Saturday, 22 September 2012

“Mặt Trời đen quá đen, đen như đời ta!”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 26 thương niên năm B 30.09.2012

“Mặt Trời đen quá đen, đen như đời ta!”
“Đời hằng mong thoát đi, đi khung trời xa.”
(Nguyễn Trung Cang – Mặt Trời Đen)
(Mt 6: 14-15)
            Có một thời, chừng như hồi đó là thập niên 50 hay 60 thì phải, bần đạo kịp thấy lòng mình rộn lên những ca từ như “Mặt Trời Đen quá đen” do Trung Cang viết. Ca từ này, trùng hợp với ý/lời ở nhạc bản  “Noir, c’est noir!” của Johnny Halliday, rất cùng thời. Ca từ nhạc trẻ, khi đó diễn tả mặt trời đượm mầu đen, như đời mình. Gọi đó là lời tiên tri hoặc sấm hay không, bần đạo thật chẳng dám. Chỉ dám nhớ mỗi điều là: ca sĩ thời ấy cứ thích hát các nhạc bản có nhịp điệu kích động. Còn, ý/từ có ra sao cũng chẳng cần bàn.
            Hôm nay, ngồi buồn xét lại lời ca hôm nào, bần đạo đây thấy có cái gì đó nó khiến mình cứ phải suy phải nghĩ cũng rất lung. “Lung” đây, dĩ nhiên chẳng thể nào lung lạc niềm tin hay niềm gì đó cho cam. Mà, chỉ thấy hôm đó sao các tác giả lại cứ muốn người nghe nhắc nhở cảm thông với chuyện đời mình, thế thôi. Cảm thông chuyện đời, nay người người lại vẫn bảo: dù ta sống ở thời nào đi nữa, hãy cứ hy vọng vào sự thứ tha, vì Đấng-Thánh-Hiền-Bậc-Trên từng khẳng định: “Dậy mà đi, niềm tin đã cứu con!”
            Hôm nay đây, nhân lúc dừng lại chỉ dăm ba phút phù du, bần đạo lại mời bạn và mời tôi, ta suy nghĩ đôi điều về niềm tin có sám hối, thứ tha, có cả ân lộc cho thấy đời mình không chỉ gồm tóm mỗi chuyện như bên dưới:

            “Cuộc đời như chó hoang, lang thang về đêm.
            Cuộc tình không mấy khi nghe câu dịu êm.
            Mặt trời không muốn sáng, soi cho ta thấy
            nắng lên trong đêm dài, cho đời ta ấm áp.”
            (Nguyễn Trung Cang – bđd)

            Thật ra thì, đời mình hoặc đời người dù có như “chó hoang, lang thang về đêm”. Hoặc, như “Mặt trời không muốn sáng” để “soi cho ta thấy”, có “nắng lên trong đêm dài cho đời ấm áp” đi nữa, thì hỡi bạn và tôi, ta vẫn thấy lòng rất ấm nhờ lời vàng Chúa dạy còn đó vẫn y nguyên:

            “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta,
thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em.
Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta,
thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”   
            (Mt 6: 14-15)

            Xem thế thì, đời mình và đời người chỉ thấy ấm lòng/ấm dạ khi đã và đang tha thứ hoặc nhận ơn thứ tha từ người khác. Nhưng, trước khi để lòng dạ mình được ấm áp hơn với những xác quyết từ bậc thày uyên bác, tưởng cũng nên tạt ngang qua đôi ba truyện kể để thư giãn, rồi sẽ tính. Tính, cả những chuyện hoặc “sự thể” được kể ra đây như thế này:

“Sáng hôm ấy, một ngày đẹp trời hơi bị hiếm, tôi bèn tranh thủ ra phòng mạch sớm hơn thường lệ. Mới tám rưỡi, đã thấy bệnh nhân đứng tuổi nọ ngồi đó chờ tôi xem lại vết mổ để cắt chỉ. Xem ra, ông có hơi vội vì còn phải đi đâu đó có cuộc hẹn. Tò mò không ít, tôi bèn hỏi ông một đôi câu xem ông có vấn đề gì không mà cứ nhấp nha nhấp nhỏm như thế, ai dè ông liền trút bầu tâm sự kể cho tôi nghe hệt như với người nhà. Nghe xong tôi lại hỏi:
-Bộ, ông có cái hẹn nào khác hay sao mà vội thế?
-Hẹn hò gì đâu, bác sĩ. Tuổi này mà hẹn hò với ai nữa cơ chứ.
-Thế sao tôi thấy ông có vẻ nóng ruột lắm thì phải?
-Dạ, không phải thế đâu. Chả là, lâu nay tôi hạ quyết tâm giữ đúng hẹn dù có chuyện không cần đúng giờ.
-Thế thì lần này ông có hẹn gặp ai thế?
-Là bà xã của tôi thôi.
-Tuổi này đi gặp vợ mà cũng phải đúng giờ sao?
-Đúng vậy. Bởi, khi xưa tôi từng thất hẹn nhiều lần với bà ấy, thế nên hôm nay tôi có lời thề là sẽ không bao giờ lỡ hẹn với người tình của mình đến suốt đời.
-Sao gọi là người tình của mình, lãng mạn quá nhỉ?
-Ấy! Chuyện chẳng có gì là lãng mạn đâu bác sĩ, nó cũng chỉ thế này: Hồi đó lần đầu tiên gặp người vợ sắp cưới, tôi trễ tầu cũng khá lâu, vì lúc ấy tôi đinh ninh mình có hẹn với một người khác, nên đã quên khuất đi mất. Khổ nỗi là người vợ sắp cưới của tôi biết cái tật hay nịnh đầm của tôi, nên mới tính cho tôi đi tầu suốt cho tiện bề sổ sách. Kỳ đó, tôi phải năn nỉ đến gẫy lưỡi mới êm. Cũng vì nể mặt bà con chòm xóm, nên bà ấy tuyên bố chỉ tha cho tôi lần ấy thôi. Sau này, có lỡ mà tái phạm, thì tôi chỉ còn mỗi nước đi chầu Diêm vương là xong ngay, chứ bà ấy sẽ không tha. Bởi thế nên, mới vội vã…
-À ra thế. Vậy, bây giờ tôi giúp bác giữ trọn lời thề năm xưa nhé. Xong! Bây giờ bác có thể “ra đi” gặp bã được rồi đấy. Nhưng hãy nhớ lời vợ dặn, đừng có đào hoa nữa, đấy nhe ông!.”

