Saturday, 4 January 2014

“Trăng lên cao muôn hoa sóng giăng đầy,”



 Chuyện Phiếm đọc trong tuần Lễ Chúa chịu Phép Rửa Năm A 12-01-2013

“Trăng lên cao muôn hoa sóng giăng đầy,”
Tầu lắc lư làm sao viết thư tình.”
 (Anh Thy – Lính Mà Em)
(Mt 18: 6/Ys 9: 2)
             Nếu cứ hát: “Lính mà em!” là cố ý bảo rằng: người anh của em tha hồ làm nhiều điều lạ lùng/nghịch ngạo chỉ vì anh là “lính”!? Nếu vẫn ca: “Tầu lắc lư làm sao viết thư tình”, là coi đó như lý do để phân bua cùng những người em ở nhà trách anh sao chậm thư từ, đến là thế?
            “Lính mà em!” phải chăng cũng là lý lẽ và lý sự khiến anh và em bỏ qua những gì mà đám trẻ nít nhiều lúc đã biết nói khôn nói khéo như truyện nhà Đạo, nay xin kể:

            “Truyện rằng:
Hôm ấy, vừa ở nhà thờ ra, bé em nọ đã sà vào lòng mẹ thỏ thẻ đôi điều ra chiều ưu tư lắm:
-Mẹ à! Có thể nào mẹ cho con một đô thôi để con qua bên kia đường đưa cho bà cụ bên ấy được không mẹ?
Rất cảm kích trước nghĩa cử thương người của cô gái cưng tuy bé nhỏ, mẹ hiền bèn móc túi đưa cho con mình chỉ một đô. Đưa xong, mẹ hiền sực nhớ ra như có điều gì không ổn bèn hỏi:
-Thế, con có tìm hiểu xem bà ấy còn sức lao động hay không thế?
-Chắc chắn là còn, mẹ à. Bà cụ lao động nhanh nhẹn cả khi bán bánh kẹo cho con nít, đấy mẹ!”
-Thế hả? Con Gái của mẹ nít nôi mà giỏi thế, chứ!?!”

“Nít nôi mà giỏi thế!” là câu nói để mọi người có thể bỏ qua những gì trẻ nhỏ tìm cách vòi tiền mẹ để mua quà. Thế còn người lớn thì sao? Nếu người lớn mà cũng nói và làm những việc “kỳ lạ” phản luân thường đạo lý hoặc gây tai tiếng, nhất là người nhà đạo, thì mọi người gọi những hành xử này cách chung là gây “xì-căng-đan”, hệt như thế. Trong Đạo mình cũng thế, đôi lúc cũng thấy một vài khúc mắc như ai đó đã đặt ra và ghi thư hỏi đấng bậc ở Sydney, như sau:

“Thưa Cha.
Con cũng không biết lâu nay Hội thánh định-nghĩa ra sao tai tiếng, khiến thành tội, phải đi xưng. Con thấy, như ông hàng xóm của con là ông A tuy có đạo nhưng vẫn làm những chuyện tày trời gây tai tiếng khiến chòm xóm ngán ngẫm. Hoặc, như bà B ở giáo xứ của con vẫn đi lễ thường xuyên nhưng lại có những hành-xử thiếu tư-cách làm mất uy-tín con nhà có đạo, tạo “xì-căng-đan” cho nhiều người. Bằng thư này, xin Cha giải thích cho biết chuyện gây tai tiếng khi nào thì thành tội, khi nào không, để con biết tội mà đi xưng. Cảm ơn Cha nhiều. (Câu hỏi của một người đi Đạo thấy điều chướng mắt thì hỏi cha/cố, chứ không có ý gì khác).

“Chuyện tai tiếng dễ thành tội” mà người hỏi ở đây đặt ra, có lẽ là một trong những chuyện khiến bạn và tôi, ta cần minh định sao cho ra nhẽ kẻo rồi người người cứ bảo dân đi Đạo chẳng để tâm gì những chuyện như thế. Nhưng, trước khi có được một giải đáp thoả đáng, tưởng cũng nên về với bài hát ở trên để minh-hoạ lập trường của nhiều người.

“Tầu về bến anh hẹn mình dạo phố.
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Thường dỗi anh “kìa đi gì mau vậy?”
Anh mỉm cười khẽ nói “Lính mà em!”
(Anh Thy – bđd)     

Mỉm cười rồi khẽ nói, nhưng không phải là nói “Lính mà em!” hoặc: “Nít nôi mà anh!” cho bằng cứ nói thẳng/nói thật bằng lời giải của đấng bậc rất nghe quen là Đức Thày John Flader ở Sydney, như sau:

“Đúng như anh/chị nói, người thường ở đời vẫn hay dùng cụm từ “xì-căng-đan” phiên âm từ tiếng Anh, tiếng Pháp có ý bảo rằng đây là điều “miệng tiếng”, mất phẩm-cách, tức: kể về uy-tín bị lung lạc do tự tiếng Hy Lạp “skandalon” có nghĩa như một lầm lỡ, sơ hở hoặc cạm bẫy đặt ra cho con người. Khi có ai nói người nào đó thấy mình bị mất tiếng tăm hoặc uy-tín là có ý bảo rằng: họ bị cú “sốc” đến hãi sợ do thái-độ hoặc hành-xử mất luân-thường đạo-lý. Thế nhưng, dù bị như thế, đương sự vẫn không nghiêng theo chiều hướng bắt chước lối sống như vậy. Ngược lại là đàng khác. Giống hệt thế, khi nói hành động của ai đó bị coi là gây tai tiếng/mất uy-tín ta thường ám chỉ rằng: chẳng khi nào ta đồng ý với sự việc như thế. Một lần nữa, ta không ngả theo khuynh-hướng bắt chước lối hành xử tồi tệ như vậy.

