Saturday, 4 June 2011

“Sao không thấy em lại”

để cùng anh thẩn thơ” trước sân trăng vời vợi

để rồi cùng ước mơ”

(Phạm Đình Chương – Thuở Ban Đầu)

(1Cor 1: 4-7)

Đúng vào “thuở ban đầu” ấy, người người thường ước mơ. Trẻ, thì mơ mẹ đi chợ về, mua cho bé rất nhiều quà. Già, lại ao ước mọi việc cứ thế thông suốt rất êm ả. Thẩn thơ. Nhà Đạo mình, cũng có những ước và những mơ. Mơ gì đây? Chắc hẳn, chẳng mơ và ước được Chúa sớm rước về? Ở đâu đó! Mà là, mơ như nghệ sĩ cũng từng ước và rất mơ, ở câu thơ:

“Sao không thấy em lại?

hàng dừa nghiêng thương nhớ

và khúc ân tình biết trao về đầu…”

(Phạm Đình Chương – bđd)

Khúc ân tình, còn biết trao về đâu nữa? Há chẳng phải là trao như “thuở ban đầu”, nơi chất chứa tình thương-yêu nhung-nhớ, vẫn cứ đẹp? Chất chứa, “sâu (nơi) đáy mắt”, rất “xanh tươi”. Niềm nhớ ấy, còn là câu ca được diễn tả ngọt ngào, nào ta hát:

“Ôi! đẹp sao là thuở ban đầu

chìm sâu đáy mắt một màu xanh khơi

niềm thương không nói nên lời

chỉ nghe xao xuyến một trời bâng khuâng.”

(Phạm Đình Chương – bđd)

Hát xong, hẳn bạn và tôi, ta rồi sẽ nghĩ: “thuở ban đầu” của tôi và của bạn, ở nhà Đạo, chắc cũng “Ôi đẹp sao!”, một thuở đầy “màu xanh khơi”, nơi đáy mắt. Ban đầu, là thuở mà Hội thánh Nước Trời nhà Đạo, được đầy ơn thánh sủng, của Ngôi Ba. Là, Thần Khí Chúa đầy ắp những ơn và huệ Ngài ban, cho ta.

Ơn và huệ, mà Thần Khí Chúa vẫn ban, nhiều hình thức. Có hình thức rất êm đềm. Mượt mà. Chẳng ai lạ. Cũng có hình thức sôi động. Nhiều suy tư. Khuất tất. Một trong những hình thức của quà tặng từ trên, nói theo kiểu méo mó nghề nghiệp, thật rất “phiếm”, là nói như truyện kể, ở dưới:

Có mẹ già nọ sống ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chồng của mẹ mất sớm, nhưng mẹ vẫn ở vậy tần tảo nuôi con những 25 năm. Đến lúc con của mẹ rày khôn lớn đã công thành danh toại ở nước ngoài, mẹ vẫn chắt chiu, quý trọng mọi thứ. Vẫn dành để ít nhiều cho con. Cả, những món quà con gom góp tháng tháng gửi về, cho mẹ. Tuy không nhiều. Chỉ vài hàng vắn vỏi gói trong thư và hai ba tờ trăm đô, để mẹ tiêu.

Xuân này đến xuân kia, con vẫn bận rộn hết việc này đến việc khác, không tìm ra được giờ nghỉ để bay về thăm mẹ mà cảm kích tấm lòng người mẹ ban cho con, như ân huệ trân quý. Kịp đến khi mẹ mất, con mới tức tốc bay về, dự định tổ chức tang lễ thật to, cho thiên hạ biết rõ gia đình mình cũng sung túc. Khá giả. Nhưng, tuyệt nhiên chẳng có tiếng khóc cũng chẳng một lời than lời vãn, với nước mắt.

Trước ngày an táng mẹ, con gái mới mở hộp quý mẹ để ở đầu giường xem mẹ đựng gì mà quý giá đến thế. Vừa mở nắp, cô bỗng òa lên khóc nức nở, ôm quan tài mẹ hét lên như điên như dại: "Mẹ đâu rồi! Mẹ ơi! Ôi, Mẹ!..."

Mọi người vội đến xem trong hộp có gì khiến cô khóc gào đến như thế. Thì ra, trong hộp đựng rất nhiều tờ đôla Mỹ còn rất mới, có buộc dây. Cạnh đó, là mẩu giấy nhỏ sắc mầu hoen úa, trên giấy nguệch ngoạc đôi ba giòng chữ nhỏ li ti có dán tấm hình của cô con, khi lọt lòng mẹ. Trong giấy có ghi: "Con à, con gửi cho mẹ nhiều tiền quá, mẹ xài không hết. Mẹ vẫn nhớ con lắm, mỗi khi nghe tiếng xe hông-đa nổ ngoài ngõ, là mẹ chạy ra xem có phải con về không. Lần nào mẹ cũng mừng hụt, vì người đó không phải là con. Con à! Số tiền này, mẹ để dành lại cho con, phòng khi đau ốm con cứ lấy mà xài. Ký tên: Mẹ của con. Má Năm"

