Monday, 16 May 2011

“Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa”

Như mưa đời phất phơ, chắc ta gần nhau chưa?

(Phạm Duy/Nguyễn Tất Nhiên – Em HIền Như Ma Soeur)

(Mc 6: 3/Mt 27: 56; 28: 1)

Mới chỉ đưa em đi hay dắt em về dưới mưa thôi, mà nhà thơ đã lơ mơ cùng nghệ sĩ lại cứ bảo “nói năng chi cũng thừa”, thế là sao? Phải chăng, vì “cơn mưa đời phất phơ”, vẫn làm em hát mãi câu ca đầy thách thức: “chắc ta gần nhau chưa?”

Sự đời, kể cũng lạ. Lạ, đến hết biết. Và, hết hiểu nổi. Hiểu và biết, tâm hồn người nghệ sĩ cùng thi nhân, vẫn cứ lon ton/đon đả những đưa cùng đón em về dưới mưa, mà lòng thấy chưa gần. Để rồi lại bảo: “Em hiền như‘ma soeur”, giống hệt như: “Anh lành như mon frère”.

Thật ra, khi diễn tả đức tính thùy mị, dịu dàng của “người em” mà tác giả mô tả là “hiền như ma soeur”, thì không chắc đây có là cụm từ chỉ rõ nhân vật ấy là tu sĩ nam/nữ ở Đạo mình hay không! Bởi, bạn và tôi, hẳn ta vẫn nhớ ảnh hình người nữ tu chuyên trách chức giám thị của các trường tiểu học (còn gọi là “soeur surveillante”) với chiếc roi mây hay cây thước dài trong tay cứ đập xuống bàn, thì bầy em thơ có dạn dĩ cách mấy cũng phát khiếp, sẽ không còn cho bà là bậc nữ lưu hiền hoà nữa. Hoạ chăng, tác giả gọi “ma soeur” ở đây, là gọi và nói về người em nhỏ, đã ướt thấm đôi vai “ưu tình”, ở dưới mưa, vừa mới hát:

“Vai em tròn dưới mưa, ướt bao nhiêu cũng vừa

Như ưu tình đã xa, thấm linh hồn em yêu...”

(Phạm Duy/Nguyễn Tất Nhiên – bđd)

Thật ra, thì: khi hát câu “em hiền như ma soeur” là hát và nói về người em nhỏ có hiền hay dữ cũng chẳng thành vấn đề. Vấn đề chỉ thành, khi người ca sĩ lại cứ gào thêm ngôn từ nghe đến sợ, như:

“Em hiền như ‘ma soeur’, vết thương ta bốn mùa

Trái tim ta bệnh hoạn, em yêu này em yêu..

Ta nhờ em ru ta, hãy ru tên vô đạo,

Hãy ru tên khờ khạo, em yêu này em yêu...”

(Phạm Duy/Nguyễn Tất Nhiên – bđd)

Nói làm sao đây, khi người em nhỏ rất ‘ma soeur’ ấy vẫn không hiền như nhà thơ hay nghệ sĩ vẫn nghĩ? Hoặc, giả như người nhà Đạo lại cho rằng chính mình mới đích thực là đấng hiền lành, chân chất, rất đáng yêu, thì thế nào?

Nói thế, tức vấn đề sẽ đi vào ngõ cụt, thật khó rút. Bởi, nếu nhận định như trên, cần phải xét lại hoặc nghiên cứu cho kỹ mới được. Thôi thì, hôm nay, mời bạn và mời tôi, ta đi vào nghiên cứu với sưu tra, xem ý lực nào thực chính đáng. Trước khi đi vào chi tiết, tưởng cũng nên nghe truyện kể nhè nhẹ về bé em ở huyện nhà, đã thổ lộ:

“Sáng hôm ấy, bố mẹ thấy bé Bính tự dưng sách cặp về nhà dõng dạc tuyên bố một câu rất thực về sự thật, rằng:

-Ba me đừng hỏi sao hôm nay con lại quay về nhà, chẳng chịu học. Con có phép có tắc đàng hoàng hẳn hoi đấy!

-Thế cơ đấy, phép tắc là phép gì vậy?

