Saturday, 14 April 2012

“Một lần em có nói:”

Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4
Chuyện phiếm đọc vào tuần thứ Ba Phục Sinh năm B 22.4.2012

Một lần em có nói:”
“Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này.
Dù mùa đông chuyển mình,
Và mưa gió đi về buồn rũ bên song”
(Từ Công Phụng – Xứ Thâm Trầm)
            (Rm 15: 1)
            Nếu ta thay đổi tiếng “Em” rất đáng yêu ở trên thành “Niềm Tin” rất linh thiêng, thì bạn và tôi hẳn sẽ thấy ở nơi đó có niềm vui rất lạ và hấp dẫn. 

Sở dĩ bần đạo bọn tôi nảy ra ý nghĩ về chuyện đổi tên và chữ nghĩa ở trên là do tham dự đêm “Hát Cho Nhau” ở Sydney nghe giọng ca của hát sĩ Kim Ngân trình bày khá đạt bài “Xứ Thâm Trầm” của người nghệ sĩ vừa thoát chốn thâm trầm, nên có lời lẽ rất thấm như sau:

“Em đến thật êm đềm
           Như giấc mơ trong mùa Hạ
           Mây trời lang thang ngoài khung trời vắng
            Trên gót chân vương nhẹ nhàng
            Em đến trong cơn dịu dàng
           Lúc em đi từng giọt ngân vang trên vùng câm lặng
            Một lần em có nói
           Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này.”
(Từ Công Phụng – bđd)

            Nghe hát sĩ hôm ấy nhẹ nhàng hát bài “Xứ Thâm Trầm”, bần đạo liên tưởng đến lời thánh nhân hiền lành dạo ấy cũng có lời thâm trầm nhủ với dân con đạo hữu ở Rôma như sau:

            “Bổn phận của chúng ta,
những người có đức tin vững mạnh,
là phải nâng đỡ những người yếu đuối,
(tức những người) không có đức tin vững mạnh,
chứ không phải chiều theo sở thích của mình.”
(Rm 15: 1)

            Quả thế. Nhiều lúc bần đạo cũng quên mất là mình còn có bổn phận nâng đỡ kẻ yếu đuối, có đức tin không vững mạnh đủ, nên cứ thế quẩn quanh với ý nghĩ “chiều theo sở thích tư riêng của mình.”
            Xét cho kỹ, người người còn thấy: sở thích riêng tư của mỗi người đều ra như vô hạn. Trong khi đó, bản chất con người hoàn toàn vô hạn. Vô hạn, cả trong mầm sống rất “gien”. Bởi, “gien” mầm của con người đều không hoàn hảo. Ngay đến chất DNA của mỗi người cũng đã có vài hợp chất trộn lẫn với mầm “gien” của người khác, vật khác. Trộn với mầm của cha mẹ, giòng họ hào kiệt, rất anh hùng nữa.

            Còn nhớ, Tin Mừng của thánh sử cũng từng nói: sở thích riêng không tồn tại nhưng niềm tin căn bản lại đứng vững. Chính đó là sự khác biệt giữa cái tồn tại và hư mất. Có lẽ vì thế mà nghệ sĩ trên lại hát thêm:

“Một lần em có nói:
Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này,
Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này.
Sẽ không còn ngàn kiếp truân chuyên,
Và hết nhân duyên.
Tôi trở về kết đọng linh hồn,
Làm mặt đá xây hồ lãng quên.”
(Từ Công Phụng – bđd)

            Hát lên ca từ nghệ sĩ viết, không phải để tin như đinh đóng cột; mà, để từ đó, ta tìm đến “nhân duyên” những là “kết đọng linh hồn”, mà tồn tại. Để rồi, cứ thế ta làm “mặt đá xây hồ lãng quên”.

            Hôm nay đây, nhân lúc nghe lại ca từ người nghệ sĩ viết, bần đạo lại thấy “hồ lãng quên” của riêng mình đã tràn bờ, chảy lênh láng. Nên chẳng còn nhớ “những người yếu đuối” ở đời, vẫn chờ một quyết tâm từ nơi mình. Quyết, là quyết ra tay hành xử như người có niềm tin thực hiện bổn phận rất nhỏ, là: đi vào trọng tâm niềm tin-yêu thần thánh mà tranh đấu để người người có sự đồng đều hầu vui sống, với người.

            Thật sự mà nói, sống niềm tin-yêu trong đời, không chỉ sống với ưu tư tiếp cận Chúa và quan tâm đến sở thích riêng của mình, thôi. Nhưng, còn biết rằng Chúa vẫn muốn ta tạo dựng thế giới không chỉ dính líu chuyện tư riêng, tức quan tâm đến người khác chứ không như lối sống bỏ mặc cho ai rơi vào cảnh nghèo đói, tù tội.

            Có niềm tin Kitô-giáo, là có được niềm ưu tư bận tâm lo cho những người bị giới chức cầm quyền vẫn đưa vào đời đói khát, chèn ép, để sống không ra người. Sống có niềm tin Chúa ban, là sống có ưu tư, chăm sóc hoặc để tâm đến vấn đề xã hội. Biết đem hoà bình đến với mọi người. Sống ý thức tạo môi trường thoải mái, vô tư, thích đáng để người người có cơ hội chứng tỏ kỹ năng của riêng họ.