Người kể hôm nay từng nói với mọi người rằng: truyện kể hôm nay thật ra chẳng có gì gọi là “rách việc” hết. Có kể ra đây, cũng để coi đó như một  dẫn nhập cho đề tài hơi khô cứng và chậm tiêu, thôi. Minh định rồi, người kể nay đã cùng tôi, mời bạn đọc lẫn bạn nghe qua CD, cứ tha hồ mà “lướt sóng” với chuyện phiếm, để gọi là “mua việc” cho tiện việc.
Mua việc, là mua vào mình những chuyện lình xình rất “rách việc”. Mua việc, là “buôn chuyện” Đạo, xục xạo chuyện đời những là thứ tha/tha thứ cả đến lỗi phạm rất tày trời. Và, mua việc là mua vào mình những chuyện mà người người ở chốn nợ đời ít bàn ra tán vào, cho thông thoáng. Bàn, chuyện đạo/đời có lỗi phạm khơi khơi, cần sám hối với ăn năn. Mua việc, là mua chuyện “bực mình” không tên tuổi để rồi cứ tự hỏi: không biết có nên tha thứ nữa hay không. Và, mua chuyện còn là mặc vào mình những chuyện lỉnh kỉnh mà người đời thường hay né tránh.    
Vậy thì, hỡi bạn và tôi, ta không ngại ngùng thì cứ mua việc cho rộng đường dư luận rất lai rai, dài dài, để nói: từ ngàn xưa, ở đất miền Do thái xa xôi/diệu vợi có các vị “lão làng”/“già làng” từng bàn nhiều những chuyện tha thứ đến 77 lần 7 như Tin Mừng thánh Mátthêu từng ghi như sau:

“Thưa Ngài, nếu anh em tôi có lỗi với tôi,      
tôi phải tha đến mấy lần? đến 7 lần phải không?    
Đức Giêsu nói với ông: ‘Ta không nói: đến 7 lần mà đến 77 lần 7..”
(Mt 18: 21-22)

Ngôn ngữ thời nay, người người sử dụng cụm từ “tha thứ” khác thời xưa, cũng rất nhiều. Người thời nay khi nghe thế, sẽ bảo: “Ấy! Bạn đừng bận tâm mấy chuyện ấy!” Người Công giáo phương Tây, cũng vậy, mỗi khi nghe ai nói lời xin lỗi, lại cứ bảo: “Thôi! Ta hãy quên chuyện ấy đi!” hoặc: “Hãy bỏ qua giùm tôi đi, hỡi bạn hiền!.” Hoặc: “Đề nghị bà con mình ra ngoài kiếm cái gì làm vài ngụm, cho quên đời!” Có trường hợp, bạn nói: “Hãy quên tay đó đi. Hắn “dởm” chết được, hơi đâu mà bận tâm, cho mệt!”
Người đời sử dụng nhiều từ ngữ rất “thứ tha”, nhưng có lúc lại vẫn vi phạm sơ xuất/lỗi lầm đến độ khó mà nhận được thứ tha trở ngược lại. Bởi, mọi chuyện đâu phải cứ “đâm sau lưng chiến sĩ” rồi xin lỗi sao?   
Tha thứ, là một trong các đề tài được nói nhiều ở Tân Ước. Hội thánh thường hay trích dẫn các chương/đoạn nói đến yêu cầu này rải rác trong Tin Mừng như thánh Mát-thêu nói trong kinh Lạy Cha, và lời hỏi/đáp giữa Chúa và tông đồ của Ngài; hoặc, Tin Mừng thánh Luca có truyện “người con đi hoang” phá tán tài sản gia đình là thế, mà khi trở về vẫn được thứ tha, và còn được Cha nhân từ thết đãi tiệc rượu như người trọng vọng, vv…
Với người đi Đạo sống ở đời thường, không phải chuyện gì cũng đều có thể tha thứ một cách rất dễ dàng được. Bởi, khi thứ tha, người người đều lồng vào đó một động thái độc đáo/riêng biệt chỉ một mình mới có. Độc đáo, là bởi trong đó có tác dụng ngay ở đây, bây giờ, để đối xử cách riêng tư với người bị đụng chạm. Cung cách xử sự riêng tư, có dính đến giao dịch, trao đổi về đạo đức/chức năng, một động tác liên quan đến hai người: một tha thứ và một nhận sự tha thứ.
Người tha thứ, nhận trách nhiệm về sự xấu sẽ xảy đến. Không coi đó là xấu xa nữa. Người tha thứ có kinh nghiệm từng trải, đã biết tôn trọng cả người bị đụng chạm, không còn muốn gây thương tích cho đối tác của mình nữa. Có kinh nghiệm từng trải ở đây, là hiểu biết những tai hại xảy đến cho cả hai bên. Nên, mới cương quyết đổi thay. Mới mở đường cho mình lập lại khuôn khổ để có được sự thứ tha.
Trong khi đó, người nhận ơn thứ tha, quyết không trả thù hoặc có ý giáng trả mọi tai hại về vật chất cũng như tinh thần. Quyết từ nay không còn gây oan nghiệt/giận hờn cho bất cứ ai. Nhưng, nhất quyết đổi thay mọi thái độ dù hành xử của mình hay của ai khác không thể tha thứ được.
Đọc Tin Mừng, hẳn người đọc cũng thấy có khác biệt giữa ơn tha thứ Chúa ban và sự thứ tha từ người phàm. Chúa thứ tha, Ngài không kể số lần hoặc không gian/thời gian được dùng đến để tha thứ. Và ơn thứ tha Ngài ban ra, vẫn mang tính chất cao cả, không có gì để tranh luận hơn/thua. Tha thứ từ nơi con người, thường là có tha đấy nhưng với điều kiện này khác. Điều kiện ấy, được diễn tả qua câu ví: “bánh ít đi, bánh qui lại” hoặc, tha đấy nhưng từ nay thì đừng hòng ta nhìn mặt, đừng hòng được ta chơi với nữa . Tức, tha đấy nhưng không hẳn là tha vô điều kiện và/hoặc có hạn chế.
Và khác biệt rõ nét giữa thứ tha của ta với tha thứ từ Chúa, vẫn là câu Chúa nói: “Hãy trỗi dậy mà đi, niềm tin của con đã cứu con.” Nói cách khác, Chúa thứ tha cả khi con người cố chấp/biếng nhác hoặc tán tận lương tâm. Nói cho cùng, thứ tha của Chúa là sự tha thứ không câu nệ. Chẳng bao giờ Ngài trách cứ hoặc đe doạ trừng phạt bất cứ ai, dù người đó sơ xuất thật quá quắt.
Về tha thứ Chúa đòi, nay ta quay về với ca-từ vừa trích dẫn, sẽ thấy khác. Khác, ở chỗ:

“Nụ cười ta đánh rơi mất khi còn thơ
Chỉ còn hiu hắt trên đôi môi hững hờ
Từng niềm tin vỡ tan bước xa mông mơ
Mặt trời đen vẫn xua bóng đen nhởn nhơ
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Cũng may là, nghệ sĩ ở trên còn vớt vát đôi câu về “mặt trời đen” những hờn oán, rất như sau:

“Nụ cười chưa tan biến sao như nước mắt
Thấm lên đôi vai gầy ôi buồn đau biết mấy
Chuyện buồn mong quên hết ta mong quên hết
Vứt đi bao u sầu, mong tìm nơi nương náu.”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Đúng thế. Hãy “vứt đi bao u sầu”, và “Chuyện buồn, ta mong quên hết”. Quên hết, để chỉ nghĩ đến niềm vui nhà Đạo mình vẫn quan niệm và nhắn nhủ.
Nhận định của nghệ sĩ về đời người có “Nụ cười chưa tan biến, sao như nước mắt thấm lên đôi vai gầy, ôi buồn đau biết mấy.“ Thế đó, là khác biệt giữa nhận định của nghệ sĩ ngoài đời với người đi Đạo. Tuy nhiên, khác biệt tha thứ giữa người đi Đạo và Đạo của Chúa vẫn thứ tha Ngài không đòi phải sám hối.
Khác biệt này, có tác giả từng viết ra lời nhận định nghe hơi lạ, nhưng rất thấm, như:

“Thánh Tôma Akinô từng nghĩ rằng tha thứ kiểu con người thực hiện không đòi phải sám hối, nhưng đó không là sự thứ tha của Thiên Chúa. Thiên Chúa, khi tha thứ, Ngài luôn tạo ra sự thể và hy vọng là người mắc lỗi sẽ sám hối. Thế nhưng, có học trò thuộc trường phái Tô-mít lại suy nghĩ theo cách khác. Vị ấy tên là M. Leblanc từng viết trong “Revue Thomiste” đăng vào năm 2010, tr. 595-614, đã có nhận xét như sau:
Lòng Chúa xót thương –tiếng La-tinh là: “Misericordia” một cụm từ được ghép từ hai chữ “Miser” (nỗi thống khổ) và “Cordia” (tâm can con người) chung làm một. Cụm từ này, nói lên điều cốt tuỷ là: tâm can con người luôn thấu hiểu/cảm thông sự thống khổ của người khác. Lòng xót thương, đến với những ai đau khổ, sầu buồn vì thiếu tiền thiếu của hoặc có sai trái do lỗi lầm mình mắc phạm. Xót thương cả những người đau ốm, yếu ớt hoặc thấy thua sút về mọi mặt, có giới hạn về mọi thứ khiến mình ra khốn khổ.
Thành thử, đó là lý do làm cho tâm can con người thấy xót thương cho những người rơi vào hoàn cảnh khốn đốn, nghèo khổ. Không thể có lòng xót thương nếu không định ra được sự thống khổ ở ai đó. Người có lòng xót thương là nhìn vào những ai đang khốn khổ khi nhìn lại chính mình. Làm như thế, người có lòng thương xót sẽ biết mình cùng một phận với người nghèo đói/khổ sở. Thấy mình đồng cảm với sự khốn khổ của người kia. Nếu bảo rằng thương xót là hành xử của tình yêu, thì người có lòng xót thương sẽ yêu đương người cùng khổ như thành phần của chính con người mình. Để chứng minh là mình có lòng thương xót, trước tiên mình phải cảm nghiệm chính mình cũng khốn khổ, có cùng một khổ ải như người khác. Với người khác.
Lòng xót thương, diễn tả tâm trạng của tâm can bao hàm cả tính xót xa lẫn thân phận khốn khổ cùng gộp chung ở một vị trí. Nơi tâm can con người đã thấy hiện diện cả tấm lòng xót xa hết mọi người. Tình thương xót tóm gọn cả sự sầu khổ của người khác rồi dùng đó làm của riêng mình, ngang qua tình thương yêu-kết hiệp với người mình đau xót. Người có lòng xót xa xem bạn bè như chính mình. Những gì làm bạn bè khổ sở cũng là yếu tố khổ sở riêng tư của chính mình. Tức, cả người xót dạ và cả người được thương vẫn cảm nghiệm cùng một tình tự hệt như thế. Cũng bị đụng chạm vì nó như cái gì đó thật rất xấu nằm ở trong. Nói cách khác, người có lòng dạ xót xa nỗi khốn khổ cả với người chịu khổ đau. Người già lẫn kẻ khốn khó đều thấy rõ nỗi khổ ngay bên trong người khác để rồi sẽ nói: tôi cũng thế. Người đau yếu, hãi hùng cũng khổ như nhau. Sự Xót xa dường như đòi phải nên khốn khó với người đau khổ ngay trong cơn khổ ải của họ. Ở đây nữa, Thiên Chúa là Đấng xót xa cả người khốn khổ theo cung cách đó và chỉ mỗi cách đó, thôi.
Bằng vào tình thương yêu-kết hiệp, người người coi bạn bè cũng như mình, quyết lấy đi mọi đau khổ của người khác làm của mình. Chính vì lý do này, mà cụm từ cảm thông/san sớt xuất từ tiếng La tinh “con-dolere” (cùng chịu khổ đau). Ở đây nữa, còn có nghĩa san sớt và cảm thông nỗi sầu của nhau, nữa.
Vấn đề hỏi rằng: Chúa có làm như thế không? Ngài thực hiện cá chuyện ấy chứ? Phải chăng Chúa từng làm hoặc vẫn coi con người như thành phẩm của chính Ngài? Nếu vậy, thì Chúa cũng mủi lòng cùng đau với nỗi đau của ta và cũng xót xa hết mọi người đấy chứ?
Có thể nói Chúa hành xử thay cho ta, nên Ngài chuyển thông chính Đức Chúa Cha đến với ta qua các nỗi khổ của ta. Thiên Chúa là Sự Tốt Lành Tiên Quyết tạo hiệu quả cất lấy đi hoặc làm vơi nhẹ nỗi khó khăn của ta. Tuy nhiên, việc đó dù có bảo bọc tính mủi lòng thánh thiêng thế nào đi nữa, việc ấy cũng không cho thấy cội nguồn của các hành động mà Ngài làm cho mọi người. Nếu hiểu thế, khác nào bảo Thiên Chúa chẳng có lòng đam mê/cảm xúc nào hết. Thiên Chúa là người chỉnh sử mọi khó khăn của ta chứ không là người cùng đồng cảm cho ta và với ta.
Nhìn cung cách hiệp nhất, sẽ thấy Chúa và ta cùng tham gia tiến trình yêu thương-kết hiệp dễ mủi lòng. Cung cách ấy, lòng cảm động xót xa người khác như chính mình. Điều đó dễ thấy nơi tình cảm thương yêu của mẹ hiền với đàn con: chính đó là tình thương yêu-kết hiệp thể hiện nơi món quà người mẹ tặng cho con. Bởi quà tặng, tức bản thân con cái là thực chất sống động do cha mẹ chuyển tặng. Cũng như câu truyện diễn tả Chúa tạo dựng người nữ ở sách Khởi Nguyên nói lên sự việc người phàm ban tặng thực chất đời mình để người khác (ở đây là con cái) được hiện hữu qua tạo dựng và như thế, người nữ là người nhận quà thương yêu/kết hiệp Chúa ban tặng từ nam nhân đầu đời thể hiện nơi nhân vật Ađam. Cũng một hình ảnh tương tư nơi hoa trái lủng lẳng trên cây nhưng chưa rớt xuống, vẫn là thành phần của chính cây. Hình ảnh này dù chỉ mang tính chất thể, nhưng tình trạng này cũng xảy đến bằng động tác thương yêu-hiệp nhất, rất xót xa/mủi lòng.” (xem Lm Kevin O’Shea CSsR, I Beg Your Pardon: A Study of What Forgiveness Means Giáo án giảng dạy tại Đại Học Công Giáo Úc, Sydney 26/5/2012 tr. 45-46)