-Dạ, con đã thưa với bà thầy rằng: nhà con vừa có thêm một em bé, ngay tức khắc bà thày bảo là: con có thể về nghỉ để vui niềm vui chung với gia đình mình…

-Ấy, mẹ mình sinh một lúc những hai em sinh đôi cơ! Con có nói với cô như thế không?

-Con có ngu gì đâu bố. Cái đó, con để dành cho tuần tới mới tuyến bố… hì hì.

Sinh đôi hay sinh ba, bé em vẫn là người em nhỏ Chúa tặng ban cho gia đình mình vui. Chả thế mà, hồi còn trẻ nhiều bé em thường vui hát bài ca sinh hoạt có câu thơ rất ư là ồn, rằng: “Càng đông, chúng ta càng vui nhiều. Càng vui nhiều càng thú nhiều. Càng đông, chúng ta càng vui nhiều, càng vui nhiều càng yêu…”

Vâng. Đúng như thế. Càng vui nhiều, ta lại càng yêu. Yêu, như yêu người em nhỏ “hiền như ma soeur”, hay “lành như mon frère” ở Nước Trời nhà Đạo rất tôn kính vẫn có câu Kinh Sách từng xác quyết, về anh/chị hoặc em của Chúa, như sau:

“Ông ấy không phải là bác thợ,

con bà Maria,

và anh em với Giacôbê, Giôsê, Giuđa và Simôn đó ư?

Và, các chị em của ông,

lại không ở giữa ta đây sao? "

(Mc 6: 3)

Được làm anh chị em của Đức Giêsu ở Nước Trời, hẳn đó phải là ân huệ từ trời ban cho mới được. Ân huệ ấy, nhà Đạo mình đều cảm nghiệm một cách thân thương. Bởi, có cảm nghiệm rất thân và rất thương như thế, nên các người anh/người chị trong cộng đoàn Hội thánh, đôi lúc cũng có những ưu tư nhè nhẹ, khá thắc mắc. Ưu tư, là ưu phiền tạo tâm tư sầu lắng như câu hát, ở dưới:

“Em mang hồn vô tội, đeo thánh giá huy hoàng

Còn ta nhiều sám hối mà sao vẫn hoang đàng..

Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa

Đưa em về dưới mưa, có nhau mà như xa...”

(Phạm Duy/Nguyễn Tất Nhiên – bđd)

Ưu tư của nghệ sĩ/thi nhân ngoài Đạo khi xưa có thể là như thế. Tức, “có nhau mà như xa”. Còn ở đây, thắc mắc của bà con thành viên Hội thánh ở Nước Trời, lại khác hẳn. Khác, như lời hỏi han với han hỏi, lâu nay rày vẫn thấy:

“Mới đây, con có xem một cuốn phim tài liệu trên truyền hình thấy người thuyết minh đã nói như đinh đóng cột, về chuyện Đạo bảo rằng: Mẹ Maria có đến 5 người con. Đọc Kinh thánh, con thấy thánh Mác-cô cũng nói đến “anh em/chị em của Chúa Giêsu”. Không hiểu sao mấy người đi Đạo bạn con, lại vẫn bảo: Chúa Giêsu là Con Duy Nhất của Đức Mẹ. Trường hợp này, Cha giải thích sao đây? (Người hỏi là cư dân ở Sydney, lại vẫn không ghi tên mình)

Ghi hay không ghi tên tuổi ở thư từ, cũng chẳng thành chuyện. Bởi, hễ cứ hỏi là sẽ được đấng bậc phụ trách mục hỏi/đáp sẽ có lời giải mã. Và, đấng bậc giải mã hôm nay sẵn sàng đáp trả bất cứ lời nào có liên quan đến thần học Kinh thánh, như sau:

“Như anh/chị nói đó, trong Tân Ước cũng có một vài đoạn nói về các người anh hoặc chị em của Đức Giêsu, hoặc chỉ đơn giản nói về anh/em hoặc “các anh em của Chúa”. Nay, ta hãy xem xét về chuyện này, để không bị kết tội là nhắm mắt mà làm ngơ, không cứu xét.