            Sống có niềm tin, là tin rằng Đức Chúa của mình không đơn giản chỉ yêu thương mỗi cá thể “người” hoặc mỗi dân con được chọn để ban niềm tin riêng mà là tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, sắc tộc vì “yêu-thương-thế-gian” nên Ngài đã ban Con Một Ngài đến với dân con mọi người để họ có thể chứng tỏ tình thương yêu Ngài đem đến, trên thực tế.

            Chúa muốn mỗi người và mọi người trên thế giới có khả năng thụ hưởng ngang bằng nhau niềm vui chân-thiện-mỹ Ngài ban tặng để họ có thể cải thiện nếp sống độ lượng trong “thế gian” có nhiều điều cần được cải thiện. Thế gian ấy, ngày hôm nay đây, còn dẫy đầy nhiều ham hố, bất công, tranh giành, trù dập khiến người người cứ hãi sợ.

            Sống niềm tin, còn là sống làm sao để mỗi lần nghe bạn mình hát to ca từ ở dưới, sẽ nhớ mà về với thế gian, như sau:

“Một lần em có nói:
Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này,
Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này.
Dù mùa đông chuyển mình,
Và mưa gió đi về buồn rũ bên song.”
(Từ Công Phụng – bđd)

            Hát lời ca như thế, còn để bảo rằng: Thiên Chúa tạo dựng con người là để họ có cơ hội ngang đồng mà sống cùng nhau, dù không giống nhau. Sống đúng tư cách của con-người-là-hình-ảnh-của-Thiên-Chúa. Sống đúng qui cách của những người có được niềm tin theo chân Chúa, tức: sống rất mực theo cung cách không xử sự với người khác như đồ chơi, phẩm vật; mà như nhân vị có đầy phẩm giá, rất tư cách. Sống đúng tư cách của kẻ tin vào Chúa, còn là sống có công tâm, vô tư, chính đáng. Là, không bao giờ hành hạ bất kỳ ai, dù họ có làm sai hoặc khác chánh kiến/lập trường chính trị. Sống vô tư, như thể mình không chủ ý chỉ khai thác thông tin, tiền bạc hoặc xác dục.
            Sống công tâm, là đảm bảo cho mọi người có quyền và cơ hội hưởng thụ đồng đều điều kiện sống rất cần thiết để phát triển con người họ như nhân vị. Sống, đúng nhân vị, chứ không là con số hoặc giá áo, túi cơm. Có cơ hội đồng đều để sống và hưởng thụ nhiều thứ, như: thực phẩm, cơ ngơi, công việc, nền giáo dục và sự tự do tạo cuộc sống theo ý mình. Sống chính đáng, là dám phụng thờ và tin vào Đấng mình chọn lựa làm Bề Trên, Ân Nhân. Là, có tự do gầy dựng gia đình thể theo nền văn hoá hoặc cung cách của riêng mình, và có tự do đóng góp của cải, tài năng, trí tuệ hoặc vật chất cho xã hội.

            Sống niềm tin, là sống và hát được những lời ca mà người nghệ sĩ gói ghém vào câu thơ ở dưới:

“Thôi, ngủ đi em, ngủ đi em.
Cho tuổi này hết ưu phiền
Tôi trở về xứ thâm trầm,
Một mình sống âm thầm.
Hoài đợi chuyến xe nào,
Một lần đã qua.
Đời chúng ta để lại dấu chân, người đã quên
Còn thắp lên, ngời sáng tình xưa.”
(Từ Công Phụng – bđd)

            “Về xứ thâm trầm”, “một mình sống âm thầm” trong niềm tin, là sử dụng tài nguyên riêng tây để giúp mọi người, mọi nhân vị có được cơ hội thuận tiện mà phát  triển. Phát huy và triển khai kỹ năng tư riêng của mỗi mình dù người ấy dở hơn mình. Sống và sử dụng tài năng riêng tư để giúp mọi người, mọi gia đình hoặc thánh hội cho đúng chức năng, đạt đúng phúc lợi và thể hiện đúng con người họ. Để rồi, họ cũng như ta, sẽ có trách nhiệm về cuộc sống cũng như sinh hoạt cộng đoàn trong đó mình cũng như họ đều có cơ hội ngang bằng, đồng đều.

            Cộng đoàn kẻ tin vào Chúa, là những người có quyết tâm tác tạo cuộc sống tốt đẹp cho mọi người, trong xã hội. Bởi, một khi mọi người đã quyết tâm tạo cuộc sống xã hội cho đẹp, tức đã biết tôn trọng thế gian trong đó người người vẫn cứ sống. Thế giới hôm nay có rất nhiều người còn “nghèo rớt mồng tơi”, vẫn làm những công việc nguy hiểm đến tính mạng. Vẫn chui rúc ở đâu đó, xó xỉnh này nọ thiếu vệ sinh, thiếu cả điều kiện tối thiểu để sống cho ra sống. Để sống đúng phẩm cách con người.

