Saturday, 19 May 2012

“Ai bảo chăn trâu là khổ,”


Chuyện phiếm đọc trong tuần Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm B 27-5-2012

“Ai bảo chăn trâu là khổ,”
“Chăn trâu sướng lắm chứ!…”
(Phạm Duy – Em Bé Quê)
(1Th 1: 4-6)
            Nhắn và hỏi như thế, là hỏi những điều khiến em đây thấy khó mà trả lời, hoặc giả có đi nữa, thì chắc cũng chẳng được bao nhiêu! Hỏi và nhắn như vậy, là nhắn nhủ để rồi hát đôi lời ca về “quê ta” vốn mộc mạc, chân chất rất như sau:

“Em mới lên năm, lên mười
Nhưng em không yếu đuối.
Thầy mẹ yêu cũng vì trẻ thơ
Làm việc rất say sưa…
Em biết yêu thương đời trai
Đời hùng anh chiến sĩ
Ước mong sao em nhớn lên mau
Vươn sức mạnh cần lao.”
(Phạm Duy – bđd)

Phải thú thật –lại xưng thú những là lỗi gì nữa đây- Vâng, xin xưng thú rất thật rằng: lâu nay bần đạo cứ bàn chuyện đâu đâu những triết lý/thần học, lẩn quẩn ở đây đó nơi xứ Đạo, cũng khá bạo. Chuyện triết lý với thần học, nay có lẽ cũng nên tạm gác một bên các vấn đề khá gai góc để bạn và tôi, ta “phiếm” nhẹ ba chuyện thực tế dễ gần gũi, thân thương mọi người! Chuyện, là chuyện về “sự thể” và sự thế bảo rằng: mọi chuyện mà lịch sử từng xác chứng, là: nước nào chuyên về nghề nông cũng khó khá. Chẳng hạn như, nước ta thời xa xưa vẫn có câu “nhất sĩ  nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ”, đến là hay. 

Tựu trung, thì mọi người vẫn thích bàn chuyện “chính trị sa-lông” cộng với bàn giấy rất “ngon ăn”, dễ nhậu hơn chuyện khô khan những là thần học. Ở Hy Lạp xứ người, bầu bạn khắp nơi lại chỉ bàn chuyện học hành ngành nghề như y khoa, hoá chất tạo dược hoặc kỹ sư chuyên ngành rất khó tin tức ở bên dưới:

“Mấy tuần qua, tin cho biết có vị dược sĩ nọ tự dưng đã cất công đến quốc hội, rồi chĩa súng vào đầu bấm cò tự sát cốt để phản đối chính phủ dám dùng biện pháp “thắt lưng buộc bụng” hầu cắt giảm trợ cấp dưỡng tuổi già kiếm rất khó. Thế nhưng cạnh đó, lại có tin cho biết nay rất nhiều bạn sinh viên lại cứ muốn giới trẻ phải biết thích nghi với tình trạng tiêu túng của nước mình, bèn chọn môn học nền tảng là phát triển nông nghiệp.
            Cụ thể ra, ở vùng gần thủ phủ Thessalonikê, số sinh viên ghi danh học nghề nông tại đại học Mỹ đã gia tăng gấp đôi so với số người nộp đơn năm ngoái. Thông thường, thì chỉ mỗi con cháu nhà nông mới chịu học môn này thôi. Nhưng, nay thì đám trẻ lại đổi ý đã biết lo cho dân nghèo được đủ ăn/đủ mặc nên mới theo học ngành nghề như thế. Trong số bạn trẻ học ngành này, có sinh viên năm thứ nhất là Thanos Bizbiroulas đã cho biết lý do tại sao em chọn môn học chán ngấy như thế: “Thật tình mà nói, thì nông nghiệp không phải là môn em chọn cho chương trình cử nhân 3 năm đâu. Nhưng, hiện tình đất nước đang có khó khăn về tài chánh/kinh tế, em nghĩ rằng lựa chọn của em không sai lầm. ”
Ngoài ra, có bạn cùng lớp là Vangelis Evangelou lại cũng cho biết: Hầu hết giới trẻ ở đây lâu nay cho rằng muốn cho vận nước có tương lai hơn, có lẽ ta nên học môn gì đó khả dĩ giúp mình ung dung ăn trên ngôi chốc một chút chứ. Nhưng, nay thì hầu hết bạn bè của em đều nghĩ điều đó không còn đúng nữa. Và các bạn về với nghề nông, cũng đúng thôi.” (x. Carolyn Moynihan, MercatorNet 16/4/2012)

Nếu nghệ sĩ họ Phạm nhà mình nghe được ý kiến này, hẳn ông sẽ vui lên mà hát tiếp:

“Em mới lên năm, lên mười
Nhưng em không yếu đuối.
Thầy mẹ yêu cũng vì trẻ thơ
Làm việc rất say sưa.
Em biết yêu thương đời trai
Đời hùng anh chiến sĩ.
Ước mong sao em lớn lên mau,
Vươn sức mạnh cần lao.”
(Phạm Duy – bđd)

Ước và mong cho em sớm “lớn lên mau”, hầu “đem sức mạnh cần lao” phục vụ đất nước và mọi người, ở chốn miền có tên gọi là Thessalonikê, nước Hy Lạp thì chắc đó cũng là ý kiến của Phaolô tông đồ khi thánh nhân viết lên những lời lẽ ưu tư, tự sự rất như sau:

“Hỡi anh em, là những người được Chúa yêu mến,
chúng tôi nhận biết anh em là những kẻ được chọn,
vì Tin Mừng chúng tôi loan báo,
không chỉ đến với anh em bằng lời nói mà thôi,
nhưng là đến một cách quyền năng
bằng Thánh Thần và sự dồi dào mọi thứ.
Vả lại, anh em biết: nơi anh em,
chúng tôi đã cư xử làm sao với anh em
và anh em đã noi gương bắt chước Chúa
đã chịu lấy Lời giữa bao nỗi gian truân,
trong sự hoan hỉ của Thánh Thần
khiến anh em trở nên mẫu mực cho mọi người
vùng Makêđônia và Akhaia.”
(1Th 1: 4-6)  

