Thursday, 8 December 2011
“Em yêu nhất đôi vai chàng.”
“Em yêu nhất đôi vai chàng.”
yêu anh dáng hiên ngang
em yêu lúc anh tươi cười
khẽ nói yêu em nhiều.”
(Văn Phụng – Yêu Và Mơ)
(Rm 5: 18)
Cứ tưởng tượng, rằng thì là: câu hát có lời âu yếm rất nên thơ ở bên trên, là: của người nữ đầu đời nói với người đàn ông duy nhất mình đang yêu, thì chắc chắn, cuộc đời con cháu của cụ ông Adong và cụ bà Evà, cứ thế mà đẹp mãi. Đẹp dài lâu. Miên trường. Trong sương khói.
Không tin ư?
Nếu thế thì, mời bạn và mời tôi, ta nghe người nghệ sĩ từng yêu rất nhiều, nay hát thêm:
“Yêu em biết bao đêm dài
Yêu em lúc ban mai
Yêu em thiết tha bao tình
Mãi mãi không phai nhoà.”
(Văn Phụng – bđd)
Yêu miệt mài. Yêu mãi mãi. Không phai nhoà. Câu hát ấy, là của Adong rất đàn ông chỉ hát cho vợ mình là Evà -người tình rút từ khúc sườn cụt của Adong- là tình lòng dài lâu. Không chỉ một sáng một chiều, đã đến hồi chấm dứt sau khi ăn trái cấm, mà thôi. Câu hát ấy, vẫn cứ là tình đẹp dù dang dở? Về tình dở dang hay không, vẫn được nhiều người viết luận bình/bình luận từ muôn thuở, làm sao biết. Viết, là viết lời bình về đời của người tình đầu tiên như câu truyện ở bên dưới:
“Truyện rằng:
Bàn về tình tự nam nữ có bình luận, là bàn về hình dáng lẫn tuổi tác đến mà ghê, như sau:
Adong ngày nay thoạt nhìn thấy ai đó một nữ phụ, hẳn sẽ luận bàn rằng:
-Ở tuổi 18 đến 22, người phụ nữ giống như châu Phi. Một nửa được khám phá ra rồi. Phân nửa còn lại vẫn cứ hoang vu biền biệt thật khó biết. Bởi thế nên, nhiều đấng phiêu bạt giang hồ hẳn vẫn muốn tìm cho được đâu là Chân, Thiện, Mỹ, rất tuyệt diễm…
-Sang lứa tuổi 23-30, thì cũng giống như Bắc Mỹ, đã khám phá toàn bộ hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật, nhưng vẫn còn là mơ ước của nhiều gã như Adong đang tìm việc, để an phận…
-Ở tuổi từ 31 đến 40, thì như vùng nhiệt đới nóng bỏng. Tuy đẹp đấy, nhưng đầy huyền bí khiến bao nhà thông thái đến ngã ngửa vì không giải thích nổi.
-Bước sang lứa tuổi 41-50, lại giống như châu Âu, một nửa đã bị tàn phá sau thế chiến. Nhưng, nửa còn lại vẫn thu hút và không kém phần hấp dẫn/khuyến dụ để rồi bao nhà thám hiểm vẫn muốn đến một lần cho biết… thân biết phận, nghèo mà ham!
-Ở tuổi từ 51 đến 60 thì lại như Úc châu. Trông thì rộng rãi, quyến rũ đấy; nhưng đa phần toàn là sa mạc. Chắc chắn sẽ yên tĩnh. Nhưng, phần đông sống an phận, chịu sự bảo hộ của Anh quốc, thứ “Miệt dưới” ít kẻ muốn quấy rầy.
-Ở tuổi ngoài 60 lại sẽ như Nam Cực, ai cũng thừa hiểu là một khi đặt chân tới nơi này rồi, sẽ chẳng còn ai thèm bén mảng tới nữa.
Nghe bình loạn thế rồi, Evà ngày nay cũng góp giọng thành tiếng mà liến thoắng như sau:
-Đàn ông 20 tuổi: như con gà trống. Sáng nào cũng gáy liên hồi chẳng cần ai nhắc.
-Ở tuổi 30, Adong ta như xe hơi mùa lạnh nổ máy hơi khó nhưng chạy lại khá tốt!
-Đến cỡ 40, Adong như bóng đèn, lúc cháy lúc ngủm, khó đoán trước hôm này ra sao.
-Kịp đến tuổi 50 tròn, Adong ta y như xe tăng thiết giáp, nổ thì rất chậm, di chuyển lại ì ạch chẳng như trước.
-Lục thập tuổi 60, lại như cái đồng hồ quả lắc nếu không dùng tay mà lắc, chắc chắn sẽ không chạy và chưa chạy đã hết xăng.
-Tuổi 70 trở lên, thì thôi Adong ôi! Không thấy có ý kiến nào khác hơn ngoài việc cứ để cụ ông mình cụ bị hậu sự “nhân sinh thất thập cổ lai hy” đi là vừa rồi đó, hỡi Tám nó…”
Ấy đấy! Cuộc đời của các “nam thanh nữ tú” là như thế. Nhưng sao hôm nay, nghệ sĩ nhà mình lại cứ vui hát:
“Chiều chiều bên nhau nhìn trăng vàng
Tay cầm tay ta cùng mơ màng
Xây đắp mộng đẹp cho tương lai
Thương yêu nhau mãi mãi…”
(Văn Phụng – Yêu Và Mơ)
Phải thế không, đấy? Khi nói chữ “yêu”, đương nhiên là “yêu nhau mãi mãi”, nhất định rồi! “Mãi mãi” đây, là thời gian của “lúc ấy”, đấy thôi?
