Monday, 10 October 2011

"Hãy trao cho nhau muôn vàn yêu dâ1u"


“Hãy trao cho nhau muôn ngàn yêu dấu”
“Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau…”
(Trịnh Công Sơn -  Hãy Yêu Nhau Đi)
(1Cr 13: 2)
            Giả như anh hát: “hãy trao cho nhau, hạnh phúc với sướng vui” thì còn nghe được. Chứ đằng này, ai lại trao cho nhau cả những thương đau, nghe thật cũng rầu. Đời người, đầy những đau thương, sầu buồn, khốn khổ đâu nào thiếu. Có thiếu chăng, chỉ thiếu mỗi niềm phúc hạnh, thương yêu, dạt dào thôi. Bởi thế nên, nếu bảo: “Hãy trao cho nhau dạt dào niềm phúc hạnh”, đó mới là khúc tình ngàn dặm còn lưu luyến. Dù không gian có cách biệt. Dù, thời gian có chìm đắm chốn thiên thu.
            Người tình xưa, vốn chìm đắm nơi bể khổ đầy nhung nhớ, hẳn rồi nay sẽ hát:

“Trái tim cho ta, nơi về nương náu,
Được quên rất nhiều ngày tháng tiêu điều.”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Vâng. Sự thật là thế. Là thế, tức: một khi con người đã đắm chìm trong nỗi khổ đầy thương đau, dâu bể với âu sầu, cũng chỉ mong sao quên lãng ngày tháng tiêu điều, buồn bã, chán chường thôi. Và khi ấy, người nghệ sĩ lại hát thêm:

“Hãy yêu nhau đi, bên đời nguy khốn,
Hãy yêu nhau đi, bù đắp cho trăm năm.
Hãy yêu nhau đi, cho ngày quên tháng,
Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom.”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Sống thời bình, nước đã giàu dân đã mạnh rồi, ai mà để tâm đến lời nỉ non om sòm những súng đạn kéo dài suốt đêm thâu! Làm gì còn cảnh sáng sáng trời đất cứ thế ngập tràn những mưa bom, đại bác với pháo kích, vv. .. Hoạ chăng, chỉ nơi xa tít mù tắp xứ Lybia, Afghanistan, Sri Lanka. Ôi thôi! những là “thương nhau ngày đầu”, rất muốn như sau:

“Ngày xưa, trong làng nọ có người nông dân nghèo khổ, không có tiền để trả món nợ lớn cho lão già xấu người, xấu cả tính nết. Nông dân ấy, có cô con gái xinh đẹp khiến chủ nợ cứ là mặc cả với nông dân nghèo để đổi nợ. Mỗi lần gặp con nợ nông dân, lão chủ hứa sẽ xoá hết nợ, nếu bác nông dân chịu gả con gái đẹp cho lão.

Ở vào thế khó xử, hai cho con bác nông dân rất sợ. Nhìn nét mặt sợ hãi của hai cha con nông dân nghèo, lão chủ bèn đề nghị một giải pháp xem ra dễ thực hiện cho cha con nhà nghèo hơn. Đề nghị mà lão ta đưa ra, là: lão sẽ bỏ hai hòn sỏi nhỏ, một trắng một đen, vào túi xách và bảo cô gái bốc ra một trong hai hòn sỏi ấy. Túi xách được cột kỹ, nên khi bốc, cô bé chẳng thể nhìn ra mầu sắc của sỏi để chọn.

Lão ta qui định, là: hễ cô bốc nhằm sỏi đen, thì phải chấp nhận lấy lão làm chồng, và như thế mọi món nợ từ trước đến nay đều được xoá. Nếu gặp may, cô bốc được hòn trắng, thì sẽ không buộc phải ở với lão, và mọi nơ nần của cha cô đều xoá sạch. Còn, nếu cô không chịu bốc, thì cha cô sẽ bị lão đem bỏ tù đến khi nào trả hết nợ mới thôi.

Vì chuyện quan trọng cho đời mình, nên cô gái quan sát kỹ thấy hai hòn sỏi được lão già nhặt bỏ vào túi xách, đều có mầu đen. Biết thế, nhưng cô vẫn im lặng như không có gì xảy ra, chẳng thốt lên lời nào, e lão già biết được sẽ lật lọng. Xong đâu đấy, lão già yêu cầu cô gái cho tay vào túi xách bốc một trong hai hòn sỏi nhỏ, cho bá quan thiên hạ biết sỏi đó mầu gì.  

Trong tình thế rất căng, cô gái chợt nghĩ ra một kế: cô thọc tay vào túi sỏi, rồi làm như sơ xuất để nó rơi xuống đất, lẩn khuất trong đám sỏi đủ mầu. Cô buột miệng la lên: “Trời! Làm sao tôi lại vụng về đến độ để rơi mất hòn sỏi kia chứ!” Không sao, tôi sẽ bốc hòn sỏi còn lại trong túi. Ai cũng thấy hòn sỏi đầu mầu gì rồi phải không? Bây giờ tôi bốc hòn sỏi còn lại trong túi nếu mầu đen thì hòn sỏi đầu là màu trắng, phải không ạ?”

