Saturday, 22 October 2011

Đêm cuối cùng


“Đêm nay, đêm cuối cùng”
“lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.”
(Phạm Đình Chương – Đêm Cuối Cùng)

(Cô 1: 3)

            Đêm cuối cùng! Chao ôi đêm nào mà chả thế. Đêm nào, cũng buồn rưng rưng, lệ sầu. Thương đau. Thương và đau, cả khi hai người đều đã biết chuyện xảy đến với mình, nên đành hát:

                        “Nhịp bước bâng khuâng, ngoài phố lạnh,
                        giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh.
                        Nắm tay không rời.
                        Cố hé run run môi cười.
Lúc chia tay, bên trời. Tiếc thương.”
                        (Phạm Đình Chương – bđd)

            Chính vì lạnh lòng, nên vẫn “hé run môi cười”. Chính vì tiếc thương, nên cứ phải “chia tay bên trời”. Thế mới chết!. Buồn chết một điều, là: em và tôi, hai đứa xưa nay yêu nhau tha thiết là thế. Nay thì, tất cả chỉ còn mỗi kỷ niệm, rất nhớ nhung. Sầu buồn. Đáng tiếc. 

            Vì đã chia tay, nay nào thương tiếc! Vì có giọt sầu, nên hồn phách vẫn cứ “phiêu linh”. Và, người em yêu lại hát lên nỗi niềm rất nhung nhớ, như ca từ ở bài hát:

                        “Hãy tin một niềm,
                        Nỗi nhớ nhung xưa, vẹn tuyền.
                        Sẽ cho ngày về thắm duyên.
                        Em ơi, đêm cuối cùng gần nhau.
                        Sợ rằng một ngày mai, giấc mộng không thành.”
                        (Phạm Đình Chương – bđd)

            À thì ra. Vì nhớ nhung, thương tiếc rất hận sầu, nên người người mới bảo nhau: hãy “tin một niềm”. Và, niềm tin ấy. Nhớ nhung này, “sẽ cho ngày về thắm duyên”. Kẻo, ngày mai “giấc mộng không thành” cũng đành ly tan.

            Thế mới biết, thi ca/văn học vẫn có những giòng chảy nói lên tình tự nhung nhớ. Nhớ, “đêm cuối cùng” không bao giờ chấm dứt. Vẫn lẩn quẩn trong tâm tưởng của nhiều người. Chí ít, là những người đã và đang yêu. Hoặc, những người sẽ còn yêu mãi. Rất “thương hoài ngàn năm”.

            “Đêm cuối cùng” đầy tràn mối “thương hoài ngàn năm”, vẫn là chuyện dài ở huyện. Huyện dân gian. Huyện nhà Đạo. Vẫn cứ thương hoài ngàn năm, khi duyên tình của hai người đã vỡ đổ. “Đêm cuối cùng” cũng thương hoài ngàn năm, là cảnh tình của người anh/người chị ở trong Đạo, vẫn cứ tiếc cái “đêm cuối cùng” ngồi đó, ngó nhau. Để rồi, sẽ hẹn hò thương hoài ngàn năm, rất suốt đời.  

            Thương hoài ngàn năm, vì vỡ đổ, lại đã kéo theo nhiều khổ đau, xáo trộn. Xáo trộn, không chỉ mỗi tình tự thân thương giữa hai người thôi, mà cả vật chất tính theo trị giá tiền bạc nữa. 

Theo Washington Times trích dẫn số thống kê chính thức của chính phủ Hoa Kỳ cho biết nội trong năm 2008 đã có trên một triệu trường hợp ly dị đổ vỡ xảy ra ở nước này. Đổ vỡ do ly dị, lại đã kéo theo nhiều thiệt hại đáng kể, tính thành tiền. Trên thực tế, các phí tổn mà chính phủ Hoa kỳ đã phải xuất chi trong năm 2008 đã gia tăng từ $20,000 đến $30,000/một năm cho một gia đình của người mẹ đơn chiếc ở Mỹ. Kéo theo đó, là tổn phí tạo cho ngân sách quốc gia đang từ 33 tỷ đô lên đến 112 tỷ đô đánh vào các dịch vụ bao cấp phúc lợi (x. Carolyn Moynihan, MercatorNet 23/8/2011).

Xáo trộn có từ những đổ vỡ do ly dị, còn kéo theo nhiều đổi thay trong đời sống thực tế của gia đình. Thực tế cho thấy: chính con trẻ mới là kẻ gánh chịu hậu quả nghiêm trọng của ly dị, cả về chuyện kinh tế lẫn tài chánh.

W. Bradford Wilcox, một chuyên gia nghiên cứu có nhắc đến công cuộc khảo sát do Cơ quan từ thiện Pew Charitable Trust thực hiện vào năm 2010 cho biết tình trạng sống của con em gia đình vỡ đổ do ly dị, rằng: “Con em gia đình gặp cảnh ly dị đổ vỡ thường hay yếu kém về mặt kinh tế nên khó có thể mon men vào các chức vụ có mức lương cao hơn. Giả như Hoa kỳ muốn thấy sự ổn định của các gia đình chịu cùng một cảnh ngộ như hồi thập niên ’60, thì sẽ thấy mỗi năm có chừng 750,000 em ở lại lớp ít hơn trước, và có ít nhất 1 triệu 2 trăm ngàn em thôi học và khoảng 500,000 vụ phá phách do trẻ vị thành niên phạm pháp gây ra. Đồng thời cũng có ít là 600,000 em được trị liệu và 70,000 em tìm cách chấm dứt cuộc sống (x. Carolyn Moynihan, bđd)

Xáo trộn vốn có từ các vỡ đổ do ly dị tạo ra, còn kéo theo hậu quả về tuổi thọ của con em các gia đình có đổ vỡ như thế nữa. Một khảo sát do Howard Friedman và Leslie Martin thực hiện cho biết: “Con em các gia đình nào có đổ vỡ do ly dị tạo ra, sẽ không sống thọ  --trung bình là 5 năm ít hơn—so với con em các cha mẹ thuộc các gia đình vẹn toàn không ly dị hoặc chẳng đổ vỡ.” 