Thánh Mátthêu kể lại rằng khi Đức Giêsu đang giảng dạy tại Hội đường “ở xứ sở” của Ngài, thì dân chúng nói: “Ông không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Ma-ri-a; anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Si-môn và Giu-đa sao? Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông ta được như thế?" (Mt 13: 55; Mc 6: 3; Mc 6: 1-3)

Rõ ràng, là: điều mà dân chúng nói đến không hẳn chỉ là anh em hoặc chị em của Đức Giêsu theo nghĩa rộng trong đó kể cả các tông đồ cũng được coi là anh em của Ngài, nhưng đúng hơn chính là bà con thân thuộc theo đúng nghĩa.

Về sau, khi doãn lại cảnh trí diễn ra trên thập giá, thánh Matthêu nói có nhiều phụ nữ có mặt ở đó, trong số này có “bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê và Giô-xếp, và bà mẹ các con ông Dê-bê-đê.” (Mt 27: 56). Như thế, rõ ràng điều này có nghĩa là thánh Giacôbê, Josê không phải là anh em của Đức Giêsu, đúng hơn là con của nữ phụ khác có tên là Maria.

Thánh Gioan tiếp thêm chút ánh sáng cho vấn đề này. Mô tả cảnh trí nơi thập giá có Chúa, thánh sử viết: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala.” (Ga 19: 25)

Rất có thể là bà Maria này, vợ ông Clôpát, cũng vẫn là bà Maria, Mẹ của thánh Giacôbê và Jôsê. Như thánh sử Gioan có nói: Bà là chị của Mẹ Maria, thân mẫu của Chúa.

Điều này chứng minh tại sao thánh Giacôbê và Jôsê được biết là “anh/em” hoặc “các anh em” của Đức Giêsu. Như thế, các ngài là anh/em họ hoặc ít ra cũng là bà con gần nhất với Đức Chúa.

Bản dịch tiếng Anh qui về thánh Giacôbê và Jôsê là “anh/em” đúng hơn là “các anh em”. Xem thế thì đã rõ, đoạn Kinh thánh đây cho biết các vị này không phải là anh/em cho bằng là họ hàng gần với Đức Giêsu, thôi. Và, cụm từ “Các anh em” đã được Văn Bản Chuẩn Mực của Ấn Phẩm Công Giáo có Sửa Sang đã sử dụng là bản văn chính xác.

Cùng một ý hướng như thế, cụm từ “chị/em” được dùng để chỉ về bà Maria, vợ của Clôpát, trong quan hệ với Đức Mẹ không thể coi là chị/em ruột nhưng chỉ là người chị hoặc em theo nghĩa rộng của người bà con hoặc họ hàng rất gần, thôi.

Xem như thế, thì thánh Giacôbê và Jôsê không thể là anh em họ với Đức Giêsu cho bằng là bà con họ hàng thuộc nhánh nào đó. Cũng như khi thánh sử Mátthêu nói đến ông Simôn và Giuđa là các anh em của Đức Giêsu, phải hiểu rằng có thể các ngài là bà con họ hàng với Chúa, thôi. Cũng như thế, khi Tân Ước qui chiếu nói về các người “chị/em” của Đức Giêsu, người đọc phải hiểu các vị này theo nghĩa như thế.

Để tóm kết, cũng nên qui chiếu sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cũng có viết: “Hội thánh luôn hiểu rằng các đoạn sách thánh đây không dẫn về những người con nào khác của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Thật ra, thì thánh Giacôbê và Jôsê , “anh/em của Đức Giêsu” là con của bà Maria khác, cũng là đồ đệ theo Chúa, mà thánh Mátthêu nói rõ: “Và, một bà khác cũng tên là Maria” (x. Mt: 27: 56; 28: 1). Tức các bà là họ hàng rất gần với Đức Giêsu, hiểu theo nghĩa của Cựu Ước .” (x. Sáng Thế Ký 13: 8; 14: 16; GLHTCG #500)

Ngoài các văn bản Kinh thánh như ta vừa xem xét, lý do rất vững chãi cho thấy tại sao Hội thánh lại dạy con dân mình rằng Đức Giêsu không có anh/em hoặc chị/em là lấy từ Thánh Truyền mà ra.