Cô gái làm thế vừa để cho lão già quỷ quyệt không nhận ra là ông đã gian dối bỏ vào túi xách hai hòn sỏi mầu đen; vừa để biện luận cho mọi người hiểu là cô làm đúng, và kết cuộc đem lại lợi thế cho cô. Làm thế, vừa giải quyết chuyện nợ nần cho cha mình, như chủ nợ đã hứa, lại cứu vãn cho lão chủ nợ khỏi bị mất mặt vì gian lận.”

            Lời bàn của người kể hôm nay, là: truyện này nói lên một bài học luân lý rất giản đơn sau đây: trong cuộc sống, mỗi sự việc mang nhiều khía cạnh, ít là hai. Hai đây, không chỉ là mầu trắng/đen của hòn sỏi. Trắng/đen cuộc đời, buộc mọi người chấp nhận sống, dù rằng không ưa hoặc chẳng thích.
Lời bàn là thế, nhưng người nghe còn nhận ra được ý nghĩa khác không kém phần thực tế về yêu thương ở đó có tình tiết về hệ quả không thể lường trước. Thế nên, nghệ sĩ xưa lại viết lên lời bàn rất nhủ khuyên và rất thực, như sau:       

                        “Hãy yêu nhau đi khi rừng thay lá.
Hãy yêu nhau đi, giòng nước đã trôi xa.
Nước trôi qua tim rong đầy trí nhớ.
Ngày mãi mong chờ, ngày sẽ thiên thu.”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

            Bởi thế nên, “Hãy yêu nhau đi”, khi “rừng đang thay lá”, cả vào lúc “giòng nước đã trôi xa”, vẫn yêu. Yêu rất nhiều, dù đời u tối. Bởi một khi đã yêu, thì mình sẽ quên đi những ngày u tối, trong đời. Hãy yêu, cả vào lúc biết mình sẽ xa lìa thế giới, như ca từ người nghệ sĩ còn muốn hát, như sau:

                                    “Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối
Dù vẫn biết mai đây xa lìa thế giới
Mặt đất đã cho ta những ngày vui với
Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời!”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

            Hãy yêu đi. Yêu, hết lý trí cùng tâm can. Yêu, không chỉ con người. Hoặc, loài thú thôi. Nhưng, yêu cả vạn vật. Yêu thiên nhiên. Vũ trụ. Yêu, bằng con tim chân chính không cân nhắc. Yêu, với tất cả tâm trí không cần lý luận. Yêu hăng say. Yêu miệt mài, như thánh nhân nhà Đạo từng ca ngợi tình yêu nhiệm mầu, rằng:

                                    “Giả như tôi được tất cả lòng tin,
khiến chuyển được đồi núi,
mà tôi lại không có lòng mến,
thì tôi vẫn là không.”
(1Cr 13: 2)
                       
            Nói thế, thì: cuộc sống con người chính là để yêu. Yêu mọi nơi mọi lúc. Lúc nào người người cũng đưa lòng người đang yêu về với Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, như được căn dặn rằng: hãy bày tỏ tình yêu với Chúa. Và, với mọi người. Bày tỏ tình yêu không cdhỉ bằng ngôn ngữ của xác thân. Hoặc, trí tuệ. Tinh thần. Mà bằng cả cử chỉ lẫn nghi tiết phụng vụ tình yêu. Bất cứ nơi đâu, lúc nào cũng bày và cũng tỏ
            Ngôn ngữ diễn tả Tình-Yêu-ta-có với Chúa, được Hội thánh lâu nay sử dụng trong phụng vụ. Cả khi nghe và đọc Lời Chúa. Cả lúc khởi đầu câu tụng niệm khi dâng lễ, bẻ bánh. Ngôn ngữ mà người phàm sử dụng trong nguyện cầu, đôi khi khiến người cầu nguyện cứ tự hỏi: không biết lời kinh mình đọc có xứng hợp với đặc trưng Chúa dạy, hay không.
            Vừa rồi, một phó thường dân nhà Đạo cũng thắc mắc đôi điều như thế, nên có thư về hỏi han đấng bậc phụ trách mục hỏi/đáp bằng lời lẽ rất sau đây:

“Dự lễ, tôi và một số bạn như bị hụt hẫng về lời kinh ta đọc trong các lễ. Đặc biệt những câu được cha chủ tế cất cao giọng đọc trước khi đọc kinh Tiền Tụng, dâng Chúa những lời như: “Hãy nâng lòng lên”, để rồi giáo dân lại sẽ thưa: “Thật là chính đáng và phải lẽ.” Thắc mắc của tôi là: đằng sau kinh này, chắc có điều gì hàm ẩn bên dưới mà tôi chưa hiểu rõ. Vậy xin linh mục vui lòng giải thích. Thành thật biết ơn.” (Một người đi nhà thờ rất thường nhưng chưa am tường nhiều kinh kệ).