Tuy nhiên, khi ta nói người nào đó tạo xì-căng-đan hoặc gậy tai tiếng, là có ý bảo rằng: người như thế đã hành-động theo cách tạo gương mù gương xấu khiến người khác dễ mắc tội. Đây, là ý-nghĩa rất đúng được ghi rõ ở thần học luân-lý của Giáo Hội. Sách Giáo lý Hội thánh Công-giáo từng viết: “Tai tiếng, là động-thái kéo người khác vào tình trạng gian tà độc ác, gây tai tiếng tương tự như người chủ mưu xúi giục kẻ khác làm bậy. Làm thế, rõ ràng người gây tai tiếng còn phá hoại gia cang và phẩm cách của người khác. Hành động này còn lôi kéo anh chị em trong cộng đoàn mình đi vào nỗi chết về linh hồn. Gây tai tiếng là tội nặng nếu người chủ động hành-xử theo cách coi thường người khác một cách cố ý còn  dẫn đến tội trọng nữa.” (xem sách GLHTCG đoạn #2284)

Điều xấu xa/tồi tệ hơn là: bằng việc này, người chủ động lại gây hại cho người khác bằng cách đưa họ vào vòng cương toả của tội khiên. Giả như ta đánh đập, chửi rủa hoặc nói hành người khác, làm thế tức là: ta khiến cho tương-quan giữa họ với Chúa bị liên-lụy và không biết rằng tương-quan ấy là sở-hữu chính đáng, rất vô giá. Thế nhưng, giả như ta lôi kéo người khác vào đàng tội lỗi, có khi còn gây hại cho quan-hệ sống với Chúa và tạo ảnh hưởng tai-hại cho ơn cứu độ của họ nữa. Sách Giáo lý cũng nói: người gây tai tiếng còn biến mình tệ hơn Satăng vì đã lôi kéo người khác vào cõi chết về mặt linh-hồn hoặc lâm vào đường tội. Quả như sách Giáo lý Hội thánh từng khẳng-định, giả như hành-động của ta lôi cuốn người nào vào vòng tội lỗi, thì người chủ động cũng mắc phải tội trọng tương tự.

Nghiêm trọng hơn, là tai tiếng do những người nắm quyền sinh sát trên kẻ yếu, đưa họ vào vòng tội khiên. Trong số những người dễ thành chủ-động để làm những việc tồi tệ như thế phải kể đến: bậc cha mẹ, thày cô, linh-mục và cả những người dễ lôi kéo trẻ nhỏ vào tròng nữa. Trong Tin Mừng, Chúa lên án nặng sự việc này, khi Ngài dạy: Những ai làm cớ vấp phạm khiến một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ họ mà xô chìm xuống đáy biển còn hơn. Khốn cho thế gian, vì đã làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên, cũng có những cớ khiến nhiều người vấp ngã, nhưng khốn cho kẻ tạo cớ cho người ta vấp ngã.(Mt 18: 6)

Sách Giáo lý Hội thánh còn dạy: “Việc gây tai tiếng/lỗi phạm sẽ thành tội khi sự việc do người chủ động có vị thế tự nhiên hoặc mang trọng-trách giáo dục dạy dỗ kẻ dưới mình. Chính Chúa đã nặng lời quở trách các kinh sư/Biệt Phái về chuyện này và Ngài ví họ như sói dữ đội lốt chiên lành.” (GLHTCG đoạn #2285; Lc 17: 1)

Có nhiều cách khiến con người phạm lỗi gây tai tiếng. Nói rõ hơn, là: trực tiếp lôi cuốn kẻ khác vào vòng tội lỗi. Chẳng hạn như: thanh thiếu niên còn non trẻ lại đã ăn nằm xác thịt với đàn bà/con gái; hoặc người đã có gia đình rồi lại dụ dỗ người nào khác không phải là phối ngẫu của mình làm chuyện dục tình ngoài hôn-nhân; hoặc người nào đó dụ kẻ khác cùng đi xem phim hoặc văn nghệ tồi tệ trình diễn các màn mất nết, không đàng hoàng/tử tế; hoặc những người khích-động kẻ khác đồng lõa phạm tội ác; hoặc doanh thương quyền thế nào dùng quyền ra lệnh cho nhân viên thuộc cấp nói dối với khách hàng, vv... những người như thế đều mắc tội gây tiếng xấu và phải chịu trách nhiệm không chỉ mỗi tội của mình thôi, mà cả các lỗi phạm của người bị lôi vào vòng tội lỗi nữa.

Cách gây cớ vấp phạm thấy rõ hơn cả, là: làm gương mù gương xấu mà không cần kéo người khác vào cảnh trầm luân, cũng mắc cùng một tội như vậy. Hành-động gây gương mù gương xấu cho người khác, còn bao gồm cả chuyện dùng lời thô lỗ/tục tằn, hoặc ăn mặc hở hang/khiếm nhã, ca tụng phim ảnh trình diễn các màn đồi trụy, bê tha rượu chè quá mức, vv... Đây là những điều ta gọi được là tạo cớ vấp phạm, gây gương mù gương xấu làm hại uy tín, phẩm-cách con người. Thanh niên thiếu nữ nào hành động vì mục-đích tương tự, như: ăn mặc lố lăng hoặc có hành-động mất nết khiến người khác nhìn vào đã thấy bị cám dỗ làm chuyện đồi phong bại tục hoặc có tư tưởng vẩn đục, mơ ước chuyện tục tằn, dục vọng có hệ quả như việc người khác đã làm. Bậc cha mẹ có trách-nhiệm nuôi dạy con cái phải chăm nom cho con mình ăn vận tử tế và hành-xử nết na, hiền dịu, đúng cách mới xứng đáng làm cha làm mẹ.

Chính-trị gia nào bỏ phiếu chấp thuận việc ban hành đạo luật cho phép người dân trong xứ làm chuyện phản luân thường đạo lý theo cách này khác, như: phá thai, dàn dựng phim kịch đồi trụy hoặc nghiên-cứu tạo mầm “gien” nhân-tạo đều mắc tội tạo gương mù gương xấu, gây tai tiếng và phải chịu trách-nhiệm về những tội người khác phạm vì hậu quả do mình gây ra. Hệt như thế, các nhà làm phim đồi trụy, hoặc những người buôn bán áo quần khiêu dâm, các chủ điếm vv.. đều có tội vì đích thân mang tai mang tiếng theo mức độ lớn. Gây hại hoặc tai tiếng có thể chỉ gồm việc kích động, cố vấn hoặc chỉ dạy người khác làm điều xằng bậy và/hoặc không ra tay cản ngăn những người khác làm điều đồi bại nếu biết họ đang tính chuyện xằng bậy, cũng đều như thế hết.

