ăn nữa.

Con cái sáng mắt cũng từng hỏi đùa bố mẹ:
-Nếu trời giành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có định dùng mắt nhìn nhau không?
Bà mẹ mù trả lời:
-Các con nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim, tim sáng hơn mắt, thật.
Ông bố mù thì bảo:
-Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con đều đã in trong trái tim bố. Bố chưa bao giờ trông thấy một người đẹp nhất, trong trái tim bố thì mẹ con là người đẹp hơn cả. Cần mắt để làm gì, mắt là thứ tham lam nhất trên trần đời, nhìn cái gì cũng chia ra tốt hay xấu, xinh hay không xinh, nhìn cái gì muốn có cái đó, trên mặt người ta có một cái sẹo cũng có thể để trong tim suốt đời.

Cũng có người nêu ra ví dụ, nếu vợ mù trông thấy mặt chồng bị phỏng sẽ có cảm tưởng thế nào. Lại có người đặt giả thuyết, nếu chồng nhìn thấy hai tròng mắt vợ lõm hẳn xuống, liệu có hối hận lời mình nói không? Bởi vì chúng ta có mắt, cho nên khi chúng ta nhìn người, chỉ dựa vào cảm giác của mắt mà quên dùng trái tim. Đúng như người vợ mù đã nói, con mắt của trái tim mới là sáng nhất, thật nhất.” (Truyện kể trích dẫn từ trang mạng, nhiều vô kể)

Kể truyện vợ chồng mù như thế, cũng chỉ để nói thêm đôi lời bàn của người kể bảo rằng: Có những điều được kể về ngày tháng năm sinh của Chúa hoặc về Ơn cứu độ nhập thể, ta chỉ hiểu được bằng con tim, chứ không thể bằng trí óc. Kể về sự kiện Chúa nhập thể đã là khó, nói chi đến chuyện chép ghi năm tháng rõ ràng như lịch-sử, ở ngoài đời.
Bởi thế nên, hôm nay bần đạo đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta hát thêm đọan kế tiếp trong bản trường ca “Con Đường Cái Quan” của nhạc sĩ họ Phạm làm đọan kết:

Hò hô hò hò ơi hò.
Ai đi trên đường là dặm đường,
đi mô mà vội vã (à), cùng là hò khoan
Hố hô hò (ơ) khoan.   
Hò hố hò hòi ơi hò,
Khoan, khoan tôi mời là mời bạn
Vui là họp đoàn đêm nay chừ là (a) nay
Hố hô hò (o) khoan.”
(Phạm Duy – bđd)

Vậy, cứ hò hụ rồi hò khoan cho nhiều rồi cứ thế, ta kết thúc câu chuyện Ngày Chúa Giáng Hạ, bằng lời ca cứ hát tiếp:

“Tới đây, lạ xứ quen người,
Trăm bề nhũn nhặn đừng cười tôi nghe.
Ví dầu tình bén duyên thề,
Thì xin kết bạn đền nghì trúc mai...”
(Phạm Duy – bđd)

Tình đã bén. Duyên đã thề, chắc chắn rằng tới được xứ lạ người quen ở chốn gian trần này, trăm bề nhũn nhặn không cười mà vẫn nhớ. Nhớ lời thánh sử còn ghi mãi rằng:

“Ngôi Lời ở giữa thế gian,
Và thế gian đã nhờ Người mà có
Nhưng lại không nhận biết Người.”
(Ga 1: 10)

Vâng. Ngôi Lời đầy Tình Thương Yêu đã “ở giữa thế gian”, ngay từ đầu. Thế mà người người vẫn “không nhận biết Người”, là bởi người người vẫn cứ tranh và cãi về năm tháng ngày giờ Người đã đến. Tranh và cãi, mãi mãi đến muôn đời, rất khôn nguôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Cũng không dám nhi nhô về bất cứ thứ gì
vì chỉ biết có mỗi điều là mình chẳng biết gì,
hoặc có biết cũng chẳng là bao nhiêu.
Nên, vẫn cứ để tai nghe biết mà ghi tạc vào lòng.
Chỉ thế thôi.