            Am tường sao bằng đấng bậc vị vọng ở nhà Đạo được! Các ngài từng học cao hiểu rộng cả về thần học, tín lý, lẫn phụng vụ. Thế nên, dân con nhà Đạo nay thấy hay nhất là gửi câu hỏi nào “hơi bị” chuyên nghiệp về đấng bậc học cao hiểu rộng, bằng cấp đầy mình, chính là đức thày Lm John Flader của tờ The Catholic Weekly Sydney, vẫn chịu giảng giải trên báo, rất như sau:   

“Có thể nói: lời kinh cô vừa trích dẫn, có nguồn gốc cũng rất xưa trong các Sách Lễ. Tra cứu kỹ, có vị tìm được câu ấy trong tài liệu tham khảo của thánh Hippolytus gọi là “Truyền Thống Tông Đồ xuất hiện vào năm 215, khi ấy được dùng làm kinh cầu buổi chầu Thánh Thể. Bởi thế nên, đọc lời kinh ấy ta thấy mình được kết hợp với người anh, người chị trong Đạo vào thế kỷ thứ ba cũng như với tất cả mọi người từ đó đến nay.

Ngôn từ bản văn cổ có nói: “Hãy để phó tế đưa của lễ cho giám mục chủ sự. Khi ngài đặt tay lên lễ vật cùng với đoàn linh mục đồng tế, cứ để ngài nói lên lời cảm tạ: ‘Chúa ở cùng anh em’. ‘Và ở cùng thần khí ngài’. ‘Hãy nâng lòng lên’. ‘Tất cả hướng về Chúa’.’Hãy cảm tạ Thiên Chúa, là Chúa chúng ta’. ‘Thật là chính đáng và phải lẽ’.

Xem thế thì, lời xướng đáp đây gồm những câu được thấy trong bản dịch mới của thánh lễ bằng tiếng Anh, tức toàn bộ được rút từ bản tiếng La tinh của thánh Hippolytus. Nhưng các câu ấy có nghĩa gì?

Khi đọc lời chúc: “Chúa ở cùng anh chị em” xong, chủ tế xướng kinh bằng tiếng Latinh ‘Sursum corda’, tức: “Hồn ta ở bên trên” hoặc: “Tâm can ở trên cao”. Ý nghĩa này rút từ sách Cựu ước, trong đó nói: “Hãy nâng lòng và bàn tay với Thiên Chúa trên trời.” (Ai Ca 3: 41)

Thánh Âu Tinh có lần từng giảng: “Hãy nâng lòng ta lên để nó không bị rữa nát nơi mặt đất. Lời ngài cốt cầu mong cho chúng không bị rữa nát, nhưng đuợc cứu vớt.”” (Bài giảng 60, #7)

Trong thư gửi giáo dân ở Côlôsê, thánh Phaolô cũng viết: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” (Cô 3: 1-2)

Lời kinh vang vọng lời Chúa ở Bài Giảng Trên Núi khi Ngài phán: “Hãy tích trữ cho mình kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.” (Mt 6: 20-21)

Chính vì thế, khi bước vào phần chính của thánh lễ, tức phần truyền phép Thánh Thể, người tham dự được mời gọi bỏ lại đằng sau tất cả những gì là thế gian để nâng lòng trí và tâm can lên cùng Chúa.

Cũng thế, ngôn từ của bài dạy trong sách lễ Rôma cũng nói: “Giờ đây ta bước vào trọng tâm và đỉnh cao của thánh lễ, tức lời truyền Thánh Thể, là lời cảm tạ và thánh hoá. Linh mục mời gọi người tham dự hãy nâng lòng mình lên cùng Chúa trong nguyện cầu cảm tạ.” (sđd 78)

Thánh Cyril thành Giêrusalem (315-386) có nói về nghi tiết này trong cuốn “Sách Phần để Khai Tâm” do ngài viết gửi cho tân tòng ở Giệrusalem năm 352, có dặn rằng: “Vị chủ tế cất cao lời cầu ‘Hãy nâng lòng lên!’, là vì: đây là thời khắc long trọng nhất để ta nâng lòng trí lên cùng Chúa, chứ không phải để ta đặt nó thấp ở dưới đất cùng với phẩm vật phàm trần, là để dạy ta bỏ lại dưới đất mọi ưu tư cùng lo lắn thể xác để nâng lòng mình lên chốn trời cao cùng Thiên Chúa là Đấng vô cùng rộng lượng. Khi ấy, ta sẽ thưa cùng ngài rằng: “Chúng con đang hướng về Chúa.” Nói cách khác, làm thế là ta đồng ý những gì vị linh mục nguyện cầu bằng cách công nhận việc ta đang làm. Vậy thì, ai đến dự lể để thưa cùng vị chủ tế bằng câu “Chúng con đang hướng về Chúa”, mà lòng trí lại vướng bận chuyện xác phàm là chuyện không phải.” (trích Sách Phần Khai Tâm #848d)         

Tóm lại, điều này có nghĩa: quả là phải lẽ và chính đáng để ta cảm tạ lòng lành của Chúa đã vượt quá sự công bằng chính trực mà cứu vớt ta và đem ta về kết hợp cùng Ngài, để được làm con Ngài. Tức, những gì Chúa làm cho ta đều do lòng xót thương mẫn cán cho nên việc ta tạ ơn Ngài thật là phải lẽ.