Nói về tình yêu chân chất, tưởng rằng “dài lâu”, “miên trường”, như tình mình thuở đầu đời rất nhiều nơi, cũng là tình rất đẹp. Đẹp, ở ngoài đời. Đẹp, trong nhà Đạo. Cả ở Lời Chúa, rất Cựu Ước. Đẹp là thế, mà sao nhiều vị vẫn cứ là thắc mắc với hỏi han/gạn hỏi dài dài như bên dưới:
“Đọc trình thuật viết về Adong người nam khởi đầu ở Cựu Ước, nhiều lúc tôi nghĩ: đó có thể là chuyện thật do người thật viết về quyền năng của Giavê Thiên Chúa, theo hiểu biết của người xưa. Người xưa có viết cũng để bảo rằng: nam thanh nữ tú thuở đầu đời khi Giavê Thiên Chúa dựng nên trời đất, là tạo vật do từ Chúa mà nên. Hiển nhiên là thế. Nhưng sao, dạo gần đây, tôi lại được nghe nhiều người lại cứ nói đi rồi thì nói lại rằng: ta phải đồng ý chấp nhận mà bảo rằng thuỷ tổ loài người xuất tự giống vượn, thì truyện kể về Ađam - Evà là huyền thoại sao? Là linh mục Công giáo, ngài nghĩ thế nào về chuyện này, xin cho biết. (Người hỏi hôm nay cũng chẳng chịu ghi tên ghi tuổi, nên không rõ người đó là đàn ông hay đàn bà? Còn trẻ hay đã già, thật không rõ)
Hỏi, vị đó là đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, để làm gì! Bởi, có tìm ra câu trả lời đi nữa, đã nào giúp được điều gì cho ai! Chi bằng, ta cứ tập trung vào câu trả lời của đấng bậc chuyên trách mục giáo lý với sách phần, mới phải lẽ. Lẽ Đạo và lẽ đời, như lời suy tư, từ từ rồi ra ta cũng sẽ thưởng lãm cốt truyện dân gian, rất người phàm đặc sệt chất Adong nay dính dự vào niềm tin đi Đạo, bạo dữ lắm!
Hỏi về chuyện Đạo đời mà lại hỏi đấng bậc phụ trách từng viết lách cho báo/đài ở Sydney, thì dù gì đi nữa cũng có được giòng chảy lan man giải đáp, rất thần học rồi chọc thần, như sau:
“Để bắt đầu, tôi nghĩ: ta nên nói ngay rằng: ta không dựa vào Sách Thánh cũng sẽ thấy được là lẽ thông thường của người phàm vẫn dạy cho ta biết rằng: là người, ai cũng có điểm khởi đầu, khi lọt lòng. Nói thế có nghĩa là: người phàm như ta thật ra vẫn hiện hữu như mọi loài, từ nhiều thiên niên kỷ trước. Thế nên, ở giai đoạn nào đó rất khởi đầu, bao giờ cũng phải có một nam và một nữ ngay buổi đầu đời, thoạt kỳ thuỷ.
Vấn đề nên hỏi là: phải chăng ta xuất thân tự cặp tiền nhân nam nữ đầu đời, như Sách Thánh nói chăng? Hoặc, ta sinh ra từ nhiều cặp rất sống động từ động vật? Nếu bảo: ta tiến hoá từ nhiều hữu thể sống động này khác -cứ cho đi là từ loài khỉ hay loài gì đi nữa- là từ các cặp dã nhân đầu đời, để rồi trở thành người phàm rất nhân tính, sau đó mới lan tràn/nở rộ thành nhiều giống người khác biệt. Dù sao, Hội thánh cũng có đôi điều dạy dỗ con dân về chuyện này, khi các ngài phán bảo.
Thoạt vào năm 1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII, có viết một thông điệp với tựa đề “giòng giống con người” đề cập đến vấn đề tiến hoá của con người. May, mà các tổ phụ trong Hội thánh không loại bỏ thuyết ấy và còn cho rằng con người đến từ các động vật sinh động khác. Thay vào đó, các ngài chủ trương: thuyết tiến hoá là vấn đề để ngỏ cho đến khi nó chế ngự mọi suy tư nhận xét về sự tiến triển nơi thân xác của người phàm từ động vật. Đức cố Giáo Hoàng Piô XII còn khẳng định: ở trường hợp nào đi nữa, Thiên Chúa là Đấng đem linh hồn nhập vào với người phàm, ngay từ khi xảy đến sự sống.
Về số lượng phàm nhân ban đầu sống có cặp, Đức Piô XII còn tỏ cho biết: ta phải tin là ngay từ buổi đầu, vẫn duy nhất chỉ mỗi cặp nam nữ đầu tiên là hiện hữu, thôi. Lý do ngài đưa ra, là vì: nếu ta tin rằng có nhiều cặp nam nữ xuất hiện từ thuở tạo thiên lập địa, thì ta không thể nhất trí mà hoà giải cho được tín điều về tội nguyên tổ mà Sách thánh và Thánh truyền vẫn dạy bảo, coi đó như sự kiện lịch sử, tội đó là do cặp nam nữ đầu tiên mắc phải, và từ đó mới truyền xuống nhân loại, từ hai người đầu tiên. (x. Rm 5: 12-19)
Theo các tài liệu do Uỷ Ban Kinh Thánh thuộc Giáo triều từ năm 1909 nhận định, thì: sự nhất thống giống giòng người phàm cần được coi như sự kiện có thật trong các sự kiện dẫn vào nền tảng Đạo Chúa. Từ đó, người người phải nhìn nhận việc ấy mang tính lịch sử, rất khách quan.