    


                                  

Saturday, 4 January 2014

“Trăng lên cao muôn hoa sóng giăng đầy,”



 Chuyện Phiếm đọc trong tuần Lễ Chúa chịu Phép Rửa Năm A 12-01-2013

“Trăng lên cao muôn hoa sóng giăng đầy,”
Tầu lắc lư làm sao viết thư tình.”
 (Anh Thy – Lính Mà Em)
(Mt 18: 6/Ys 9: 2)
             Nếu cứ hát: “Lính mà em!” là cố ý bảo rằng: người anh của em tha hồ làm nhiều điều lạ lùng/nghịch ngạo chỉ vì anh là “lính”!? Nếu vẫn ca: “Tầu lắc lư làm sao viết thư tình”, là coi đó như lý do để phân bua cùng những người em ở nhà trách anh sao chậm thư từ, đến là thế?
            “Lính mà em!” phải chăng cũng là lý lẽ và lý sự khiến anh và em bỏ qua những gì mà đám trẻ nít nhiều lúc đã biết nói khôn nói khéo như truyện nhà Đạo, nay xin kể:

            “Truyện rằng:
Hôm ấy, vừa ở nhà thờ ra, bé em nọ đã sà vào lòng mẹ thỏ thẻ đôi điều ra chiều ưu tư lắm:
-Mẹ à! Có thể nào mẹ cho con một đô thôi để con qua bên kia đường đưa cho bà cụ bên ấy được không mẹ?
Rất cảm kích trước nghĩa cử thương người của cô gái cưng tuy bé nhỏ, mẹ hiền bèn móc túi đưa cho con mình chỉ một đô. Đưa xong, mẹ hiền sực nhớ ra như có điều gì không ổn bèn hỏi:
-Thế, con có tìm hiểu xem bà ấy còn sức lao động hay không thế?
-Chắc chắn là còn, mẹ à. Bà cụ lao động nhanh nhẹn cả khi bán bánh kẹo cho con nít, đấy mẹ!”
-Thế hả? Con Gái của mẹ nít nôi mà giỏi thế, chứ!?!”

“Nít nôi mà giỏi thế!” là câu nói để mọi người có thể bỏ qua những gì trẻ nhỏ tìm cách vòi tiền mẹ để mua quà. Thế còn người lớn thì sao? Nếu người lớn mà cũng nói và làm những việc “kỳ lạ” phản luân thường đạo lý hoặc gây tai tiếng, nhất là người nhà đạo, thì mọi người gọi những hành xử này cách chung là gây “xì-căng-đan”, hệt như thế. Trong Đạo mình cũng thế, đôi lúc cũng thấy một vài khúc mắc như ai đó đã đặt ra và ghi thư hỏi đấng bậc ở Sydney, như sau:

“Thưa Cha.
Con cũng không biết lâu nay Hội thánh định-nghĩa ra sao tai tiếng, khiến thành tội, phải đi xưng. Con thấy, như ông hàng xóm của con là ông A tuy có đạo nhưng vẫn làm những chuyện tày trời gây tai tiếng khiến chòm xóm ngán ngẫm. Hoặc, như bà B ở giáo xứ của con vẫn đi lễ thường xuyên nhưng lại có những hành-xử thiếu tư-cách làm mất uy-tín con nhà có đạo, tạo “xì-căng-đan” cho nhiều người. Bằng thư này, xin Cha giải thích cho biết chuyện gây tai tiếng khi nào thì thành tội, khi nào không, để con biết tội mà đi xưng. Cảm ơn Cha nhiều. (Câu hỏi của một người đi Đạo thấy điều chướng mắt thì hỏi cha/cố, chứ không có ý gì khác).

“Chuyện tai tiếng dễ thành tội” mà người hỏi ở đây đặt ra, có lẽ là một trong những chuyện khiến bạn và tôi, ta cần minh định sao cho ra nhẽ kẻo rồi người người cứ bảo dân đi Đạo chẳng để tâm gì những chuyện như thế. Nhưng, trước khi có được một giải đáp thoả đáng, tưởng cũng nên về với bài hát ở trên để minh-hoạ lập trường của nhiều người.