Nói tóm lại, sách Giáo lý Hội thánh còn dạy: “Bất cứ ai sử dụng quyền-hành mình có bằng cách này hay cách khác khiến người khác làm chuyện xằng bậy, cũng mắc tội gây tai tiếng tạo gương mù gương xấu khiến người khác vấp ngã, phải chịu trách-nhiệm về những chuyện xấu do mình trực tiếp hoặc gián tiếp khích-động kẻ khác làm chuyện xằng bậy. Cám dỗ người khác phạm tội là điều dễ làm, tạo điều kiện cho người khác làm việc xằng bậy cũng dễ như thế, mà thôi.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 01/12/2013 tr. 10)


Theo ý của đấng bậc nhà Đạo ở trên, thì chuyện gây “xì-căng-đan” tạo nên tội kèm nhiều phần như thế. Giấy trắng mực đen thì như vậy; nhưng trong sống đạo thực tế, thì ai là người ra phán quyết? Và, có phải là mọi trường hợp đều như thế hay không, hoặc vì thiếu hiểu biết,  thiếu cơ hội nên mới gây ngộ nhận?
Nói theo đức thày ở trên, thì: theo cách mọi người hiểu, là: ta phải sống đàng hoàng, tử tế, nết na. Nghe thì cũng tốt. Vì, đó là chuẩn mực cho con dân đi Đạo biết mà thực hiện nhưng ‘phải thế này, phải thế nọ’. Tuy nhiên, cũng nên để ý chú trọng mặt tích cực của sự việc để ‘một đời đi đạo’ là một đời vui chứ không chỉ chăm chăm chú chú vào những gì sẽ là tội trọng/tội nhẹ. Một khi dân con nhà đạo sống đời đi Đạo thật vui, thì bản ngã của mình sẽ triển nở trong yêu thương, đương nhiên các ‘xì căng đan’/gương mù gương xấu gây trọng tội sẽ không còn đất đứng trong cuộc đời đi đạo nữa. Muốn vậy, tưởng cũng nên  nghe ngóng từ nhiều đấng bậc nói về niềm “vui” chung, có Chúa phù trợ, như lời diễn giải Tin Mừng ngày Chúa Giáng hạ, như sau:

“Truyền thống Giáo hội có cả một giòng sử dài về “niềm vui” như sự thể con tim chân chính đã mở rộng cửa. Thế đó, là loại hình mở lòng mình đến dư tràn. Là, gia tăng bản-thể người, là phình rộng toàn-bộ cái “ngã” của bản thân. Vui như thế, không chỉ là niềm tin linh thiêng, khắc kỷ. Mà là, niềm vui thông thoáng ở tình huống rất thế gian. Vui đi, rồi sẽ thấy con tim mình rộng mở để còn yêu...

Khi đã vui là thấy mình ở khắp mọi nơi, sâu sắc nhiều và sẽ tiếp cận nhiều người hơn. Và khi đó, ta lại cứ hỏi mình khởi đầu từ đâu và kết thúc ở điểm nào? Có gì đổi thay, rộng mở hơn không, khi mình vui?

Người có đời sống vui, sẽ có thời gian để sống như ý muốn. Đường dài cuộc sống, là chất bào mòn những mép cạnh gai góc của “bản ngã” cần xoá bỏ, giống như cục tuyết cứng như đá nhưng lại sẽ mềm nhũn khi tan vữa. Tất cả mọi thứ, rồi sẽ vữa chảy trong ký ức về sự tốt đẹp kéo dài từ ngàn xưa. Và, tất cả sẽ dấy lên thành niềm thương yêu/âu yếm thật rất mới, rất mạnh và trải dài qua nhiều tương phản. Sống vui, là sống yêu thương khác thường, rất cuồng nhiệt, thật chính đáng...” (xem Lm Kevin O’Shea, Lời Chúa Sẻ San Chúa Nhật Thứ 4 mùa Vọng năm A)

Nói cho cùng, có được niềm vui đi Đạo và sống Đạo sẽ làm lòng người tự-khắc giảm thiểu hoặc chấm dứt các “xì-căng-đan” dữ dội nhất. Niềm vui sống Đạo như thế, còn được thánh Augustinô có lần từng nói: “Hãy cứ yêu đi, rồi làm gì thì làm” (“Ama, fac quod vis”).
Nói cho cùng, “xì-căng-đan” đôi lúc cũng chỉ là những “đan-căng-xì” cứ lình bình, như câu hát ở đâu đó còn vang vọng:

“Hỡi em yêu! Nhớ đến với anh,
Ngày nào anh về bến, bên nhau.
Chúng ta thương thật nhiều
Tàu về bến anh hẹn mình dạo phố...
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Thường dỗi “kìa đi gì mau vậy?”                                        
Anh mỉm cười khẽ nói: ‘Lính mà em!’
(Anh Thy – bđd)

Thế nghĩa là: có nói gì thì nói. Nói Đông nói Tây, nói hươu nói vượn, cũng đừng quên nói tiếng “Hỡi Em yêu...” Bởi, đã quyết yêu rồi sẽ tha hồ mà nói. Có nói gì, thì em thì anh cũng chẳng chấp nê ngôn ngữ với ngôn từ. Bởi, cuối cùng thì anh cũng bảo “Lính mà Em!”. Hoặc, cuối cùng thì mẹ cũng bảo với bố già khó tính hôm nào hay trách và móc: “Nít nôi mà anh!”
Hôm nay đây, có bạn đạo cũng muốn nói đôi điều; nhưng, lại không nói bằng câu thơ hoặc ý nhạc, mà chỉ nói bằng truyện kể nhè nhẹ để rồi, cuối cùng, cũng sẽ nói bằng Lời Vàng khi xưa Thày Chí Ái vẫn nói hoài mà ai nhớ để tai nghe.
Vậy thì, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm lần nữa những lời nói có kể truyện nhé:

“Truyện rằng:
Một buổi trưa mùa hạ nắng như thiêu đốt, một phụ nữ mù lòa bước đi chậm chạp trên con đường mòn ở vùng ngoại ô thưa thớt dân cư. Tay không cầm gậy, lối đi này rất quen thuộc với bà. Bên vệ đường có một cây to, bà rẽ... vào đó dường như để trốn cơn nắng hạ dưới bóng mát tàn cây phủ trùm trên một khoảng đất rộng. Có thể bà sẽ nghỉ trưa ở đây như bà đã từng làm như thế sau những buổi đi xin.