Ngày nay, dù các sử gia diễn giải sự việc theo dữ liệu khoa học khác nhau đi nữa, thì khoa học tiên tiến chính đáng vẫn công nhận những gì Kinh thánh và thánh truyền từng nói đến. Các nhà khoa học cũng xác chứng cho thấy: nghiên cứu nhiễm sắc thể “Y” được lưu truyền từ đời cha xuống con trai, chứng tỏ là mọi đàn ông sống đến hôm nay đều có cùng tổ tiên, đôi khi nhiễm sắc thể “Y” của Ađam lồng vào đó, và có lẽ đã hiện diện ở châu Phi khoảng 600,000 năm trước.
Cũng thế, công cuộc nghiên cứu DNA có tế-bào-tương chuyển tải từ người mẹ xuống con gái, chứng tỏ cho thấy mọi nữ phụ sống đến hôm nay đều do tự người nữ là Evà có nhiều nhiễm-sắc-thể “X” lồng vào với mình. Mọi người đều tin là: người nữ đầu tiên tên Evà có lẽ đã sống ở châu Phi từ 140,000 năm nay. Sự thể có ra sao và cơ thể con người có tiến hoá tự động vật sinh động cách nào đi nữa, thì đó vẫn là vấn đề để ngỏ. Rõ ràng, Kinh thánh vẫn xác quyết rằng: từ buổi đầu, đã thấy xuất hiện cặp nam/nữ tiên khởi mà tác giả sách Sáng Thế Ký đặt tên cho họ là Adong và Evà. Và, mọi giống giòng người phàm mới từ đó phát xuất rồi nhân rộng thêm lên.
Thế nên, ta có thể kết luận là: đúng, Adong – Evà đã hiện hữu, ngay từ buổi đầu đời. Họ là người phàm trần đầu tiên xuất hiện trên trái đất.” (x. John Flader, Question Time, Oconnorcourt Publishing 2008, tr. 8-9)
Trích dẫn gì thì cứ trích và cứ dẫn. Dẫn giải và biện luận gì thì cứ biện và cứ giải. Hãy biện và giải như nghệ sĩ trên từng liên tưởng đến cảnh đầu đời thời tiên khởi của loài người, nên mới hát:
“Anh yêu nhất đôi môi hồng
Yêu đôi mắt say mơ
Anh yêu tóc em buông dài
Yêu em tình ngất ngây…”
(Văn Phụng – Yêu Và Mơ)
Cũng chẳng biết, khi viết nhạc, nghệ sĩ Văn Phụng có liên tưởng đến nữ phụ đầu đời tên Eva chăng? Nếu không, sao ông lại cứ hát những là: “tóc em buông dài”, “đôi mắt say mơ”, “môi hồng”, ”tình ngất ngây”, như thế để làm gì. Và, khi hát bài “yêu và mơ” này, nghệ sĩ nhà ta có tưởng có nghĩ đến Ađam thời đại mình chợt thấy “tóc em buông dài” của Evà cũng từng “yêu và mơ” đến độ lơ mơ lờ mờ đầy tưởng nhớ người yêu có “đôi môi hồng”, có “mắt say mơ” không lờ đờ, đấy chứ? Mơ hay không, vẫn là “tình ngất ngây” hôm rày vào buổi sớm ban mai đấy chứ?
Ngất và ngây, đến độ cả chàng trai đầu đời thời nguyên thuỷ lẫn trai thời nay vẫn hay hát:
“Anh yêu mãi đôi tay mềm,
Yêu em lúc em đan.
Anh yêu tiếng ca êm đềm,
Khẽ hát câu dịu dàng…”
(Văn Phụng – bđd)
Dịu dàng thay, câu hát ấy! Dịu dàng là thế, mà khi sự việc đổ bể, nữ phụ đầu đời vẫn cứ là đổ lỗi những là: “Con rắn đã phỉnh tôi nên tôi đã ăn…” Ôi, khi còn yêu thì bảo: “Yêu em nhất” rồi lại: “Yêu em mãi đôi tay mềm”, “yêu tiếng ca êm đềm”, thế mà khi bị Bề Trên hạch hỏi thì lại bảo: “Người đàn bà mà Ngài đặt bên tôi, chính y thị đã… đã…” Vâng! đích thị là y thị hay y chang nam nhân đầu đời vẫn cứ nói rồi lại chối. Chối bay chối biến, để rồi thánh nhân hiền lành đời sau, đã thốt lên một lời:
“Thật vậy,
cũng như vì một người duy nhất
đã không vâng lời Thiên Chúa,
mà muôn người thành tội nhân,
thì nhờ Một Người Duy Nhất
đã vâng lời Thiên Chúa,
muôn người cũng sẽ thành
người công chính. “
(Rm 5: 18)
Thành thử, với Cựu ước và Tân Ước, phàm nhân thuở đầu đời có làm chuyện chẳng lành, thì người cùng thời hôm nay lại vẫn cứ phải làm điều phải chăng/phải lẽ, thế mới đúng. Đúng, là làm y hệt như thánh nhân hiền lành từng khuyên nhủ, ở Tin Mừng, rằng:
“Chúng tôi đã quý mến anh em,
đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em,
không những Tin Mừng của Thiên Chúa,
mà cả mạng sống của chúng tôi nữa,
vì anh em đã trở nên
những người thân yêu của chúng tôi.”