“Tầu về bến anh hẹn mình dạo phố.
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Thường dỗi anh “kìa đi gì mau vậy?”
Anh mỉm cười khẽ nói “Lính mà em!”
(Anh Thy – bđd)     

Mỉm cười rồi khẽ nói, nhưng không phải là nói “Lính mà em!” hoặc: “Nít nôi mà anh!” cho bằng cứ nói thẳng/nói thật bằng lời giải của đấng bậc rất nghe quen là Đức Thày John Flader ở Sydney, như sau:

“Đúng như anh/chị nói, người thường ở đời vẫn hay dùng cụm từ “xì-căng-đan” phiên âm từ tiếng Anh, tiếng Pháp có ý bảo rằng đây là điều “miệng tiếng”, mất phẩm-cách, tức: kể về uy-tín bị lung lạc do tự tiếng Hy Lạp “skandalon” có nghĩa như một lầm lỡ, sơ hở hoặc cạm bẫy đặt ra cho con người. Khi có ai nói người nào đó thấy mình bị mất tiếng tăm hoặc uy-tín là có ý bảo rằng: họ bị cú “sốc” đến hãi sợ do thái-độ hoặc hành-xử mất luân-thường đạo-lý. Thế nhưng, dù bị như thế, đương sự vẫn không nghiêng theo chiều hướng bắt chước lối sống như vậy. Ngược lại là đàng khác. Giống hệt thế, khi nói hành động của ai đó bị coi là gây tai tiếng/mất uy-tín ta thường ám chỉ rằng: chẳng khi nào ta đồng ý với sự việc như thế. Một lần nữa, ta không ngả theo khuynh-hướng bắt chước lối hành xử tồi tệ như vậy.

Tuy nhiên, khi ta nói người nào đó tạo xì-căng-đan hoặc gậy tai tiếng, là có ý bảo rằng: người như thế đã hành-động theo cách tạo gương mù gương xấu khiến người khác dễ mắc tội. Đây, là ý-nghĩa rất đúng được ghi rõ ở thần học luân-lý của Giáo Hội. Sách Giáo lý Hội thánh Công-giáo từng viết: “Tai tiếng, là động-thái kéo người khác vào tình trạng gian tà độc ác, gây tai tiếng tương tự như người chủ mưu xúi giục kẻ khác làm bậy. Làm thế, rõ ràng người gây tai tiếng còn phá hoại gia cang và phẩm cách của người khác. Hành động này còn lôi kéo anh chị em trong cộng đoàn mình đi vào nỗi chết về linh hồn. Gây tai tiếng là tội nặng nếu người chủ động hành-xử theo cách coi thường người khác một cách cố ý còn  dẫn đến tội trọng nữa.” (xem sách GLHTCG đoạn #2284)

Điều xấu xa/tồi tệ hơn là: bằng việc này, người chủ động lại gây hại cho người khác bằng cách đưa họ vào vòng cương toả của tội khiên. Giả như ta đánh đập, chửi rủa hoặc nói hành người khác, làm thế tức là: ta khiến cho tương-quan giữa họ với Chúa bị liên-lụy và không biết rằng tương-quan ấy là sở-hữu chính đáng, rất vô giá. Thế nhưng, giả như ta lôi kéo người khác vào đàng tội lỗi, có khi còn gây hại cho quan-hệ sống với Chúa và tạo ảnh hưởng tai-hại cho ơn cứu độ của họ nữa. Sách Giáo lý cũng nói: người gây tai tiếng còn biến mình tệ hơn Satăng vì đã lôi kéo người khác vào cõi chết về mặt linh-hồn hoặc lâm vào đường tội. Quả như sách Giáo lý Hội thánh từng khẳng-định, giả như hành-động của ta lôi cuốn người nào vào vòng tội lỗi, thì người chủ động cũng mắc phải tội trọng tương tự.