Khi xướng câu này, ta tìm ra được lý lẽ để ca tụng ngợi khen và cảm tạ Chúa về việc Ngài dựng nên ta, và Ngài nhập thể làm người mà cứu chuộc ta nhờ Hội thánh, và ngang qua các phép bí tích. Ta cảm tạ Chúa ban cho ta có được lòng tin, sự sống, sức khoẻ, tài trí và gia đình rất yêu thương…

Tựu trung, ta có thể nói rằng: những gì tóm gọn trong lời xướng/đáp giản đơn xưa cổ ở thánh lễ quả là dồi dào, súc tích thật không kể.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 17/7/2011 Question time tr. 11)

            Như vẫn nói, mỗi lần có ai hỏi đấng bậc vị vọng phụ trách mục giải đáp thắc mắc mọi mặt trong Đạo, người nào cũng nắm phần chắc như “đinh đóng cột” và mãn nguyện. Mãn tâm nguyện, vì đấng bậc nhà mình thuộc giống giòng hào kiệt ở trời Tây. Rất nhiều năm kinh nghiệm. Bởi thế nên, lời giải mã của đức thày bao giờ mà chả chính mạch, đáng tin cậy.
            Duy có điều, là: khi nghe lời giải của đức thày rồi, người đọc chắc chắn sẽ gật gù mà công nhận để rồi sẽ đi thẳng vào giấc mộng thiên thu, có Chúa có Mẹ đón chờ mình. Phần bần đạo, vẫn nghe quen những lời giải đáp như thế từ nhỏ, nay nhớ lại cũng vẫn gật gật gù gù không chỉ để đi vào giấc thiên thu mộng mị, đầy gật gật thôi, mà còn tìm ra được lời vui nơi câu hát ở bên dưới, rằng:

                                    “Hãy ru nhau trên những lời gió mới,
                                    Hãy yêu nhau cho gạch đá có tin vui.
                                    Hãy kệu tên nhau trên gềnh dưới bãi
                                    dù mai nơi này người có xa người.”
                                    (Trịnh Công Sơn – bđd)

            Hát lời này, bần đạo thấy: lời ca trên đã không đem mình vào chốn miền nhiều gật gù, cho bằng vẫn dẫn đưa ta về với lời vàng hôm xưa có thánh nhân vẫn khẳng định: “Thiên Chúa là Tình Yêu”, và “nâng lòng trí lên cùng Chúa” chính là nâng tâm hồn cùng với lời dặn dò vàng ngọc từ các thánh vẫn cứ bảo:

                                    “Anh em hãy gớm ghét điều dữ,
tha thiết với điều lành;
thương mến nhau với tình huynh đệ,
coi người khác trọng hơn mình;
nhiệt thành, không trễ nải;
lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.”
(Rm 12: 10-11)

            Thể theo lời yêu cầu của thánh nhân mà thực hiện điều lành trong cuộc sống có lời nhủ khuyên: “hãy nâng lòng lên”, bần đạo lại dám thêm một đề nghị vào đoạn cuối buổi phiếm loạn chuyện cao siêu nhiệm mầu bằng truyện kể, rất dễ hiểu để còn nhớ, như sau:

                                    “Truyện rằng:
Người con đi Đạo hôm ấy thấy lòng mình dâng cao lên với Chúa, bèn có lời thân thưa cùng Ngài như sau:
-Lạy Chúa Cha Nhân Từ, là Tình Yêu của con và của muôn người, hôm nay con nâng lòng lên với Tình Yêu Chúa để rồi sẽ thưa Chúa chuyện của con. Con thưa với Chúa là: con rất yêu vợ con. Yêu vô cùng tận đến độ nếu cô ấy có đau đầu đau óc, thì con đây xin đau thay. Nếu cô ấy rơi vào chốn buồn sầu lo lắng, thì con xin lắng đọng sầu buồn thay cho cô ấy. Và nếu cô phải chịu cảnh goá bụa nuôi con nhỏ, thì con đây xin chịu thay cho cô cảnh khổ ấy…
Nay con khẩn nài xin Chúa nhậm lời con cầu van, Chúa ơi! Chúa của con ơi!!”