(1Th 2: 8)
À thì ra, một khi đã “Yêu và Mơ” rồi, thì vẫn cứ nên “sẵn sàng cống hiến cả mạng sống” cho người mình yêu nữa. Thế đó là chân lý. Thế đó mới thật chí lý. Sự thật rất chí lý, như bao chuyện ta từng nghe biết, vẫn ở đời.
“Yêu và mơ”, như bài thơ để đời, mà bầu bạn thời nay vẫn chuyển cho nhau vào những tháng ngày rất “sáng nắng chiều mưa, trưa xìu xìu ển ển” vì con người. Con người, là người xuất tự xương sườn cụt có vần thơ âu yếm như thơ 10 thương mà tình nhân đầu đời, thời nguyên thuỷ vẫn ngâm nga ca hát, rằng:
“Một thương đôi má của nàng,
Xài toàn mỹ phẩm anh tàn tháng lương.
Hai thương giọng ngọt như đường,
Nàng xin một tiếng vua nhường mất ngôi.
Ba thương đo đỏ đôi môi,
Anh không chạm được sợ trôi son nàng.
Bốn thương mười ngón thiên đàng,
Liếc tình cọp cũng biến thành nai tơ.
Sáu thương cái nết ngây thơ,
Quen nàng một tháng anh khờ ba năm.
Bảy thương mái tóc buông xuôi,
Làm anh điêu đứng bởi mùi dầu thơm.
Chín thương nàng biết nấu cơm,
Ba năm một món anh ròm như ma.
Muời thương ăn nói mặn mà,
Em la một tiếng cả nhà điếc tai.”
(Trích từ bài thơ “con cóc” (?) xuất tự bạn bè trên mạng)
Nghĩ cho cùng, dân gian truyền tụng từ thời Adong - Evà có làm thơ hoặc viết nhạc, thậm chí viết cả bản văn khoa học bình dân hay văn chương uyên bác đều vẫn ca tụng nhau y như thế. Như thế là như thể nói đến “yêu và mơ” mà lại toàn những lơ tơ mơ, rất lờ mờ như người ngoài phố chợ.
Dầu gì đi nữa, hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ yêu và cứ mơ, để rồi tiếp tục hát lên lời thi ca rất thẫn thờ, mà rằng:
“Chiều chiều bên nhau nhìn trăng vàng,
Tay cầm tay ta cũng mơ màng.
Xây đắp mộng đẹp cho tương lai,
Thương yêu nhau mãi mãi.”
(Văn Phụng – bđd)
Mộng và mơ, tuổi còn thơ hay chợt đến bến bờ ở buổi xế. Xế bóng tà dương hay chiều rất xế. Hoặc xế gì đi nữa, hãy cứ hát tiếng “yêu nhau mãi mãi”. Bởi, thế đó là tương lai/mai ngày. Của mọi người. Ở huyện.
Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn muốn gửi đến bạn
và đến tôi
lời thơ dạt dào yêu mến.
Rất diễm tuyệt.
Saturday, 3 December 2011
“Nhắm mắt, cho tôi tìm một thoáng hương xưa,
“Nhắm mắt, cho tôi tìm một thoáng hương xưa,
cho tôi về đường cũ nên thơ,
cho tôi gặp người xưa ước mơ.”
(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – Nửa Hồn Thương Đau)
(Ti 3: 3-5 )
Có nhiều vị, từng nhắm mắt nhưng không để đi về miền vĩnh cửu rất sáng láng, cho bằng để lâm râm khấn vái, xôn xao. Lào xào. Mà, nào tìm thấy được “một thoáng hương xưa”. Và, cũng nào gặp được/được gặp cố nhân hoặc ai đó, ở đâu đây! Chí ít, là chốn âm u, vời vợi, sao đạt tới.
Không đạt được, nhưng nhiều cụ vẫn đinh ninh là mình vẫn “về đường cũ nên thơ”, vẫn “gặp người xưa ước mơ”. Gặp đây, không bằng xe/bằng cộ, mà bằng phương pháp mà người thời đại xưa nay gọi là “cầu cơ”/lên đồng, tử vi/bói quẻ. Có cụ lại cứ tin và coi đó như chuyện thật. Nhiều vị khác, dù chỉ là dân thường ở huyện, rất “chân chỉ hạt bột”, nhưng lại có lập trường vững chãi, ở cuộc sống, nên vẫn “bình chân như vại”. Sống thoải mái. Chẳng tin gì, chuyện bói bài với tử vi, vv...
Truyện kể ở bên dưới, sẽ cho bạn và tôi thấy những điều mà người kể gọi là “Qui Luật Của Xe Rác”, xin mời bạn mời tôi, ta cứ đọc rồi sẽ thấy:
Truyện kể rằng:
“Một hôm tôi đón taxi để đi phi trường.