Nghiêm trọng hơn, là tai tiếng do những người nắm quyền sinh sát trên kẻ yếu, đưa họ vào vòng tội khiên. Trong số những người dễ thành chủ-động để làm những việc tồi tệ như thế phải kể đến: bậc cha mẹ, thày cô, linh-mục và cả những người dễ lôi kéo trẻ nhỏ vào tròng nữa. Trong Tin Mừng, Chúa lên án nặng sự việc này, khi Ngài dạy: Những ai làm cớ vấp phạm khiến một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ họ mà xô chìm xuống đáy biển còn hơn. Khốn cho thế gian, vì đã làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên, cũng có những cớ khiến nhiều người vấp ngã, nhưng khốn cho kẻ tạo cớ cho người ta vấp ngã.(Mt 18: 6)

Sách Giáo lý Hội thánh còn dạy: “Việc gây tai tiếng/lỗi phạm sẽ thành tội khi sự việc do người chủ động có vị thế tự nhiên hoặc mang trọng-trách giáo dục dạy dỗ kẻ dưới mình. Chính Chúa đã nặng lời quở trách các kinh sư/Biệt Phái về chuyện này và Ngài ví họ như sói dữ đội lốt chiên lành.” (GLHTCG đoạn #2285; Lc 17: 1)

Có nhiều cách khiến con người phạm lỗi gây tai tiếng. Nói rõ hơn, là: trực tiếp lôi cuốn kẻ khác vào vòng tội lỗi. Chẳng hạn như: thanh thiếu niên còn non trẻ lại đã ăn nằm xác thịt với đàn bà/con gái; hoặc người đã có gia đình rồi lại dụ dỗ người nào khác không phải là phối ngẫu của mình làm chuyện dục tình ngoài hôn-nhân; hoặc người nào đó dụ kẻ khác cùng đi xem phim hoặc văn nghệ tồi tệ trình diễn các màn mất nết, không đàng hoàng/tử tế; hoặc những người khích-động kẻ khác đồng lõa phạm tội ác; hoặc doanh thương quyền thế nào dùng quyền ra lệnh cho nhân viên thuộc cấp nói dối với khách hàng, vv... những người như thế đều mắc tội gây tiếng xấu và phải chịu trách nhiệm không chỉ mỗi tội của mình thôi, mà cả các lỗi phạm của người bị lôi vào vòng tội lỗi nữa.

Cách gây cớ vấp phạm thấy rõ hơn cả, là: làm gương mù gương xấu mà không cần kéo người khác vào cảnh trầm luân, cũng mắc cùng một tội như vậy. Hành-động gây gương mù gương xấu cho người khác, còn bao gồm cả chuyện dùng lời thô lỗ/tục tằn, hoặc ăn mặc hở hang/khiếm nhã, ca tụng phim ảnh trình diễn các màn đồi trụy, bê tha rượu chè quá mức, vv... Đây là những điều ta gọi được là tạo cớ vấp phạm, gây gương mù gương xấu làm hại uy tín, phẩm-cách con người. Thanh niên thiếu nữ nào hành động vì mục-đích tương tự, như: ăn mặc lố lăng hoặc có hành-động mất nết khiến người khác nhìn vào đã thấy bị cám dỗ làm chuyện đồi phong bại tục hoặc có tư tưởng vẩn đục, mơ ước chuyện tục tằn, dục vọng có hệ quả như việc người khác đã làm. Bậc cha mẹ có trách-nhiệm nuôi dạy con cái phải chăm nom cho con mình ăn vận tử tế và hành-xử nết na, hiền dịu, đúng cách mới xứng đáng làm cha làm mẹ.

Chính-trị gia nào bỏ phiếu chấp thuận việc ban hành đạo luật cho phép người dân trong xứ làm chuyện phản luân thường đạo lý theo cách này khác, như: phá thai, dàn dựng phim kịch đồi trụy hoặc nghiên-cứu tạo mầm “gien” nhân-tạo đều mắc tội tạo gương mù gương xấu, gây tai tiếng và phải chịu trách-nhiệm về những tội người khác phạm vì hậu quả do mình gây ra. Hệt như thế, các nhà làm phim đồi trụy, hoặc những người buôn bán áo quần khiêu dâm, các chủ điếm vv.. đều có tội vì đích thân mang tai mang tiếng theo mức độ lớn. Gây hại hoặc tai tiếng có thể chỉ gồm việc kích động, cố vấn hoặc chỉ dạy người khác làm điều xằng bậy và/hoặc không ra tay cản ngăn những người khác làm điều đồi bại nếu biết họ đang tính chuyện xằng bậy, cũng đều như thế hết.