            Sống như người tin vào Thiên Chúa an bình và công chính, là sống có cổ võ nguyên tắc làm nền cho một xã hội trong sạch. Xã hội, luôn đề cao tinh thương yêu, đỡ đần, giùm giúp bất cứ ai. Sống, để còn dìu nhau vào xã hội có lý tưởng; ở nơi đó, không còn cảnh người ám hại người. Không còn cảnh tượng ghét ghen, giành giựt, vị kỷ.

            Sống có niềm tin an vui, là sống có mình và có người, vẫn nhớ nhau. Nghĩ đến nhau. Dù, là bạn bè/người thân hay chỉ là người dưng khác họ, như truyện kể để minh hoạ một lập trường, rất như sau đây:

Từ nhỏ đến lớn, tôi luôn là trò cười của bạn bè, vì tôi rất dở trong khả năng tìm đường. Có lần, một người bạn của tôi đã hài hước nói: “Hy vọng lối lên Thiên Đường cũng có bảng chỉ dẫn, nếu không thì chắc là cậu sẽ lạc mất”.
Tôi cười:
- Tớ chỉ cần tìm một ngọn đồi có hàng rào nhiều cây hoa giấy - Và khi bạn tôi nhíu mày suy nghĩ để xem đó là cái gì, thì tôi kể cho anh ta nghe câu chuyện về ông bố của tôi.
Ông bà nội tôi rất nghèo, bố và 5 anh em trai phải cố gắng ghê gớm lắm mới tồn tại. Chính thời thơ ấu đó đã làm cho bố tôi trở nên cứng rắn. Khi anh em chúng tôi nhận ra rằng những đứa cùng lớp với mình đều được bố mẹ cho tiền tiêu vặt, chúng tôi bèn hỏi xin bố tiền.
Bố bình thản đáp :
- Nếu các con đã đủ lớn để xin tiền thì các con cũng đủ lớn để kiếm tiền. Và thế là, chúng tôi đi làm đủ các việc vặt cho khu phố, như dọn vườn hoặc lau nhà. Bố không bao giờ hỏi về số tiền mà chúng tôi kiếm được, cũng không bao giờ khen.
Khi chúng tôi lớn lên, đi học khá xa nhà. Không có xe riêng, chúng tôi phải đi xe bus. Dù bến xe bus cách nhà tới gần 2 cây số, cả vào những ngày mưa gió bão bùng, bố tôi cũng chẳng bao giờ lái xe ra đón. Nếu ai đó càu nhàu (anh trai tôi vẫn càu nhàu suốt), bố sẽ nói nghiêm khắc:
- Chân các con để làm gì?
Còn tôi thì không ngại đi bộ cho bằng nỗi sợ đi một mình dọc đường cao tốc vắng vẻ, vòng một vòng rồi mới có đường đi lên đồi để về nhà. Tôi thấy tủi thân vì dường như bố tôi chẳng quan tâm gì đến sự an toàn của tôi. Nhưng cảm xúc đó biến mất vào buổi tối mùa hè… Đó là ngày khá mệt mỏi với những bài thi dài làm tôi kiệt sức. Tôi chỉ muốn về nhà nằm dài ra ngủ. Khi xe bus dừng ở trạm cuối, tôi xốc lại cái balô đầy ụ sách, chuẩn bị đi bộ một chặng dài.
Tôi đi dọc theo đường cao tốc ở dưới chân đồi, cho đến khi nhìn thấy một hàng rào nhiều hoa giấy chạy dọc theo con đường lên đồi dẫn tới nhà tôi. Lúc nào tôi cũng thấy dễ chịu khi nhìn thấy cái hàng rào ấy, vì như thế có nghĩa là tôi sắp về đến nhà.
Hôm đó, khi tôi vừa nhìn thấy đám hoa giấy thì trời bắt đầu mưa. Tôi ngồi xuống để nhét mấy cuốn sách đang cầm trên tay vào balô, rồi lấy cây dù ra. Khi đứng dậy, tôi chợt nhìn thấy cái gì đó màu xám đang di chuyển dọc hàng rào. Nheo mắt nhìn kỹ, tôi nhận ra đó chính là cái nón của bố tôi. Và tôi biết - mỗi ngày tôi về nhà, bố đều đứng trên đồi, sau dãy hàng rào để quan sát, cho đến khi bố biết tôi về nhà an toàn rồi mới thôi. Tôi lau nước mắt chợt chạy dài trên đôi má. Thì ra, bố vẫn quan tâm đến tôi mà có bao giờ tôi biết được chuyện đó.
Hôm ấy, về đến nhà, tôi thấy bố đang ngồi trên ghế bành giả vờ như không biết gì, bằng một giọng thản nhiên bố hỏi:
- Về rồi hả con?...
“Cậu thấy đấy”
- Tôi kết thúc câu chuyện kể cho bạn mình nghe- “Tớ chẳng cần lo là có tìm thấy con đường dẫn đến Thiên Đàng hay không”.
Nhiều người vẫn nói: Thiên Đường là khi bạn thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm, hoặc chùm sáng trên cao. Nhưng, tôi lại nghĩ: khi tôi nhìn thấy dãy hàng rào đầy hoa giấy dẫn lên đồi, và bố tôi đang đợi ở trên đỉnh đồi rồi nói: “Về rồi đấy hả con?...” Thế đó, là Thiên Đường của bọn tôi….