            Nói về tình thương yêu-kết hiệp theo ngôn ngữ thần học, là nói và diễn giải rất như thế. Còn, nói về cuộc đời theo kiểu nghệ sĩ ngoài đời, lại nói bằng lời ca, đôi lúc có cả tiếng khóc thét, cũng tối đen như:

“Sao ta vẫn thấy mặt trời đen như mực!
Mặt trời đen, đen như đêm ma quái Ah ha ha ha ha..
Sao ta vẫn thấy mặt trời đen như mực!
Mặt trời đen, đen như đêm ma quái Ah ha ha ha ha…”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Nói về mặt trời dù “đen như mực” giống đời người, đâu có nghĩa là nghệ sĩ mình cứ thế “ăn thua đủ” để rồi tả tình/tả cảnh bằng những câu ca đầy than vãn và oán thán cả một đời. Oán và thán, cả đấng thánh hiền từng tạo dựng cuộc đời người, cho mình! Nói về cuộc đời rất không đen như mặt trời, là tiếp tục nói như đấng bậc ở trời Tây vẫn cứ bảo:

“Nhìn sự việc đầy thương yêu –dù khổ đau/đen tối vẫn còn đó- là tự hỏi: giữa Đấng Tạo Hoá và tạo vật có tương quan nào đó xem ra không được ổn. Tuy là thế, sự thật vẫn là sự thật, tức: vẫn luôn có tình thương yêu đậm sâu rất thánh thiêng quyết kết hiệp Đấng Tạo Hoá với tạo vật, còn vững mạnh hơn cả cách biệt về bản thể giữa Tạo Hoá và tạo vật ở đời.
Nếu ai đó lại tìm cách áp đặt sự cách biệt này vào với Tạo hoá và con người, thì chắc chắn người đó đã có vấn đề, Bởi, Thiên Chúa không thể tham gia kết hiệp vào thứ gì đó trong con người của ta mà lại không mang tính thánh thiêng của Thiên Chúa. Đúng hơn phải nói: Thiên Chúa thương ta như cái gì đó xuất tự chính mình Ngài. Điều này có nghĩa là: ngay trong ta, đã có sự tốt lành ở bên trong khiến cho Thiên Chúa thương yêu ta đến độ muốn cho ta được kết hiệp với Ngài không thể có giới hạn hoặc nhược điểm. Thiên Chúa chuyển đạt sự hiện hữu thánh thiêng của Ngài cho ta vì mục đích kết hiệp đó. Và khi Thiên Chúa thông chuyển chính mình Ngài cho ta, thì việc đó đến từ sự tốt lành của Thiên Chúa, mà ta gọi là tạo dựng. Và, khi Thiên Chúa thuyên chuyển chính mình Ngài cho một thực thể mang trong mình một nhược điểm hoặc hạn định hoặc cả đến sự xấu, mà lại đến từ lòng xót xa thương yêu của Ngài, thì ta gọi đó là gì đây?Có thể đó là tầm kích (thường thì đó là tầm kích dè dặt, không đúng cách) về tạo dựng. Và, có lẽ ta phải dùng ngôn từ nào khác để cắt nghĩa hiện tượng này, mới đúng…
Sự việc này không giống như tình thương yêu xót xa kiểu con người, nhưng còn hơn thế nữa. Như thế thì, đó không phải là tương quan mang đầy bản thể giữa tạo vật và Đấng Tạo Hoá. Chính ra phải hơn thế nữa. Thiên Chúa thương yêu ta như là chính mình Ngài, và việc này vẫn tồn tại dù sự thân thiện giữa ta với Chúa bị cắt đứt. Trên thực tế, thì căn bản là sự thể ấy sẽ được tái thiết lập vào sau lúc đứt đoạn, và ta gọi đó là sự thứ tha.
Ở đây nữa, ngôn ngữ vẫn mang tầm vóc rất hạn chế, lờ mờ một ẩn dụ. Thứ ẩn dụ khó lòng mà chỉnh sửa nếu không có ngôn ngữ cực mạnh của mặc khải mà người nhà Đạo gọi là Khải huyền.” (x. Lm Kevin O’Shea, bđd ở trên)

            Nói cho cùng và còn muốn nói thêm về tha thứ, thì cũng chỉ bảo rằng: ở sự thứ tha thần thánh Chúa tặng ban, vẫn là sự toàn vẹn khác với việc ta mong đợi về sự vẹn toàn ở trong ta và nơi Chúa. Chính vì thế, nên ta thấy khó mà hiểu nổi làm sao lại có được sự thứ tha rất vẹn toàn khi con người của ta luôn là bất toàn.
            Điều này chỉ có thể hiểu được bằng chuyện ví von/so sánh như bầu khí cởi mở và/hoặc tính cách tích cực thấy có ở sự tha thứ mang tính rất hạn chế nơi ta, mà thôi. Hạn chế, cả trong sự việc ta nhận là mình có cố gắng để thứ tha, nhưng chưa hoàn toàn. Bởi thế, cũng nên tìm thêm ngôn từ nào diễn đạt rõ nghĩa hơn và mạnh mẽ hơn về thứ tha hoặc tha thứ.
            Trong khi chờ đợi để có được ngôn từ như thế, tưởng cũng nên về với truyện kể để suy tư và thư giãn, cho đẹp cuộc đời. Truyện để kể là những “sự” như sau:

“Trong một tiệm ăn, ông khách gọi bồi bàn mang cho ông ly café, nhà hàng mang tới một ly café trong đó có một con ruồi nhặng đang vẫy vùng, tìm đường thoát.
Qua sự kiện này, thông thường phản ứng của khách thế nào?
Khách Nhật: lễ độ trả tiền, không đụng tới ly café, kín đáo ra về.
Khách Ăng Lê: lạnh lùng chỉ cho chủ tiệm con ruồi trong ly.
Khách Pháp: phàn nàn, cau có vì ly café làm ông mất vui, phí phạm cả một ngày trong 3 tháng hè thường niên.
Khách Mỹ: gọi điện cho luật sư riêng, ra lệnh làm thủ tục kiện tụng, đòi 2 triệu dollars bồi thường thiệt hại tinh thần.
Khách Đức: đề nghị chủ tiệm thi hành kỷ luật với nhân viên có lỗi.
Khách Ý: mọi chuyện ổn thoả, nếu tiệm không tính tiền café và bữa ăn.
Khách Ả Rập: rút ngân phiếu mua tiệm ăn rồi đóng cửa, sa thải hết nhân viên.
Khách Thụy Điển: cảnh cáo chủ tiệm không tôn trọng sinh mạng và hạnh phúc của sinh vật.
Khách Mễ: gạt con ruồi, rồi uống hết ly café.
Khách Tầu: tu ly café ừng ực rồi nhậu con ruồi ngon lành, hỏi chủ tiệm có cách nào dụ thêm ruồi vào nhà bếp.
Khách Do Thái: dụ bán con ruồi cho người Tầu, bán ly café cho người Mễ, kiện chủ tiệm và nghiệp đoàn tiệm ăn về tội kỳ thị Do thái. Chính phủ Do thái tố cáo Hồi giáo đã sáng chế võ khí khủng bố mới bằng ruồi nhằm tiêu diệt Do Thái, ra lệnh cho quân đội nhẩy dù, đổ bộ, chiếm toàn vùng Gaza và một phần lãnh thổ Ai Cập dọc biên giới Palestine. Vận động Do thái tố cáo chính phủ Mỹ làm tay sai cho Hồi giáo, bán đứng Do Thái. Tổng thống Mỹ chính thức cáo lỗi và Thượng Viện biểu quyết tăng gấp ba viện trợ quân sư, kinh tế của Mỹ cho Do Thái.” (truyện cười trên mạng, vừa gửi đến)