Nói tóm lại, sách Giáo lý Hội thánh còn dạy: “Bất cứ ai sử dụng quyền-hành mình có bằng cách này hay cách khác khiến người khác làm chuyện xằng bậy, cũng mắc tội gây tai tiếng tạo gương mù gương xấu khiến người khác vấp ngã, phải chịu trách-nhiệm về những chuyện xấu do mình trực tiếp hoặc gián tiếp khích-động kẻ khác làm chuyện xằng bậy. Cám dỗ người khác phạm tội là điều dễ làm, tạo điều kiện cho người khác làm việc xằng bậy cũng dễ như thế, mà thôi.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 01/12/2013 tr. 10)


Theo ý của đấng bậc nhà Đạo ở trên, thì chuyện gây “xì-căng-đan” tạo nên tội kèm nhiều phần như thế. Giấy trắng mực đen thì như vậy; nhưng trong sống đạo thực tế, thì ai là người ra phán quyết? Và, có phải là mọi trường hợp đều như thế hay không, hoặc vì thiếu hiểu biết,  thiếu cơ hội nên mới gây ngộ nhận?
Nói theo đức thày ở trên, thì: theo cách mọi người hiểu, là: ta phải sống đàng hoàng, tử tế, nết na. Nghe thì cũng tốt. Vì, đó là chuẩn mực cho con dân đi Đạo biết mà thực hiện nhưng ‘phải thế này, phải thế nọ’. Tuy nhiên, cũng nên để ý chú trọng mặt tích cực của sự việc để ‘một đời đi đạo’ là một đời vui chứ không chỉ chăm chăm chú chú vào những gì sẽ là tội trọng/tội nhẹ. Một khi dân con nhà đạo sống đời đi Đạo thật vui, thì bản ngã của mình sẽ triển nở trong yêu thương, đương nhiên các ‘xì căng đan’/gương mù gương xấu gây trọng tội sẽ không còn đất đứng trong cuộc đời đi đạo nữa. Muốn vậy, tưởng cũng nên  nghe ngóng từ nhiều đấng bậc nói về niềm “vui” chung, có Chúa phù trợ, như lời diễn giải Tin Mừng ngày Chúa Giáng hạ, như sau:

“Truyền thống Giáo hội có cả một giòng sử dài về “niềm vui” như sự thể con tim chân chính đã mở rộng cửa. Thế đó, là loại hình mở lòng mình đến dư tràn. Là, gia tăng bản-thể người, là phình rộng toàn-bộ cái “ngã” của bản thân. Vui như thế, không chỉ là niềm tin linh thiêng, khắc kỷ. Mà là, niềm vui thông thoáng ở tình huống rất thế gian. Vui đi, rồi sẽ thấy con tim mình rộng mở để còn yêu...

Khi đã vui là thấy mình ở khắp mọi nơi, sâu sắc nhiều và sẽ tiếp cận nhiều người hơn. Và khi đó, ta lại cứ hỏi mình khởi đầu từ đâu và kết thúc ở điểm nào? Có gì đổi thay, rộng mở hơn không, khi mình vui?