            Vâng. Đúng thế. Thiên Đường, hay còn gọi là “thế gian” của nhà Đạo bọn tôi, vẫn cứ thế. Vẫn cứ nói và cứ hát những câu thơ, rất giản dị, rằng: 
      
“Em đến trong cơn dịu dàng,
           Lúc em đi từng giọt ngân vang trên vùng câm lặng.
            Một lần em có nói:
           Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này.”
(Từ Công Phụng – bđd)

            Với riêng tôi và nhiều người, thì “về xứ thâm trầm” có “giọt ngân vang”, “trong dơn dịu dàng” ấy vẫn không xa “cuộc đời này” là mấy. Vẫn cứ như Thiên Đường ở trần gian, hay “thế gian” của bọn mình vẫn cứ thế. Vẫn còn đó, những ước ao của một xã hội gồm những an bình, hiền hoà, đầy công lý.
            Xã hội ấy, vẫn còn thấy âm vang của lời thơ rất thâm trầm, tràn đầy những ý tứ và ý từ như:

“Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này,
Về xứ thâm trầm xa cuộc đời này.
Sẽ không còn ngàn kiếp truân chuyên,
Và hết nhân duyên…”
(Từ Công Phụng – bđd)

Nhưng thực sự, thì xứ ấy, nhân duyên này vẫn ở trong tâm can người nhà Đạo, hôm nay và mai ngày, mãi mãi rất nhiều đời. Của con người mà mình không hay biết đó thôi.

            Trần Ngọc Mười Hai
            vẫn còn tin
            những chuyện như thế
            đã và đang xảy ra hôm nay.
            Rất mai ngày, ở trần thế.

           
             

Sunday, 8 April 2012

“Bình yên một thoáng cho tim mềm,”

Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4
Chuyện phiếm đọc vào tuần thứ Hai Phục Sinh năm B 15.4.2012

“Bình yên một thoáng cho tim mềm,”
“Bình yên ta vào đêm.”
(Quốc Bảo – Bình Yên)
(St 1: 1-2)
Thập niên ’60 mà ngồi nghe lại câu thơ trên, hẳn người người cũng như tôi đây cứ là vui triền miên, rất “bình yên”, suốt một đời!
Cũng vào thập niên năm ấy, Học viện Dòng Chúa Cứu…Chuộc của bần đạo rộ lên không ít bầu khí “bình yên”, cũng giống thế. Nếu phải kể, thì bần đạo đây chẳng biết tìm đâu ra giấy bút để kể cho hết, bấy nhiêu chuyện xưa cũ. Thôi thì bần đạo chỉ xin ghi lại ở đây đôi ba sự kiện ít thấy, để cho vui. Ngoài việc ít thấy là sự chào đời của ban Hallêluyah “Ca Vào Đời” rồi lại đến sự kiện các lớp đàn anh được ra nước ngoài thụ huấn các môn triết/thần, cũng khá nhiều.
Bần đạo còn nhớ, phần đông anh em du học/thực tập, là để học thần học Kinh thánh. Tuy rằng, cũng có địa hạt khác mà đàn anh hăng say không ít, là: tham gia nhóm hội vẫn được gọi là “Thanh Sinh Công” (tiếng Pháp là JEC, tức: Jeunes Étudiants Catholiques) và “Thanh Lao Công” (JOC, tức: Jeunes Ouvriers Catholiques).
Ở Pháp khi đó còn có hiện tượng khá lạ, là: các cụ cứ là đổ xô nhau tìm đến với tác giả Gilbert Cesbron từng viết cuốn “Les Saints vont en enfer” (tạm dịch là: “Thánh nhân dồn về chốn hoả ngục”) để làm gì thì bần đạo đây chẳng rõ, chỉ hiểu loáng thoáng mỗi điều, là: muốn rao giảng cho giới thợ thuyền thì phải quyết tâm trở nên như họ, tức: sống và làm việc với họ. Thì ra, ý nghĩa của quyết tâm này từa tựa câu ca ở bên dưới:

“Bình yên để đóa hoa ra chào
Bình yên để trăng cao
Bình yên để sóng nâng niu bờ
Bình yên không ngờ
Lòng ta se sẽ câu kinh bình yên.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Thật ra thì, mức độ hiểu biết thi ca/âm nhạc của bần đạo chưa gọi là tạm đủ để cảm nhận giòng chảy nảy sinh ở bên trên. Duy có điều, là: chừng như lòng người thuở ấy rất hăng say nhưng nay lại ra như nguội lạnh, khô cứng, rất đứng tuổi. Nên không còn say sưa như giới trẻ bây giờ dám xả thân vào chốn ít người héo lánh, kể cả âm nhạc.
Và hôm nay, có say sưa ưa bộc phát với loại nhạc của giới trẻ thời đại, mới hát những ý/lời hoặc giai điệu lên lên/xuống xuống rất thất thường đến cực “bạo”, như:

“Bình yên để gió đưa em về
Bình yên ta chờ nghe
Chờ nghe tình vỗ lên tim mình
Chờ nghe tình lung linh
Bình yên để nắng soi môi thơm
Bình yên ta mừng
Mừng em đã hết đau thương về đây ấm cúng
Mừng em đã biết xót thương tình yêu.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Quả có thế. Bần đạo đây, tuy chưa cảm nhận hết cái hay/đẹp của giòng chảy âm nhạc thời thượng sáng tác theo thể loại Blues, Swing, hoặc Jazz của nước ngoài. Và có lẽ, vì nhạc trẻ của thế hệ mới hôm nay lại có điệu ru nghe qua tưởng như “tối hù”, nhưng nghe thật kỹ lại thấy lời ru có dáng dấp rất không cũ:

“Như từ bao la ta ra đời một kiếp nữa
Như từ trong nhau lớn lên khôn lên cùng nhau
Như một câu hát ứa ra từ tim
Tặng nhau nhé tiếng nghe hồn nhiên
Để quên hết khó khăn chia lìa.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Quả cũng đúng. Đi vào giòng đời, có “khó khăn chia lìa” thì cũng xin “tặng nhau nhé tiếng nghe hồn nhiên”, để “quên hết khó khăn chia lìa.” Và, bà con hôm nay tặng cho nhau những gì đây, khi thấy: đời đi Đạo, cái khó trong nhiều cái khó là biết dung hoà cuộc sống nhà Đạo có tin và yêu để đồng hành và hội nhập nền khoa học khô cứng, nhiều biện chứng?
            Lớp người có tuổi cũng như bần đạo, hễ cứ đụng đến khoa học và niềm tin là đã thấy hơi bị khô, rất khó hợp. Còn giới trẻ vẫn thấy đó là chuyện ở đời, khó tránh né. Để dẫn chứng, bần đạo xin mượn ý/lời của bạn trẻ ở Sydney có đôi giòng cảm nhận mà bần đạo vừa “chộp” được, như sau:

“Nói về vấn đề có liên quan đến khoa học và niềm tin, thì vô cùng. Chỉ biết là: từ thời xưa, người Ấn Độ cũng băn khoăn không kém khi đi tìm cho mình đáp án cho luận đề cổ lỗ nhất của nhân loại, cổ hơn cả cổ sử. Đó là câu hỏi: vũ trụ là gì? Vũ trụ từ đâu mà có? Loài người từ đâu đến? Do ai tạo ra? Khi chết đi về đâu?... Đó là những câu hỏi khá hiểm hóc. Những vấn đề thú vị của khoa học tự nhiên và triết học mà có lẽ con người sẽ không bao giờ có được câu trả lời chung cuộc, dù ban đầu chúng xem ra không mấy thiết thực, có khi còn ngớ ngẫn nữa. Lịch sử tư duy của loài người cho thấy: khoa học tự nhiên và triết học luôn tìm cách lý giải vấn đề này và từng bước rồi từng bước đi từ giản đơn đến phức tạp, từ chỗ thô sơ đến tinh vi, tế nhị. Hai ngành luôn hỗ trợ nhau, vẫn là tiền đề để giúp nhau phát triển…

Ấn Độ, hồi thế kỷ thứ 15 đã khai sinh ra tôn giáo cải cách nhằm giải thích các hiện tượng siêu hình có niềm tin tôn giáo kể trên, dưới góc nhìn khoa học hợp lý hơn, thay vì chỉ biết mù quáng tin một cách tuyệt đối mà không vận dụng bộ óc suy luận của mình để phán đoán sự việc hiện hữu trên thế gian. Đó là đạo Sikh, do Guru Khai tổ Nanak sáng lập tại bang Punjab. Không giống như tôn giáo khác, đạo Sikh cho rằng đã đến lúc cần tách rời tôn giáo khỏi khoa học, thần học khỏi triết lý, điều mình tin tưởng khỏi nhận thức, ở bất cứ lãnh vực học thuật này khác. Theo họ, khoa học phải do lý tính hoặc khả năng suy luận tạo ra, và phải được kiểm chứng bằng kết quả thử nghiệm, chứ không chỉ dựa vào niềm tin mà thôi.

Đây là ý tưởng vô cùng mới mẻ, nhằm đả kích các quan điểm thần học chính thống đã khuynh loát lên đời sống tâm linh nhân loại lúc bấy giờ. Đến thời điểm đạo Sikh ra đời, ở Phương Đông cũng như phương Tây, con người mặc nhiên chấp nhận định luật bất thành văn cho rằng niềm tin và khoa học là hai khái niệm đồng nhất không thể tách rời, trong đó mọi vật được xem như hình ảnh và dấu ấn của Thượng Đế hiện hữu ở cõi trần. Từ triết gia Plato người Hy Lạp mà nền văn minh Kitô giáo Tây Phương dựa làm nền tảng, cho đến Ấn giáo thuỷ tổ của triết học Ấn Độ, hoặc Khổng giáo ở Trung Hoa, tất cả đều không thoát khỏi qui luật bất biến này. Nay, nhờ luồng tư tưởng mới, do đạo Sikh đề xướng, một phong trào canh tân tôn giáo đã nhanh chóng bùng nổ khắp Ấn Độ, và qua ngả Ả Rập để du nhập Âu Châu.