Người kể truyện hôm nay lại bàn luận bằng sự việc kéo theo hành xử cần phổ biến: đó là sự tha thứ. Tha cho người đầu bếp pha cà-phê đã sơ ý để ruồi nhặng lọt vào ly. Truyện kể chẳng có gì là ly kỳ, hồi hộp hoặc đưa ra bài học nào hết. Nhưng người kể lại cứ kéo theo triết lý của nhà Đạo sống ở đời là phải biết tận dụng mọi tình huống để hiện thực một thứ tha, dù người phạm lỗi chẳng mảy may tỏ dấu gì là sám hối hết.
Không những thế, người kể hôm nay lại còn đề nghị người đọc chuyện phiếm qui về điển tích trích dẫn từ lời vàng của Chân Phước Têrêxa thành Calcutta như sau:

“Ngày nay, có quá nhiều đau khổ trong các gia đình trên toàn thế giới. Bởi thế nên, cầu nguyện cho mọi người trên thế giới là việc cũng quan trọng như tha thứ. Người ta hỏi tôi phải khuyên bảo thế nào cho đôi vợ chồng đang gặp khó khăn nghĩa là chung đụng sống với nhau nhiều năm mà không có tha thứ cho nhau, thì tôi luôn luôn trả lời: 'Hãy cầu nguyện và tha thứ'. Hãy làm thế cho các thanh thiếu niên từ các mái nhà đầy hung bạo: 'Hãy cầu nguyện và tha thứ' cho các người mẹ cô độc không được gia đình hỗ trợ: 'Hãy luôn cầu nguyện và tha thứ' và lúc nào cũng thầm thì với Chúa, rằng: 'Lạy Chúa, con yêu Chúa. Lạy Chúa, con hối lỗi thật rồi. Lạy Chúa, con tin Chúa. Lạy Chúa, con tín thác mọi sự thuộc về con cho Chúa. Xin Chúa giúp con yêu thương và tha thứ cho nhau như Chúa vẫn yêu thương tha thứ cho chúng con.” (Trích: Triết lý tuyệt vời và lối sống đơn giản của Mẹ Têrêxa Calcutta phổ biến trên mạng)

Nói cho cùng, suy tư cầu nguyện kiểu của Chân Phước Têrêxa thành Calcutta có là cung cách để ta bàn về cuộc đời mà người nghệ sĩ cứ tưởng và cứ hát rằng:

“Cuộc đời như chó hoang, lang thang về đêm.
            Cuộc tình không mấy khi nghe câu dịu êm…”
            (Nguyễn Trung Cang – bđd)

            Lời cuối hôm nay, còn là lời nhắn ngược với nghệ sĩ hôm trước rằng: cuộc đời người và cuộc tình vẫn còn đó những “câu dịu êm” đấy chứ. Dịu êm đây, là tha thứ dù anh có nhận xét rất bi đát. Đời người, vẫn còn đó yêu thương-kết hiệp, nếu bạn và tôi ta vẫn chịu ra ngoài mà chào đón hết mọi người, trong tương quan tốt của con người.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Chả bao giờ dám bảo rằng
            cuộc đời người rất đen đủi,
            dù có chán.


 

     

Saturday, 15 September 2012

“Người tình thương nhớ!”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 25 thương niên năm B 23.09.2012

“Người tình thương nhớ!”
“Hãy lắng nghe lời mặn mà.
Dù mùa Xuân đã,
chôn vùi bởi làn tuyết kia.”
(Maurice Jarre: Lara’s theme trong phim Doctor Zhivago)
Phạm Duy: Hỡi Người Tình Lara)
(Mt 11: 29 )
            Có thể, đây là lời nhắn của nghệ sĩ khi xưa nói về “Xuân” nào đó bị chôn vùi dưới tuyết. Có thể, đây còn là lời nhủ của bạn đọc nọ gửi đến bần đạo để bàn về bài viết mà bạn gọi là “bài không đề tên” tuy vẫn có đầu đề ghi rõ nhạc bản, rất nổi cộm. Lời nhủ ấy, lại cũng bao hàm một ý khuyên răn như sau: 

“Xin cho tôi có vài lời về chuyện phiếm không đề tên, có phải của một cha DCCT không? Xin lưu ý vấn đề nữ quyền trong Giáo Hội Công Giáo không đơn giản như tác giả 'đàm tiếu' trong 'truyện phiếm' của mình dùng để biện minh cho lập trường của mình. Giáo Hội cũng chia sẻ những gì là nhân loại nhưng cần phải có nhận định một cách thận trọng trong các vấn đề như 'truyện phiếm' chủ trương chỉ trích. Đã có những vị rất thông thái trong DCCT đi con đường thật sai lầm, có vị may mắn đã ý thức được sau này dù hơi trễ, có vị đã theo đà đi luôn!!!
Xin Chúa Thánh Thần luôn luôn ở và tỏ hiện quyền năng của Chúa trong Giáo Hội. Không một người nào có quyền tự hào vì mình đã làm nhiều nên phải có quyền. Không ai có quyền làm linh mục cả. Quyền đó được ban cho không phải vì công lao của ai cả tuy dù muốn làm linh mục phải học hành một cách nào đó. Xin cảm ơn. Góp ý. (trích đoạn điện thư của bạn đọc đề tên Nguyễn Thắng gửi TâmLinhVàoĐời và bạn chủ trang này chuyển cho người viết phiếm hôm 31/7/2012)   

            Bần đạo bầy tôi đây, chưa được hân hạnh quen/biết bạn đọc ở trên nhưng đã mến và phục vì “bạn” có ý kiến phản hồi về cái-gọi-là “tác giả ‘đàm tiếu” và “chủ trương ‘chỉ trích” “trong truyện phiếm”. Nay, bầy tôi đây chỉ dám mượn tâm sự của một vài đấng bậc thân quen, để hầu chuyện. Trước hết là ý của người chủ trang mạng trên như sau:
“Rảnh rỗi N. phải “chơi” một bài về nữ quyền trong giáo hội. Giáo hội toàn “bốc phét”, nói là tôn trọng… trước đây 50 năm thôi, các bà cấm được léng phéng trên cung thánh, chỉ dành cho đực rựa thôi! N.” (trích thư điện bạn hiền viết hôm 31/7/2012)