Người có đời sống vui, sẽ có thời gian để sống như ý muốn. Đường dài cuộc sống, là chất bào mòn những mép cạnh gai góc của “bản ngã” cần xoá bỏ, giống như cục tuyết cứng như đá nhưng lại sẽ mềm nhũn khi tan vữa. Tất cả mọi thứ, rồi sẽ vữa chảy trong ký ức về sự tốt đẹp kéo dài từ ngàn xưa. Và, tất cả sẽ dấy lên thành niềm thương yêu/âu yếm thật rất mới, rất mạnh và trải dài qua nhiều tương phản. Sống vui, là sống yêu thương khác thường, rất cuồng nhiệt, thật chính đáng...” (xem Lm Kevin O’Shea, Lời Chúa Sẻ San Chúa Nhật Thứ 4 mùa Vọng năm A)

Nói cho cùng, có được niềm vui đi Đạo và sống Đạo sẽ làm lòng người tự-khắc giảm thiểu hoặc chấm dứt các “xì-căng-đan” dữ dội nhất. Niềm vui sống Đạo như thế, còn được thánh Augustinô có lần từng nói: “Hãy cứ yêu đi, rồi làm gì thì làm” (“Ama, fac quod vis”).
Nói cho cùng, “xì-căng-đan” đôi lúc cũng chỉ là những “đan-căng-xì” cứ lình bình, như câu hát ở đâu đó còn vang vọng:

“Hỡi em yêu! Nhớ đến với anh,
Ngày nào anh về bến, bên nhau.
Chúng ta thương thật nhiều
Tàu về bến anh hẹn mình dạo phố...
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Thường dỗi “kìa đi gì mau vậy?”                                        
Anh mỉm cười khẽ nói: ‘Lính mà em!’
(Anh Thy – bđd)

Thế nghĩa là: có nói gì thì nói. Nói Đông nói Tây, nói hươu nói vượn, cũng đừng quên nói tiếng “Hỡi Em yêu...” Bởi, đã quyết yêu rồi sẽ tha hồ mà nói. Có nói gì, thì em thì anh cũng chẳng chấp nê ngôn ngữ với ngôn từ. Bởi, cuối cùng thì anh cũng bảo “Lính mà Em!”. Hoặc, cuối cùng thì mẹ cũng bảo với bố già khó tính hôm nào hay trách và móc: “Nít nôi mà anh!”
Hôm nay đây, có bạn đạo cũng muốn nói đôi điều; nhưng, lại không nói bằng câu thơ hoặc ý nhạc, mà chỉ nói bằng truyện kể nhè nhẹ để rồi, cuối cùng, cũng sẽ nói bằng Lời Vàng khi xưa Thày Chí Ái vẫn nói hoài mà ai nhớ để tai nghe.
Vậy thì, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm lần nữa những lời nói có kể truyện nhé:

“Truyện rằng:
Một buổi trưa mùa hạ nắng như thiêu đốt, một phụ nữ mù lòa bước đi chậm chạp trên con đường mòn ở vùng ngoại ô thưa thớt dân cư. Tay không cầm gậy, lối đi này rất quen thuộc với bà. Bên vệ đường có một cây to, bà rẽ... vào đó dường như để trốn cơn nắng hạ dưới bóng mát tàn cây phủ trùm trên một khoảng đất rộng. Có thể bà sẽ nghỉ trưa ở đây như bà đã từng làm như thế sau những buổi đi xin.

Bà đến gần gốc cây. Bà sẽ dựa vào gốc cây để tìm một giấc ngủ yên lành. Bà sẽ cảm thấy hạnh phúc không thua gì một mệnh phụ ngã lưng trên chiếc giường nệm êm ái. Bà đang mơ màng với thứ hạnh phúc lớn lao nhất mà bà sắp có, thì bất ngờ vấp phải vật gì, bà chao đảo, chưa kịp lấy lại thăng bằng, thì bà nghe một tràng âm thanh chua chát:
- Ai đó? Bộ đui mù rồi hay sao mà không thấy tui ngồi đây vậy? Thứ đồ gì mà sớn sác thế?
- Xin lỗi, xin lỗi! Tôi mù cô ạ! tôi mù thật! Cho tôi xin lỗi! Xin lỗi cô! Bà hốt hoảng trả lời khi gượng đứng lên được.

Giọng nói thanh thót quá, chắc là cô ấy còn nhỏ lắm, tuổi cỡ con mình là cùng. Bà nghĩ thế và bà hối hận vì thái độ bất cẩn của mình. Im lặng! Không có tiếng trả lời! Đúng như người phụ nữ suy đoán, tiếng nói phàn nàn gây gắt vừa rồi là của một cô bé trạc tuổi mười bốn mười lăm, có điều bà không biết được rằng, cô bé ấy cũng mù như bà. Cô bé cũng đi xin và dừng chân nghỉ nơi này trước bà.