Thêm vào đó, có lẽ cũng nên đề cập đến lời bình của Giáo sư Nguyễn Thế Thuấn CSsR có nói:

“Thánh Phaolô ở Anthêna quá lo cho số phận của giáo hội ở Thessalônikê, nên đã sai Timôthê đi thăm xứ đạo ấy. Nhân dịp Timôthê từ Thessalônikê về, đem những tin khả dĩ làm yên lòng ngài, thánh Phaolô đã viết thư này cốt để thổ lộ tâm tình, đồng thời thanh minh về ít lời vu cáo của người chống đối (tức: những người Do thái trong thành). Tiếp đó, ngài thêm ít lời khuyên về đời sống tín hữu phải tuân theo nguyên tắc đã dạy. Giữa các lời khuyên có chen vào đó đoạn 4 câu 13 và đoạn 5 câu 11 bàn về số phận kẻ chết thời Chúa quang lâm, tức phần quan trọng nhất về đạo lý trong thư này.” (x. Kinh thánh, bản dịch của Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR 1976, tr.464) 

Nói cách khác, làm ngôn sứ cho mọi người là xả thân phục vụ không biết mệt. Chẳng cần biết nghề ấy nghiệp nọ có ăn khách không; hoặc, có là nghề “ngồi mát ăn bát vàng” không. Nhưng, chỉ cần xét xem nghề mình làm có thích hợp với thời buổi hôm nay, hoặc có giúp ích cho nhiều người hay không, mà thôi.
Nói theo kiểu nghệ sĩ họ Phạm trích dẫn ở trên, là nói bằng những câu hát rất rất ca đơn điệu:  

“Trâu hỡi trâu ơi đi cầy
Trâu ơi đi cấy nhé
Đồng ruộng kia, với đồi cỏ kia
Là của những dân quê
Em bé dân quê Việt Nam
Là mầm non tươi thắm
Sức mai sau xây đắp quê hương
Cho nước giầu mạnh hơn.
(Phạm Duy – bđd)

            Về với nhà Đạo, không phải để xem người mình đáp trả ra sao khi nghe lời gọi/mời từ Đức Chúa và có làm thế hay không. Bởi, lời mời/gọi ở nhà Đạo, là gọi và mời ta ra đi phục vụ dân Chúa, chẳng cần biết việc mình làm có đem lại lợi nhuận hay thu nhập được bao nhiêu; hoặc, công việc ấy có “thơm như múi mít” rất ngon lành, không. Nhưng, về đó để đề cao/nhấn mạnh chuyện biết cách phục vụ con người, bất kể người ấy là ai. Bất cần và cũng chẳng kể xem con người mình phục vụ có là “người con” tốt lành của Đạo Chúa đấy chứ? Về đó, để nắm rõ rằng người mà mình phục vụ vẫn cứ là người đói kém, tất bạt, nghèo hèn chẳng ai nhớ. 

Mới đây, trong một hội luận do viện Catherine de Sienne tổ chức ở Sydney, mà người điều khiển chương trình là Clara Georghegan đã nói về chủ đề “Ơn gọi là ơn được gọi và tặng quà đặc sủng” đã có nhận định khá rõ nét và đặc sắc, khi chị bảo:
           
            “Mỗi khi trong chúng ta có người nhận lãnh ơn thanh tẩy để gia nhập cộng đoàn Kitô-hữu thì khi đó, toàn thể cộng đoàn ta được Thánh Thần Chúa ban lời mời/gọi sống đời phục vụ cách nào đó, có Chúa. Khởi từ đó, ta không thấy có khó khăn xem đó có là ơn gọi/mời hay không, mà chỉ thấy khó khi mình cứ xem đó như lời mời/gọi cũng rất lạ kỳ. Phần đông nhiều người hiểu “ơn gọi” như lời mời tham gia thực hiện sứ vụ hoặc lối sống độc thân theo thiên chức linh mục/tu sĩ; hoặc cả chuyện chọn lựa đời sống gia đình nữa, vẫn là chọn lựa để phục vụ. Nay, cũng nên suy thêm việc Chúa mời và gọi ta theo cung cách khác, ngay vào lúc ta nhận lĩnh ơn thanh tẩy.
            Một khi nhóm/hội chúng ta càng có nhiều người suy nghĩ về lời mời nhận lãnh ơn thanh tẩy, thì càng có nhiều người tìm đến phục vụ theo tư cách linh mục, hoặc của người sống đời tu trì. Bởi, khi đã nhận lời mời/gọi lãnh nhận ơn thanh tẩy, ta được tặng quà đặc sủng rất khác biệt. Và, một khi ta được tặng quà đặc biệt/đặc sủng, là ta được mời và gọi theo cung cách thế nào đó cũng đặc biệt không kém. Và, khi được gọi/mời làm dân con bước theo chân Chúa, ta cũng được ban tặng kỹ năng chuyên biệt nào đó, rất khác thường. Và, quà đặc biệt đó có khả năng lôi cuốn mọi người đến với ta, và quà đó không còn dành để cho riêng ta nữa, mà cho người khác. Nói khác đi, thì tự thân, ta đâu chọn lựa quà đó, mà quà đó do Chúa gửi đến với ta, thôi.
            Nhận lĩnh ân huệ đặc sủng, tức là mình bắt đầu có khả năng tìm ra mấu chốt ở đâu đó rất chung quanh để sống đúng qui cách. Trước nhất, là mấu chốt dẫn đến sự sống có giáo huấn của Hội thánh. Tiếp đến, là mặc lấy tính cách duy nhất chỉ mình mới có tài năng đó. Chỉ mình mới có loại hình văn hoá hoặc kinh nghiệm tư riêng, thôi. Và cuối cùng, chỉ mỗi mình mình mới biết đâu là vấn đề và những gì là nhu cầu thiết thực của thời đại mình sống. Tất cả những gì mình nhận lĩnh hoặc lĩnh hội, đều ngang qua cuộc sống, qua kinh nghiệm hoặc việc làm và tình thương yêu cũng như khổ đau rất hiếm quý, đề rồi Thánh Thần Chúa sẽ đưa vào đó đặc sủng riêng tây Ngài phú ban cho riêng mình ta thôi.
            Thông thường, ta hay nói với giới trẻ rằng: họ có tự do chọn lựa để trở thành mẫu người mà họ từng mong ước trở thành, rồi cộng thêm vào đó có một chút siêng năng/cật lực, thì rồi ra họ cũng sẽ biến mộng ước thành hiện thực, rất dễ thôi. Dù là thế, với tôi, thì lời khuyên này xem ra có phần khiếm khuyết do ở điểm, là: quà tặng đặc sủng bao giờ cũng là quà Chúa ban tặng và ngay đến thành tựu ta đạt được, ngang qua việc phục vụ, cũng không phải để cho riêng ta, mà là cho hết mọi người, những người con của Chúa. Thành thử, vấn đề không phải là cứ siêng năng làm việc cho cật lực là xong đâu. Trái lại, tất cả đều là ân huệ Chúa ban, dù xấu dù tốt. Từ đó, ta nhận ra rằng: ta có chấp nhận quà tặng ấy hay không, nó vẫn là quà đặc sủng; và vẫn đến với ta để làm lợi cho người khác. Và, cũng bởi quà tặng ấy là quà đặc sủng, nên nó vẫn nối kết/ dính liền với mục đích khiến ta có mặt trên trái đất này. Đặc sủng, luôn là sự kiếm tìm hạnh phúc cho đời mình, đời người.” (x. Michael McVeigh, Our greatest happiness, our gifts lead us to our calling, Australian Catholics Easter 2012, tr. 10)