Các biến động này đã buộc các giáo hội trên thế giới phải đối phó với những vấn đề hết sức nan giải và có khả năng bị xã hội cô lập nếu không trả lời thoả đáng các vấn đề thời đại. Những mâu thuẫn một bên là lý tính và bên kia là niềm tin, chính quyền nhiều nước không thể làm gì khác hơn là đàn áp tôn giáo cách mãnh liệt. Điều này đưa đến hai thái cực ở thế đối chọi giữa hai hệ tư tưởng Đông phương và Tây phương. Kể từ đó, tôn giáo và khoa học không thể dung hoà với nhau được, mà cuộc chiến giữa hai khuynh hướng canh tân và bảo thủ vẫn tiếp diễn hàng ngày mãi đến nay.

Giáo lý cốt tuỷ của đạo Sikh dựa trên tín điều mà Guru Sáng Tổ Nanak và 9 vị Guru Thế Tổ khác truyền lại qua bộ kinh cơ bản là Adi Granth, còn gọi là Guru Granth Sahib. Tín đồ đạo Sikh chỉ tôn thờ duy nhất có một vị thần thôi, đó là Chúa Trời hay Thượng Đế, trong đó vũ trụ, con người, lý tính và niềm tin đều bắt nguồn từ Thượng Đế cả. Con người nhận thức thực tại bằng ánh dọi từ Thượng Đế. Thượng Đế tạo nên vũ trụ, cũng như con người tạo ra dụng cụ, rồi sử dụng chúng, như nghệ nhân tạo tác phẩm nghệ thuật bằng ý chí và quyết tâm của mình. Thượng Đế tạo vũ trụ và các ‘đơn vị’ (thí dụ một con người, đoá hoa hồng hay con lừa) sống trong vũ trụ đó với tính cá thể riêng, nhưng mang hình ảnh và tính chất như Ngài. Thượng Đế, với sức sáng tạo vô biên, đã tạo dựng mọi ‘đơn vị’ theo cách thức riêng của Ngài và để chúng phát triển rất tự nhiên theo quy luật do Ngài đặt ra. Khi cần thiết, Thượng Đế có thể trực tiếp can thiệp vào thực tại và đó là lý do có ‘phép lạ nhiệm mầu’.

Tuy nhiên, cũng đạo lý này khi truyền đạt vào Phương Tây thì lại đi đến kết luận khác hẳn với hệ thống tư tưởng Ấn Độ và triết học Đông Phương. Giới trí thức Âu Châu thời đó bèn đem ra bàn luận về học thuyết của triết gia cổ đại Hy Lạp là Aristotle, vốn có nhiều nét giống với tư tưởng đạo Sikh bị họ lãng quên ở Âu Châu suốt hơn 1500 năm. Sau này được thánh Tôma Akinô đúc kết thành triết thuyết hoàn chỉnh, làm nền cho Giáo hội Chúa suốt nhiều thế kỷ, giúp Giáo hội vượt qua bao sóng gió, thử thách đến từ các thế lực đối nghịch. Từ đó, Giáo hội Tây Phương ra thông cáo chính thức về quan điểm của mình đối với các vấn đề có liên quan đến thần học và tôn giáo, đến khoa học và triết học, đến niềm tin và nhận thức, trên cơ sở bảo rằng: trái đất cũng như con người do Thượng Đế tạo, đang sinh trưởng trên mặt đất, là trung tâm vũ trụ, trung tâm của thế giới muôn loài. Con người là hiện thân của Thượng Đế đương nhiên được xem là chúa tể muôn loài ở trái đất, điều đó trở thành cái cớ để người Châu Âu chinh phục và thám hiểm thế giới…” (trích Một vài cảm nghiệm nhân chuyến đi thăm Ấn Độ năm 2009 do Anthony Quốc Trần, Sydney ghi lại)

Về niềm tin và khoa học theo lịch sử dưới tầm nhìn của người trẻ ở Sydney chuyên tra cứu sử Ấn Độ, là như thế. Tức: như một nhận định thông thoáng trong muôn ngàn nhận xét, vẫn có giới hạn. Nói về vũ trụ vạn vật theo cung cách cổ sử Do thái, là nói và viết như sau:

“Từ khởi thủy,
Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất.
Đất thời trống không mông quạnh,
và tối tăm trên mặt uông mang
và khí thần là là trên mặt nước.”
(Sáng thế ký 1: 1-2)

Dẫn giải chương đầu sách Khởi nguyên, cha giáo Giuse Nguyễn Thế Thuấn CSsR, có viết:

5 quyển đầu của Cựu Ước làm thành một khối mà người Do thái gọi chung là “Torah”, tiếng Hipri này thường được dịch là Lề Luật, nhưng đúng nghĩa hơn phải dịch là Giáo điều... ”

“Mười một chương đầu của sách Khởi Nguyên nên được để riêng. Qua việc tả lại nguồn gốc loài người, với một lối hành văn đơn giản và nhiều hình ảnh hợp với tâm não của một dân chưa được mở mang mấy, các chương này đưa ra những chân lý căn bản của kế đồ Cứu Chuộc: Thiên Chúa tạo dựng vào buổi đầu thời gian, việc can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa trong sự xuất hiện của con người, nam và nữ, tính cách thống nhất của loài người, tội của tổ tiên tiên-khởi, sự sa ngã và những khổ đau, coi như một hình phạt, được lưu truyền.” (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR, Tiểu dẫn vào Kinh thánh, Kinh Thánh nxb Dòng Chúa Cứu Thế 1976 tr. XLIII, XLVI)
  
Nói theo bài bản, thì như thế. Nhưng, bài bản và gì nữa cũng vẫn là bản và bài của ai đó, bởi người thời nay đều thấy khoa học và niềm tin luôn có xung đột khó tránh. Xung đột xảy đến từng ngày. Xung đột xảy đến lai rai. Bởi, với niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa là Đấng làm cho thế giới mở rộng thêm để người người kịp khám phá ra sự thật đúng/sai.
Về phía Ngài, Chúa vẫn khích lệ con người đưa nhiều thắc mắc/hỏi han về thế giới với tương quan giữa Chúa và khoa học ngõ hầu củng cố một nhận thức. Nói cho cùng, khoa học và niềm tin vẫn như hai chị em cùng nhà mà lại sống riêng rẽ, nên vẫn có lập trường riêng tư, khác biệt. Mỗi bên có cơ hội khám phá ra bản chất của mình, nên tầm nhìn thường vẫn khác.
Bảo rằng, ngay như anh em cùng nhà nhiều lúc còn đấu tranh giành phần thắng lợi về mình nữa, thay vì nhường nhịn nhau, hợp tác chung sống, huống hồ là khoa học và niềm tin cũng hành xử hệt như thế. Ngược giòng sử, người người thấy rõ hai sự kiện nói lên xung đột giữa hai chị em cùng nhà từng xảy đến với thế giới, rất khó chữa.
Trước hết, là trường hợp của khoa học gia Galilêô hồi thế kỷ thứ 16 có liên quan đến chuyện trưng bằng chứng nói trái đất xoay quanh mặt trời. Trong khi đó, Hội thánh lại giải thích khoa thiên văn theo Kinh thánh quyết bảo rằng: trái đất là tâm điểm của vũ trụ. Cuối cùng, Hội thánh đành chọn giải pháp lên án Galilêô, để trấn an các nhà thần học. Về sau, Giáo triều biết là lối giải thích khoa học theo kiểu triết/thần của thời đó có sai sót, nhưng vì Galilêo vẫn muốn khoa học tách bạch khỏi mọi kềm chế của tôn giáo, nên mới thành chuyện. Galilêô bị hành hình và bị vạ tuyệt thông và chỉ được hồi phục danh dự qua lời xin lỗi của Hội thánh mới đây thôi.
Thứ hai, là: xung đột nhằm vào thuyết tiến hoá do Darwin chủ xướng, vào thế kỷ thứ 19. Khi ấy, Darwin dựa vào nghiên cứu hoá-thạch, chủ trương con người tiến hoá qua tiến trình lựa lọc của thiên nhiên. Nghĩa là, mọi sinh thái xuất hiện trên trái đất không là thọ tạo riêng rẽ, nhưng là thành phần của chuỗi sự sống cứ biến hoá, cứ liên tục hiện hữu, ngàn năm không thiếu. Với người nhà Đạo, lối giải thích này không thuần nhịp với trình thuật tạo dựng trời đất theo Thánh Kinh. Nên, giới chức nhà Đạo mới đả kích chủ thuyết Darwin, rất kịch liệt.
Trường hợp Galilêô, người nhà Đạo cũng thấy lối giải thích công cuộc tạo dựng trời đất của nhà Đạo khi xưa có cái gì đó không ổn. Suy cho kỹ, mới thấy trình thuật kể trong Cựu Ước không mang chủ đích giải thích chuyện tạo dựng theo khoa học, mà chỉ muốn nói về tương quan giữa Thiên Chúa và thế giới nhân trần, mà thôi. Theo dõi mọi xung đột giữa khoa học và tôn giáo, người đọc lại càng liên tưởng đến ca từ vừa hát, như sau:

“Bình yên một thoáng cho tim mềm
Bình yên ta vào đêm
Bình yên để đóa hoa ra chào
Bình yên để trăng cao
Bình yên để sóng nâng niu bờ
Bình yên không ngờ
Lòng ta se sẽ câu kinh bình yên.”
(Quốc Bảo – bđd)    