Ông Gersten, một viên chức Bộ Y Tế và Nhân Dụng thuộc chính phủ George W. Bush, Hoa Kỳ cũng có nói: “Các dữ kiện về tuổi thọ vừa được đưa ra, là “một trong những bản phân tách tồi tệ nhất xưa nay chưa từng thấy về tầm mức tệ hại mà việc ly dị của cha mẹ đã gây ra cho con cái. Con em các gia đình chịu cảnh này, khó có thể vượt qua được các khó khăn, trở ngại ấy.”

Và cô Carolyn Moynihan, một tay viết thường xuyên của báo điện MercatorNet cũng đi đến luận ngắn gọn, nhưng chắc nịch khi cố bảo: “Ly dị đổ vỡ không là vẫn đề riêng tư của ai hết. Nó ảnh hưởng lên hết mọi người. Chí ít, là nó từng tác hại lên sự tin tưởng của quần chúng nơi ảnh hình về hôn nhân.” (x. Carolyn Moynihan, bđd)       
  
Nói gì thì nói. “thương hoài ngàn năm” với những ly dị đổ vỡ, còn là thương cho cảnh tượng đau thương/sầu buồn chợt xảy ra ở đâu đó, ngay cả chốn nát đổ thương tâm nhưng rất đáng phục. Thương, là thương cho tình mẫu tử vẫn còn đó ngàn năm, như ở Nhật. Nơi vừa có phát hiện về “thương hoài ngàn năm” tình mẫu tử, ở bên dưới:  

                        “Phát hiện rằng:
Trong trận động đất ở Nhật vừa qua, các nhân viên cứu hộ tìm đến tàn tích ở nơi nhà một phụ nữ trẻ, họ nhìn thấy thi thể của cô qua khe gạch nát vụn. Nhìn thi thể của cô có cái gì đó rất lạ, tựa như người đang quỳ gối nguyện cầu, cơ thể cô nghiêng về phía trước. Và, hai tay của cô như đang ôm ghì vật gì đó. Ngôi nhà đã đổ ập lên lưng và đầu cô, nhưng vẫn không xoá nhoà hình ảnh lạ kỳ đó.

Người đội trưởng đội cứu hộ đã phải khó khăn lắm mới luồn tay qua khoảng cách chật hẹp bên bờ tường để sờ chạm được cơ thể của người nữ phụ xấu số mà tìm xem có vật gì đang được cô ôm ghì đến như thế.  Anh hy vọng nữ phụ trẻ này có thể vẫn còn sống. Nhưng, thi thể của cô đã lạnh cứng như muốn nói với anh rằng chắc chắn cô đã qua đời.

Đội cứu hộ rời khỏi ngôi nhà và tiếp tục xục xạo các toà nhà đổ khác. Nhưng không hiểu sao, người đội trưởng như bị một lực hút nào đó kéo anh trở lại căn nhà sụp đổ có người nữ phụ đã chết cứng ở bên kia. Một lần nữa, anh quỳ xuống, lần mò sờ chạm len qua các khe nứt chật hẹp bên dưới thi thể của người đã chết. Đột nhiên, anh hét lên một tiếng kêu nhiều phấn chấn: "Một em bé!! Em bé còn sống!"

Cả đội cứu hộ cùng nhau cẩn thận rỡ từng cái cọc trong đống gạch vữa nát quanh thân xác người nữ phụ vừa chết. Một bé trai trạc 3 tháng tuổi được bọc cẩn thận trong tấm chăn hoa ngay dưới xác mẹ mình. Rõ ràng, nữ phụ này cố thực hiện động tác hy sinh cuối cùng để cứu con mình. Khi căn nhà của cô đổ sụp, cô dùng cơ thể yếu mềm của mình làm tấm chắn bảo vệ đứa con. Cậu bé vẫn ngủ mê yên bình khi anh đội trưởng đội cứu hộ nhấc em lên.

Bác sĩ nhanh chóng kiểm tra sức khoẻ của cậu bé. Khi mở tấm chăn hoa bọc quấn bé, ông thấy chiếc điện thoại di động còn nằm bên trong hiện rõ một lời nhắn, nói rằng: "Nếu con còn sống, con hãy nhớ rằng: mẹ rất yêu con" ...

Chiếc điện thoại di động đuợc chuyển từ bàn tay này đến bàn tay khác, cho nhiều người đọc. Tất cả mọi người đều khóc khi người đọc giòng nhắn: "Nếu con còn sống sót, con hãy nhớ rằng: mẹ rất yêu con”.. (trích truyện kể từ điện thư hôm 26/9/2011)

            Lời nhắn trên điện thoại di động, làm người đọc nhớ về một nhắn nhủ khác, cũng dễ thương:

                                    “Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa,
là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta,
khi cầu nguyện cho anh em.
Thật vậy, chúng tôi đã được nghe nói
về lòng tin của anh em vào Đức Kitô Giêsu,
và về lòng mến của anh em đối với toàn thể dân thánh;
lòng tin và lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên   
trời,
niềm trông cậy anh em đã được nghe loan báo
khi lời chân lý là Tin Mừng đến với anh em.”
(Cô 1: 3-6)