Và bên dưới câu truyện kể ở trên, cũng lại có lời bàn rất “Mao Tôn Cương” của người kể, ghi rằng: “Cô con gái trong truyện đã có tất cả những gì mà người phụ nữ có thể có, đó là: tiền tài, danh vọng, địa vị, chồng con ngoan hiền, và sự thành đạt. Nhưng cô lại đã để mất đi một điều vô cùng thiêng liêng quý giá, đó là: lòng cảm kích biết ơn, người mẹ hiền. Kịp đến khi nhận ra được điều ấy, thì mẹ già không còn nữa, mà cảm tạ.”

Cảm ơn hay cảm tạ, về ân huệ có từ người đời, và do người đời ban tặng, là như thế. Rất gọn nhẹ. Như, tình mẹ vẫn cho con. Thế mới quý. Chứ, những đồng tiền giấy người con gửi cho mẹ, làm sao mẹ xài cho hết. Ân huệ nơi nhà Đạo, cũng là những ân và huệ, do Chúa ban. Được mấy ai trong nhà Đạo, nay cảm kích. Có vị, lại không coi đó là huệ lộc/ân tình, từ Đức Chúa. Có vị, cứ tuởng mọi việc do mình tạo ra. Nhiều vị thực tâm hơn, vẫn chẳng biết thế nào là ơn mưa móc trời ban, nên có thư về với đấng bậc ở Sydney, để rồi hỏi:

“Thưa Cha, có thể nào xin Cha giải thích cho biết có gì khác biệt giữa hoa quả và quà cáp Chúa Thánh Thần ban tặng được không. Điều này con nghe nhiều người nói, rất thao thức, nhưng chưa hiểu.” (Một giáo dân ở Sydney)

Nghe nói nhiều và thao thức không thiếu, nhưng chưa hiểu, thì làm sao biết đường mà cảm kích. Với biết ơn. Nay, hiểu tâm trạng của phần đông bà con đi Đạo, nên đấng bậc ở Sydney đã có đôi lời giải thích với trích dẫn, như sau:

“Quả như ngôn từ diễn tả nơi câu hỏi, hai chữ hoa quả và quà tặng từ Chúa Thánh Thần, mang ý nghĩa rất khác. Quà tặng, theo giải thích ghi trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo là “những bố trí sắp đặt cách thường xuyên khiến người người chịu nghe theo lực đẩy của Thánh Thần.” (x. GLHTCG #1830).

Bằng vào cụm từ “bố trí sắp đặt cách thường xuyên”, Hội thánh muốn nói đến thói quen đã ổn định nơi linh hồn. Quà tặng lần đầu ta nhận lĩnh là vào lúc thanh tẩy, được củng cố thêm bằng Bí tích Thêm sức và ta chỉ mất đi khi lầm lỡ rất nặng, mà thôi.

Hội thánh rút tỉa ý nghĩa của lời dạy về quà tặng, từ sách tiên tri Ysaya, trong đó nói đến Thần Khí Yavê đậu xuống nơi Đức Mêsia: “Trên Ngài, Thần Khí Yavê sẽ đậu xuống, Thần Khí khôn ngoan và trí tuệ, Thần Khí mưu lược và anh dũng, Thần Khí hiểu biết và kính sợ Yavê.” (Is 11: 2).

Theo truyền thống, Hội thánh vẫn dạy rằng: Thần Khí Chúa ban cho ta tất cả bẩy quà tặng, đó là: ơn khôn ngoan, hiểu biết, kiến thức, mưu lược, lòng dũng cảm và sự sốt sắng, kính sợ Chúa. Chỉ mỗi sự sốt sắng là không thấy nói trong sách tiên tri Ysaya, thôi.

Ngang qua quà tặng của Thần Khí Chúa, ta trở nên dễ theo lực đẩy của Chúa ở mỗi địa hạt của quà tặng Ngài ban. Khi thấm nhuần đặc trưng ấy rồi, chính chúng ta sẽ có động thái mang cung cách của đặc trưng ấy. Trường hợp quà tặng của Thần Khí Chúa, có sự trợ giúp của đặc trưng, thì chính Thần Khí sẽ xui khiến thúc giục ta hành động theo cách thường tình là vuợt khả năng của riêng mình.

Quà tặng này, được nhiều người ví von như cánh buồm lướt gió giúp thuyền vượt sóng bằng gió nguồn của Thần Khí, trong khi đó các đặc tính được sánh ví như mái chèo được các tay chèo sử dụng. Các quà tặng liên kết với 7 đặc trưng rất nhuần nhuyễn được kể đến, là: niềm tin, hy vọng, tình bác ái, khôn ngoan, công bằng, lòng dũng cảm và sự kềm chế. Xem thế thì, quà tặng khôn ngoan khiến ta hiểu biết và ưa thích sự việc Chúa ban, để rồi gia tăng lòng yêu mến ta vẫn có, với Ngài.