            “Câu bình yên” lòng se sẽ ấy, vẫn là câu thổn thức dồn đến mọi người, cả trong Đạo lẫn ngoài đời. Thổn thức lắm, khi nhớ lại cuộc xung đột giữa khoa học và niềm tin. Thổn thức, khi người người tưởng nhớ những điều sai quấy, cần hối lỗi. Nói đúng ra, người xưa hoặc hôm nay vẫn khư khư với lập trường cố định mình nắm bắt, nên mới để mất nỗi niềm “bình yên” cần thiết.
            Chính vì thế, mà nghệ sĩ hôm nay lại hát câu bình yên với mục đích sau đây:

“Bình yên để gió đưa em về
Bình yên ta chờ nghe
Chờ nghe tình vỗ lên tim mình
Chờ nghe tình lung linh
Bình yên để nắng soi môi thơm
Bình yên ta mừng
Mừng em đã hết đau thương về đây ấm cúng
Mừng em đã biết xót thương tình yêu.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Kinh nghiệm của mất mát “bình yên” giữa nhà khoa học và nhà Đạo chuyên lý giải thần học, là do nghĩ rằng lập trường hiểu biết và lý giải mọi chuyện trên trời dưới đất chỉ dẫn đến xung đột, chẳng bao giờ “bình yên”. Chí ít, là bình yên trong tâm hồn. Kinh nghiệm rút từ cuộc xung đột giữa khoa học và tôn giáo, đem đến cho ta một đề nghị thiết thực.
Đề nghị rằng: sống đời bình yên, đừng tìm giải thích các vấn đề ngoài tầm hiểu biết hoặc chuyên môn của mình. Bởi làm thế, càng gây chia rẽ rất khó sống “bình yên”. Biết hỗ trợ và tìm hiểu cái hay cái mới, vẫn hơn là đả kích huỷ diệt nhau. Hãy đề cao nét vẻ bình yên của thiên nhiên. Rồi từ đó, ta mới tuyên dương quan hệ thân thương giữa Thiên Chúa của tình thương và vũ trụ vạn vật.
Đề nghị thêm nữa là: ai ưu tư lý sự hoặc nghĩ về nguồn gốc vạn vật hãy cứ về mà tìm hiểu nét đẹp của tương quan ấy, tự khắc sẽ bắt gặp bình yên nằm sẵn ở cái hay, nét đẹp ấy mà góp phần tạo tuyệt mỹ trong mọi sự, kể cả sự sống con người cùng vạn vật, thay vì tìm cách sáng chế phương tiện huỷ diệt tất cả. Con người lẫn vạn vật, đã mất dần “bình yên” trong tình yêu và tình của bình yên.
Để minh hoạ lập trường thiết thực ấy, cũng nên về với truyện kể nhẹ êm, rất tích cực:

            “Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
“Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải hét thật to vào mặt nhau?”
Sau một lúc trầm ngâm suy nghĩ, một trong các đệ tử trả lời:
“Bởi, người ta mất bình tĩnh, mất tự chủ!”
Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời quá mau mắn này, bèn bảo:
“Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở bên nhau, sao không nói bằng âm thanh vừa đủ nghe?”
Các đệ tử lại ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến thầy họ hài lòng.
Sau cùng ông bảo:
“Khi hai người giận nhau, thì trái tim họ không còn ở gần nhau nữa. Từ thâm tâm, họ thấy giữa họ và người kia có khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to.
Giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, lại càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”
            Ngừng một chút, ngài lại hỏi:
“Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, thế là tại sao? Bởi, trái tim họ cận kề nhau. Khoảng cách giữa họ cũng rất nhỏ…”
Rồi ngài tiếp:
“Khi hai người yêu nhau đậm đà thì họ không cần nói nữa, mà chỉ thì thầm, họ đến với nhau rất gần bằng tình yêu của mình. Cuối cùng, cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ đưa mắt nhìn nhau, thôi! Vì ngang qua ánh mắt đó, họ biết đối phương nghĩ gì, muốn gì rồi ..”
            Ngài kết luận:
“Khi các con bàn cãi với nhau về vấn đề gì, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng thốt ra điều gì khiến các con thấy xa cách nhau. Bằng không, thì một ngày nào đó, khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa và các con cũng sẽ không tìm ra được con đường mà quay về với sự bình yên cần có, cho đời mình!”

Kể truyện rồi, nay mời bạn mời tôi, ta lại hát lời cuối của bài ca “bình yên”, dẫn ở trên:

“Như từ bao la ta ra đời một kiếp nữa
Như từ trong nhau lớn lên khôn lên cùng nhau
Như một câu hát ứa ra từ tim
Tặng nhau nhé tiếng nghe hồn nhiên
Để quên hết khó khăn chia lìa.”
(Quốc Bảo – bđd)

            Và cứ thế, với giòng nhạc nhẹ êm, bạn và tôi ta “quên hết khó khăn chia lìa” để rồi sẽ đi dần vào với “bình yên’ đích thực, của cuộc đời. Ngay lúc này.
           
            Trần Ngọc Mười Hai
            vẫn cứ ca và cứ hát
            những lời lẽ rất bình yên
            cho tim mình mềm
            nhẹ êm, suốt một đời.