            Xem thế thì, vào hoàn cảnh tồi tệ như thiên tai động đất hoặc vỡ đổ do ly dị, người người vẫn còn gặp khắp nơi và đây đó những lời khuyên và nhủ được gửi đến dân con mọi người. Nhà Đạo mình, cũng có những lời nhắn rất nhủ khuyên mà nhiều người ít quan tâm hoặc ít biết, như đã hỏi:

“Xin cha giải đáp cho thắc mắc của một người bạn từng hỏi: giả như ai đó từng ly dị với một người và nay lại tái giá sống với người khác, hoặc: một người từ lâu vẫn chung sống cảnh hôn nhân chòng chéo, nay muốn quay về với niềm tin đi Đạo. Trường hợp như thế, có được Hội thánh chuẩn thuận mà đón nhận cho họ về với Đạo mình không?” (Một nữ giáo dân hỏi để mọi người biết mà sống đạo cho phải phép).

            Mục đích của nữ giáo dân ở trên muốn đưa ra câu hỏi, là để “mọi người biết mà sống đạo cho phải phép”. Cứ như, nếu không hỏi và không nhận được câu trả lời, chắc chị và nhiều người hẳn sẽ không còn sống đạo cho đúng phép, hay sao? 

Thôi thì, chị có đưa ra câu hỏi vì mục đích gì đi nữa, cũng đâu có sao. Miễn, có người để hỏi, thì chắc chắn sẽ có chức sắc trong Đạo rồi cũng đưa ra câu trả lời theo khuôn phép rất đúng lẽ Đạo. Như lời đáp từ đức thày linh mục John Flader ở Úc, rất như sau:

“Cũng may là, cách mà cô diễn tả ở câu hỏi là thắc mắc thông thường của nhiều người. Nhất là, vào thời buổi ta thấy quá nhiều trường hợp ly dị vẫn xảy ra ở xã hội hiện thời.

Trước nhất, tôi xin nói ngay điều này, là: Hội thánh vẫn công nhận hôn nhân giữa người không Công giáo lấy người không Công giáo đều thành sự, miễn là hôn nhân này không chống lại luật lệ Giáo hội và hôn nhân ấy được cử hành theo cung cách dân sự, trước mặt thừa tác viên trong Đạo hoặc trước mặt người chứng hôn nhân bên dân sự.

Theo lẽ đạo, nếu đám cưới đầu gãy đổ mà một trong hai người lại tính chuyện tái giá, Giáo hội vẫn coi là họ đã cưới người phối ngẫu trước đó mà thôi. Bởi Hội thánh không công nhận ly dị lại có thể gây ảnh hưởng lên bí tích hôn phối.              

Xem như thế, giả như một người đã ly dị rồi, nay tái giá với người không Công giáo mà lại muốn về với Hội thánh Công giáo, thì cũng chẳng có khó khăn gì. Muốn gia nhập cộng đoàn Hội thánh thì nhất thiết phải được công nhận hiệp thông trọn vẹn, đủ tư cách để nhận lãnh mọi bí tích, kể cả bí tích Mình Máu Chúa. Tuy nhiên, những ai đang sống đời hôn nhân với người nào đó mà hôn nhân của họ không được Giáo hội Công giáo công nhận là thành sự, thì vẫn bị coi như đang ở trong tìng trạng rối tội, vì thế sẽ không được phép rước Chúa vào lòng. Vì lý do đó, cũng không là chuyện phải lẽ để đón nhận họ vào với cộng đoàn Hội thánh.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói rõ về vấn đề này, như sau: “Nhằm mục đích trung thành với Lời của Chúa Giêsu –‘những ai từng rẫy bỏ vợ hay chồng mình và đi lấy người khác, như thế là phạm lỗi ngoại tình; và nếu người vợ cũng ly dị chồng và đi lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình hệt như vậy.” (Mc 10: 11-12) – và Hội thánh chủ trương rằng sự kết hiệp mới không được coi là thành sự, chỉ hôn nhân đầu mới thành sự mà thôi. Giả như người nào từng ly dị vợ hoặc chồng nay làm đám cưới theo tính cách dân sự, thì những người ấy phải biết là mình đang ở vào tình trạng đối nghịch lại luật của Thiên Chúa. Cụ thể là, họ sẽ không được rước Mình Máu Chúa vào lòng bao lâu mà tình trạng này cứ tiếp diễn.” (GLHTCG #1650)

Dù điều luật về chuyện này là dành cho hôn nhân và ly dị giữ người Công giáo với nhau, nhưng cùng một tiêu chuẩn tương tự cũng được áp dụng cho người không Công giáo nay muốn vào Đạo. Thành thử, bao lâu tình trạng ấy còn kéo dài, thì những người như thế không thể được chấp nhận gia nhập Đạo.

Tuy nhiên, cũng có nhiều giải pháp khả thi. Trường hợp đầu, những người như thế yêu cầu đưa vụ việc về hôn nhân đầu tiên của họ theo đúng qui cách người Công giáo ra toà án giáo luật để xem trên thực tế, hôn nhân đầu tiên ấy có thể được huỷ bỏ ngay từ đầu hay không. Toà án Công giáo sẽ xem xét giá trị hiệu lực của hôn nhân giữa các người không Công giáo giống như thế. Nếu Toà án có khuynh hướng huỷ bỏ giá trị hôn nhân đầu, thì hai người nam nữ trong kết hợp hôn nhân lần thứ nhì có thể được miễn chuẩn mà tiến hành hôn phối có giá trị hiệu lực theo nhãn giới của Hội thánh.