Ðang chạy đúng lằn ranh dành cho xe mình, bỗng từ phía trước xuất hiện một chiếc xe nhà đang phóng về phiá chúng tôi. Tài xế taxi chúng tôi bèn thắng gấp nghe tiếng két, cuối cùng cũng tránh được tai nạn trong đường tơ kẻ tóc!
Tài xế bên xe kia ngoái cổ lại quát tháo chửi rủa chúng tôi bằng một tràng tiếng “Đức”, rất tức bực. Tài xế xe của chúng tôi chỉ mỉm cười rất nhẹ, rồi vẫy chào tử tế, cứ thế tiếp tục đi. Nhìn sự việc diễn tiến rất lạ, tôi bèn hỏi người tài xế: “Sao bác hiền thế? Nếu mình không tránh được, thì chắc tôi và bác đều phải nhập viện, mà bác lại chẳng có phản ứng nóng giận gì là sao vậy?"
Bấy giờ bác tài bèn kể cho tôi nghe truyện mà bác gọi là 'Qui Luật của Xe Rác', giải thích rằng: nhiều người cứ xử sự như xe rác, không khác chút nào. Họ làm đủ mọi chuyện như đổ rác vứt vào người khác... Anh thấy đấy, mỗi chuyện la lối, quát tháo om sòm là không ai bằng. Như thế là đem rác chất đầy mình, những là bực tức, nóng giận, cùng tị hiềm, ghét ghen…
Bởi thế nên, hay nhất là: đừng nên đem rác đổ vào người mình. Cứ mỉm cười, mà vui sống. Cứ, mong cho mọi người gặp chuyện tốt lành, suốt đời họ, thế cũng xong. Ðừng lấy rác của người khác mang vào mình. Thành công hay thất bại trên đường đời, đâu nào do người khác định đoạt.
Hãy yêu mình và yêu người, cứ xử tốt với mọi người. Thế cũng đủ. Cuộc sống đều do mình tạo ra cho chính mình, thôi. Có tham khảo chuyện đời mình với thầy bói hay âm binh ở thế giới bên kia cũng chỉ đạt hạnh phúc có mươi phần trăm thôi, chín mươi phần trăm còn lại có được vui hay buồn cũng tùy cách ta tiếp nhận nó! Cứ gọi đó là “Qui Luật Của Xe Rác”, là thế đấy.”
Chẳng biết quan điểm của bác tài xế nói ở trên có là lời khuyên cho mọi người sống ở huyện có dính dấp gì đến chuyện mê tín với dị đoan hay không. Nhưng, có dính gì thì chắc cũng dính và dấp đôi chút lời thơ và ý nhạc được nghệ sĩ biến thành giòng chảy, rất “Nửa Hồn Thương Đau”, như sau:
“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau,
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau.
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau.
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào.
Anh ở đâu? Em ở đâu?.”
Anh ở đâu? Em ở đâu?.”
(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)
“Anh ở đâu? Em ở đâu?” Phải chăng là câu hỏi gửi đến bạn bè/người thân nay không còn cận thân với cận lân như khi trước? Hỏi, là hỏi thế, nhưng không biết người hát và hỏi có biết nhiều về chuyện mai ngày xẩy đến, như các cụ nhà ta xưa nay vẫn cứ hỏi các vị coi tử vi/bói bài và cứ khăng khăng bảo chuyện tiên đoán rất như thần đoán sẽ xảy đến rõ ràng như đinh đóng cột.
Tử vi hay bói bài, nhiều lúc cũng là chuyện cần bàn vì đôi lúc ta cũng thắc mắc theo cách này cách khác, chủ quan hoặc khách quan. Thời buổi này, mà tin tưởng chuyện thần thiêng lỉnh kỉnh là vấn đề khiến một số các nhà khoa học phải lên tiếng. Lên những tiếng thật to, để người người am tường sự việc, mà nhận định.
Những năm về trước, khoảng niên biểu 2003, bà con ở bên Anh từng tổ chức Tuần Lễ Khoa Học Thần Bí hôm đó có tâm-lý-gia Richard Wiseman và nhóm hợp tác nghiên cứu thuộc Đại Học Hertfordshire đã thực hiện một công trình khảo sát gửi đến 2068 nhân sĩ trên toàn quốc để hỏi về hành vi và động thái mê tín dị đoan của nhiều người. Các vị khoa bảng này có nhận xét như sau:
“Hiện nay, chiều hướng tin vào chuyện bói toán ở Anh đang lên đến mức độ khá cao khiến nhiều người phải chú ý. Ngay các vị được coi là có đầu óc khoa học cũng nhận ra chuyện ấy. Bởi, ở nước Anh hôm nay, vẫn còn thấy nhiều tập tục lạ lùng như “sờ vào thanh gỗ” vẫn còn phổ biến khá rộng. Thêm vào đó, là tục bắt chéo ngón tay, hoặc tránh không đi lại phía dưới cầu thang, không làm vỡ gương soi, hoặc luôn luôn đeo ngọc may mắn và/hoặc tin những điều gây xúi quẩy do con số 13 quỷ quái đem lại, nhất nhất đều là những điều mà dân thị thành cũng còn tin như kinh Tin Kính vậy.”