            Nâng lòng trí, thì ai mà chẳng nâng được. Nhưng, cũng chớ có nâng hoặc nhấc theo kiểu gật gật gù gù hoàn toàn đồng ý hoặc thất hồn như người trẻ nọ vẫn cầu như trên. Tóm lại, nâng gì thì nâng bạn mình hãy cứ nhớ mà nâng hồn và lòng mình với đấng bậc mình từng yêu dấu hoặc chưa yêu. Để rồi, Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu sẽ đoái hoài mà đỡ nâng hồn mình. Hồn người. Ở muôn nơi.

            Trần Ngọc Mười Hai
            vẫn muốn nâng lòng mình lên cao, lên cao mãi
            đến độ gật gù chấp nhận 
            đi vào chốn ngủ vùi nhiều phút,
vào buổi cầu kinh, và giảng giải.
                                     


 

Saturday, 1 October 2011

“Gọi thầm tên em,”


“Gọi thầm tên em,”
Khi nắng chiều nhạt ngoài sân
(Đức Huy – Để Quên Con Tim)
(Mt 28: 19-20a/Ga 6: 18))
            Đã gọi thầm, thì có là tên em hay tên của ai đi chăng nữa, “khi nắng chiều nhạt ngoài sân”, sao còn bảo: “anh đã để quên con tim”. Thật rõ chán! Ấy chết, nói “chán” đây là chán cái cung cách những gọi và nói của người nghệ sĩ đã một thời chuyên viết nhạc trẻ. Và làm thơ. Chứ chẳng phải chán đời hay chán người hay chán cả người tu đâu, hỡi bà con. Nghệ sĩ đời, có gọi tên em hay tên ai đi nữa, cũng chỉ muốn nói rằng mình vừa “để quên (mất) con tim”, thôi. Với nhà Đạo, thì tên em/tên anh có bị réo gọi to cách mấy đi nữa, cũng hãy xem người gọi mình là ai? Gọi ai? Gọi mà làm gì?
            Về chữ “gọi”, kể ra cũng khá ư lẩm cẩm.. Ấy quên. Lỉnh kỉnh, mới đúng chứ không lẩm cẩm đâu. Bởi, nếu người gọi lại là Đấng Thánh-Hiền-ở-Bên-Trên, thì lời gọi ấy cũng chẳng là “lời gọi chân mây”, của ai đó chốn thơ và nhạc, mà đích thị là lời gọi, rất “ơn gọi”, của mọi thời. Trên đời.
            Nói dông nói dài, chỉ để nói lại rằng: lâu nay bà con thuộc diện giáo dân hạng thứ như bần đạo, cứ là hay hiểu nhầm (í quên) hiểu lầm ba chữ “ơn kêu gọi”, lắm lắm. “Ơn Kêu Gọi” là ơn gì vậy? Gọi thầm tên Em, sao lại cứ bảo đó là “ơn”? Mà không là “huệ”?  Thôi thì, “ơn” hay “huệ” cũng là huệ ân/ân huệ của Bề Trên, rất nên nghe. Nên hiện thực.
            Nói tắt một lời, là cốt nói rằng: muốn gọi đó là “ơn” hay “huệ”, những lời gọi từ trên cao hay nhà Đạo, vẫn là lời “thì thầm” như ca từ của bài hát, rất ở trên, rằng:

                                    “Gọi thầm tên em,
khi nắng chiều nhạt ngoài sân,
                                    Trở về Cali,
anh nghe nhớ nhung giăng sầu
                                    Từ ngày xa em,
anh bỗng trở thành lặng câm,
                                    Ngày rời Paris,
anh hứa sẽ quay trở lại.”
                                    (Đức Huy – bđd)    

            Rời Paris, thì bần đạo đây cũng đã rời tới hai lần. Nhưng, đâu có hẹn và cũng chẳng hứa điều gì, đâu. Chí ít, là những hứa và hẹn với người “Em” không nhỏ, ở quê người. Thật ra, thì một khi đã đặt chân đến Paris rồi, mà lại hứa hẹn điều gì, thì đánh chết người ấy cũng sẽ quay trở lại, thôi. Bởi, Paris đẹp thật! Đẹp, đến độ không quay về cũng chẳng xong. Thế nhưng, những hứa và hẹn với nhà Đạo, cũng đẹp chẳng thua gì Paris, mà sao nhiều người vẫn đâu quay về chốn cũ, rất đời tu! Đó là vấn đề. Rất nên phiếm ở đây. Hôm nay.
            Nếy vậy thì, mời bạn và mời tôi, ta mạnh dạn đi thẳng vào vấn đề, để phiếm. Chữ “gọi/mời”.
            Ấy chết. (Lại chết chóc gì nữa đây?) Ấy, chỉ cái tội là: trước khi đi vào vấn đề, theo thói quen, bần đạo vẫn mời bạn mời tôi, ta ngâm nga hát đôi vần thi ca, tức: vừa thi vừa ca, giòng nhạc nhẹ:

                                    “Anh đi về anh nhớ
                                    bóng dáng ở lại.
                                    Paris em yêu ơi.
                                    Anh nhớ Em thật nhiều.
                                    Anh nhớ Em thật nhiều,
                                    người yêu ơi.”
                                    (Đức Huy – bđd)