Cô bé hối hận vì lời nói vừa rồi, cô bé im lặng! Nghe ngóng một lúc, người phụ nữ mù lòa vẫn không nghe lời nào đáp lại. Bà nói lớn lên một lần nữa: Cho tôi xin lỗi nhé! Tôi mù! Tôi mù thật đó! Rồi bà quay lưng bước đi. Chợt cô bé gọi lại:
-Nè bà ơi, tôi cho bà một ngàn nè!
Số tiền duy nhất mà cô đang có. Nghe thế, bà rất mừng. Bà mừng vì nghĩ cô bé tha thứ cho mình, hơn là mừng vì nhận được một ngàn đồng. Bà dừng lại, quay ngược chiếc nón lá cũ kỹ đưa về phía tiếng nói. Chợt một chiếc lá vàng rơi vào chiếc nón của bà. Bà tưởng cô bé bỏ tiền vào nón, bà nói:
-Cám ơn cô, cám ơn cô!
Nhưng khi bà thọc tay vào nón lấy tiền, bà mới nhận ra đó chỉ là một chiếc lá khô. Bà lẩm bẩm: Cô bé gạt mình. Chắc cô bé còn giận mình. Bà buồn bã quay đi!

Trong khi đó, cô bé cầm tờ giấy một ngàn đồng đưa về phía bà chờ đợi bà lấy. Nhưng cô bé lại nghe tiếng bước chân xa dần.
-Bà ấy không lấy tiền, chắc bà ấy còn giận mình.
Cô bé nghĩ như vậy và lòng vô cùng buồn bã.  (Sưu tầm từ Internet)

Nghe truyện kể, người đọc hay đưa ra ý kiến phản-hồi, lại cứ bảo: truyện hai người đàn bà một già một trẻ ở trên chẳng liên quan gì đến đề tài “xì-căng-đan”, sao cứ kể? Ngay, đến tư-tưởng “ngộ nhận” về việc làm cũng như ý-nghĩ của cả hai người phụ nữ mù đâu nào cho thấy gì là “tai tiếng” hết!
Nhưng hôm nay, người kể lại níu mọi người dừng lại để thanh-minh một điều, là: cả bà cụ lẫn cô gái mù lòa đều có lòng rộng mở, tha thứ nhưng vì mù nên cả hai đều suy diễn hành xử tích cực của người khác thành tiêu cực để rồi cả hai đều ‘lòng vô cùng buồn bã’. Và, ở đời thường, có những điều mình cứ tưởng là chuyện thường, nhưng nó lại là chuyện gây “xì-căng-đan”, rất tai tiếng.
Và, cũng có những chuyện tai tiếng rất “xì-căng-đan”, thế mà người đời lại cứ coi như sự thường. Vẫn sống như không có mặt trời, mặt trăng soi dọi, gì hết trọi. Bằng chứng ư? Người kể lại xin bạn bè/người thân để ít phút ra mà tìm kiếm, sẽ thấy ngay.
Hôm nay đây, bần đạo chỉ đề nghị bạn và tôi, ta về với vườn “ngự uyển” có thơ văn đầy dẫy ý lời sâu sắc, trong đó có ngôn sứ nói thay cho Giavê Thiến-Chúa để khích-lệ mọi người rằng:

Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.”
(Ys 9: 2)

Quả là: người người vẫn nhớ thế nào là ‘xì căng đan’ nhưng lại cứ tâm niệm rằng: hãy cứ yêu đi rồi sẽ thấy vui. Và, hãy cứ vui đi, mọi chuyện rồi cũng sẽ được giải quyết cách êm ái, cả những chuyện tưởng rằng dễ sợ, rất điều tiếng. Vui, để yêu nhiều yêu mãi, yêu dài dài rất nhiều người.

Trần Ngọc Mươi Hai
Đồng ý sẽ cố vui
Suốt một đời.