Tác giả nói trên còn cho biết: hiện thời có đến 25% số người có nguồn gốc rất khoa bảng vẫn cứ tin vào những chuyện như thế còn dị đoan mê tín hơn nữa. Một số các nhà thực hiện khảo sát tìm ra được một vài số liệu cũng khá lạ, như sau:
“Về già, bà con bớt dị đoan mê tín hơn lớp trẻ. Thống kê ở Anh gần đây cho biết: đến 59% những người ở vào tuổi từ 11 đến 15 (tức tuổi “teen”) vẫn còn mê tín. So với 44% số người chững chạc ở độ tuổi từ 31-40 tin như thế, và 35% số người ở tuổi 50 và hơn nữa, lại ít tin hơn vào những chuyện dị đoan như thế. Khám phá từ nghiên cứu khảo sát không cho biết về tánh mê tín/dị đoan có dính dấp chuyện xảy ra trong quá khứ hay không. Nhưng, rõ ràng là: người trẻ hôm nay là những người nặng đầu óc mê tín hơn người lớn tuổi.” (x. Denyse O’Leary, Will Science banish superstition forever? MercatorNet 10/8/2011)
Đồng ý hay không với kết quả của khảo sát trên, cũng nên tự hỏi: rồi ra khi về già, bà con có bớt dị đoan/mê tín hơn dạo trước hay không. Hoặc giả, bà con nay vốn được giáo dục theo truyền thống văn hoá của Đạo Chúa, nên cũng bớt phần nào tính dị đoan, chuyên mê man những điều bán tín bán nghi? Có điều là, giới trẻ ở ngoài đời, bớt hăng say chuyện đạo hạnh, lại là người mang nặng tính dị đoan hơn người già chuyên chăm chuyện nhà thờ nhà thánh, cuối đời mình.
So sánh tìm hiểu để có được xác quyết vững vàng, thì: Viện đại học Baylor ở Mỹ đã thực hiện một khảo sát từ năm 2007-2008 lại đã đưa ra nhận xét cũng tương tự:
“Nhiều người tin rằng người sống siêng năng chuyên đi nhà thờ/nhà thánh, là người dễ tin vào đủ thứ chuyện, hơn cả. Như, các đấng bậc thuộc nhóm Giảng Thuyết Tin Mừng nhóm chủ trương Tái sinh, hoặc nhóm tin vào Phúc Âm một cách rất triệt để, vẫn là những người tin nhiều hơn mọi người. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng: người chuyên chăm đạo đức ở Mỹ tuy mang tiếng là bảo thủ nhưng lại ít tin vào những chuyện thần bí/kỳ dị bằng những người tự cho mình là người thông thoáng/phóng khoáng về Đạo. Trong khi đó, thì đám vô thần hoặc người không mấy đạo đức lại thua xa về chuyện dễ tin dị đoan. Các nhà nghiên cứu nói: điều này cho thấy không phải tôn giáo chung chung mà là lối sống đạo theo kiểu cổ mới có thể loại được tính dị đoan, mê tín nơi nhiều người.” (x. bđd)
Năm 2008, một số nghiên cứu gia Đại học Scripps-Howard ở Ohio, Hoa Kỳ thực hiện khảo sát cho biết:
“Người thường xuyên đi nhà thờ, nhóm chủ trương Tái sinh cũng như nhóm Giảng Thuyết Tin Mừng lại ít tin vào vật lạ hành tinh đến từ đâu đó. Các vị này cũng chẳng tin vào những chuyện như bảo rằng: “người hành tinh lạ” thông minh hơn người trái đất, nên chắc chắn ít dính dấp đến chuyện tôn giáo.” (x. bđd)
Ngoài ra, ở Anh nhiều người xem báo thấy có nhà vật lý tên là David Tyler đã phản ứng đối với những ai cho rằng những vị chuyên chăm đi nhà thờ/nhà thánh sẽ bịu nhiều hậu quả xấu xa. Nhà vật lý này từng tuyên bố:
“Ngày nay, ta thấy nhiều nhà vô thần ủng hộ người có lập trường riêng về vũ trụ. Tuy vậy, cũng nên hỏi: những người như họ thực hiện được bao nhiêu cuộc khảo sát không thiên vị? Cũng giống như nhiều nhà nghiên cứu khác, các vị này cũng nên coi lại quan điểm của mình mà tham gia biện luận với người khác quan điểm hoặc đối chọi mình. Nhiều dấu hiệu cho thấy không được mấy người từng làm thế. Học giả Shermer, nhà khảo sát nghiên cứu về những người có tánh dị đoan mê muội đủ mọi thứ chuyện thường không tương tác với người chỉ tin những gì có chứng cớ mà thôi. Học giả Grayling có lần xem xét nhận định của nhà khảo sát Shermer thấy rằng: tưởng cũng nên khen học giả Shermer về những nhận định của ông. Và thông điệp của ông được chuyền xuống cho dân thường nào có cơ hội tìm hiểu để họ thấy rằng các phân tích như thế rất ư là sai quấy.” (x. bđd)
Cuối cùng, thì mọi người đều nhận ra là: có khích bác hoặc kình chống cho lắm các thói quen và niềm tin rất đạo của những người sống đời đạo đức, thì người kình chống khích bác như thế nay đếm được bao nhiêu. Phải chăng những vị này chỉ nhân danh khoa học hoặc kiến thức rất cao để khoả lấp chuyện mình cũng tin tưởng vào mọi chuyện như người bình dân, thôi.