Một khả thi thứ hai nữa, là: giả như hai người nam nữ đều già đi, mà họ chỉ muốn sống với nhau không có quan hệ vợ chồng, tức chỉ như “người anh người chị”, thì trong trường hợp này, người ấy vẫn có thể được phép gia nhập cộng đoàn Hội thánh Chúa.

Và dĩ nhiên, giả như người phối ngẫu của hôn nhân đầu nay quá vãng, và người kia muốn lấy người khác thì, người này vẫn được phép gia nhập Hội thánh Chúa.

Tuy nhiên mọi giải pháp khả thi nói ở trên có thể sẽ phải trải qua một thời gian chờ Hội thánh giải quyết. Trong khi chờ đợi, người muốn hồi hướng về với Hội thánh cũng đừng nên quay mặt mà bỏ đi. Vẫn nên khuyến khích những người như thế đến dự Tiệc Thánh, tham gia các buổi giảng dạy về niềm tin, vv.. và đặc biệt cũng nên cầu nguyện để có được giải pháp cho tình trạng mình đang sống, miễn là trong khi đó, họ làm mọi cách cho hợp lẽ ngõ hầu giải quyết vấn đề này.” (x. Lm John Flader, Question Time, Connorcourt 2008, tr. 190-191)

            Nói như đấng bậc vị vọng có thẩm quyền trong Đạo, là nói như thế. Không có gì đổi thay. Nhưng hỏi rằng, ngày nay được bao nhiêu người chịu quay về với guồng máy Đạo rất ư là ”Vũ Như Cẫn” (tức: vẫn như cũ) của Hội thánh chưa từng đổi thay là mấy,cũng vẫn vậy.

            Hỏi ở đây, không có nghĩa là thắc mắc/vấn nạn về guồng máy có khuôn vàng thước ngọc rất chặt chẽ, vững chắc. Khó làm siêu lòng được mọi người. Hỏi ở đây, còn có ý để bảo: với giới chức bên ngoài nhà Đạo --hoặc Công giáo, hoặc Thệ Phản-- lâu nay rày ra sao?             
    
            Đã hỏi một cách nghiêm chỉnh, thì cũng nên tìm câu trả lời cũng rất chỉnh và rất nghiêm, để còn an nhàn mà vui sống. Cuối cùng, thì những câu hỏi và/hoặc nhủ khuyên như thế, cũng chỉ nên để chức sắc/đấng bậc có trọng trách cứ khư khư mà giữ lấy mà sống cho hết cuộc đời quý vị, hoặc cho những vị chẳng màng đến thực tế.  Hôm nay, bản thân bần đạo chẳng thể tìm ra giới chức nào khả dĩ đáp trả những câu hỏi nghiêm, chỉnh và chính mạch, đến như thế.

            Thôi thúc cho lắm, thì bần đạo như mọi lần cũng chỉ dám thưa với bạn đạo cùng bạn đọc bằng một truyện kể rất nhẹ, để bạn và tôi, ta được thư giãn sau những giây phút “rất căng”, mà rằng:

“Người mẹ nọ thấy anh con trai của mình cứ rắp ranh hỏi ý mẹ xem có nên ly dị người vợ đang sống với mình tuy đẹp nhưng không sang, tuy làng nhàng nhưng không hạp, bèn nhận được lời dạy vững chắc của mẹ như sau:
-Con ạ. Đến giờ này, mà con vẫn không nhận ra bí kíp cuộc sống vợ chồng gồm 10 điểm như thế này ư:

1. Kẻ thù lớn nhất của con, là: vợ con;
2. Ngu dốt lớn nhất đời con, là: không hiểu được nó;
3. Thất bại lớn nhất của đời con, là: không bỏ được nó;
4. Bi ai lớn nhất của đời con, là: phải sống với nó;
5. Sai lầm lớn nhất đời con, là: đã quyết định lấy nó làm vợ;
6. Tội lớn nhất trong đời con, là: nghe lời của nó;
7. Nỗi niềm đáng thương nhất đời con, là: bị nó sai khiến;
8. Điều đáng khâm phục nhất ở nơi con, là: con vẫn chịu đựng được nó;
9. Tài sản lớn nhất trong đời của con, là: những thứ nó đang giữ; và
10. Khiếm khuyết lớn nhất trong đời đi Đạo của con, là: không được phép lấy 2 vợ.

Nghe xong, cậu con quý tử của bà mẹ hiền ở trên bèn hu hu khóc rống. Mẹ hiền lấy làm ngạc nhiên, bèn hỏi:
-Ủa! Sao con lại khóc? Khóc là động thái rất hèn, đó con!
-Sở dĩ con khóc là vì bây giờ con mới thấy tội nghiệp cho bố. Có lẽ chính vì thế mà bố của con mới mất sớm, phải không mẹ?

            Cũng là câu hỏi, tuy không “gay” như những câu được gửi đến nhà Đạo, cách chính thức như trên, vì gay như thế, thì bố ai dám trả lời. Thôi thì, ta hãy về tắm ao ta, rồi cũng biết. Hỏi hay không, thắc mắc hoặc bình chân như vại, hạ hồi sẽ rõ. Có rõ hay không, cũng đừng hỏi. Chí ít, là hỏi những câu mà nhà Đạo ít người dám trả lời/trả vốn, bởi nếu hợp tình đời thì sợ nghịch ngạo với lý lẽ của nhà Đạo, mà thôi.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn chưa mở mắt cho tròn
            để còn nhìn đời.
            Theo nhãn giới,
rộng hơn thế.