Và tiếp theo, là giòng chảy của đấng bậc vị vọng trong Hội thánh Chúa, ở quê nhà:
“Thày Tá kính quý,
Cảm ơn thày đã yêu thương và giúp đỡ. Em đã trình bày với Đức Cha và quí cha trong Đại Chủng Viện về sự giúp đỡ của thày…
Em cũng nhận được 2 cuốn “Chuyện Phiếm Đạo Đời 6”. Đặc biệt cảm ơn thày về 2 bài gần đây đã ‘sưu tập’ và ‘chọn lọc’ những chủ đề nóng hổi trong Giáo hội hiện tại. Giáo hội thánh thiện, nhưng con cái Giáo hội vướng nhiều lầm lỗi không phải hôm nay mà đã có từ quá khứ và mãi tới tương lai, bao lâu Giáo Hội còn trên đường lữ hành. Ý thức vậy, để mỗi người chúng ta cố gắng hơn trong việc thực thi ơn gọi của mình trong lòng Giáo hội, góp phần làm cho bộ mặt Giáo hội ngày càng sáng đẹp hơn.
Em,
Lm Nguyễn Văn Viên
Đại Chủng Viện Vinh – Thanh, Giáo phận Vinh”
(điện thư của Lm Phó Giám Đốc Chủng viện, kiêm Tổng Đại Diện Giáo Phận ngày 28/7/12)

Ghi nhận giòng thư qua lại của người thân, bần đạo vẫn theo thói lệ cũ, không tranh cãi hơn thua, cũng chẳng thanh minh về những gì mình viết  và lách, mà chỉ dám trở về với thi ca/âm nhạc để lòng vẫn dặn lòng là hãy cố tìm chốn lặng thinh mà nghĩ suy về ca từ người nghệ sĩ khi xưa vẫn cứ hát:

            “Ngọn đồi trắng xoá,
sẽ có hoa mọc đầu mùa.
            Mộng đẹp như cũ,
            Ân tình còn về với ta.”
            (Lara’s theme – bđd)

            Quả cũng đúng. “Ân tình còn về với ta”, khi vẫn thấy có những lời khen/chê Giáo hội, kể ra cũng khá bực bội. Nhưng, bực bội mà làm gì, khi người đụng đến vết thương lòng còn rướm máu của thành viên Giáo hội hôm ấy chỉ muốn lạm bàn và tâm sự với nhau giữa người nhà, chứ không là “chỉ trích” hoặc “chỉ dẫn” mà độc giả mến yếu của bạn hiền bên quê mình hiểu có khác.
            Thôi thì, dù gì đi nữa, đã gọi là phiếm luận đường dài, có lẽ cũng cứ nên phiếm mãi, mới ra “nhẽ” để bà con mình có cơ hội mà phân và tách. Duy có điều, là bần đạo tự kiểm điểm thấy lập trường cố hữu của mình không chủ trương tranh cãi chuyện “thần (để) học”, mà chỉ muốn chuyên chở vài thông tin, dù thấy ngại.
Và, thể theo lời nhắn nhủ của bạn hiền ở trên, bần đạo xin một lần nữa (lại “xin” và “xin” nữa rồi) được nói rằng: bần đạo đây vốn dĩ cũng đã học “thần” ở Kinh thánh từ tuổi hai tám với đôi mươi, nay thấy chưa đủ nên vẫn còn học và cứ học. Và, vốn dĩ cứ học và còn học mãi, nên cũng thấy được việc “phải cẩn thận” là chuyện dĩ nhiên như bao giờ. Không những chỉ mỗi “phải cẩn thận” khi học tập thôi, bần đạo còn “cẩn thận” cả khi nguyện cầu khá lâu, trước khi viết và lách. Vậy thì, nhờ có lời nhắn và nhủ khuyên của bạn (vẫn) đọc này, nay bần đạo lại “xin” chuyển ý thêm những bài mình có ân lộc được thụ giáo cũng mới đây, như sau:
“Kitô-giáo cổ-điển nay trở thành Cựu Ước của chúng ta. Ta dùng Kitô-giáo cũng theo kiểu như Kitô-giáo mình từng dùng Cựu Ước vậy. Nghĩa là, luôn có khoảng cách văn hoá, và khoảng cách đạo giáo, khoảng cách hiểu được Thiên Chúa, khoảng cách giữa chúng ta và Kitô-giáo.
            Ta nói về Thiên Chúa theo nhiều cách cũng rất ư “bí nhiệm”. Và, khi nói đến “bí nhiệm” thì phải hiểu điều ấy theo nghĩa chữ, nhưng không hiểu theo ý khoan dung, tàn phá, hoặc có tính phép lạ trực tiếp, và diệt chủng… Bởi thị kiến của ta về Thiên Chúa khác nhiều tầm nhìn của các đấng bậc vị vọng trong Hội thánh ở thế kỷ đầu.   
            Thiên Chúa hiện hữu từ khi trước, nên Ngài chẳng bao giờ già nua nhưng Ngài vẫn trẻ hơn ta nữa. Thiên Chúa không ở lại nơi nào gần cận, lạnh lùng hoặc tẻ nhạt như hình hài mà Hội thánh đã cho phép “minh hoạ” về Ngài, lâu nay. Có điều chắc chắn là Ngài còn “vui tính” hơn những ai từng muốn đóng hộp nhốt Ngài vào đó như thời đại đồng đạo ta sống ở hang toại đạo. Tác giả Sandra Schneiders có lần nói: Thiên Chúa không là Cụ Già và cũng chẳng là Anh Thanh Niên Trai Tráng cộng với Chim Bồ Câu Trắng, vẫn là Ba ngôi chung một Đấng Thánh Thiêng.
            Thánh Phaolô khi xưa cũng chưa bao giờ giải mã ý tưởng Ba Ngôi Thiên Chúa hết. Thời kỳ đầu của lịch sử Đạo, tiếng Hy Lạp dùng cụm từ đặc biệt để chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa đã có từ tác giả Tertullia sống vào thời gian 200 năm sau thời của thánh Phaolô tông đồ. Và, khoảng 350 năm sau ngày Chúa sống lại, Công đồng Nicea và Constantinople mới trỗi dậy và quyết đoán điều ấy, thôi.
            Quan niệm Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất được uốn nắn cũng khá lâu để Hội thánh có điều kiện kết nối Đức Giêsu và Chúa Thánh Linh thành một Đức Chúa Duy Nhất, có một không hai. Thiên Chúa trở thành Đức Chúa hiện diện trong lịch sử của ta và với ta, ngang qua Đức Giêsu. Và, khi Đức Giêsu trở về cung cách khác thường để Ngài có thể đi  vào hiện hữu với nhân trần, thì sự hiện diện của Ngài vẫn tồn tại mãi mãi. Ngài vẫn ở với ta để san sẻ cùng một Thân Mình. Thân và Mình của Đức Chúa là Tình Thương, vẫn yêu thương hết mọi người.
            Nên chăng tẩy luyện ý tưởng ta vẫn có về Thiên Chúa trước khi gặp gỡ Ngài để ta được tháp nhập vào với Ngài và để Ngài đi vào tận trong ta? (xem Lm Kevin O’Shea, CSsR The Need for Self-Criticism, giáo án về Tính Lịch Sử của Đức Kitô giảng tại Đại Học Công Giáo Sydney tháng 9/2011 tr. 62)
            Trích và dẫn điều trên đây, không phải để bạn và tôi, ta tự kiểm điểm về những chuyện xảy ra trong thánh Hội vốn có nhiều thành viên chưa nên thánh, như “bạn hiền” ở trên bộc bạch. Nhưng, là để nói lên rằng: thánh Hội của ta gồm cả nam lẫn nữ, mỗi người nhận được “ơn gọi” rất riêng qua tư cách linh mục, thừa tác viên, phó tế hoặc chỉ là phó giáo dân hạng thứ như bầy tôi đây, thôi. Nói thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ tiếp tục xem và xét mãi về thần như đề nghị của đấng bậc bạn thân cũng ở trên.
            Có kiểm điểm điều gì, tưởng cũng nên trở về với vườn thi ca/âm nhạc để ta có hứng làm việc. Làm những việc có lợi cho người, chứ không chỉ cho riêng mình, mà thôi. Nguồn hứng, nay bầy tôi bắt gặp được là từ lời ca/ý nhạc, rất như sau:

            “Người tình sẽ đến,
            Người đến quên cả lạnh lùng
            Và, nụ hôn ấm,
            Như là từng làn tuyết hôn.
            Chờ ngày sẽ tới,
            Tìm đến bên người bạn đời,
            Người yêu, yêu hỡi!
            Nhớ thương đời đời chớ phai.”
            (Lara’s theme – bđd)
            Nguồn cảm hứng, bần đạo đây thấy nó vẫn trải dài ở câu thơ/điệu nhạc, như ca từ mà “hát” sĩ cây nhà lá vườn hôm đó cứ hát đi hát lại mãi một dặn dò như khi trước: “Người yêu, yêu hỡi! Nhớ thương đời đời chớ phai”. Làm sao mà tàn phai, khi “người đến, quên cả lạnh lùng”, cả bão tuyết vẫn cứ hôn? Và người yêu có đến, lại cũng có những “nụ hôn ấm”, hay “từng làn tuyết hôn” tưởng chừng lạnh lẽo!
            Đúng là thi ca, nghệ thuật! Thứ nghệ thuật diễn tả tình tự nồng ấm, yêu thương rất tuyệt vời. Dù, “làn tuyết trắng” kia có bôi xoá “nụ hôn nồng” của ai đi nữa. Dù, tuyết ấy có mang đến cho tôi đôi lời dặn dò, như bạn hiền chưa-một-lần-quen-biết vẫn cứ dặn đôi điều, rất ở trên: “Dù muốn làm linh mục, phải học hành một cách nào đó.”
            Vâng. Bần đạo đây, đã có một thời rất dài ngày –sơ sơ chỉ 13 niên- những muốn làm linh mục, mà lại là linh mục “Dòng” nữa mới chết. Nhưng, tuyệt nhiên chẳng bao giờ tự “cho mình là thông thái”, “đi trật đường rầy”, hoặc những viết “truyện” phiếm để chỉ trích”… Tuyệt nhiên, có viết và lách đôi ba “chuyện phiếm” cũng chỉ để kể cho nhau nghe những “chuyện” đáng phiếm về người và mình, thôi. Viết có nhiều, cũng chỉ để thưa bảo rằng: làm linh mục hay giáo dân hạng nào đi nữa tưởng cũng cần phải học và hỏi nhiều hơn nữa. Dù mình đã và đang đi vào tuổi “thất thập”, mà vẫn còn và cứ muốn mài đũng quần ở đại học rất thực, chứ không là “học đại”.
            Vì muốn học, nên bậc thày thấy vậy bèn chỉ cho thấy nhiều điều mình chưa nghe biết, nên mới dám dùng thể loại “phiếm luận” mà rủ bạn và rủ cả chính mình hãy học mãi học hoài không chán. Và, nhờ biết mình cần phải học mãi, nên bậc thày mới tặng cho vài đoạn sách để về đọc và suy nghĩ:
            “Nếu cứ tìm tòi học hỏi rồi vấn nạn bảo rằng: ‘Đức Giêsu thực ra Ngài là Ai?’ khác nào như lao mình vào địa hạt nguyên tử, để rồi toan tính định vị phân tử li ti nào đó và quyết xem phân tử ấy ra như thế nào, cũng hệt như thế. Con người không thể dùng mắt thịt để trực tiếp thấy được nội dung của phân tử, nhưng trên dĩa hình dùng để chụp ta lại thấy đường lăn tăn do phân tử lớn di động để dấu vết lại. Bằng vào việc theo dấu vết của các đường chuyển động ấy, ta có thể trở về nguồn gốc chung của chúng; và nhờ vào việc tính toán lực chuyển cần thiết khiến các phân tử ấy chuyển động như chúng vẫn làm, ta mới có thể định ra vị trí và mô tả được nguyên do của sự thể không thấy được bằng mắt thịt. Cũng vậy, lịch sử nhân loại còn phức tạp hơn vật lý nhiều. Các đường hướng nối kết hình hài của sự vật từ gốc ngọn với huyền thoại được diễn rộng không thể theo dấu chuyển động này khác mà tìm ra được bằng sự chính xác của tính toán. Do đó, kết quả có được không thể bảo là nhiều hơn xác suất; nhưng theo Gm Butler từng nói: “Xác suất là chỉ dẫn rất tốt của cuộc sống.” (x. Morton Smith, Jesus the Magician, San Francisco: Harper & Row, 1982)
           
Phát biểu trên đây, lâu nay được tác giả John Dominic Crossan người chuyên nghiên cứu về tính chất lịch sử của Đức Giêsu, nay bàn thêm:
“Sách của tác giả Morton Smith đã giúp tôi tái dựng nhân vật Giêsu lịch sử, đạt được do công trình nghiên cứu suốt 25 năm những gì diễn ra tại Galilê và Giêrusalem ở đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Nhưng, hỏi rằng tại sao những nghiên cứu như thế lại mang tính chất rất cần thiết, vậy? Phải chăng về Đức Giêsu, vào thế kỷ đầu, hẳn là ta đã chẳng có tới 4 sử gia trổi bật như Matthêu, Máccô, Luca và Gioan mỗi người một vẻ từng mô tả vể nông dân Do thái vùng Địa Trung Hải ấy rồisao? Và, mỗi vị hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã có nối kết với Ngài cộng thêm biết bao là bài viết về Ngài trong 70 năm tròn kể từ ngày Ngài chết đi rồi sống lại sao?” (x. John Dominic Crossan, Jesus A Revolutional Biography, HarperOne 2006)