Quà tặng tạo kiến thức giúp ta thấm nhập sâu sắc vào với sự thật của niềm tin và thấy được sự hài hoà ở trong đó và cũng nhờ đó gia tăng thêm niềm tin của ta. Quà tặng về kiến thức giúp ta am hiểu mọi thụ tạo trong tương quan với Đấng Tạo Hoá, củng cố đặc trưng hy vọng, bằng vào việc cho thấy sự trống vắng các vật được tạo dựng, khiến ta khao khát Chúa, hơn mọi sự.

Quà tặng mưu lược là để suy tôn tính khôn ngoan, hầu giúp ta phân biệt những gì cần làm trong mỗi hoàn cảnh; cả trong cuộc sống của riêng ta, và cả vào việc mưu sự cho người khác nữa.

Quà tặng tạo sự dũng mãnh hoàn-thiện-hoá uy lực, giúp ta làm được những gì mang tính anh hùng đích thực mỗi khi cần đến, ngay cả khi ta chấp nhận chết cho Đạo.

Quà tặng tạo sự sốt mến hoàn-thiện-hoá, đặc trưng của tôn giáo, là thành phần của sự công bằng, khả dĩ giúp ta nhận biết Chúa là Cha khiến ta biết mà phụng thờ yêu mến Ngài.

Và cuối cùng, quà tặng để biết mà kính sợ Chúa giúp ta hoàn-thiện-hoá đặc tính biết tự kềm chế, khiến ta lo sợ mất đi lòng mến Chúa vì dám đeo đuổi những vui thú không xứng hợp. Đây không là niềm hãi sợ hạ cấp của giới nô lệ ở dưới, vẫn cứ sợ bị trừng phạt, cho bằng niềm cung kính biết sợ của con cái vẫn cứ lo và sợ xúc phạm người cha của mình; và, sợ mất đi tình yêu thương của người cha/bố. Kinh nghiệm về sức mạnh của quà tặng như thế, ta đều từng trải, vào lúc khác nhau. Chẳng hạn như, ngang qua quà tặng kiến thức, có thể là ta sẽ bất chợt có được nhận thức ấy qua nguyện cầu đi vào sự thật của niềm tin, mà ta chưa từng nghe biết, trước đó. Hoặc quà tặng mưu lược trong khuyên nhủ, có thể ta cũng nghĩ đến một biện chứng khả dĩ đã thuyết phục bạn bè/người thân quay về với bí tích hoà giải, chẳng hạn. Nói chung, tất cả đều là quà tặng của Thần Khí, rất quí báu.”

Về tâm tình cảm nhận quà tặng từ Trên, cũng nên lắng nghe thêm một chút ý nghĩa nơi ca từ của nhạc bản, khi người nghệ sĩ vẫn cảm kích lúc em cười, đã lại hát:

Bâng khuâng lúc em cười

Kìa hàng cây ngẩn ngơ

sáng trăng xanh khung trời

dặt dìu nhạc với thơ.

(Phạm Đình Chương – bđd)

Hoặc, cả vào khi không thấy lòng bâng khuâng “lúc em cười”, người nghệ sĩ còn hát thêm:

“Nhưng không thấy em lại

hàng thùy dương chếch bóng

và lũ hoa thầm khép hương chờ mong.”

(Phạm Đình Chương – bđd)

Lũ hoa thầm khép hương”, hay “hàng thuỳ dương chếch bóng”, là lúc người anh/người chị của ta cũng nhận ra “hoa quả đầu mùa” từ Trên ban tặng. Nhận thức này, là ý thức về một hiểu biết như đấng vị vọng thân quen của ta, đà quả quyết:

“Về hoa quả do Thần Khí tác tạo, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có nói: “Đó là sự toàn năng toàn hảo được Chúa Thánh Thần tạo thành trong ta, như hoa quả đầu mùa của vinh quang trường cửu.(GLHTCG # 1832)

Thánh Phaolô cũng liệt kê như thế như một tương phản giữa hoa quả của cuộc sống theo tính xác thịt, với thành quả của sự sống có Thánh Thần Chúa dẫn dắt.

Truyền thống Hội thánh lâu nay nhấn mạnh rằng 12 loại hoa trái ấy, là: lòng bác ái, niềm vui tươi, sự an bình, tính nhẫn nhục, sự tử tế, tốt lành, đại độ, hoà nhã, lòng trung thực, tính khiêm tốn, sự tự chế và lòng khiết trinh.” (x. Gal 5: 22-23)

Nếu ta biết sống đàng hoàng luôn nghe theo sự thôi thúc của Thánh Thần Chúa, thì chắc chắn mọi hoa quả sẽ đến với ta, rất tự nhiên. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo gọi hoa quả ấy là vị ngọt của thiên đường, tức ‘hoa quả đầu mùa của vinh quang trường cửu.(x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 12/9/2011, tr. 12)

Về “hoa quả đầu mùa” mà Thần Khí Chúa vẫn ban cho mọi người, đấng bậc vị vọng cũng đã nhận được ơn khôn ngoan/thông thái, nên mới giải thích rõ như thế. Phần người đọc, chắc hẳn người người cũng cần ân huệ của Ngài mới đả thông được mọi ý nghĩa chí lý của sự việc.