            Bần đạo đây, chẳng có tài ăn nói hoặc hát ca gì ráo trọi. Dù khi xưa cũng có hát ở nhà thờ nhà thánh, nhưng rất dở. Cứ cái tật  là chỉ hát nhại hoặc hát nhái, rồi đề nghị đổi lời, cho khang khác,thế thôi. Và hôm nay, nếu bần đạo đề nghị đổi chữ Paris và/hoặc “Em” thành Hội thánh, thì người người sẽ thấy nhà Đạo mình, nghe thầm gọi cũng rất nhiều, nhưng nào có nhớ người “Em”/Hội thánh, những là Paris, Luân Đôn, Niu Yọc, là “người yêu” đâu đấy nhỉ? Bởi nếu không, chắc sẽ khác!
            Thật ra, có khác chăng, cũng đề nghị bạn và tôi, ta hát nốt câu thơ người nghệ sĩ viết như sau:    

                                    “Buổi chiều sông Seine,
                                    có gió lạnh về lập đông.
                                    Buổi chiều Cali,
                                    cô đơn từng cơn rã rời.
                                    Từ ngày xa Em,
                                    thao thức trằn trọc từng đêm.
                                    Ngày rời Paris,
                                    Anh đã để quên con tim.”
                                    (Đức Huy – bđd)

            Với người đời, “Ngày rời Paris còn có nghĩa, là: “từ ngày xa Em, (anh) thao thức trằn trọc từng đêm”. Với nhà Đạo, lời mời gọi như thế, cũng ý nói: cả anh và “Em” sẽ mãi mãi “để quên con tim”, đầy nhung nhớ. Tiếc nuối. Ân hận. Bằng chứng ư? Đây, mời bạn mời tôi, ta thử nghe lập luận, Ngài vẫn bảo:

“Vậy anh em hãy đi
và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,
làm phép rửa cho họ…
                                    (Mt 28: 19)

            Thời đại này, những ơn và huệ ở ca từ “thầm gọi tên Em”, không chỉ là lời xưa cũ, của thánh sử, những là: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít” (Mt 9: 37). Thì hôm nay, “gọi thầm” ấy, lại là lời: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…”(Mt 28: 19) Làm môn đệ, đây đâu chỉ là linh mục/tu sĩ, thôi. Nhưng còn “để con tim” ở lại với Paris. Luân Đôn. Với, Hội thánh khắp năm châu, bốn bể, tức toàn thể nhà Đạo. Của Chúa tể tình thương yêu. Vỗ về. Chiều chuộng.  
            Nhà Đạo hôm nay, có những lời “thầm gọi tên Em” vào giở Lễ, nay cũng đổi. Thay và đổi, để thích hợp với văn bản tiếng Latinh xưa cổ, của sách lễ. Bởi thế nên, “thầm gọi tên Em” lại được đấng bậc và giáo dân hỏi/đáp rất kỹ như sau:

“Hôm nay con muốn đề cập đến một trong các khía cạnh của bản dịch mới trong thánh lễ, mà con thấy “hơi lạ” ở câu đáp lại lời vị linh mục chủ tế chúc: Chúa ở cùng anh chị em”, nay được giáo dân đáp lại là: Và ở cùng Thần khí cha/thày”. Sao ta lại sử dụng cụm từ nghe không mấy quen tại bằng câu “và ở cùng cha/thày”, như trước đây.”

            Quả tình, đấng bậc vị vọng thuộc giống giòng Opus Dei rất “Công trình của Đức Chúa”, nay lại méo mó nghề nghiệp quan chức chủ trì rất chễm chệ ở trên cao, bằng những phán đoán “rất bênh nhau”, như sau:

“Thành ngữ này, thật ra có cả quá trình lịch sử rất dài dòng, được nhắc đi nhắc lại những 5 lần khác nhau trong thánh lễ. Ở đầu lễ, trước khi đọc Phúc Âm, trước kinh Tiền Tụng, lúc dâng chúc Bình an cho nhau và trước khi ra về.

Các cụ cha bác thuộc lớp tuổi cao niên hẳn còn nhớ thời xưa khi thánh lễ đọc bằng tiếng La tinh, vị chủ tế có lời chúc bổn đạo rằng: “Dominus vobiscum” (tức là: Chúa ở cùng anh chị em), thì mọi người đều trả lời là “et cum spiritu tuo” (tức: và ở cùng thần khí Cha). Rồi sau Công Đồng Vatican II, khi thánh lễ tiếng La tinh được dịch ra ngôn ngữ của mỗi dân tộc bản xứ, thì hầu hết đều theo đúng nghĩa bên tiếng La tinh, ngoại trừ một vài văn bản tiếng như tiếng Anh và/hoặc tiếng Việt, còn thì mọi thứ tiếng đều cùng ý hướng đó. Nay thì các ngôn ngữ trên thế giới rồi cũng sẽ theo sát nghĩa từ bản gốc tiếng La tinh, thôi.