Nói như chuyên gia xã hội học ở trên, cũng là nói như người nghệ sĩ từng quả quyết “Chăn trâu sướng lắm chứ!” Nói như người nhà Đạo, còn là nói ở nhà thờ. Là, sống đúng lời mình vẫn nói và vẫn giảng giải ở khắp chốn. Giảng, về đặc sủng Chúa ban trực tiếp cho riêng mình. Chính đó là hạnh phúc. Hạnh phúc ấy, vẫn ý nhị hơn câu ca do nghệ sĩ già họ Phạm từng đặt ở bên dưới:

“Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao
Vui thú không quên học đâu
Nằm đồi non gió mát
Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo
Em đánh vần thật mau.
Chiều vương tiếng diều
Trên bờ đê vắng (ứ ư ư) xa.
Đường về xóm nhà
Chữ i, chữ (ư ư ư) tờ.
Lùa trâu nhốt chuồng
Gánh nước nữa là (a à a) xong
Khoai lùi bếp nóng
Ngon hơn là (a à a) vàng.”
(Phạm Duy – bđd)
      
Chẳng cần biết, vàng có ngon ăn hay không. Nhưng, “chăn trâu” hay phục vụ người khác theo đặc sủng mình nhận được, vẫn là thứ gì đó ta cần trân trọng. Trân quý và tôn trọng, để rồi sẽ thấy đời mình là những chuỗi ngày dài hạnh phúc chứ chẳng phải là “khổ ải” hoặc hoặc “sao đó” như nhiều người thường nghĩ. Bởi, về quà tặng đặc sủng vẫn ban khi ta được gọi/mời gia nhập cộng đoàn tín hữu Đức Kitô, lại có nhận định của đấng bậc khác từng có kinh nghiệm từng trải về cuộc sống hợp lẽ đạo, như sau:

“Hội thánh Chúa, ngay từ lúc ta ưu tư về tội lỗi và ơn cứu độ, thực ra vẫn chỉ là hạnh phúc có được do bởi “tương quan” ta có với người khác. Khác đạo, khác chính kiến, khác cả tông ty giòng họ, vẫn là chìa khoá đưa ta đến với hạnh phúc của cuộc đời. Có tương quan, là có hiện hữu. Chứ tuyệt nhiên, hiện hữu không phải do ta thủ đắc, kềm chế hoặc kiểm soát được nhiều thứ, nhiều người. Hạnh phúc ấy, cũng chẳng do ta tin vào Thuợng Đế luôn ban phát điều lành hoặc do chinh phục được ai đó, thứ gì đó. Mà, không gian thánh thiêng ở nơi thọ tạo là chốn miền ở giữa. Giữa tương quan. Giữa nỗi niềm hiệp thông ta vẫn có với nhau. Với mọi người” (x. Robin R. Meyers, Saving Jesus from The Church, HarperOne 2009, tr. 203-204)

Thật ra thì, tương quan có với nhau, và với mọi người chỉ quan trọng và đáng trân trọng, khi tương quan ấy là tương quan trong phục vụ lẫn nhau, đem lại lợi ích cho người khác, chứ không phải cho chính mình. Chính đó là lời mời/gọi làm con dân Chúa dù có ở chức năng nào, hoặc mang danh xưng nào, đi nữa. 

Lời gọi/ mời dẫn đến quà tặng đặc sủng, còn là kết quả từ mối tương quan ta vẫn có với nhau qua tư cách người đồng đạo, đồng thời hoặc đồng hành trong chung sống. Quà tăng đặc sủng ta có, vẫn là hạnh phúc tức kết quả của tình thương yêu phục vụ khi chung sống với người khác. Phục vụ người khác hầu đem lại hạnh phúc cho chính họ chứ không phải cho mình. Để xác chứng điều này, đấng bậc giảng dạy ở trên từng rút kinh nghiệm trong dạy và giảng, còn nói thêm:

“Ngay như niềm tin cũng là mối tương quan ta vẫn có. Và, kinh thánh không thể trở thành khách-quan nếu xoá bỏ tương quan này. Thông thường ta hay nói đến “trận chiến/phấn đấu để kinh thánh được mọi người biết đến” trong khi kinh thánh lại là “trao đổi/chuyện trò”. Thứ chuyện trò/trao đổi ta nghe được từ khoảng cách rất xa, nay phiên dịch (và do đó đã bội phản) từ ngôn ngữ người nước ngoài và lâu nay được nói lên từ những người mà ta không hề tưởng tượng họ có thể nghĩ chính ta là người sẽ được nghe/được biết về công cuộc chuyện trò/trao đổi giữa Thiên Chúa và loài người.
Cũng nên nhớ rằng, không một chữ nào trong kinh thánh được viết là để viết cho ta, người thời nay, đọc ngõ hầu chiến đấu cho Kinh thánh được phổ cập. Bởi, ta chỉ chiến đấu hoặc thi đấu để chiếm đoạt điều gì đó, chứ nào để chiếm đoạt cuộc chuyện trò/trao đổi, bao giờ. Bởi thế nên, nếu ai đó coi Kinh thánh như một chiến cụ để đấu tranh giành điều gì đó, hẳn là họ sẽ biến cuộc chuyện trò/trao đổi giữa Thiên Chúa và loài người thành vật thể để chiếm lĩnh. Nếu thế thì, mối tương quan giữa Thiên Chúa và người phàm sẽ không vẹn toàn nữa.                              
Thế nên, Đạo đích thật chính là tương quan, chứ không phải là sự đúng đắn do mình giành phần thắng. Thế cho nên, nhu cầu trong-sáng-hoá bản-chất của tương quan/trò chuyện giữa Thiên Chúa và loài người làm cho nó thành chính thực, có khả năng đổi thay cuộc sống, hầu chống lại sự không thật và đối đầu với sự chết. “ (x, Robin R. Meyers, bđd)

            Nói như học giả hoặc bậc thày dạy là nói rất nhiều, nhưng người nghe và đọc, hiểu được bao nhiêu, cũng không rõ. Nói như đấng bậc nhà Đạo còn là nói để thông truyền một kiến thức đích thực và đúng đắn ngõ hầu từ đó ta quyết sống theo gương mẫu mình học được. Nói về tương quan ta có với người đời trong hạnh phúc, sướng vui, có thể là nói như người nghệ sĩ ở đâu đó, hát câu sau đây:

“Kìa trăng sáng ngời
Đêm rằm Trung, Trung (ứ ư ư) Thu.
Đời vui trống ròn
Tiếng ca lẫy (ý y y) lừng
Từ ngõ ngách làng
Đèn đuốc rước triền miên
Bao người đóng góp
Vui chung một (ư ừ ư) miền.”
(Phạm Duy – bđd)

Nói như người đời, cho dễ hiểu, về hạnh phúc/sướng vui trong tương quan với mọi người, còn là nói và kể những câu truyện cổ tích rất hợp thời mà người đời vẫn nhớ đến, như một minh hoạ cho vấn đề mình đặt ra, như sau:

“Sống trên đời, bao giờ cũng chỉ có hai chuyện để lo và phải lo thôi:
Hoặc mình khỏe mạnh hoặc đau yếu. Nếu khỏe mạnh, thì chẳng có gì đến phải lo lắng hết
Nếu đau yếu, thì có hai điều phải lo lắng:
Hoặc mình sẽ được bình phục hoặc sẽ chết. Nếu bình phục, thì chẳng có gì phải lo lắng hết.
Nếu rồi ra ta cũng chết, thì sẽ có hai điều phải lo lắng.
Hoặc lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục. Nếu lên thiên đàng, thì chẳng có gì phải lo.
Nếu xuống địa ngục, thì sẽ bận tíu tít lên mà bắt tay từ biệt bạn bè cũ/mới, và như thế làm gì còn thì giờ đâu nữa để mà lo với lắng.
            Bởi thế nên, chuyện gì khiến bạn và mình phải lo lắng đến như thế, nhỉ???”

            Đó là câu nhắn của người kể truyện. Cũng có thể là sự thật trong đời mà người kể từng có kinh nghiệm sống qua, khi lo lắng đến hạnh phúc/sướng vui trong đời. Nói cho cùng, cuộc đời chừng như lúc nào cũng tràn đầy mọi sướng vui, hạnh phúc. Đó là điều ta nên nhận thức mà nắm bắt, chẳng cần hỏi ai. Chẳng cần nghiên cứu nhiều cho bận tâm và mất sức. Phải thế không bạn? Phải thế không tôi, hỡi mọi người!

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn cứ tự bảo mình những điều như thế
để sống vui, suốt một đời.
Rồi hát vang những lời như sau:

“Vàng lên cánh đồng
Khi trời vươn ánh (ứ ư ư) dương
Trẻ thơ nhớn dậy
Giữ quê, giữ (ứ ư ư) vườn
Đời vui thái bình, cây lúa sớm trổ bông
Cỏ ngàn thơm phức, trâu ăn đầy (y ỳ y) đồng….”
            (Phạm Duy – bđd)

Saturday, 12 May 2012

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao?”


Chuyện phiếm đọc trong tuần Lễ Thăng Thiên năm B 24.06.2012

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao?”
Non cao đất rộng biết đâu mà tìm.”
(Lam Phương – Duyên Kiếp)
(Ga 15: 1-8)
Nếu trên đây, là câu hỏi của ai đó gửi đấng bậc một thời năng nổ, ở giáo phận Parramatta, Sydney, thì câu trả lời trước tiên là từ báo đài địa phương rất dễ tìm, như sau:

“Các chức sắc thuộc Giáo hội Công giáo vừa cất bỏ chức vụ linh mục của vị đương kim chánh xứ họ đạo Glenmore Park, Sydney sau khi ông tiết lộ với đài truyền hình số 7 của Úc là: ông đã lấy vợ trong âm thầm.
Lm Kevin Lee người từng là đấng bậc trụ trì giáo xứ Padre Pio cho biết: có khá nhiều linh mục đã và đang, cùng một lúc, sống những hai cuộc đời, thấy rất rõ. Và, ông biện luận: việc bó buộc linh mục Công giáo sống đời độc thân rồi ra cũng phải chấm dứt thôi.
Lm Kevin Lee nói: ông tin rằng Giáo hội Công giáo đã chọn thái độ làm ngơ trước sự kiện ông lập gia đình, bởi rõ ràng là ông chẳng giấu diếm gì về chuyện ông có quan hệ tình dục với một phụ nữ tên là Jsephina, mà ông có dịp gặp ở Phi-líp-pin vào dạo trước.
Báo chí tường thuật cho biết đấng bậc chủ quản Giáo phận Parramatta là Gm Anthony Fisher, OP đã chối bỏ nguồn tin cho rằng Lm K. Lee biết rõ nhiều linh mục đã và đang cùng một lúc có hai cuộc sống và Giáo hội Công giáo cũng biết rõ chuyện linh mục này đã có vợ.
Gm Anthony Fisher nói: “Như cha Kevin từng biết đến, vì ông đã có hành xử trái với luật đạo, nên ông không thể tiếp tục thi hành chức vụ linh mục được nữa; vì thế nên, tôi buộc lòng phải tìm một vị giám quản khác trông nom cho giáo xứ Padre Pio.”
Được biết, luật Giáo hội quyết rằng: các linh mục phải sống đời độc thân mãn đời mà không linh mục nào được phép lấy vợ.” (x. www.yahoo7News ngày 04.05.2012)