Ân và huệ để thông hiểu mọi ý nghĩa nơi “hoa quả đầu mùa” do Thần Khí Chúa tặng ban, Ngài đã ban cho ta ngay từ “Thuở ban đầu”, rất đẹp. Đẹp như tiếng hát, nghệ sĩ vẫn ca đi hát lại một giai điệu:

Sao không thấy em lại

Hàng dừa nghiêng thương nhớ

Này khúc ân tình biết đưa về đâu.”

(Phạm Đình Chương – bđd)

Cuối cùng ra, tất cả là “khúc ân tình” ta nhận từ nhiều phía, rất cảm kích. Biết ơn. Chính vì có ân tình, nên vẫn cần sự cảm kích, biết ơn. Biết, cả ơn từ những người đóng vai chuyển tải những ơn và huệ từ Đức Chúa. Như ý nghĩa của truyện kể được minh hoạ ở bên dưới:

“Truyện rằng:

“Có hai thiên sứ Nhà Trời được sai xuống trần gian, thực hiện một khảo sát rất ngắn gọn để xem loài người sống ở hành tinh có tên gọi là “mặt đất” lâu nay hành xử ra sao, trong quan hệ với Chúa. Để thực hiện công cuộc khảo sát theo cung cách của người trần, mỗi thiên sứ mang một bao bị đặc biệt hầu đựng dữ kiện của khảo sát. Cụ thể là, một thiên sứ mang bao bị đựng toàn những lời khấn nài xin xỏ, của người phàm. Thiên sứ kia, mang bao bị cũng ngang bằng một tầm kích. Nhưng, đựng toàn lời cảm kích/biết ơn, thôi.

Hoàn tất khảo sát rất tốt đẹp, hai thiên sứ quay về Thiên Đình báo cáo với Đức Chúa của Nhà Trời, về những gì mình đạt được. Đức Chúa nhìn thiên sứ mang bao bị đựng “những lời xin” thấy vị này cứ là khệ nệ những mang cùng xách, rất vất vả. Trong khi đó, bao bị của thiên sứ kia, chẳng có được là bao những dữ kiện cảm tạ, và biết ơn. Hỏi ra mới biết, người đời chỉ xin nhiều chứ ít biết mà cảm tạ, Chúa Thánh Thần.”

Truyện kể chỉ bấy nhiêu. Cũng không dài. Chẳng lòng thòng, miêu dạng. Tuy nhiên, ở đây, hôm nay cũng nên đính kèm lời bàn của người kể, bảo rằng: “Trong sống đời ở trái đất, rất hành tinh, người người đều nhận lãnh ân huệ, ngang bằng nhau. Nhưng, chừng như ai cũng muốn “xin thêm”, chứ nào có mấy người thấy đó làm đủ, và biết nói lời cảm kích/ biết ơn người tặng ban.”

Lời cuối chuyện phiếm hôm nay, phải là lời cảm nhận để nói rằng: bạn bè/người thân đọc đến đây chắc đã đủ? Chẳng ai muốn có thêm một lời bàn nào khác? Nếu thế, bần đạo xin kết thúc bài phiếm hôm nay bằng lời ngỏ rất “biết ơn” bạn và tôi, đã dõi theo giòng chảy có những “đoản khúc suy tư”, thực hư đều rất phiếm. Những mong rằng, cả tôi và bạn, ta sẽ cứ thế mà biến hoa quả đầu mùa mà Chúa Thánh Thần. Cứ thăng hoa, triển nở mãi, với mọi người. Để rồi tìm đến Lời Chúa mà nghĩ suy thêm, như sau:

Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em,

về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su.5

Quả vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su,

anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện,

phong phú vì được nghe lời Chúa

và hiểu biết mầu nhiệm của Người.

Thật thế, lời chứng về Đức Kitô đã ăn sâu vững chắc

vào lòng trí anh em,

khiến anh chị em không thiếu một ân huệ nào,

trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô,

Chúa chúng ta,

mặc khải vinh quang của Người.”

(1Cor 4-7)

Nói cho cùng, thì ơn Người và ơn đời, vẫn là việc của tôi và của bạn, vẫn cần làm thường ngày ở huyện đời. Nhà Đạo. Rất dễ thương.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn muốn chuyển

đôi ba tư tưởng mọn

đến bạn bè/người thân

nhân lễ Ngũ Tuần.

Ở đời.