Thế nhưng, hỏi rằng sao lại có thành ngữ không mấy thông dụng như thế? Thì câu trả lời hay nhất ta nên về với các bản văn thời Cựu Ước như ở sách Ruth, Boa nói với thợ gặt bằng lời chúc: Đức Chúa ở cùng bà con anh em”. Nghe vậy, họ liền thưa: “Đức Chúa chúc lành cho chị.” Đây là lời chúc mang tính cách thiêng liêng, lời chúc mừng là Chúa sẽ ở với người khác.

Tại thủ phủ Bavaria, nước Đức, dân chúng có thói quen chào hỏi chúc mừng nhau ngay ngoài đường bằng cụm từ “Grũss Gott”, nếu dịch từng chữ sẽ là “Chúc tụng Chúa”, hoặc “Chúa mừng chúc anh/chị”. Lời cầu chúc ấy mang tính cách linh đạo hơn chỉ mỗi tiếng “Hello” hoặc “G’day” bên tiếng Anh.

Còn thành ngữ “Và ở cùng thần khí ngài” còn gặp thấy ở một số thư do thánh Phaolô viết, chẳng hạn như: “Chúa ở cùng thần khí anh em” (2Tm 4: 22) và ở thư khác thánh nhân viết cho giáo đoàn Galata, thánh nhân cũng lại kết thúc bằng lời chúc: “Hỡi anh chị em, ân sủng của Chúa chúng ta, Đức Yêsu Kitô, ở cùng thần khí anh chị em.” (Ga 6: 18)

Rõ ràng là, các giáo dân thời tiên khởi cũng đã sử dụng thành ngữ này. Chẳng hạn như, ở bài đọc 2 lễ Vọng Phục Sinh, Phụng Vụ Giờ thánh cũng được trích từ bài giảng mô tả Đức Kitô đến với các tổ phụ, trong đó có nói đến cả Ađam, khi Ngài nói: “Đức Chúa ngự đến với tất cả mọi người.” Và Đức Giêsu cũng đáp lại: “Và ở cùng thần khí Ngài.”

Cụm từ “Và ở cùng thần khí Ngài” được qui về linh đạo, để từ đó công nhận rằng con người không chỉ là bản thể vật chất nhưng còn có thần linh, tức linh hồn bất diệt. Đó là điều chứng thực phẩm cách của nhân vị được dựng nên theo theo hình ảnh giống Thiên Chúa. Và, đó còn là lời chúc mừng có Chúa ở trong hồn của người kia.

Khi ta sử dụng lời chúc như thế trong thánh lễ, là ta nhận rằng ta đang hiệp thông làm một với Hội thánh vào thời tiên khởi. Ta rời nơi chốn và thời gian mình đang sống để đi vào chốn không có thời gian là Phụng vụ thánh, ở đó ta hoà mình cùng thần thánh với thiên thần trên thiên cung mà phụng thờ Chúa.

Mặc dù cụm từ “Và ở cùng thần khí ngài” có thể hướng về bất cứ ai, như đã thấy trong các thư do thánh Phaolô viết và trong lời đáp của Đức Kitô với Ađam, vào thời tiên khởi, các thánh tổ phụ trong Giáo hội cũng áp dũng chuyện đó với ơn lành của Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện nơi thừa tác viên bằng cách giơ tay đặt lên trên người ấy.

Chính vì thế, thánh Chrisostom ở thế kỷ thứ tư có nói trong một bài giảng của ngài rằng: “Giả như Chúa Thánh Thần không ở với các Giám mục khi các ngài rời cung thánh xuống, thì anh chị em cũng chẳng thể nào cùng nhau đáp lại bằng lời chúc tụng: Và ở cùng thần khí ngài” . Đây chính là lý do khiến anh chị em đáp lại bằng thành ngữ này không phải chỉ khi ngài rời cung thánh xuống mà thôi, cũng không phải chỉ khi ngài giảng cho anh chị em nghe, cũng chẳng vào lúc ngài cầu nguyện cho anh chị em, nhưng là khi ngài đứng trên bàn thờ mà dâng của lễ thánh hiến này. Anh chị em không san sẻ việc dâng tiến lễ cho đến khi ngài đọc lời nguyện để cho anh chị em nhận được ơn thánh từ Đức Chúa, và khi ấy anh chị em sẽ đáp lại bằng câu: Và ở cùng thần khí ngài”, là để nhắc anh chị em nhớ rằng qua lời đáp như thế ngài không có mặt ở đó chẳng làm điều gì theo uy lực của chính ngài; cũng chẳng để dâng lễ vật là hoa quả công việc làm của người phàm, mà là ơn thánh hoá của Chúa Thánh Thần đang hiện diện nơi đó và đang lơ lững trên mọi sự vật được chuẩn bị cho công việc thánh tiến đầy mầu nhiệm ấy.” (Bài Giảng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống).