            Chuyện linh mục tằng tịu với phụ nữ hoặc công khai sống với ai đó, có lẽ là chuyện thường ở huyện, bên trời Tây, ở đây đó. Nhưng bảo rằng, hiện có khá nhiều linh mục ở Sydney hay ở Úc vẫn làm thế, có khác nào nhắc nhở Hội thánh Chúa ở đây rằng các ngài nên coi lại luật buộc linh mục phải ở độc thân, nữa rồi.
            Đó là việc đạo, của nhà Đạo. Thế còn, chuyện đời của người đời, thì sao? Trả lời cho vấn nạn này, thật không dễ. Cũng chẳng dễ, như câu ca mà nghệ sĩ nhà mình vẫn hát:

            Đường đời mịt mờ vạn nẻo về đâu,
Mong chờ duyên kiếp đưa lối bắc cầu.
Em ơi, nhắc lại phút xưa gặp nhau!
Trên đê vắng người lúc tan chợ chiều
Ngại ngùng mỗi lần anh đến tìm em
Má em ửng hồng vì quá thẹn thùng.”
(Lam Phương – bđd)

Bảo rằng, đa phần linh mục Công giáo hôm nay lại đã dám hành xử như cựu linh mục Kevin Lee ở Úc, e rằng khó mà có được thống kê chính xác, dù cứ 5 năm một lần, chính quyền Úc vẫn cứ đều đặn lập thống kê khá chính xác trên khắp nước. Tuy nhiên, kiếm tìm mà làm gì khi Giáo hội chẳng mấy bận tâm về những chuyện như thế. Những chuyện như thể bảo rằng giới truyền thông nay lại cứ thổi phồng câu chuyện, tường trình về tin tức…mình, rất như sau:

“Linh mục Kevin Lee nay đang sống ở Manila với ý trung nhân còn mới của mình và ông cho biết ông sống hạnh phúc, nhưng rất nhớ công việc mục vụ trước đây ông vẫn làm mỗi ngày. Được biết, lm Kevin Lee lần đầu gặp vợ là ở quán bán rượu mang tên “Shinjiu No Mori”, có nghĩa là “Khu Rừng Ngà Ngọc.” Tuần rồi, linh mục Lee có cho đài truyền hình số 7 của Úc biết là: ông đã cưới vợ cả năm nay rồi và chính ông từng dấy lên cuộc tranh luận về việc phải cho phép các linh mục được quyền lấy vợ. Đồng thời, ông cũng cho biết ông tin là giáo hội của ông thừa biết chuyện này nhưng chọn thái độ làm ngơ/phớt lờ như không biết, trong khi ông chẳng giấu diếm điều gì.” (x. mạng thông tin đã dẫn ngày 07.05.2012)
 Nghe báo đài kể chuyện riêng tư của cựu linh mục mang tên Kevin Lee, có khác gì khi nghe thêm đoạn nhạc của Lam Phương có ca từ và tiết điệu như:

“Em ơi nhớ chăng thuở ấy
Mỗi khi bóng chiều xuống dần,
Em về trên quãng đường xa
Gặp nhau dù không dám cười
Nhìn nhau, nhìn nhau mà lòng vẫn vui.”
            (Lam Phương – bđd)

“Nhìn nhau (mà) lòng vẫn vui” ư? Điều ấy, chắc chỉ có cựu linh mục ở trong cuộc là còn biết và nhớ chuyện ấy. Chứ, hỏi thành viên Hội thánh rất Công giáo ở Sydney hay toàn nước Úc về chuyện này, đã lấy gì làm chắc. Chưa chắc, là bởi: mới đây vị giám mục chủ quản giáo phận Parramatta, miền Tây Sydney là Gm Anthony Fisher OP, cũng đã về giáo xứ Glenmore Park, để thổ lộ tâm tình người mục tử rất chân chính và chân tình bằng bài chia sẻ như sau:

“Thưa anh chị em,
Tôi không biết phải nói thế nào với anh chị em về chuyện xảy ra với giáo phận trong tuần vừa qua. Một tuần không vui cho cả anh chị em và cả tôi nữa. Có vài người trong anh chị em có lẽ cũng lo buồn và giận dữ đến thế nào thì anh chị em cũng nên biết rằng tôi đây cũng như thế. Với tư cách là giám mục chủ quản, thoạt nghe tin về lối hành xử của cha Kevin Lee, tôi thấy xót xa cho anh chị em; và vốn là người anh em trong Chúa Kitô, tâm can tôi cũng bị xé nát cách nào đó như anh chị em. Tôi quyết tiếp tục nguyện cầu để đầu óc sáng suốt hầu giúp mọi người qua cơn thử thách này.
            Nhiều vị gửi thư cho biết họ đã bị phản bội cách sao đó vì sự dối trá, giả hình cứ thế đổ lên đầu Hội thánh và hàng ngũ linh mục vì hành xử của một trong các linh mục của chúng ta đã vi phạm. Có vị lại nghĩ: lm Kevin Lee là người anh hùng dám chống lại chuyện bắt linh mục phải sống đời độc thân, anh hùng vì dám chống lại quyền bính và những ai lòng dạ hai mặt. Một số anh chị em khác lại đắn đo không biết có nên tin vào các lời báo cáo cũng như đồn đại không. Có vị lại nghĩ: lòng tin của mình đã bị tổn hại trong khi những người khác thấy chẳng mảy may hề hấn gì, hoặc có khi còn củng cố quyết tâm của mình ơn lên.  
            Dịp này, tôi muốn san sẻ với anh chị em đôi điều vì chưa có dịp nói chuyện nhiều với anh chị em. Tôi sẽ đề cập theo từng điểm, sau đây:
1. Tôi muốn nói, đây là dịp tốt để ta thấy rằng dù ta có nỗi đau và rẽ chia, nhưng anh chị em vẫn đến đây để cùng Hội thánh thông phần dự tiệc. Dù biết rằng mình vẫn có thể ném chiếc khăn bẩn vào mặt giáo hội hoặc bỏ đi nơi khác, nhưng anh chị em vẫn có mặt ở đây, để cùng nhau đến với Chúa. Đó là điểm son chứng tỏ sự trung thành và lòng độ lượng của chúng ta. Hôm nay, ta được nghe Tin Mừng thánh Gioan 15: 1-8 nhắc nhở rằng: nếu cắt bỏ đi bất cứ cành nào ra khỏi vườn nho Đức Kitô, thì ta sẽ trở thành cây khô không trái.
2. Trong lúc ta bị xôn xao vì chuyện cha Kevin Lee rời bỏ cộng đoàn, ta vẫn trân trọng công việc ngài làm trong thời gian ngài là cha chánh của xứ đạo này. Giả như có anh chị em nào nghi ngờ điều gì về tính hiệu lực các mầu nhiệm ngài thi hành, cũng xin biết cho rằng: Đức Kitô và Hội thánh dù có những người con lỗi phạm này khác, nhưng hiệu năng của các phép bí tích không tuỳ thuộc vào tính khả thi của linh mục.
3.  Nay là dịp để ta suy nghĩ về lý lẽ và cớ sự dẫn đến thành công cũng như thất bại của đời độc thân linh mục hoặc về tiểu sử của linh mục nào đó cách riêng. Nói cho cùng, thì cách nào đó có thể nói được là chúng ta vẫn có những yếu điểm. Nhưng cho tôi nói thêm đôi điều về bản chất của những khám phá nói chung, phát hiện dạo gần đây.
Theo thống kê trên toàn quốc, thì hầu như dưới phân nửa số người Úc ở độ tuổi lập gia đình còn quyết tâm lập gia đình; hiện có dấu hiệu đáng kể cho thấy số người ở độc thân nay đang gia tăng. Đó là điều thách thức chúng ta, nhưng Hội thánh lâu nay dạy rằng đời sống hôn nhân hoặc độc thân sống một mình vẫn giúp ta nên thánh được hết, miễn ta sống sao cho tốt.
Kinh nghiệm của riêng tôi và của Hội thánh vẫn cho thấy là ta có thể sống đời độc thân một cách có hiệu quả và sinh hoa kết trái vẫn cho phép người tận hiến đời mình cho việc phục vụ Đức Kitô và Hội thánh của Ngài. Thêm vào đó, Hội thánh của ta công nhận rằng cả hai bí tích hôn phối và linh mục vẫn bổ túc cho nhau. Mỗi bí tích đều hoàn tất chức năng của mình đến suốt đời. Đời sống hôn nhân cũng như đời độc thân sống một mình không là chuyện dễ dàng và càng ngày càng có nhiều sức ép đáng sợ đổ dồn về đó. Điều khá ngộ, là: những người sống ở hai bên hàng rào đều cứ nghĩ cỏ vườn hàng xóm bao giờ cũng xanh cũng mướt hơn cỏ vườn nhà mình.              
Ngày nay, ai cũng biết: khủng hoảng về đời sống hôn nhân vẫn lớn hơn đời độc thân, ở một mình. Nhiều người đã đầu hàng cùng thất bại như nhau. Có người chủ trương chung sống trước đã, sau đó nếu cần thì làm đám cưới ngoài nhà thờ, và họ cũng chỉ muốn có ít con hoặc chẳng muốn đứa con nào hết, cuối cùng đi đến ly dị. Nếu so sánh, ai cũng thấy rằng ngày nay số người chia tay ly dị vẫn nhiều hơn tình trạng giảm sút ơn kêu gọi.
Kể chuyện này, tôi cũng chẳng muốn đổ lỗi cho ai hết. Bởi ai cũng biết và cũng thương cho những người đã cố gắng tránh đổ vỡ nhưng không thành. Một phần của vấn đề là xã hội ta đang sống: hiện nay ta ít được sự hỗ trợ của bất cứ ai. Nhưng thật là đơn sơ chất phác nếu có người nghĩ rằng đời sống hôn nhân sẽ giải quyết sự suy giảm ơn ơn linh mục hoặc sức ép lên hàng giáo sĩ. Nhiều chỉ dẫn cũng cho thấy hàng giáo sĩ lập gia đình cũng đang chịu mức giảm sút cộng thêm đó, là khó khăn về chung thuỷ và bền bỉ trong chung sống và trong hàng giáo sĩ có vợ nay cũng có vấn đề đổ vỡ gia đình.          
4. Về chuyện lạm dụng tình dục. Sự việc giáo sĩ có vấn đề về ấu dâm là chuyện khủng khiếp cần loại bỏ cho tương lai trong khi ta vẫn cứ dính líu với quá khứ và vẫn cố gắng giúp đỡ nạn nhân của sự việc. Thế nhưng, cho phép hàng giáo sĩ được lấy vợ không là giải pháp chữa trị được chuyện này và cũng không là giải đáp cho khủng hoảng ơn gọi mà ta gặp. Nhiều nghiên cứu/khảo sát cho thấykẻ xâm phạm ấu dâm đều có đời sống ở bất cứ đâu, có gia đình hoặc độc thân, giáo sĩ hoặc giáo dân cũng có vấn đề này.
5.Thiên Chúa chuyện trò với ta khi ta có nhu cầu hiện tại ngang qua Lời Ngài và bí tích. Thư thứ nhất thánh Gioan tông đồ đoạn 3 câu 18-24 có nói rõ: lòng tin và lòng mến không nên diễn tả bằng lời nói, nhưng bằng việc làm thực sự. Cũng thế, lòng tin và lòng mến vượt quá tình cảm, nên ta diễn tả tấm lòng của ta qua việc tuân giữ lệnh truyền của Chúa. Đôi lúc việc này mang đến niềm vui đích thực, đó là điều mà bài đọc 1 hôm nay gọi là “sự an ủi của Chúa Thánh Thần” (Cv 9: 26-313). Có lúc, lại đem đến cho ta những đổi thay đau đớn, điều mà Phúc Âm hôm nay gọi là “sự tỉa bỏ” (Ga 156: 1-8)Tuy nhiên, ta sẽ không sinh hoa kết trái được nếu tự mình dứt bỏ ra khỏi “Vườn Nho Đích Thực” của Đức Kitô và Hội thánh.
6. Về chuyện linh mục Kevin Lee, không có chuyện gọi là dứt bỏ hoặc trừng phạt nào hết, từ phía giáo phận Parramatta. Ngài không bị vạ tuyệt thông, cũng không bị tống cổ khỏi giáo phận. Nhưng ngài từ chối không liên lạc điện thoại với tôi và với văn phòng địa phận, cũng chẳng thông đạt với Giáo hội mà chỉ liên lạc với báo/đài. Bởi thế nên, tôi cũng bị sốc như anh chị em và biết rất ít về chuyện của ngài cho đến khi chuyện này xảy ra. Như anh chị em, tôi lo lắng cho phúc lợi của ngài và nay thì cả người phối ngẫu và tất cả những ai bị ảnh hưởng do các hành xử của ngài trong những ngày qua. Chúng ta đều biết rõ, là: theo luật Hội thánh và truyền thống giáo hội Công giáo thì không thể để Kevin Lee ở lại làm chánh xứ được nữa vì anh đã lập gia đình. Và chính anh đã rời bỏ thừa tác vụ và giáo xứ như anh muốn.
7. Cuối cùng, tôi muốn nói với anh chị em rằng số rất đông các linh mục và tu sĩ trong giáo phận của chúng ta vẫn cho đi rất độ lượng và phục vụ rất tốt. Tất cả đều là những người anh em trước sau như một, không có cái-gọi-là hai cuộc sống rất chống chõi. Thế nên, chúng ta vẫn phải tin tưởng vào hàng giáo sĩ và mọi người ở Miền Tây Sydney.
Xin cảm ơn Đức Ông Bob McGuckin là Tổng Đại diện giáo phận đã nhận lời làm giám quản giáo xứ vào lúc này. Cảm ơn cha phó địa phận Chris de Sousa đã kịp đến với giáo xứ ngay khi có tin về chuyện vừa qua. Và cha cũng đã hỗ trợ chúng ta rất mực. Sau thánh lễ, tôi cũng vui lòng tiếp chuyện và trả lời tất cả những câu hỏi của anh chị em. Và, nếu anh chị em có những vấn nạn gì cần được giải đáp, xin cứ cho biết tôi sẽ cố gắng để giúp anh chị em có thông tin chính xác. Mới đây, có nhiều anh chị đã đến nói với tôi rằng các vị ấy vẫn đang cầu nguyện cho anh chị em hết thảy. Tôi cũng xin mọi người trong cộng đoàn này hãy hợp cùng các giáo xứ khác vào thánh lễ hôm nay thêm lời nguyện cầu cho tất cả mọi người để rồi Lời Chúa nói trong Phúc Âm hôm nay : chúng ta có thể sinh hoa kết trái đạt niềm vui trong cuộc sống miên trường.” (x. www.Parramattadiocese.net Homelie 6/5/2012 của Gm Anthony Fisher OP oại giáo xứ Padre Pio ở Glenmore Park, Sydney)