Nói cho cùng, có mê tín/dị đoan hay không vẫn là lựa chọn của mỗi người. Lựa chọn đó, tin tưởng nọ, đâu nào dính dự gì ai. Chỉ thành chuyện, nếu người cả tin vẫn cứ tin chuyện này chuyện khác rất rối bời, để rồi không hành xử cho đúng đạo làm người như giới văn minh/lịch sự, thôi.
Chỉ thành vấn đề cho người tin vào Đạo Chúa, khi họ không nhớ rằng đấng thánh nhân hiền từng dặn dò và nhủ klhuyên như sau:
“Xưa kia chúng ta cũng ngu xuẩn, không vâng lời,
lầm lạc, làm nô lệ cho đủ thứ đam mê và khoái lạc,
sống trong gian ác và ganh tị,
đáng ghét và ghen ghét lẫn nhau.
Nhưng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta,
đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại.
Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính,
nhưng vì Người thương xót,
nên Người đã cứu chúng ta
nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần,
để chúng ta được tái sinh và đổi mới.”
(Ti 3: 3-5)
“Tái sinh, đổi mới” phải chăng đó là: sống hiền lành, thương yêu giùm giúp cả những người vẫn cứ dị đoan/mê tín như xưa. Đổi mới và tái sinh, có phải là: sinh lại trong Thánh Thần, nhờ phép rửa. Rửa sạch, khỏi mọi tì vết rất lỗi tội hoặc lối sống chịu ảnh hưởng từ người khác, mà còn tẩy hết quan niệm cho rằng: người khác là đồ bỏ, chỉ vì những người đó tin vào chuyện lỉnh kỉnh, dị đoan rất mê đắm. Và, như Đấng thánh hiền từng khuyên, thì dù có tin hay không mà cứ sống trong ghét ghen, và đố kỵ thì đó mới là những “rác rưởi” của đời người và đời mình, rồi.
Mê tín hay không. Dị đoan hay không, là động thái của người sống ở đời có lời ca dễ hát như:
“Đôi khi em muốn tin
Đôi khi em muốn tin
Ôi những người ôi những người
Khóc lẻ loi một mình.
Khóc ...lẻ loi một mình.”
(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)
Nói về những khác biệt ở niềm tin, bần đạo nhớ chuyện của bạn bè/người thân, đôi khi thấy lấn cấn mỗi lần nghĩ đến chuyện tử vi/tướng mạo cứ lạo xạo trong đầu, thật khó bỏ. Có lần bần đạo liên tưởng đến câu hỏi của một vị trưởng lão bảo rằng: ông tự bấm số tử vi thấy con trai mình sau này trở thành linh mục nổi đình đám… Làm thế chắc cũng không có tội có lỗi gì thì phải? Có thể là khi nói thế, cụ không tin gì cho lắm. Nhưng ngày nay, ở chốn trên cao cùng Chúa ngó xuống, cụ ắt thấy chuyện tin hay không vào tử vi đẩu số hay tướng mạo cũng để lạo xạo cho vui, qua ngày đoạn tháng, chứ làm sao tin như kinh Tin Kính được.
Nghĩ là nghĩ thế, bần đạo mình chẳng dám thêm thắt dù chỉ một lời bàn rất “Mao Tôn Cương” vẫn thường khiếm khuyết. Chỉ dám về với thơ văn/truyện kể để cho qua đi những thời khắc rất linh tinh, chuyện mình/chuyện người, có thế thôi. Chuyện mình thì ít, chuyện người làm sao kể ra cho hết. Tựa hồ như câu truyện kể ở dưới chỉ để nói lên rằng, tất cả chỉ luận phiếm với phiếm luận, dù chỉ phiếm loạn con cào cào, hay châu chấu, rồi thôi.
Truyện kể, là để minh hoạ tình tiết của người kể đã và đang nhập vai, như ở dưới:
“Truyện rằng:
Tôi mới chuyển về nơi ở mới này, đã phát hiện ra rằng: cứ gần nửa đêm đang ngon giấc điệp, tôi lại bị đánh thức vì tiếng đóng cửa rất mạnh ở lầu trên và cả tiếng chân lộp cộp rất khó chịu.
Nhiều ngày tiếp theo sau đó, tiếng đóng cửa và tiếng dép lẹp xẹp vào đúng giờ khắc ấy khiến tôi không sao chịu nổi nỗi bức bách đó.
Mẹ tôi thấy vậy bèn khuyên: ''Con à, mẹ con mình mới đến chưa biết ất giáp gì, con đừng vội vã trách móc một ai, kẻo mất lòng chòm xóm nhé''.Tôi đem chuyện này tâm sự cùng một số người hàng xóm. Có người khuyên mẹ con tôi: '' Bà và chị cố mà chịu đựng tiếng cửa đóng cùng tiếng chân đi nặng nề một thời gian. Chắc cũng không lâu đâu!''
Rồi người ấy tiếp: 'Nửa năm trước, có một người cha bị tai nạn xe cộ qua đời; người mẹ bị bệnh ung thư, nằm liệt giường, không đi lại được. Tiếng đóng cửa đó là của người con về đây chăm sóc mẹ mình. Hoàn cảnh của họ thật đáng thương, xin bà và chị thông cảm cho họ!' Cậu thanh niên chỉ độ 16 tuổi thôi. Nên tôi tự nhủ: ''Trẻ người non dạ, thôi thì mình cũng cố mà chịu đựng một thời gian''.Thế nhưng, tiếng đóng cửa cứ tiếp tục ngày một mạnh, đến khó chịu, khiến tôi phải lên lầu nhắc nhở họ.