            Ở đây nữa, cũng nên học hỏi thêm về tác giả John Dominic Crossan, do bậc thày dạy ở Sydney lại đã viết:
“John Dominic Crossan từng nói đi nói lại rằng: xem xét đặc tính lịch sử của Đức Giêsu, cũng nên lấy bối cảnh của Đế quốc La Mã và nhất là triều đại của Augustus. Và tác giả Crossan cũng yêu cầu những người tìm hiểu sử tính của Đức Giêsu hãy làm như thế trong khuôn khổ của cuộc Dọn Dẹp toàn thế giới mà ta thường dùng tự vựng triết học/thần học gọi là “Cánh Chung Luận”. Đức Giêsu từng thách thức ý thức hệ của Đế quốc La Mã dưới ánh sáng Cánh Chung, nhưng Ngài lại theo phương cách bất bạo động. Từ ban đầu, Đức Giêsu chấp nhận thần học của thánh Gioan Tẩy Giả khi thánh nhân quả quyết Nước Trời rõ ràng sắp xảy đến, nhưng sau khi thánh Gioan bị Hêrôđê giết chết, Ngài lại đã tập trung nhấn mạnh đến việc Chúa hiện diện ở đây, bây giờ. Ý tưởng của thánh Gioan được Chúa sửa đổi để quả quyết rằng Nước Trời phải hiển hiện với ta ngay đây, vào lúc này. Ta không còn chờ Chúa đến nữa, nhưng Chúa vẫn chờ đợi chào đón mọi người chúng ta.
Diễn tả theo ngôn từ thời đại, ta có thể nói rằng: thánh Gioan thực ra đã diễn trình một mình ngài, bởi thế nên khi thánh nhân qua đời, thì toàn bộ sứ vụ của thánh nhân cũng chấm dứt, nhường chỗ cho Chúa đến. Nói cách khác, Đức Giêsu tiếp nối sứ vụ của thánh Gioan bằng cả một tập thể vĩ đại. Chúa muốn tất cả mọi người chúng ta khám phá ra thực tại Nước Trời đã hiện rõ ngang qua quyền uy của Đức Chúa chống lại uy lực của chính trị tà thần ngang qua phương pháp bất bạo động. Về sau, khi Chúa không còn ở với thế trần nữa, các tông đồ của Ngài mới về với Cánh Chung Luận, là những điều từng nằm trong xương thịt của thánh Gioan Tẩy Giả.” (x. Lm Kevin O’Shea, Contemporary Variations In The Study of The Historical Jesus, giáo án trình bày tại đại học Công Giáo Úc ở Strathfield Sydney 27/11/2011, tr.11)          

            Trích và dẫn mấy đoạn trên, không phải để xác minh với “bạn đọc hiền” mới vừa quen biết qua ý kiến phản hồi còn rất mới; nhưng để nói lên nhu cầu cần học hỏi nhiều về Đạo Chúa và thánh Hội, ở trần gian. Thật ra thì, hội thánh ở trần gian vẫn muốn con dân mình (dù vị đó là mục tử hay chỉ là sĩ tử rất giáo dân, được chăn dắt), vẫn phải là những người luôn học hỏi.
            Các bậc thủ lãnh thánh hội như Phaolô thánh nhân cũng từng cố gắng xây dựng sự hiệp nhất giữa các giáo hội còn tản mác bằng thư từ, hoặc lời dạy. Qua văn kiện ấy, thánh nhân khuyến khích yêu cầu dân con trong Đạo hãy thăm viếng nhau để rồi sẽ giải quyết mọi thắc mắc rất khác biệt.
Cũng tựa hồ người Do thái cần sản sẻ với nhau những bài viết từ các đấng bậc vị vọng ở trên cao, thì người Đạo Chúa cũng cần đọc và học rất nhiều điều. Hội thánh cần có người đọc và hiểu biết sách thánh hiền là để dẫn đưa họ đến với niềm tin, và cuộc sống hằng ngày. Nói khác đi, Hội thánh vẫn muốn con dân mình những học và học, nhiều hơn nữa.
            Về học hỏi, Hội thánh cũng muốn dân con trong Đạo hiểu biết thế giới mình chung sống. Để từ đó, góp phần quan trọng vào việc xây dựng lại thế giới theo hướng tốt đẹp của đạo lý con người. Chí ít, là những người giữ vững lẽ đạo được thể hiện nơi tinh thần học hỏi cả những điều cao siêu, nữa.
Một trong các lý do khiến Hội thánh thấy cần làm thế, là để dân con đi Đạo có cơ hội phát triển tính nhân bản, hầu hiểu thấu đáo chính mình. Hơn nữa, có học hỏi nhiều thì niềm tin của mình mới vững chắc. Nhất là, vào thời buổi này, nhiều gia đình Công giáo dù vẫn “đi nhà thờ” đều đặn nhưng lại không có được đức tin vững chãi, trước các mối đe doạ đến từ trần thế, rất vật chất.
Để minh hoạ nhu cầu học hỏi nói trên, cũng nên về với truyện kể nhè nhẹ để thư giãn:
“Truyện rằng:
Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
1. Thứ nhất , “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng  bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2. Thứ hai, “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.
3. Thứ ba, ” học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4. Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5. Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
6. Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
7. Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân....
 
            Học và hỏi, còn là chịu khó nghe theo lời dạy ở Tin Mừng, những nhủ khuyên: 
“Anh em hãy mang lấy ách của tôi,
và hãy học với tôi,
vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.
Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.
Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng."
(Mt 11: 29)
            Xem như thế, thì với thánh sử, học hỏi nơi và với Đức Chúa, là học để mang lấy “ách” của Ngài. Vì Ngài hiền lành và khiêm nhượng. Và nhất là, ách của Ngài lại êm ái. Gánh của Ngài, cũng nhẹ nhàng. Học và hỏi, là học đòi bắt chước bậc thánh hiền nhà Đạo, như thánh Phaolô từng xác quyết:

            “Các anh em của chúng ta
cũng phải học cho biết trổi vượt
về những việc tốt đẹp,
để đáp ứng những nhu cầu cấp bách;
như vậy họ không phải là không sinh hoa kết quả.”
(Titô 3: 14)

            Cuối cùng thì, học và hỏi cho thật nhiều để hễ có ai có lời phẩm bình về mọi thứ, cũng cứ nên lấy đó làm điều nhắc nhở, rất trân trọng. Và, cuối cùng là: học và hỏi là cứ nên nghe mãi lời nhắn gọi rất như sau:
            “Chờ ngày sẽ tới,
            Tìm đén bên người bạn đời.
            Người yêu, yêu hỡi!
            Nhớ thương đời đời chớ phai.”
            Người yêu! Chúng ta còn yêu nhau nhiều.
            Người hỡi! Còn nhớ thương đời đời chớ phai.
(Lara’s theme – bđd)
            Điều đó có nghĩa: có học và có hỏi rồi thì cũng chỉ để nhắn nhủ một điều là: “Còn nhớ thương đời đời khó phai”.

            Trần Ngọc Mười Hai
            sẽ còn nhớ mãi
            lời nhắn của bạn đọc
            và nghệ sĩ ở đâu đó
            khắp muôn nơi.