Bà đến gần gốc cây. Bà sẽ dựa vào gốc cây để tìm một giấc ngủ yên lành. Bà sẽ cảm thấy hạnh phúc không thua gì một mệnh phụ ngã lưng trên chiếc giường nệm êm ái. Bà đang mơ màng với thứ hạnh phúc lớn lao nhất mà bà sắp có, thì bất ngờ vấp phải vật gì, bà chao đảo, chưa kịp lấy lại thăng bằng, thì bà nghe một tràng âm thanh chua chát:
- Ai đó? Bộ đui mù rồi hay sao mà không thấy tui ngồi đây vậy? Thứ đồ gì mà sớn sác thế?
- Xin lỗi, xin lỗi! Tôi mù cô ạ! tôi mù thật! Cho tôi xin lỗi! Xin lỗi cô! Bà hốt hoảng trả lời khi gượng đứng lên được.

Giọng nói thanh thót quá, chắc là cô ấy còn nhỏ lắm, tuổi cỡ con mình là cùng. Bà nghĩ thế và bà hối hận vì thái độ bất cẩn của mình. Im lặng! Không có tiếng trả lời! Đúng như người phụ nữ suy đoán, tiếng nói phàn nàn gây gắt vừa rồi là của một cô bé trạc tuổi mười bốn mười lăm, có điều bà không biết được rằng, cô bé ấy cũng mù như bà. Cô bé cũng đi xin và dừng chân nghỉ nơi này trước bà.

Cô bé hối hận vì lời nói vừa rồi, cô bé im lặng! Nghe ngóng một lúc, người phụ nữ mù lòa vẫn không nghe lời nào đáp lại. Bà nói lớn lên một lần nữa: Cho tôi xin lỗi nhé! Tôi mù! Tôi mù thật đó! Rồi bà quay lưng bước đi. Chợt cô bé gọi lại:
-Nè bà ơi, tôi cho bà một ngàn nè!
Số tiền duy nhất mà cô đang có. Nghe thế, bà rất mừng. Bà mừng vì nghĩ cô bé tha thứ cho mình, hơn là mừng vì nhận được một ngàn đồng. Bà dừng lại, quay ngược chiếc nón lá cũ kỹ đưa về phía tiếng nói. Chợt một chiếc lá vàng rơi vào chiếc nón của bà. Bà tưởng cô bé bỏ tiền vào nón, bà nói:
-Cám ơn cô, cám ơn cô!
Nhưng khi bà thọc tay vào nón lấy tiền, bà mới nhận ra đó chỉ là một chiếc lá khô. Bà lẩm bẩm: Cô bé gạt mình. Chắc cô bé còn giận mình. Bà buồn bã quay đi!

Trong khi đó, cô bé cầm tờ giấy một ngàn đồng đưa về phía bà chờ đợi bà lấy. Nhưng cô bé lại nghe tiếng bước chân xa dần.
-Bà ấy không lấy tiền, chắc bà ấy còn giận mình.
Cô bé nghĩ như vậy và lòng vô cùng buồn bã.  (Sưu tầm từ Internet)

Nghe truyện kể, người đọc hay đưa ra ý kiến phản-hồi, lại cứ bảo: truyện hai người đàn bà một già một trẻ ở trên chẳng liên quan gì đến đề tài “xì-căng-đan”, sao cứ kể? Ngay, đến tư-tưởng “ngộ nhận” về việc làm cũng như ý-nghĩ của cả hai người phụ nữ mù đâu nào cho thấy gì là “tai tiếng” hết!
Nhưng hôm nay, người kể lại níu mọi người dừng lại để thanh-minh một điều, là: cả bà cụ lẫn cô gái mù lòa đều có lòng rộng mở, tha thứ nhưng vì mù nên cả hai đều suy diễn hành xử tích cực của người khác thành tiêu cực để rồi cả hai đều ‘lòng vô cùng buồn bã’. Và, ở đời thường, có những điều mình cứ tưởng là chuyện thường, nhưng nó lại là chuyện gây “xì-căng-đan”, rất tai tiếng.
Và, cũng có những chuyện tai tiếng rất “xì-căng-đan”, thế mà người đời lại cứ coi như sự thường. Vẫn sống như không có mặt trời, mặt trăng soi dọi, gì hết trọi. Bằng chứng ư? Người kể lại xin bạn bè/người thân để ít phút ra mà tìm kiếm, sẽ thấy ngay.
Hôm nay đây, bần đạo chỉ đề nghị bạn và tôi, ta về với vườn “ngự uyển” có thơ văn đầy dẫy ý lời sâu sắc, trong đó có ngôn sứ nói thay cho Giavê Thiến-Chúa để khích-lệ mọi người rằng:

Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.”
(Ys 9: 2)

Quả là: người người vẫn nhớ thế nào là ‘xì căng đan’ nhưng lại cứ tâm niệm rằng: hãy cứ yêu đi rồi sẽ thấy vui. Và, hãy cứ vui đi, mọi chuyện rồi cũng sẽ được giải quyết cách êm ái, cả những chuyện tưởng rằng dễ sợ, rất điều tiếng. Vui, để yêu nhiều yêu mãi, yêu dài dài rất nhiều người.

Trần Ngọc Mươi Hai
Đồng ý sẽ cố vui
Suốt một đời.   