Sunday, 16 October 2011

“Đường về canh thâu”,

“Đường về canh thâu”,
“Đêm khuya ngõ sâu như không màu
qua phên vênh có bao mái đầu
hắt hiu vàng ánh điện câu.”
(Phạm Đình Chương – Xóm Đêm)

(1P 1: 15-16)

            Có quá đáng không, khi ta hát: “Hắt hiu vàng ánh điện câu”, và: “Đường về canh thâu” theo ý nghĩa con đường cụt của “đêm khuya ngõ sâu như không màu”, và: “phên vênh bao mái đầu” ở đâu đó, có những điều trông không ổn? Có ồn lắm chăng, khi một số nhà khoa học, ở nhiều nơi, tuyên bố vung vít cho rằng: não bộ thần kinh và tôn giáo, vẫn cứ ảnh hưởng lên nhau trông không đẹp. Và, có lầm tưởng chăng, khi người người dám bảo: ”Tôn giáo thường làm suy sụp đầu óc kẻ vẫn tin”? Và từ đó, có kẻ lại còn nói: “Có khùng điên/ngu ngốc mới chạy theo đuôi tôn giáo suốt ngày này, tháng nọ!”

            Các ngài khoa học gia nói gì thì cứ nói. Phán bảo điều gì thì cứ bảo và phán, chắc gì điều mình phán bảo, lại không sai. Các ngài nói đi nói lại mãi chuyện xung khắc/xung đột giữa khoa học và niềm tin, là nói mà như không nói. Bởi, việc các ngài đã nói thì cứ nói, bọn tôi chẳng bảo sao. Các ngài muốn nhân danh khoa học để bảo điều gì thì cứ bảo, đàn em chúng tôi, cũng thôi không nghe và cũng chẳng nói nữa. Duy, chỉ hát mỗi lời nghệ sĩ khia xưa từng viết thành lời ca câu hát, rất hay rằng:

                                    “Ai chia tay ai đầu xóm vắng, im lìm
                                    Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm.
                                    Mong sao cho duyên nghèo mai nắng gieo thêm,
                                    Đẹp kiếp sống thêm.”
                                    (Phạm Đình CHương – bđd)

            Các ngài khoa học gia nhà ta, đầu óc chất đầy những chữ là chữ, nay cứ viết. Viết cho hay, để đàn em đây còn lấy hứng mà hát thêm lời thơ có ý tứ/ý từ cũng “đẹp kiếp sống thêm.” Rất êm đềm. Kiếp sông thêm, bao giờ mà chẳng êm đềm. Sống êm đẹp, làm gì mà chả nên thêm. Có thêm chăng, chỉ thêm kiến thức để cãi tranh, giành giựt lời phán bảo rất chắc nịch như lời ca buồn thánh ở dưới:

                                    “Màn đêm tịch liêu,
                                    Nghe ai thoáng ru câu mến trìu.
                                    Nghe không gian tiếng yêu thương nhiều.
                                    Hứa cho đời thôi đìu hiu…”
                                    (Phạm Đình Chương – bđd)

            Vâng. Đúng thế. Các ngài khoa học gia dù đã cãi vã, ganh đua, tranh cãi ba điều bốn chuyện về cái-gọi-là “sự thật khách quan” ở đời, rồi thì cũng thấy: “màn đêm tịch liêu”. “Thoáng ru câu trìu mến”. Và, “nghe không gian tiếng yêu thương nhiều” ở đâu đó, chốn khoa học hay ở nơi học (nhiều) khoa nhiều khoá chốn bụi trần, để rồi sẽ nhủ chính mình những là:“cho đời thôi đìu hiu.”

            Vâng. Quả có thế. Đời người hay người đời một khi đã thấy “màn đêm đìu hiu”, “đời tịch liêu”, hoặc “xóm vắng im lìm” với “tia mắt ngàn câu” rồi, thì còn gì nữa đâu, ới hỡi cuộc đời! Bởi thế nên, hãy xin người và xin tôi, ta cứ quá bộ vào câu lạc bộ đầy những phiếm, mà phiếm cho xong đôi chữ “sự thật” về đời người. Cho xong chuyện.

            Nếu vậy thì ới hỡi bạn mình, nào ta phiếm.

            Phiếm về: “đẹp kiếp sống thêm” hôm ấy, ngày “N” tháng 8 năm 2011, có bạn viết vừa trình làng một ít nhận định về cái-gọi-là niềm tin tôn giáo làm suy sụp não bộ thần kinh sáng suốt, của con người!

            Để hợp lòng một ý với người viết những câu trên, có bạn đạo tìm về bài viết của Amy Owen và đồng nghiệp, từng chen chân ở giảng đường Đại học Duke bên Hoa Kỳ, để trình làng bài viết có tựa đề “Tôn giáo và sự hao mòn của con hải mã ở thời cuối”. Tác giả và “tác thiệt” bài viết này từng quả quyết: một khi đã hao mòn và teo gầy, thì cá nhân con người cũng được sản sinh lại cùng với những người không tôn giáo. Các vị còn quả quyết thêm rằng: sự đổi thay dung lượng teo gầy ở khối óc đã kết thành tình trạng muộn phiền /mất trí, để cuối cùng đạt tình trạng lú lẫn, rất Alzheimer. Ôi ghê quá.

            Lâu nay, các ngài khoa học gia từng bảo là: những ai cố tình chạy theo niềm tin tôn giáo đến miệt mài, đều có dấu hiệu của người mất trí. Đây là điều mà các ngài gọi là “tình trạng tinh giản trí tuệ đến mức tồi tệ”, tức: một cáo buộc nhằm vào tác giả Francis Collins, người bật mí cái bí mật lòng vòng mà bảo rằng: ông vẫn cho mình là tín đồ Đạo Chúa, rất nghiêm túc.