Cậu bé ra mở cửa, thấy tôi, cậu vội xin lỗi: ''Xin Dì thứ lỗi cho, cháu sẽ cố cẩn trọng hơn.' Thế nhưng, cứ mỗi lần tôi vừa thiu thiu được vài phút, tiếng đóng cửa ầm ầm kia lại trổi lên đập vào màng tang tôi như một thách thức, rất bức bách.
Mẹ tôi thấy vậy lại bảo: 'Thôi. Ráng chút nữa đi con, có lẽ rồi cũng quen! Từ từ thì họ cũng sửa được thói quen xấu ấy!'' Khoảng tháng sau, đúng như lời mẹ tôi nói, tiếng đóng cửa kia đột nhiên biến mất. Tôi lên giường nằm cứ nín lặng mà lắng tai nghe xem có gì xảy đến khác trước không, thì thấy tiếng khép cửa nhỏ hơn và bước chân người đi lại cũng nhẹ nhàng hơn trước. Tôi bèn nói với mẹ: 'Mẹ nói quả có đúng! Bây giờ không còn tiếng động ồn ào như trước nữa''. Nhưng, bất chợt tôi thấy hai mắt mẹ tôi ngấn lệ. Mẹ tôi nghẹn ngào bảo: ''Con ạ! Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, tội nghiệp cho thằng bé, ban ngày đi học, đêm đến quán ăn chạy bàn, nó cố gắng làm thêm để kiếm tiền chữa chạy cho mẹ, nhưng bà vẫn không khỏi''.Trong tình hàng xóm, tôi sắp xếp thời gian viếng xác người phụ nữ ấy. Gặp tôi, cậu bé cúi thấp đầu, tiến đến bên tôi rồi nói : “Dì ạ ! Nhiều lần cháu làm Dì mất ngủ, cháu xin Dì tha lỗi!''
Rồi cậu ấy nói trong tiếng nấc: ''Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, nghe không rõ, sở dĩ cháu phải đóng cửa thật mạnh để mẹ biết là cháu đã về, có thế bà mới an tâm đi ngủ. Nay mẹ cháu không còn nữa, Dì ạ!”
Nghe chuyện, tôi bỗng cảm thấy như bị ù tai, giòng lệ từ hai khóe mắt tôi bỗng tuôn trào xuống. Tôi thấy mình thật vô tâm, thiếu cảm thông hoàn cảnh của người khác. Cảm thông là chuyện tối rất cần trong mọi quan hệ. Và, lòng khoan dung là quà tặng quí giá nhất trên đời. Cảm thông với những người sống khác mình. Thông cảm với người tin vào những điều ngược lại với mình. Với khoa học tiên tiến.
Cầu mong mọi người luôn hướng về nhịp đập của trái tim quảng đại. Của, tấm lòng vị tha, nhân ái, vượt qua được mọi suy nghĩ tầm thường, để mặc lấy cho mình tâm tình yêu thương mà Tạo Hóa ban tặng riêng cho '' Con Người. Ở mọi thời!''.
Cuối cùng, chắc hẳn người người đều nhận ra một điều rất dễ thấy và cũng dễ hiểu, đó là: có hai thứ trong đời người mà người đời chẳng thể nào vứt bỏ nó đi được: trước nhất, là nền khoa học; và thứ đến, là niềm tin. Khoa học, dù là khoa học dân gian hay khoa uyên bác cũng vẫn tiến về phía trước, không thoái lui. Còn niềm tin, lại đi ngược về những gì mình nhất quyết mang vào người trong quá khứ.
Niềm tin của con dân nhà Đạo phải luôn vững mạnh. Còn, tin vào chuyện bói toán/tử vi/tướng số, thật khó mà bỏ nó, chi bằng cứ dùng nó rồi hoàn thiện, cũng có sao. Hoàn thiện rồi, sẽ thấy mình hạnh phúc sướng vui. Vui sướng và phúc hạnh, để từ đó ta lại sẽ cùng người nghệ sĩ ra đi mà ca hát. Hát những lời cay đắng, rất như sau:
“Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất
Và tiếng hát và nước mắt.
Đôi khi em muốn tin
Đôi khi em muốn tin
Ôi những người! ôi những người!
Khóc lẻ loi, một mình.
Khóc, lẻ loi một mình.”
(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất
Và tiếng hát và nước mắt.
Đôi khi em muốn tin
Đôi khi em muốn tin
Ôi những người! ôi những người!
Khóc lẻ loi, một mình.
Khóc, lẻ loi một mình.”
(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)
Tắt một lời và cũng là lời cuối cho bạn và cho tôi, là: dù tin hay không tin vào khoa học hay bói toàn, vẫn cứ đừng “Nhắm mắt! và nhắm mắt!” dù chỉ “tìm một thoáng hương xưa”, “đường cũ:, hoặc “gặp người xưa ước mơ”… Bởi, cứ nhắm như thế thì bao giờ mà gặp và thấy, nơi cuộc đời của bạn và của tôi, cũng rất hiền.
Trần Ngọc Mười Hai
Xưa nay vẫn mở to đôi mắt
vẫn cứ đi tìm mà chưa gặp
Đấng mình thờ phụng và yêu thương
nhưng vẫn tin rằng ngày sẽ đến
cũng chóng thôi.
Subscribe to:
Posts (Atom)