    


                                  

Saturday, 28 December 2013

“Đôi khi thấy trên lá khô một giòng suối,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần Lễ Hiển Linh Năm A 05-01-2013

“Đôi khi thấy trên lá khô một giòng suối,”
Đôi khi nhớ trong mắt em một bóng tối nhỏ nhoi.”
 (Trịnh Công Sơn – Rồi Như Đá Ngây Ngô)
(1Cor 14:25)

            “Bóng tối nhỏ nhoi” trong mắt em ư? Đôi khi ta cũng nên hiểu đó là cái bóng của im lặng, trầm lắng, bí mật, hệt như câu chuyện cười ngăn ngắn ở bên dưới:

            “Truyện rằng:
            Trước khi đi ngủ, cụ bà dặn cụ ông, rằng:
            -Ông nhớ xem chừng cửa nẻo, kẻo trộm nó vào thì khổ đấy!
-Bà chỉ khéo lo “con bò trắng răng”, thôi. Ngay tôi đây cũng còn không biết chỗ bà cất tiền, nữa là người dưng!?!”

Người nhà và người dưng, cả hai cũng đều chẳng biết được chuyện bí mật quốc gia đại sự hoặc bí kíp đại gia nhà và nước, tuốt tuồn tuột. Bí và mật, giống hệt truyện kể ở xứ miền rất Nga-La-xô như một bản tin “dị kỳ” được tiết lộ ở bên dưới:

“Mới đây trên nhật báo ở Nga có tên là “Russia Today” đã đăng tải câu chuyện có một không hai mang tựa đề thật bí mật, rất hấp dẫn người đọc như sau:

Người đàn ông nọ ở Trung Quốc đã đâm đơn kiện người vợ của ông chỉ vì y-thị dám giữ bí mật về quá khứ bệnh-tật để rồi đẻ cho ông những đứa con xấu xí, dị hợm. Rốt cuộc, ông ta đã thắng kiện với số tiền bồi thường lên đến $120,000 đô, rất ngộ nghĩnh. Hy vọng rồi ra, sẽ còn nhiều vụ kiện khác tương tự như thế, trong mai ngày.

Câu chuyện kiện tụng làm người đọc tin bỗng thấy rằng cung-cách mà các mệnh phụ phu-nhân thường thì ai cũng muốn “chỉnh trang” cơ thể của họ. Nghĩa là: người nào người nấy đều không thấy ngần ngại bỏ ra một số tiền quá lớn cho ngành thẩm-mỹ để thay đổi mầu tóc, nâng cao bộ ngực hoặc bơm chất “botox” vào bên dưới lằn da, cùng nhiều thứ khác.

Ngoài ra, còn có sự thể bảo rằng: đàn ông con trai chúng ta cũng đừng nên biến các bà thành đối-tượng sự vật mà làm gì khi các bà các cô rõ ràng là ai cũng muốn cơ thể của mình thành đối vật đổi mới rất lớn lao về mặt dục tình. Chính vì thế, tôi thấy mình cũng hơi lo ngại rằng phụ nữ họ làm thế sẽ không còn gì là danh giá, hết. Bởi lẽ, phần lớn nhất nơi danh-giá người phụ nữ là tính chân phương/lương thiện. Vậy nên, phụ nữ nào đem thân xác mình ra mà đổi thay, chỉnh sửa là tiếm quyền của tạo hoá thì còn gì là tính chân phương/thật thà cả với chính mình nữa. Là cha là mẹ, ai cũng muốn cho đàn con của mình được khoẻ mạnh, lành lặn lại hấp dẫn và được chăm sóc cẩn thận nữa.

Thế nên, chọn một người mẹ chân phương thật thà cho đàn con của mình là việc lớn mà đám đàn ông con trai có thể làm được ngõ hầu nắm chắc rằng con cái họ có được một khởi đầu tốt trong cuộc đời của chúng. Bởi vậy nên, hễ phụ nữ nào hẹn hò gặp gỡ đám đàn ông con trai mà lại bảo là mình không muốn bày trẻ có tiêu chuẩn cao về nhiều thứ, nhất là ngoại diện, thì cũng nên dè chừng các nữ phụ đó.

Dĩ nhiên, tôi biết lý do tại sao người đàn ông là chồng trong câu truyện này đã đâm đơn kiện người vợ của ông. Bởi lẽ, bà là người từng lừa dối ông. Bà còn gạt ông ở chỗ bảo rằng: cơ thể của bà thật an lành mạnh khoẻ; và, bà còn nói dối về nét đẹp và cả sức hấp dẫn của bà nữa. Nay thì tôi chẳng còn thấy người phụ nữ Á-châu nữa, và tôi thừa biết thế nào là một Chung-Vô-Diệm, hiện nguyên hình rồi.

Người đàn bà ở đây đã phạm phải tội nói dối và tôi thật cảm thông cho người chồng xấu số kia, bởi lẽ vợ của ông chỉ cốt bảo-vệ quyền-lợi riêng-tư của mụ ấy bằng cách đi sửa sắc đẹp và giấu diếm lai-lịch xấu như ma của mình và từng bị bệnh “Mông Cổ” nữa... (xem Scoop Team, Man Successfully Sues Wife for Ugly Children, Arabia msn 6/11/2013)

Dĩ nhiên, thiên hạ lên cơn “sốt” vì nghe chuyện lạ ở thế gian. Nhưng chuyện chồng kiện vợ hoặc con cái khiếu nại bố mẹ... ở đâu đó, ai cũng từng nghe. Nhưng, chuyện lạ ở đây hôm nay, là: những chuyện như thế được giữ bí mật cho đến khi đôi bên ra toà, và toà ra quyết định bắt người vợ dối chồng kia bồi thường $120 ngàn đô, còn lạ hơn.
Nói cho cùng, có bồi thường tiền bạc hay không, đền bao nhiêu, cũng chẳng là chuyện quan trọng. Quan trọng chăng là những điều mà nghệ sĩ hôm xưa còn cứ hát:

“Ngày nào vừa đến, đã xa muôn trùng.
Ngày nào vừa đi, lạnh lung bước chân.
Đôi khi thấy trong gió bay, lời em nói.
Đôi khi thấy trên lá cây ngày em đã xa tôi.
Đôi khi nắng lên phố xưa làm tôi nhớ.
Đôi khi có mưa giữa khuya hồn tôi bỗng vu vơ.”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Thế mới biết, lời em nói khi xưa, giờ đây đã “nằm trong gió” hoặc “trên lá cây”, để rồi giờ này, “em đã xa tôi”, mang nhiều tội. Tội lớn nhất là: “khi nắng lên phố xưa, làm tôi nhớ”, và tội lớn hơn cả, lại là: “đôi khi có mưa giữa khuya hồn tôi bỗng vu vơ”. Vì nắng lên phố xưa nên ông chồng mới thấy được sự thật lâu nay được giữ bí mật. Và, vì mưa giữa khuya nên ông lại thấy hồn mình vu vơ, nên đi kiện.
Hôm nay cũng vậy, ở nhà đạo mình, có nhiều vị thấy “vu vơ” vì “hồn mình không thấy nắng”, nên thay vì đâm đơn kia ở toà, như ông chồng nọ, nhưng lại đi tìm đấng bậc vị vọng để hỏi han đôi điều về “bí mật” nghe được từ người này mà không dám loan truyền cho người khác biết, rất như sau:

“Thưa Cha. Con có người bạn, mới đây vừa cho con biết đôi điều về bí mật đại sự. Từ hôm đó đến giờ, con cứ suy nghĩ mãi: nếu con không “bật mí” cho người khác biết, e rằng bí mật này rất có thể sẽ làm hại chính người kể và người khác nữa. Câu hỏi của con là: con có buộc phải nói chuyện bí mật ấy ra cho người khác nghe không? Xin Cha trả lời cho biết kẻo con và người kể sẽ bối rối.” (Lại thêm một lời hỏi han, chẳng đề tên người hỏi)

Thật ra thì, cứ hỏi cha/hỏi cố Đạo về các bí mật này khác, có điều chắc là cha và cố cũng sẽ ghi thư trả lời. Cứ sự thường, chẳng cha và cố nào lại truyền bá câu trả lời cho người khác biết. Nhưng, ở đây, chuyện bí mật cứ giữ mãi sẽ có thể gây hại cho nhiều người, nên cha cố nay trình làng để bà con ta cảm thông luật lệ Hội thánh, tức Giáo hội rất thánh của ta thôi!
Bần đạo đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta cứ nghe câu giải đáp đã, rồi hạ hồi phân giải chuyện khác. Vậy nên, dưới đây là lời đáp giải của đấng bậc vị vọng ở Sydney, rất John Flader, lm:

“Trước nhất, tôi xin đưa ra đây giáo huấn thông thường liên quan đến những gì được gọi là bí mật, rồi sau đó sẽ trả lời câu hỏi anh/chị cho ra nhẽ. Bằng vào cụm từ “Bí mật” ta hiểu đó là nhận thức về những gì không được tiết-lộ cho người khác biết.

Chúng ta đều biết rất nhiều điều, mà đa số những điều như thế, ta không thấy có ràng buộc nào phải giấu kín chuyện ấy hết; thế nhưng, có những sự, những chuyện vì nhiều lý do, ta có cảm giác rằng: không được phép bộc lộ điều đó ra ngoài. Đó là điều mà thường tình ta gọi là “bí mật”. Bí mật, có thể được phân ra ba loại thường thấy nhất:

Thứ nhất, có những sự việc mà ta có thể gọi là bí mật thông thường. Ấy là những sự việc mà ta biết được trong cuộc sống đời thường những lại không được tiết lộ cho người khác biết bởi lẽ nếu biết được những chuyện như thế, có thể sẽ gây tai hại cho người nào đó. Tỉ dụ như, ta thấy người nào đó rõ ràng đã say xỉn hoặc cũng có thể là ta biết rõ người nào đã có gia đình rồi mà lại lem nhem tằng tịu với ai khác ở phố chợ, hay sở làm chẳng hạn.

Rồi đến, là những bí mật mà ta biết rõ sau khi đã có thoả thuận ngầm hoặc công khai là sẽ giữ nó như điều bí mật. Đó là những thứ đôi khi được gọi là bí mật có tin tưởng lẫn nhau. Ở đây là những bí mật nghề-nghiệp giữa các chuyên gia và khách hàng qua đó hai bên đều phải giữ kín. Chẳng hạn như: bác sĩ, kế toán viên, luật sư, cố vấn, tâm-lý-gia và nhiều người khác nữa biết những gì mình nghe được qua công việc buộc phải giữ kín. Đó là chuyện riêng tư giữa họ và khách hàng mà thôi.

Lại có ví dụ cụ thể khác về những bí mật được tin tưởng là thứ bí mật nghề-nghiệp của chuyên gia. Các linh mục là những người bị ràng buộc rất ngặt và nghiêm trọng là không bao giờ được phép bộc-lộ tội của ai đó đã mắc phải mà vị linh mục đã được nghe trong toà cáo giải thì không được tiết-lộ cho bất cứ người nào khác. Đây là vấn đề rất nghiêm túc đến độ vị ấy sẽ bị hình phạt nếu phạm luật là sẽ tự động bị rút phép thông công mà chỉ có mình Đức Giáo Hoàng mới là người xá giải mà thôi. Xem Luật Hội thánh điều khoản 1388 câu #1)

Ngoại trừ các phạm-trù thông thường này về bí mật được tin tưởng, có những trường hợp riêng tư/cá thể trong đó đã có thoả thuận là không được phép bộc lộ những gì được giữ cẩn mật. Đó là: trước khi nghe chuyện bí mật, người nghe thề hứa sẽ không bao giờ tiết-lộ những gì mình đã nghe/biết.

Loại thứ ba, là loại bí mật mà đôi khi được gọi là bí mật đã tuyên hứa. Ở đây, người trong cuộc thề hứa là sẽ giữ bí mật sau khi nghe/biết chuyện ấy.