Bài chia sẻ của đấng bậc chủ quản giáo phận, phải như thế. Không thể khác hơn. Như thế, còn là những lời khẳng định rất chính qui, mạch lời, không sai sót. Vấn đề, chỉ là phản ứng của người nghe cũng như người quan sát sự việc xảy ra với thế giới của người Công giáo ở Úc, hoặc giáo hội địa phương rất Sydney.  
Nói chung thì, đã sống trong đời, dù đạo đức hay không đạo lý, vẫn luôn phấn đấu để sống cho ra sống. Sống cho ra con người với “tính bổn thiện”. Và, một khi đã phấn đấu thì bao giờ cũng có người thành công hoặc thất bại. Điều đó, tuỳ tầm nhìn của mỗi vị và tùy vị thế của người đang đứng đó nhìn sự việc. Chính vì vị thế và tầm nhìn ấy, có người gọi chuyện của cựu đấng bậc Kevin Lee là xì-căng-đan/tai tiếng, có người lại cho là hồi chuông báo động để Hội thánh Chúa phải thay đổi luật và lệ, vv..
Về chuyện phấn đấu, có người phấn đấu thoát khỏi rượu chè, cờ bạc, trai gái có người lại phấn đấu bỏ đi cơn giận dữ… Điều thấy rất rõ, là: xì-căng-đan/tai tiếng chẳng bao giờ xâm nhập vào được cuộc phấn đấu của bất cứ ai, cả khi người đó ngã gục. Chỉ là tai tiếng với xì-căng-đan khi ta tô thắm khuyết điểm của mình rồi gọi đó là nhân đức, hoặc khi ta cố gắng biện minh cho xét đoán lầm lạc của chính mình rồi thương-mại-hoá cho người khác để họ cũng như ta công nhận đó là sự thật, phải tin tưởng.
Sự việc của cựu đấng bậc Kevin Lee chỉ là một trong nhiều trường hợp vẫn xảy đến ở khắp nơi, vào mọi thời. Nơi và thời, mà hội thánh đây đó vẫn gặp chuyện muôn thuở. Dù có thế, cũng nên nói như nghệ sĩ Nguyễn Đức Quang từng viết thành nhạc bản, bảo rằng: “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi, hãy dùng bàn tay mà làm cho tươi mới…” Nay cũng thế, không phải là lúc để ta xa rời Hội thánh vì khác chính kiến, mà là thời điểm Hội thành vẫn cần bạn, cần tôi ta ở lại mà “làm cho tươi mới”. Hội thánh vẫn cần người làm mới nhiều thứ trong tình yêu, danh dự và tích cực. 
Dựng xây trong tình thương yêu, là Lời của Đấng Thánh Hiền được trích dẫn, vẫn cứ bảo:

“Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.
Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy,
anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy,
như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy
và ở lại trong tình thương của Người.
Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em
để anh em được hưởng niềm vui của Thầy,
và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”
(Ga 15: 9-11)

            Lời khuyên của Thày Chí Thánh rõ ràng là thế, mà sao vẫn có người còn nghi ngờ. Ngờ và nghi, đến độ có người vị còn đi hỏi “bậc thày” ở nơi khác. Khác chốn miền. Khác cung cách hành Đạo, nhưng cũng cùng một tâm tưởng hành đạo làm nguời, rất như sau:    

            “-Thưa Thầy, tôi không phải là người theo đạo Phật.
            Xin Thầy chỉ dẫn cho phương pháp tu tập.
-Quí vị muốn phương pháp tu tập với mục đích gì và tại sao lại chọn chúng tôi để đặt câu hỏi?
-Tôi thấy cuộc đời này sao khổ quá. Như tôi đây cũng có trình độ học thức, có công ăn việc làm tốt, gia cảnh đầm ấm, nhưng vẫn thấy khổ tâm nhiều chuyện, nhiều lúc cảm thấy bất an đến độ ăn không ngon ngủ không yên, nhiều điều lo lắng, bực mình lắm!
Tôi muốn được an tâm nên đì tìm phương pháp tu tập để thoát khổ. Tôi chọn qúi Thầy để đặt câu hỏi, bởi tôi thường nhận các emails từ bạn bè ở Canada chuyển tới, với các bài viết tuy mang hình thức Phật giáo, nhưng nội dung hay quá, các bạn của tôi thấy có ích lợi nên chuyển cho tôi, mặc dù tôi không phải theo đạo Phật.
-Trên đời này, người nào không có tâm cố chấp, không có tâm phân biệt, không mang nặng hình thức thế gian thì người đó sống đời an lạc với hạnh phúc xuất thế gian.
- Kính xin Thầy giảng rõ hơn.
- Người đời thường mang hai cái bị. Một cái trước ngực chứa đầy lỗi lầm của người khác. Một cái sau lưng chứa đầy lỗi lầm của chính bản thân. Do đó, người đời thường bực bội, bất an trước các lỗi lầm quá dễ thấy của người khác. Trái lại, với các lỗi lầm của chính bản thân, người đời thường che giấu, không muốn ai thấy, chính mình cũng không thừa nhận, không nhận ra, cho nên khó khá được, cho nên khổ dài dài. Muốn hết khổ, muốn bớt khổ, người đời - dù theo tôn giáo nào - nên đổi vị trí của hai cái bị nói trên.
Khi nhận thấy chính bản thân cũng có quá nhiều khuyết điểm, nhược điểm, người đời chắc chắn không còn dám cất cao giọng chỉ trích nhục mạ người khác, cũng như không còn chỉ trích tôn giáo, tín ngưỡng của người khác đang theo.
-Kính cảm tạ lời chỉ giáo của Thầy. Thực hay quá. Nhưng riêng tôi, tôi không muốn đổi vị trí của hai cái bị đó thì sao, thưa Thầy?
-À, quí vị không muốn đổi vị trí của hai cái bị, thì quí vị đổi nội dung của chúng cũng được mà.
-Tôi chưa hiểu rõ ý của Thầy ?
-Nếu quí vị vẫn giữ vị trí của hai cái bị: Cái bị trước ngực qúi vị chứa đựng toàn là ưu điểm của người khác. Cái bị sau lưng quí vị chứa đựng toàn là ưu điểm của bản thân.
-Tôi vẫn chưa tỏ tường?
-À, khi đó quí vị sẽ thấy ưu điểm của người khác quá nhiều, lắm khi vượt trội hơn mình, mình thực ra chẳng bằng nhiều người lắm. Từ đó, mình bớt đi tánh phê phán, phỉ báng người khác, hãy thu mình lại, quan sát chính bản thân, quan sát chính bản tâm, mình sẽ được bình an ngay.
-Thực là quí hoá, tôi hiểu rồi. Kính chúc Thầy tâm luôn bình an.  Kính cảm tạ.”

            Theo thiển ý, cuộc đời con người không chỉ có mỗi hai cái bị mà thôi, nhưng rất nhiều. Mang được bao nhiêu bị, cái đó còn tuỳ. Tùy tâm tư và tâm tính của mỗi người, mà lựa chọn. Và một khi đã chọn lựa bất cứ thứ gì cho đời mình rồi, tưởng cũng nên quyết tâm theo nó cho đến cùng. Và chọn lựa nào cũng đều vô giá hết; nên sẽ không là chuyện lạ, khi thấy người khác không hành xử như mình.
            Vậy nên, để mọi chuyện được thư giãn/dễ chịu, tưởng cũng nên nghe thêm ca từ cuối có câu hát rất nhè nhẹ, như sau:

“Em ơi phải chăng phút giây ngày ấy
Đôi tim ước mộng bấy lâu thành lời
Dù rằng đường đời ngăn cách tình ta
Phút giây ban đầu mãi không phai nhòa.”
(Lam Phương – bđd)

Hát nhè nhẹ như thế rồi, giờ đây mời bạn và mời tôi, ta cứ chọn lựa để rồi sẽ quyết tâm mà sống. Sống có tình có lý. Có anh có chị và có em trong cộng đoàn Hội thánh, rất Nước Trời.
               Xem thêm »
Trần Ngọc Mười Hai
            Cũng đã chọn và lựa từ lâu
mọi sự, cho đời mình.
để được vui.
Suốt cuộc đời.