Saturday, 28 May 2011

“Rồi đây một mai lối xưa tôi về”

Kể chuyện buồn vui hai đứa mình nghe.

Một gian nhà tranh giấc mơ đềm êm lắng nghe tiếng nhịp con tim, hai người gọi chung một tên…”

(Minh Kỳ/Hoài Linh – Nếu Một Mai Anh Biệt Kinh Kỳ)

(Cv 1: 8-9 )

Thời buổi này, làm gì còn có giấc mơ xưa, những là “một gian nhà tranh giấc mơ đềm êm”, “lắng nghe tiếng nhịp con tim” để rồi ta cứ ngồi đó mà “kể chuyện buồn vui”, “hai đứa mình nghe”, thôi. Quả thế! Một đứa nghe thôi, cũng đã chết. Huống hồ là, những hai người đều nghe thì làm sao nuốt nổi những tư tưởng rất “tưng bừng”, nhiều sáng kiến. Vâng. Đây, chỉ là những giấc mơ lờ mờ, một giấc mộng rất “xưa rồi Diễm”, của “Diểm Xưa”, mà người anh “biệt kinh kỳ”, đã rồi đây “một mai”, hay mai một, đến như thế?

Ngay cả cụm từ “biệt kinh kỳ” do hai tác giả Minh Kỳ và Hoài Linh sáng chế, tuổi trẻ hôm nay làm sao hiểu nổi, nếu không tra cứu thêm từ điển? “Kinh kỳ” đây, dù người em ở lại dù có hiểu rõ đi nũa, cũng đâu là những kỳ đọc kinh/ngắm kệ hay kể lể về những gì kỳ lạ, của vị kinh sư, rất khiếp kinh ở Israel vào thời ấy. Cũng chẳng là bài thuyết pháp/giảng giải ở nhà thờ về các chi tiết liên quan đến người đời, sống cuộc đời người, ở đâu đó.

Biệt kinh kỳ”, hay còn là giã biệt kinh đô rất lạ kỳ, chỉ là lời nhắn gửi người anh/người chị thân thương trước khi anh/chị về chốn hoàng hôn chốn lính trận, tìm “tình nào hơn nước non”, thời đó thôi. Kinh kỳ hôm nay, đâu ai chịu giã biệt, lại cứ ùn ùn kéo về thủ đô nước Việt ở phiá Nam, để dân số hôm nay lên những hai chân số, hơn 10 triệu!

Với người đời, “kinh kỳ” (hay còn gọi là “cố đô”) của tâm hồn đã giã biệt, lại là những tính chất “cá biệt” trong nếp sống xưa, cần khai tỏ. “Kinh kỳ” ấy, “cố đô” này, vẫn có thể là như ý nghĩa của truyện kể rất nhẹ nhàng, ở bên dưới:

“Chuyện kể rằng,

có vị vua nọ ngày đêm lo lắng về sự an nguy cho vương quốc mình về những kho báu cũng như ngai vàng của mình, nên nhà vua không còn thấy bình an trong cuộc sống. Ông lại nghi ngờ các vị quan/dân các cấp. Và, tương lai trở thành nỗi hãi sợ, ám ảnh ông.

Từ cung điện cao sang nhìn xuống lớp dân đen/nghèo hèn ồm yếu nhưng hạnh phúc, nhà vua thấy mình thèm được như họ. Thấy nơi họ, toát lên nỗi đơn sơ, chân chất, không lo lắng điều gì về tương lai, mai ngày. Vốn dĩ luôn thắc mắc, với nghi ngờ, nên vua tò mò quyết cải trang thành người hành khất để tìm hiểu xem do đâu mà lớp dân nghèo của nước mình lại bình an, không lo lắng đến tương lai.

Một ngày kia, vua giả dạng người ăn mày gõ cửa nhà một người nghèo để xin ăn. Người nghèo mời ăn mày vào nhà và cùng sẻ san ổ bánh mì với thái độ hân hoan, rất yêu đời. Vua hỏi:

-Điều gì làm ông sung sướng đến như vậy?”

Người nghèo đáp:

-Tôi hân hoan sung sướng vì có được một ngày đẹp. Tôi sửa giày chữa dép chỉ cần kiếm đủ tiền mua ổ bánh cho buổi cơm tối nay, thế là đủ.

Vua hỏi tiếp:

-Thế, chuyện gì xảy đến, nếu mai ngày ông không kiếm đủ tiền mua bánh thì sao?

-Tôi có niềm tin vào mọi ngày. Ngày qua ngày, mọi chuyện cũng sẽ tốt đẹp thôi.