            Có nói gì đi nữa, thì thời buổi này, lại thấy xuất hiện nhiều người chuyên biện luận bảo rằng khoa học mới là cốt cách của mọi sự, chứ không phải niềm tin tôn giáo, như ta tưởng. Ngược lại, đã hơn một lần, đấng thánh nhân hiền nhà Đạo vẫn cứ khuyên người đời từ ngàn năm trước, rằng:

“Anh em hãy sống thánh thiện
trong cách ăn nết ở,
để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em,
vì có lời Kinh Thánh chép:
Hãy sống thánh thiện,
vì Ta là Đấng Thánh rất trọn lành.”
(1P 1: 14-15)

            Sống thánh thiện trong cách ăn nết ở”, là động thái tự đặt mình để Chúa tể càn khôn đưa dẫn mình trở nên giống Đấng Thánh, mà chẳng cần đến ánh sáng của các ngài khoa học gia soi dọi. Và vừa qua, một vài tác giả từng đồng hành với người viết mang tên Amy Owen nói ở trên đã giải mã các tấm phim chụp từ trường cho khoảng 268 bệnh nhân nam/nữ thuộc lớp tuổi 58 và hơn thế, cũng đã có những phát hiện thật mới, rằng:

“Các liên kết theo chiều dọc, không được diễn giải bằng những yếu tố nền tảng về tâm linh hoặc tâm thần (như hỗ trợ về mặt xã hội hoặc các căng thẳng thần kinh, tình trạng trầm thống nơi con người) cùng với yếu tố dân gian và thời gian kéo dài để nghiên cứu, và toàn bộ dung lượng của não bộ có giới hạn. Sinh hoạt nào mang tính cách thường xuyên tôn giáo hoặc công khai hoặc kín đáo, cũng không báo trước đổi thay nào về dung lượng của não bộ nơi đàn hải mã, ngoài biển cả được hết.”

            Trong bài viết có tựa đề: “Kinh nghiệm đạo hạnh ở não bộ thần kinh: nghiên cứu nối kết với kinh nghiệm đổi thay tôn giáo như hồi sinh, qua hình ảnh loài hải mã” (Scientific American, 31/5/2011), Ts. Andrew Newberg nhận xét: “Kết cuộc thật đáng kinh ngạc khi các điều tra nghiên cứu trước cho thấy tôn giáo hưởng nhiều lợi lộc từ hoạt động của não bộ thần kinh, cả suy tư âu lo trầm thống cũng như thế.” Để minh định rõ, ông nói:

“Cuộc điều tra nghiên cứu đặc biệt nhắm vào cá thể đạo hạnh so với các cá thể không tôn giáo. Nghiên cứu đã biến mọi cá thể thành những người được sinh trở lại hoặc những người từng sống có kinh nghiệm tôn giáo từng làm mình đổi thay cả cuộc đời.”

            Ý của tác giả bài viết nói là: “người không theo đạo” cũng chịu ảnh hưởng cùng một ảnh hưởng trên thân mình, giống hệt như loài hải mã ở biển sâu. Cuối cùng thì, người giành phần thắng lợi trong nghiên cứu là những người có tôn giáo theo qui ước, cũng đạo hạnh nhưng chưa từng có kinh nghiệm sống đời thiêng liêng hoặc tái sinh.

            Lâu nay, nhiều người công nhận rằng niềm tin tôn giáo và thực thi đời đạo hạnh vẫn được nối kết với đấng bậc có cuộc sống rất an lành. Mario Beauregard và Amy Owen đã cùng viết chung cả một chương sách để bàn về “Não bộ linh thiêng” điều nghiên rất kỹ về đề tài này. Nói chung, có bằng chứng cho thấy niềm tin “tiêu cực” về tôn giáo cũng tạo ảnh hưởng khá xấu cho sức khoẻ của con người.

            Chủ đề này, hai tác giả nói trên cũng đã viết:


“Nghiên cứu khảo sát cho thấy bệnh nhân lớn tuổi vốn ọp ẹp về thể xác mà lại xung khắc chống đối lại niềm tin đi Đạo thì thường dễ chết sớm hơn những người có niềm tin vững chắc nơi Đạo mình. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát khoảng 595 bệnh nhân trên 55 tuổi hoặc nhiều tuổi hơn tại khoa y thuộc Đại học đường Duke và Trung Tâm y tế Durham ở Virginia đã hoàn tất theo dõi bệnh tình của hơn 444 bệnh nhân, thấy có đến 176 người từng chết sớm là thế. Tóm tắt, có thể bảo rằng: bệnh nhân nào thường vấn nạn bằng những câu như: “Tôi vẫn tự hỏi sao Chúa lại bỏ rơi tôi”; “tôi có cảm giác như bị Chúa phạt vì thiếu lòng mộ đạo”; “còn tôi, tôi vẫn tự hỏi sao Giáo hội lại ruồng bỏ tôi”; “tôi thì tôi nghĩ: quỷ tha ma bắt, nên mới ra cớ sự này”; hoặc tự chất vấn quyền uy của Đức Chúa chuyện này khác, nên mới dễ chết cách tức tưởi. Theo khảo sát thì: có từ 19 đến 28% số người có vấn đề như thế thường có số tử vong lớn hơn, trong khoảng thời gian chỉ hai năm sau khi xuất viện. Về kết quả này, các nhà khảo sát bèn kết luận: Có thể là, hình thức nào đó của niềm tin tôn giáo làm gia tăng nguy cơ dẫn đến cái chết hơn chuyện khác. Xem ra, thì bậc cao niên nam nữ có kinh nghiệm phấn đấu chống lại bệnh tật mà lại có lập trường chống lại tôn giáo xem ra dễ có nguy cơ dẫn đến cái chết hơn, dù đã rà soát rất kỹ sự hạn chế của sức khoẻ, tình trạng tâm thần cũng như các yếu tố của người bình thường.” (x. Mario Beauregard Đầu óc thiêng liêng, tr. 237)”