Trên nguyên-tắc, vẫn có những ràng buộc bắt ta giữ bí mật rất nhiều thứ. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có dạy rằng: “Bí mật nghề nghiệp –chẳng hạn như, bí mật của những vị làm chính-trị, quân lính, thày thuốc, và luật sư-  hoặc các thông tin mật được ban ra theo hình thức có khằng xi và đề chữ “tuyệt mật” là thứ phải được giữ kín và lưu trữ trong các vụ việc ngoại lệ mà qua đó việc giữ bí mật có thể tạo ra tai hại cho người được ủy thác làm việc đó, cho người nào nhận nó hoặc cho đệ-tam-nhân và cả vào khi có thể tránh được tai hại rất nặng chỉ bằng vào việc tiết-lệ sự thật.” (xem Giáo Lý HTCG đoạn #2491)

Trường hợp anh/chị hỏi ở đây không nói rõ chi tiết về những gì mà người bạn của anh/chị cho biết trong bí mật, thì ta cũng dễ để tưởng tượng ra các vụ việc trong đó anh/chị có thể tiết-lộ cho người khác biết những gì mình đã được nghe/biết. Ví dụ như: nếu người bạn của anh/chị nói rằng cô ta hoặc anh ta lâu nay dung ma-túy, chích-choác, thì anh/chị có thể tìm cách khuyên can thuyết phục người ấy, nhưng nếu anh/chị lại thấy mình khó lòng thành công trong việc ấy thì anh/chị có thể nói cho cha mẹ hoặc người thân cận của người bạn ấy biết để họ có thể giúp đỡ người người đó. Tương tự như thế, nếu bản thân người đó nói anh hoặc chị ta cảm thấy bị trầm cảm và có ý định tự vẫn thì anh/chị đây có lý để nói cho bà con thân cận với người đó biết. Hoặc, nếu người đó đang có kế-hoạch làm hại một ai theo cách rất ư là nghiêm trọng, thì anh/chị phải thông tri cho người có thể bị hại biết.

Cũng có nhiều hoàn cảnh trong đó, ngay cả luật pháp cũng đòi hỏi mọi người phải tiết-lộ những gì mình nghe/biết một cách bí mật. Chẳng hạn: có nhiều nơi, nếu người nào đó đến cho hay ai đó vừa vi-phạm tội hình sự, thì người biết chuyện buộc phải trình cho cảnh sát biết, bằng không chính người nghe/biết cũng bị tội là không báo cáo/tường trình về tội ác có thể vi phạm. Dĩ nhiên, ấn khằng toà giải tội là thứ bí mật vượt trên mọi qui-tắc nào khác, thế nên vị linh-mục sẽ không bao giờ được tiết-lộ, vì bất cứ lý do gì đi nữa, những gì linh mục ấy nghe/biết trong toà giải tội, hết.

Về bí mật tự-nhiên, thì điều này nữa cũng phải được giữ kín trừ phi có lý do thật nghiêm trọng mới được tiết-lộ ra ngoài. Thành thử, nếu như ai đó biết được rằng có người nào đó đang tư tình vụng trộm với người khác không phải là vợ/chồng mình, thì cũng có lý do chính đáng để thông-tri cho vợ hoặc chồng đương sự biết để họ có thể có biện-pháp cứu-vãn hôn-nhân của họ.

Ta cũng nên nhớ rằng khi người nào khác kể cho ta nghe sự việc nào đó dù chẳng yêu cầu ta giữ bí mật, thì thông thường phải hiểu theo luật tự-nhiên rằng thông-tin đó là loại hình cần giữ kín.

Tóm lại một điều, là: ta phải thận-trọng mà giữ kín các thông-tin bí-mật và chỉ tiết-lộ nó khi có lý do nghiêm trọng được phép làm thế mà thôi.” (xem Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 24/11/2013 tr. 10)

Xem thế thì, ngày nay với phương tiện truyền thông/vi-tính rất vi-mô hay vĩ mô, cũng có nhiều điều mà nhiều người ít có thói quen giữ kín nó. Dù, khi tiết-lộ người đó vẫn cứ bảo: “Cái này tôi chỉ nói cho anh/chị biết thôi đó nhe...                
Xem thế thì, ngày nay, có rất nhiều sự kiện mà tiếng chuyên môn gọi là “thông-tin rò rỉ” một cách “vô tội vạ”. Rò và rỉ, vì cả người nói lẫn người nghe cứ thích nói và nghe những chuyện bí mật. Nói cách khác, chuyện gì càng bí-mật lại càng hấp dẫn và dễ bị “bật mí” cả làng cả xóm đều biết đến.
Xem thế thỉ, ở đời thường, người đời lại cứ hay trích dẫn Lời của Chúa để minh chứng rằng “Sự thật sẽ được đưa lên mái nhà”. Mà mái nhà hôm nay, thỉnh thoảng cũng thấy có dĩa truyềnhình vi tính hoặc “cáp” thông tin được phổ biến loạn xạ trên toàn thế giới.
Xem thế thì, đời thường nhà Đạo vẫn có thứ Sự Thật được phô bày trên mái nhà từ ngàn xưa, vậy mà nhiều người chẳng buồn tìm hiểu hoặc tìm đến, mà nghe biết. Thế mới biết, có những sự thật cần giữ kín và những sự thật cần “phổ biến trên mái nhà” như: sự thật về Đức-Chúa-Làm-người để tỏ-bày tình thương-yêu Ngài trải rộng cho hết mọi người; thế nhưng, chừng như người đời ở đời và người đi Đạo ở đời, vẫn làm ngơ, không màng nhớ.
Có một Sự Thật được đấng vị vọng nọ thuộc cộng đoàn Kitô-hữu tôn giáo bạn, một lần nữa, lại đã bật mí cho mọi người, Đạo cũng như đời biết như sau:

“Ngài đi từ cung lòng của Người Cha trên Thiên Quốc để đến với cung lòng của một phụ nữ chốn gian trần. Ngài đặt lên thế giới phàm trần một điều mà, có lẽ, chúng ta đã đặt nặng lên cương vị của Thiên Chúa. Ngài trở thành Người Con của con người để ta có thể trở thành người con của Thiên Chúa.

Ngài đến từ Trời Cao chốn linh thiêng huyền-diệu có giòng sông mênh mông chẳng bao giờ khô cạn ơn lành/hạnh đạo; từ nơi có cơn gió lành không thổi nhưng có mãi; Ngài từ chốn miền tuyết trắng không khi nào làm băng hoại làn khí trong lành, chốn miền Ngài xuất xứ có nhiều hoa trái chẳng lạt phai. Và, cũng không cần gọi điện-thoại yêu cầu thày thuốc/bác sĩ đến, vì nơi Ngài ở chẳng ai bị yếu mệt, cũng chẳng cần một ai phải lo hậu sự vì chẳng ai chết và chẳng ai bị chôn xuống lòng đất hoặc hoả táng, hết.