Sau khi ra về, vua muốn thử lại niềm tin của người thợ giày, hôm ấy, bèn ra lệnh cấm tất cả mọi người sửa giày dép không được hành nghề này trong vương quốc của ông nữa. Thoạt khi biết rằng nghề của mình bị cấm đoán, người thợ giày bèn nhủ thầm: “Ngày qua ngày, rồi ra thì mọi chuyện cũng sẽ tốt đẹp thôi”. Lập tức, ông thấy có vài phụ nữ gánh nước ra chợ để tưới rau bán, ông bèn xin được làm chân gánh nước thuê cho họ. Và hôm đó, ông kiếm đủ tiền để mua bánh mì cho buổi tối, thế cũng xong. Tối về, vua ông lại giả dạng người hành khất lại đến thăm người gánh nước nghèo. Gặp vua-giả-dạng-làm-hành khất, người nghèo gánh nước vẫn giữ thái độ ung dung, thư thái với ổ bánh mì đạm bạc, đang nhai, kể lại chuyện gánh nước mướn hôm ấy.

Một lần nữa, để thử thách niềm tin của người nghèo gánh nước mướn, vua lại ra lệnh cấm không ai được phép hành nghề gánh nước mướn trong vương quốc của mình, nữa. Và cứ thế, người nghèo nói trên thay đổi rất nhiều nghề, rất khác biệt. Nhưng, ở nơi ông, vẫn luôn có sự bình an và tin tưởng vào triết lý sống “ngày qua ngày” của mình. Còn vua, vẫn không thể nào hiểu được làm sao người nghèo nước ông lại có được sự bình an và niềm tin chân chất, giản đơn đến thế. Rồi cứ thế, mỗi lần bị cấm hành nghề, người nghèo kia lại cứ thản nhiên tin rằng, “Ngày qua ngày, mọi chuyện rồi ra cũng tốt đẹp, thôi.”

Quá tò mò trước triết lý sống giản dị của người dân nghèo hèn, vua lại ra lệnh cho các quan văn võ trong nước sắp xếp sao để buộc tất cả mọi người nghèo trong nước phải trở thành lính kiểng trông nom canh gác cho cung điện của mình. Thật tội nghiệp cho người nghèo kia, từ nay không được lãnh lương tiền hằng ngày để mua bánh mì mà sống, phải đợi đến cuối tháng mới có. Tính sao đây? Dù vậy, anh ta cũng lại tìm ra cách thức bán gươm đao do trên cấp phát, để có tiền mua bánh mì cho nguyên cả tháng.

Tối về nhà, thế là anh ta lại có bánh mì để ăn, nên vẫn hạnh phúc với triết lý sống “ngày qua ngày, mọi việc rồi cũng tốt thôi.” Vua nghe thế, lại giả dạng dân thường, đến thăm ông và hỏi:

-Lâu nay, ông làm nghề gì để kiếm tiền mua bánh ăn độ nhật, thế?

-Tôi, nay được cất nhắc làm lính hầu ở dinh vua, cũng thấy sướng. Có dư tiền độ nhật.

Rồi, anh đơn sơ kể thật chuyện làm lính hầu ở dinh vua, chỉ lãnh lương lương tiền vào cuối tháng mà thôi, nên đã bán gươm thật đi, đổi lại, anh lấy tiền mua đủ bánh mì cho nguyên một tháng. Để rồi đến ngày lãnh lương, anh sẽ chuộc lại chiếc gươm thật và như thế, có thể tiếp tục được cuộc sống “ngày qua ngày”, tuy đạm, bạc, nhưng rồi cuộc sống cũng tốt đẹp cả thôi”. Không bon chen, giựt giành với người khác. Vua lại hỏi:

-Không có gươm thật, làm sao canh giữ được dinh thự của vua quan?

Anh bèn bật mí cho khách biết:

-Hiện thời, chiếc gươm tôi sử dụng chỉ là gươm giả bằng gỗ, cũng không sao.

Vua hỏi tiếp:

-Nhưng nếu anh bị cấp trên bắt buộc phải rút gươm thật cho họ xem xét thì sao?

-Ngày qua ngày, mọi chuyện rồi cũng tốt đẹp cả thôi.

Quả là, hôm sau người ta bắt được một tên trộm khét tiếng cấp trên quyết định xử chém. Vua quan yêu cầu người nghèo được tuyển làm lính canh kia phải ra tay thực hiện vai trò của tên đồ tể chém đầu tay ăn trộm. Bởi lẽ, vua thừa biết: với chiếc gươm bằng gỗ, người-nghèo-được-làm-lính kia dẫu có ba đầu sáu tay, cũng không thể tuân được lệnh vua ban. Và như thế, xem niềm tin vào triết lý sống “ngày qua ngày, mọi sự rồi ra cũng tốt đẹp cả thôi,” của anh sẽ ra sao. Khi tên tử tội vừa quì mọp dưới chân anh lính nghèo thống thiết nài van anh tha mạng, vì y ta còn vợ còn con nhỏ, phải nuôi dưỡng. Anh lính nghèo nhìn đám đông xung quanh một hồi, rồi hô lớn:

-Lạy Đấng Tối Cao, nếu người này có tội thực, thì xin cho con được phép thi hành lệnh của vua quan ban. Nếu anh vô tội, xin Ngài biến gươm này thành gươm gỗ, để cứu hắn.