            Xem thế, thì niềm tin nay vẫn là vẫn đề gây tranh cãi cũng rất nhiều, dù tích cực hay tiêu cực. Nhưng có người hỏi: sao những chuyện như niềm tin vững chãi nơi người ủng hộ hay chống tôn giáo, lại tệ hại như đám cá ngựa có não bộ teo gầy hơn là những người lơ là với niềm tin tôn giáo?

            Về những căng thẳng thần kinh là hậu quả của của hai thái độ cực đoan nơi người tin hay không tin vào tôn giáo, vẫn kéo theo nhiều tranh cãi, tác giả Andrew Newberg còn cho biết:


“Với các đề nghị này khác để suy nghĩ, cũng nên thêm là: người bệnh thường có kinh nghiệm về đấu tranh với niềm tin tôn giáo là do ý tưởng xung khắc với truyền thống trong Đạo hoặc gia đình. Dù mang tính tích cực, kinh nghiệm đổi thay cuộc sống cũng khó mà đưa vào với hệ tin tưởng vào đạo giáo lâu nay vẫn lấn lướt và điều này thường kéo theo nhiều căng thẳng cũng như lo âu.”

            Nói cho cùng, biện luận cho lắm rồi cũng sẽ trở về lại với kinh nghiệm như lịch sử ở trong Đạo vẫn cho thấy: ai có cuộc sống từng chạm trán Thiên Chúa vẫn nhớ rằng cuộc sống của mình không phải là ít căng thẳng cho bằng thấy đời mình có ý nghĩa hơn. Đó là điều tác giả Denyse O’Leary muốn nhấn mạnh trong bài viết có tựa đề “Tôn giáo có làm cho não bộ thần kinh con người ra suy sụp?” (x. www.MercatorNet.com/articles/view/does_religion-Shrink_your_brain/83/3/2011)

            Cuối cùng thì, có nói gì thì nói, đâu phải cứ là nhà khoa học đã nói thì thế nào cũng có người tin. Tin hay không tin, chưa hẳn là tất cả mọi người. Hãy cứ lẳng lặng nghe ý kiến phản hồi của người đọc, lác đác như sau:


“Tôi vẫn không thấy có nối kết nào như thế cả. Dù bạn chứng minh là căng thẳng thần kinh ảnh hưởng lên loài cá ngựa ở ngoài biển đến như thế nào. Ý tưởng của tác giả nói ở đây chỉ muốn cho thấy rằng: là người không tôn giáo, vô thần hoặc tái sinh thành người đạo hạnh cũng có thể bị căng thẳng như thường. Dù theo kinh nghiệm của riêng tôi, thì những người như thế thường hay tự hào và luôn sẵn sàng lướt tới về những gì họ coi như đặc tính chuyên minh định mọi chuyện như mình nghĩ. Tuy nhiên, điều ấy không cho thấy là cùng một căng thẳng như thế lại kéo theo sự teo gầy nơi thần kinh của loài cá ngựa được.” Larry B, bđd)

            Và, một độc giả khác, cũng lên tiếng:


“Trong cuốn “Phaedrus” triết gia Plato có nói sự khùng điên đến từ các thần còn sự lành mạnh là do con người. Muốn trưng dẫn ví dụ, thì đó kìa, biết bao nhiêu người sùng đạo thuộc các đạo giáo khác nhau trên thế giới vẫn cứ tự cho mình “điền khùng vì Thượng đế”. Cuối cùng, cũng nên nhận rằng: việc mình có dấn thân trọn vẹn với đạo giáo hay không, ở một số trường hợp, cũng không cần đến cái mà ta vẫn gọi là “trí tuệ”, phải không cơ chứ? (Hieronymus, xe. bđd)

            Và, một độc giả rất kín tiếng, nhưng vẫn nói. Nói rằng:

“Với tôi, thay vì đặt câu hỏi vớ vẩn như trên, cũng nên thay bằng câu này: việc sử dụng đầu óc của mình có làm cho tôn giáo bị chìm xuồng hay không?” Đó mới là vấn đề.” (David Page, x. bđd)              

            Nói như độc giả rất  “kín tiếng”, chưa hẳn là nói ít mà hiểu nhiều. Hoặc, nói rất nhiều, chỉ bằng vài câu thôi, là sẽ nói như nhà thơ cùng nghệ sĩ, vừa nói vừa hát, rất như sau:


“Cho nên đêm còn dậy hương,
để dìu bước chân ai trên đường,
để nhìn xóm khuya không buồn
vì người biết mang tình thương.”
(Phạm Đình Chương – bđd)

            Nói như người bình thường tuy ít nói nhưng nghe nhiều và hiểu nhiều –hiểu cả chuyện tôn giáo lẫn khoa học- là nói và nghe bằng truyện kể, để dễ nhớ.