Ngài sinh ra mà không là tạo-thành theo luật tự-nhiên, của loài người. Ngài sinh sống trong cảnh nghèo nàn; Ngài lui vào bóng tối và băng qua lằn ranh biên giới đất nước chỉ một lần vào thời thơ ấu. Ngài chẳng màng giàu sang, quyền-lực hoặc ảnh hưởng. Ngài không bao giờ hấp thụ nền đào tạo hoặc giáo dục nào hết. Thân-nhân của Ngài chẳng ai trổi-trang nổi-bật ở xóm làng thân quen và cũng chẳng tạo ảnh-hưởng lên bất cứ người nào, ở đâu hết.

Thời ấu thơ, Ngài khiến sao trời lấp-lánh dẫn đường cho dân ngoại đến cung nghinh, thờ kính. Thuở thiếu thời, Ngài khiến các nhà thông-thái phải kinh-ngạc. Kịp vào tuổi trưởng thành, Ngài lại định-đoạt mọi diễn-biến nơi thiên-nhiên trần-thế. Ngài là bộ hành thực hiện công cuộc giảng rao Nước Trời ở trần thế, Ngài từng đứng đi trên sóng và khiến sóng dồn/biển động im-lặng và câm nín, rất yên nghỉ. Ngài chữa lành cho đám đông dân chúng mà chẳng cần đến thuốc thang, mẹo vặt; và Ngài phục vụ mọi người chẳng tính toán hơn-thua, cũng chẳng đòi huê hồng tiền bạc, bao giờ hết.

Ngài chưa từng viết sách, nhưng tất cả mọi thư viện ở khắp nơi đều có sách quý viết về Ngài. Ngài chưa bao giờ đặt nhạc, nhưng toàn cõi thiên hạ đều hát ca những điều Ngài bảo ban khuyên nhủ hơn mọi nhạc-bản do người trần gian gom gộp lại. Ngài chưa từng sáng-lập trường lớp nào, nhưng mọi lớp/mọi trường lại vẫn trở nên học viên học hỏi rất nhiều điều, từ Ngài. Ngài chẳng bao giờ hành nghề y-khoa hay dược-thảo nhưng Ngài lại chữa-trị/chỉnh-sửa mọi tâm can âu sầu/ vỡ đổ mà các thày thuốc gần xa trên cõi trần này đều bỏ cuộc.

Ngài chưa từng lập quân-đoàn hay binh-đội và cũng chưa từng sử-dụng súng ống đạn dược bao giờ, nhưng không một lãnh-tụ nào trên thế-giới lại có nhiều tình-nguyện-viên đông đến thế và mọi đạo-quân cùng dân phản-loạn đều hoà hoãn về với Ngài, chẳng tốn viên đạn nào.

Ngài là Ai? Là, Đấng Bậc nào mà vinh quang hiển hách đến là thế?                   
Vâng. Ngài chính là Đức Kitô, Đấng Cứu Độ muôn loài và là Sự Thật của mọi sự thật ở trần-gian.” (x. Gospel Publications, P.O. Box 432, Hastings New Zealand.)

Vâng. Sự Thật của chúng ta, chính là những sự rất thật lẽ đáng phải được mọi người đề cao đưa lên “mái nhà” của nhận thức, nhưng lại bị con người giữ kín như thứ Bí mật đầy hiện tượng. Vâng. Sự Thật nay đã từ cung-lòng của Người Cha để đi vào cung lòng của con Thiên-Chúa là Đấng luôn trân trọng con người.
Và, nay thì cả Cha và Con đều đã cùng với con người ở mọi nơi và vẫn chúc tụng ngợi khen Cha-và-Con bằng tình Thương-Yêu đầm ấm, chẳng cần luật-lệ hay thông-lệ, mà vẫn thẩm thấu vào nhau và ở trong nhau một cách hài-hoà, bình-an.
An bình, hài-hoà là bởi Vua Hoà Bình cũng từng tỏ lộ cho con người nhiều bí ẩn, để mà sống:

Những điều bí ẩn trong lòng người đó sẽ bị lộ,
và như thế, người đó sẽ sấp mình xuống mà thờ lạy Thiên Chúa,
tuyên bố rằng: "Hẳn thật, Thiên Chúa ở giữa anh em."                
(1Cor 14: 25)
             
Xem như thế, thì: Sự Thật ấy, Bí Mật này, nay tỏ hiện cho con người và ở lại với con người, vào mọi thời. Để nhận chân Sự thật rất thực này, cũng nên đi vào vùng trời truyện kể hầu minh-hoạ trong thư-giãn, mà không cần tìm hiểu xem truyện minh-hoạ có đúng sự thật, rất bí mật không.

“Truyện rằng:
Hai người “lẩn thẩn” rất tâm thần đèo nhau trên chiếc xe đạp cọc cạch lên dốc cầu cũng khá cao. Cứ nhìn bề cao của mặt cầu cũng đã ngại, nhưng người ngồi sau suy nghĩ mãi về bí-kíp lẫn bí-mật để đạp xe lên cầu, cho nhanh, bèn đưa ý-kiến ý cò cốt phân công với người ngồi trước rằng:
-Muốn lên cầu cho lẹ và cho nhẹ, tao đề nghị thế này: mày cứ ngồi đằng trước mà cầm lái cho chắc, còn tao ngồi sau quyết đạp cho mạnh để có khí thế, nhé!
-Được. Mày nói nghe cũng được. Xưa nay tao vẫn chịu mày, đấy Ngố ạ.

Sau hơn tiếng đồng hồ hì-hục mãi hai tay đua lẩn thẩn cũng lên được giữa cầu. Người ngồi phía sau bèn “bật mí” một sự thật đáng nể qua hơi thở khá đứt quãng:
-Ngồi đằng sau nãy giờ đạp mệt chết mẹ mới lên được tới đây.
-Ngồi đằng trước như tao có sướng tí nào đâu, bóp thắng hoài cũng mệt thấy ông tằng ông tổ đấy chứ bộ....”

Thế đó, là ý-nghĩa của những “bí mật” về sự thật cũng rất thực, ở đời người.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn luôn trân trọng những sự rất thật
và cũng giữ bí mật.
Như bao giờ.