Ngay tức thì, anh rút gươm ra chém đầu tên tử tội. Nhưng vì chiếc gươm anh cầm chỉ là gươm gỗ nên tên tử tội không bị giết. Đám đông chứng kiến sự thật như trên, bèn la lên: “Phéo lạ! Quả, đây là phép lạ!” Và, trước cảnh tượng hỡi ôi là như thế, vua bèn truyền lệnh tha cho tên trộm khỏi chết, đồng thời tiến đến người lính nghèo thú thật:

-Trẫm đây, là người giả làm hành khất cứ đêm đêm tới hỏi chuyện ngươi. Từ nay, trẫm muốn anh là bạn và là quân sư cho trẫm.”

Truyện kể rất nhẹ nhàng. Đơn giản. Hơi mang chút ít tích cổ. Nhưng trong phiếm luận đường dài rất lai rai, thì cổ hay tân không là điều quan trọng. Quan trọng là lời bàn của người kể, hôm nay lại dẫn đưa một lời bàn về triết lý của cuộc sống “Ngày qua ngày” có lời lẽ như sau: cuộc sống chỉ quan trọng nhất thời hiện tại. Dù có cả quá khứ lẫn tương lai. Triết lý của thanh niên nghèo kia, là triết lý thực đặt giá trị thực tiễn lên trên tiền bạc, danh chức, sắc dục và quyền lực. Cứ cho đi người đời chỉ quí trọng giàu sang, quyền thế đến thế nào đi nữa, nếu người người hôm nay không sống chân phương/trung thực, thì chẳng thể nào cảm nhận được giá trị của chính cuộc sống ấy. Nếu người người không sống giây phút hiện tại, thì cuộc đời mình cũng chỉ là chuỗi ngày tìm bắt cái bóng hình của “bình an, hạnh phúc”, rất vô vọng.

Hiểu như thế, thì “kinh kỳ” của người đời, chừng như vẫn còn mang tính không gian và thời gian, để lưu luyến. Chẳng thế mà, người đời cứ theo chân nghệ sĩ vẫn hát lời ca thẫn thờ, rất luyến nhớ, rằng:

“Tám hướng bốn phương trời mây

thôi nhé anh đi từ đây

Kỷ niệm nào không có vui hay buồn

chiều nào không có hoàng hôn

tình nào hơn nước non…”

(Minh Kỳ/Hoài Linh – bđd)

Với nhà Đạo, “kinh kỳ” mà Thầy Chi Ái giã biệt, không phải là chốn miền xảy đến ở không gian có thương đau. Xao xuyến, Có nỗi niềm đầy luyến lưu. Rõ ràng tình huống “kinh kỳ” Thầy giã biệt, là thế này:

“Nói xong,

Người được cất lên ngay trước mắt các ông,

và có đám mây quyện lấy Người,

khiến các ông không còn thấy Người nữa.”

(Cv 1: 9)

Xem như thế, “kinh kỳ” Thầy giã biệt, không là không gian hay thời gian của trần thế, mà là trạng huống qua đó Thầy có rời-nhưng-không-bỏ. Thầy về với Cha, nhưng không quên nhắn nhủ dân con ở lại, bằng những Lời đầy xác quyết:

“Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần

khi Người ngự xuống trên anh em.

Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy

tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri

và cho đến tận cùng trái đất."

(Cv 1: 8)

Xem như thế, thì “kinh kỳ” Thầy giã biệt, là tình huống có sức mạnh của Thánh Thần Chúa ở với dân con, để mọi người rồi sẽ làm nên tất cả. Sẽ, sống hạnh phúc rất đích thực. Không chỉ như quan niệm của thanh niên nghèo hèn vẫn cứ sống “ngày qua ngày”, chẳng lo gì quá khứ lẫn vị lai. Nhưng, tất cả sẽ là nét đặc trưng của cộng đoàn Nước Trời, luôn trông cậy vào Thánh Thần Chúa, đến với mình.

Có thể, có người sẽ ngược giòng lịch sử rồi cho rằng Hội thánh thời tiên khởi cũng hoang mang khi Thầy Chí Thánh về với Cha. Rất có thể, lúc đầu chỉ là những tình cảm sướt mướt, khi không thấy Thầy ở cạnh nữa. Nhưng tình cảm uỷ mị ấy đã được cất đi, để nhường cho những quyết tâm được Thầy dặn dò, một chúc thư:

“Đức Giê-su đến gần, nói với các ông:

"Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,

làm phép rửa cho họ nhân danh

Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần,

dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.

Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế."