                        “Truyện rằng:

Một bệnh nhân nọ, tuy không theo đạo nào, nhưng vẫn được đưa vào bệnh viện trên tỉnh do các nữ tu Công giáo trông nom. Ngày đầu nhập viện, ông không được nằm phòng riêng, nhưng lại chung đụng cùng nhiều bệnh nhân khác phần đông đều có đạo. Vừa vào phòng, ông đã bị các bệnh nhân khác tuôn đến, lớp thì hỏi han bệnh tình, người lại kéo chăn mền, sờ soạng chân tay xem còn nguyên vẹn hay không…

Chẳng mấy chốc, ông bị lôi khỏi giường giữa tiếng cười rúc rích đến lạ kỳ của những người bệnh đồng sàng, nhưng quái ác.

Chịu không nổi cảnh tượng lỳ cục ấy, bệnh nhân mới vào tới bèn la hét inh ỏi để kêu cầu người phụ trách đến giải cứu. Gặp người phụ trách, ông bèn nói:
-Tại sao các ông lại đưa tôi vào nơi có những người bệnh kỳ cục đến thế này. Phải chăng, đạo của mấy ông dạy làm thế, hay họ chẳng đau ốm gì như tôi?
-Chẳng phải thế đâu. Mấy người này còn đau nặng hơn ông nữa là đàng khác. Nhưng họ vẫn vui sống vì đã khám phá ra một điều mà ít người biết, hoặc có biết cũng chẳng tin, như tin đạo. 
-Thôi thì, ông cứ mau mau nói xem bí quyết kỳ quặc ấy là bí quyết gì vậy?
-Đây. Ông thử nhìn vào cái cân này mà xem. Hai đĩa vẫn cân bằng ngang nhau, không bên nào cao bên nào thấp hết. Nếu tôi bỏ hòn sạn vào một bên thì đĩa cân bên kia sẽ nhổng lên, phải không nào?
-Điều đó có gì là lạ…
-Có chứ. Lạ ở chỗ: đĩa cân này biểu trưng của tình liên đới giữa con người. Hòn sạn biểu hiện cho nỗi đau cùng sầu buồn ông gánh chịu. Khi buồn đau và khổ não đè nặng lên ông, thì ở đầu cân bên kia được nhấc bổng, tức niềm vui lại đến với người nào đó. Thế tức là, niềm vui và nỗi khổ thường sánh vai nhau. Nhưng, nỗi khổ đau cần được đón nhận và hiến dâng như tôn giáo của mấy người này vẫn dạy, chứ đừng giữ cho riêng mình. Hãy làm cho người khác vui như trẻ nhỏ, dù có bệnh, để nụ cười chớm nở trên môi người khác, dù mình đang trong cơn hấp hối. Đó là sự khác biệt của lập trường sống giữa người tin hay không tin vào Đạo giáo, đấy ông ạ.”

                        Lời trần tình, của người chăm nom săn sóc bệnh nhân được vui sống nghe cũng hay như một bài giảng, ở nhà thờ. Chẳng biết thực tế có như thế không. Tuy nhiên, như hay không như thế, vẫn chẳng là vấn đề. Vấn đề chỉ nảy ra khi ta so sánh niềm tin tôn giáo như thế với khoa học thực nghiệm, thôi. Và, thực tế lại cho thấy: so sánh, vẫn cứ là so sánh nhiều sự việc. Người người chỉ so và sánh nếu tin rằng chuyện ấy đem lại cho mình sự thật sáng tỏ. Còn lại, mọi chuyện đều nằm ở bình diện tư tưởng, thôi.

            Đi vào thực tế, riêng bần đạo cũng gặp một trường hợp đáng để kể ra đây. Số là, trong chuyến Mỹ du cuối năm 2011, bần đạo có dịp được gặp lại một người chị họ sống ở tiểu bang xa xôi gần mạn Bắc nước Hoa Kỳ. Chuyện lạ kỳ ở đây, là: bà chị này tuổi tác cũng hơn 70 mà sao chị vẫn tươi vui, hiền hoà chẳng sở khổ. Hỏi bí kíp, thì chị bảo: người già nhà mình sẽ vui sống quãng đời còn lại nếu họ đạt được 4 điều tối thiểu này: sức khoẻ tàm tạm, tài chánh đủ tiêu, vẫn có niềm tin vào Đạo giáo bất kỳ là đạo nào, và cuối cùng là đời sống xã hội lân la với bạn bè/chòm xóm.

            Bần đạo nghe kể, bèn thấy chuyện đời thực tế cũng khác nhiều mọi tranh luận ở tầng trên. Tầng của não bộ chưa gặp cảnh teo gầy như hải mã. Và, nghĩ thế rồi, bần đạo những tưởng bà con mình cũng nên về lại với lời khuyên của đấng thánh hiền nhiều kinh nghiệm về tin hay không tin vào Đạo giáo, như lời thư còn dặn dò:

                                    “Anh em sẽ được hân hoan vui mừng,
dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách.
Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em
là thứ quý hơn vàng gấp bội,
vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa.
Nhờ thế, khi Đức Giêsu Kitô tỏ hiện,
đức tin đã được tinh luyện đó
sẽ trở thành lời khen ngợi,
và đem lại vinh quang,
danh dự.
(1P 1: 6-7)


            Lời cuối cho tôi và cho bạn, là nhận định mà rằng: sống đời người, mà lại có được niềm tin nơi Đạo giáo sẽ khác nhiều cuộc sống của những người ngồi đó dông dài kể lể và so sánh/ so đo não bộ thần kinh rất căng thẳng với khoa học. Cuối cùng mọi sự chỉ là chọn lựa của mỗi người. Chọn và lựa, sao cho thích hợp với cuộc sống của mình và của người. Trên “đường về canh thâu”. Ở đời.


            Trần Ngọc Mười Hai
            Nhiều lúc cũng nghĩ thế.
            Nghĩ, như một người có niềm tin
            chứ không như nhà khoa học.