Chính vì lý do này mà từ thế kỷ đầu thời tiên khởi, chỉ các thừa tác viên có chức thánh  -như giám mục, linh mục và phó tế-  mới được có lời chúc gửi đến giáo dân bằng lời cầu chúc nói rất rõ: “Chúa ở cùng anh chị em”.

Để đáp lại lời cầu và chúc của thừa tác viên, chúc mừng thần dân là Đức Chúa sẽ ở với họ, thì khi ấy tất cả sẽ đáp lại bằng lời chúc tụng cũng như thế. Đáp lại, là cách thức ngay lúc ấy mình tuyên xưng niềm tin theo cung cách ân huệ đặc biệt do Chúa Thánh Thần ban cho mình nhận được vào nghi lễ truyền chức cho thừa tác viên thành người của Chúa.

Thành thử, điều mà tôi nói ở đây là chuỗi dài lịch sử gồm tóm đầy đủ ý nghĩa chỉ trong lời chúc mừng giản đơn như câu: “Và ở cùng thần khí ngài.” (x. John Flader, Question time, The Catholic Weekly 10/7/2011, tr. 10)

            Bên tiếng Việt, ta không có và không cần có thay đổi nào để hợp với lệnh của Thánh bộ Phụng Vụ Toà thánh La Mã, như bên tiếng Anh. Nhưng nếu có, chắc bà con mình cũng lúng túng không ít khi phải thưa “Và ở cùng Cha/Thầy” hoặc “Và ở cùng thần khí Thầy/Cha, Đức Cha”, vv… Thế mới biết, ngôn ngữ con người càng dồi dào càng rắc rối. Lắm chuyện. Khiến cả người nói lẫn người thưa đều thấy ngại. Ngại hơn nữa, nếu một mai Hội thánh cho phép nữ giới được làm phó tế, linh mục như bên Anh Giáo, thì lúc ấy không biết thưa thớt với cô Sáu, chị Sáu hay bà Sáu/Linh mục như thế nào đây.
            Thưa gì thì thưa, tưởng cũng nên thưa và hát như ca từ ở bài hát trích bên trfên mà rằng:

                                    “Anh đi về thương nhớ bóng dáng người ở lại,
                                    Paris em yêu ơi.
                                    Anh nhớ em thật nhiều,
                                    Anh nhớ em thật nhiều,
Người yêu ơi!”
(Đức huy – bđd)

            Đấy, với một thị thành vật chất rất sự vật thôi mà nghệ sĩ đã dám gọi những nào “Anh anh/em em” cứ là ngọt sớt. Nói gì đến các ngài cụ sáu hay thầy cả, cả đến đấng bậc chủ quản  một giáo phận mà hát câu này, chắc cũng lúng túng không ít?
            Theo thói thường, mỗi khi phiếm chuyện gì hơi nghiêm túc, cứng đọng, là bần đạo hay đề nghị bạn bè nghe đôi ba truyện kể nhè nhẹ để mà nhớ. Nhớ rằng, cũng có lần người người từng kể cho nhau nghe những chuyện rất ư là tình cảm, dù tầm phào. Không ướt át. Chỉ để vui. Và quên sự đời, nhiều rắc rối. Vậy thì, mời bạn mời tôi, ta nghe thêm một câu truyện chỉ để kể, như sau:

                        “Truyện rằng:
Chiều hôm ấy, người nữ phụ cao niên ngổi nhâm nhi ly rượu trắng trong mùi nho chín, cạnh ông chồng cũng cao niên không kém nhưng hiền từ lại ít nói. Hai cụ ngồi hồi lâu bên khung trời mở ngỏ, có làn gió hiu hiu tươi mát ru hồn người vào cõi tiên, chẳng nói nên lời. Bỗng, cụ bà nổi hứng hôn vào ly rượu nhiều nụ hôn nồng, rồi thì thào nói:
-Tôi yêu Bạn mình biết chừng nào. Cứ ở mãi bên nhau nhé bạn mình. Bỏ bạn mình, tôi nào sống nổi…
-Này, thế nghĩa là miệng bà nói ra điều đó, hay rượu nói thế?
-Chính đó là tôi, đang nói với hồn thiêng sông núi, là rượu mùi, thân thương của tôi mà!     

            Rượu, mà cũng thân thương, đòi ở cùng và ở với mãi làm sao hiểu nổi! Huống hồ là tình tự của người được Chúa thương yêu, nay thấy mến chuộng nên luôn miệng chúc mừng có Chúa ở cùng.
            Ở cùng hay ở với, vẫn là tâm tình mà người người sống ở Nước Trời cần biểu tỏ, hơn bao giờ. Tâm tình ấy. Biểu tỏ này, muốn diễn tả hoặc dịch cho thoát hay dịch cho sát, vẫn là vấn đề của tôi, của bạn. Của Hội thánh, ở khắp nơi. Muôn đời.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn chỉ muốn diễn tả
            Bằng tâm tình từ tâm can
            chứ không bằng lời dịch thuật.