(Mt 28: 19-20)

Đồ đệ Chúa hôm nay, trong nhiều hoàn cảnh thực tế, hẳn sẽ có vị còn duy trì thái độ ủy mị, khi Chúa “được cất về trời”. Nhưng, cũng có nhiều vị vẫn hiên ngang nhớ lời Thầy dặn dò, để mà sống. Sống oai hung, chỉ biết và nhớ những điều ấy. Mặc cho ai có phê bình chỉ trích mình là người sao, cũng vẫn mặc.

Người đời hôm nay, cũng thế. Có người, cũng liên tưởng đến buổi “Biệt kinh kỳ” của Chúa, để rồi, lúc này hay lúc khác, quyết thực hiện điều Chúa dặn dò bằng phương cách này khác, như giùm giúp cả người dưng khách lạ, dù chỉ một ý kiến nhỏ nhoi, dù cho người đời có coi mình chẳng ra gì, như truyện kể để minh hoạ ở bên dưới:

“Một anh tài xế xe tải làm công việc thường ngày giao hàng cho một bệnh viện tâm thần, đang đậu xe bên cạnh một ống cống nước.

Lúc chuẩn bị rời bệnh viện, anh nhận thấy có một bánh xe bị xì hơi. Anh kích chiếc xe tải lên và tháo bánh xe xì hơi để thay vào đó một bánh xe dự phòng. Lúc sắp sửa gắn bánh xe mới vào, đột nhiên anh làm rơi cả bốn chiếc bù lon xuống ống cống nước. Anh không thể nào vớt những chiếc bù lon ra khỏi ống cống được, và bắt đầu hoảng lên vì không biết phải làm gì. Ngay lúc đó, một bệnh nhân đi ngang qua và hỏi anh tài xế tại sao trông anh có vẻ hốt hoảng như vậy. Người tài xế tự nghĩ, bởi vì mình mà còn không làm được huống gì cái gả điên này, nên để gã ta đi cho khuất mắt, người tài xế xe tải nói sơ qua tình hình và đưa một cái nhìn thất vọng. Người bệnh nhân cười anh tài xế và nói:

-Chỉ mỗi cái việc đơn giản như vậy mà anh còn không cách nào làm được. Không lạ gì anh sinh ra chỉ còn cái nghề tài xế xe tải để sống". Người tài xế lấy làm ngạc nhiên khi nghe lời nhận xét như vậy từ một gã tâm thần. "Đây là cái anh có thể làm", gã tâm thần nói.."tháo một cái bù lon từ mỗi trong ba bánh xe kia và gắn vô cái bánh xe này. Rồi lái xe xuống cửa tiệm gần nhất và thay những cái bù lon còn thiếu vô. Đơn giản quá phải không anh bạn?"

Người tài xế quá cảm kích với lối giải quyết nhanh chóng này liền hỏi người bệnh:

-Anh giỏi và thông minh như vậy sao lại có mặt ở bệnh viện tâm thần này thế?

Người bệnh trả lời:

"Anh bạn ạ! Tôi ở đây bởi vì tôi khùng chứ không phải tôi ngu"…

Quả là, trong cuộc sống đời thường, người nhà Đạo đôi khi cũng bị cho là điên khùng điên khi vẫn hiên ngang sống thực hiện điều Thầy dặn dò, trước khi Ngài “biệt kinh kỳ”, khỏi trần thế. Hôm nay, có lẽ cũng nên liên tưởng đến lời của người khùng nhưng không ngu ở bệnh viện tâm thần, khi anh dám giùm giúp người dưng khách lạ, đang gặp nạn.

Có bị coi là khùng hay điên vì tin vào Lời Thầy sống đúng mực, hẳn bạn và tôi ta đừng sợ. Chí ít, là nỗi sợ bị người người chê bai này khác. Bởi, Thầy đã xa rời đồ đệ là ta, để ra đi về với Cha. Nhưng, Thầy quyết không bỏ mọi người ở lại, dù chốn khùng điên bệnh tâm thần. Thầy không bỏ, nhưng vẫn giữ Lời dặn dò hôm ấy:

“Và đây,

Thầy ở cùng anh em mọi ngày

cho đến tận thế."

(Mt 28: 20)

Quyết như thế, ta sẽ cùng người nghệ sĩ cứ lan man và vui hát lời ca rất kết hậu, rằng:

“Rồi đây một mai lối xưa tôi về”

Kể chuyện buồn vui hai đứa mình nghe.

Một gian nhà tranh giấc mơ đềm êm lắng nghe tiếng nhịp con tim, hai người gọi chung một tên.”

(Minh Kỳ/Hoài Linh – bđd)

Có Thầy và có Chúa ở cùng rồi, thì không chỉ hai người mà tất cả mọi người sẽ cùng “gọi chung một tên.” Tên ấy hôm nay, bây giờ và mãi mãi sẽ là tên và tuổi của người đồ đệ Chúa, rất Giêsu.

Trần Ngọc Mười Hai

Cứ nhớ mãi Lời Thầy dặn dò

Để có cuộc sống yên vui

An bình

Hạnh phúc.