Ngay từ đầu, Hội thánh luôn tin tưởng và dạy dỗ con dân mình rằng Đức Maria đồng trinh vẹn toàn không chỉ vì Mẹ sinh ra Đức Giêsu thôi mà vì suốt đời Mẹ, Mẹ vẫn sống như thế. Mẹ không có quan hệ xác thịt với thánh cả Giuse vào lúc nào hết. Vì thế nên, Mẹ không có người con nào khác.

Chuyện này cũng rất ăn khớp với điều mà các nhà viết sách tu đức từng bày tỏ rằng nếu không, thì chuyện Mẹ có nhiều con khác sẽ không xứng hợp với cung lòng tinh tuyền vô nhiễm tội truyền của Đức Mẹ, tức cung lòng thánh thiêng được Chúa chọn làm nơi trú ngụ trong suốt thời gian Mẹ cưu mang.

Trong số các thánh Giáo phụ của Hội thánh, thánh Ambrôsiô , thánh Giêrônimô, thánh Âu Tinh, Êpiphanô và thánh Basiliô hoặc một số thánh cả khác đều đã quả quyết rằng tính chất đồng trinh của Đức Mẹ là điều xảy ra vĩnh viễn, suốt đời Mẹ. Thánh Basiliô có nói: “Bạn bè Đức Kitô không thể nào nhân nhượng được nếu như các ngài nghe được rằng Mẹ của Thiên Chúa lại chấm dứt không còn đồng trinh sạch sẽ nữa.” (x. Bài Giảng về Thế Hệ Đức Kitô Rất Thánh, #5).

Cũng theo Thánh truyền, thì Công Đồng Chung thứ 5 về Đại Kết tổ chức tại Constantinople năm 553 sau Công nguyên, đã tặng ban cho Đức Mẹ Maria tước hiệu là “Mẹ Đồng trinh vĩnh hằng”, tiếng Hy Lạp gọi là “Aeiparthenos. Và, đây là tín điều buộc mọi người Công giáo chúng ta phải tin thôi. (x. Lm John Flader, Question time, The Catholic Weekly 10/4/2011, tr. 10)

Đụng vào vấn đề của niềm tin, mà lại phiếm, thật ra cũng không phải phép cho lắm. Nhưng phiếm ở đây, không có nghĩa là bàn chuyền “bá láp bá xàm” nhưng là dám bàn cả chuyện đứng đắn, nhưng theo hình thức lai rai, nhè nhẹ. Trong khuôn khổ thâm thấp của nhà Đạo ở chốn dân gian, rất không trang trọng. Không vụ hình thức. Thế mới gọi là phiếm. Là, một chút mạn đàm, chốn bình dân.

Bình dân đây, hoàn toàn không có nghĩa thấp hèn hoặc lèm bèm như trong buổi “khilikhitô” cũng năng nổ, có luận và có bàn, nhưng không đưa đến một phản bác, xét lại hoặc ưu tư. Luận và bàn, ở đây, theo tính cách dân gian cho dễ hiểu, để còn tin và yêu, rất trân trọng. Có ý thức. Thanh minh, minh định và rào đón thế xong, nay xin mời bạn và mời tôi, ta đi vào địa hạt thơ văn người đời có những lời na ná của nghệ sĩ, từng khuyến khích:

“Đưa em về dưới mưa, chiếc xe lăn dốc già

Đưa em về dưới mưa, áo em bùn lưa thưa

Đưa em về dưới mưa, hỡi cô em bé nhỏ

ôi duyên tình đã qua, có bao giờ không xưa?”

(Phạm Duy/Nguyễn Tất Nhiên – bđd)

Với thi nhân họ Nguyễn và nghệ sĩ lão gia họ Phạm, thì khi gọi “cô em bé nhỏ”, nào những “ma soeur, này ma soeur”, là các vị chỉ muốn nói về những “duyên tình nào đã qua”, có chuyện tình “nào (lại) không xưa”. Chuyện tình xưa, như chuyện dưới mưa. Cũng là “đeo thánh giá huy hoàng”, còn bản thân ta “nhiều sám hối”, mà “sao vẫn hoang đàng?”

Ngồi buồn phiếm “loạn” hôm nay, chắc bạn và tôi, ta không phải là thi nhân “hoang đàng” hoặc “sao đó”, nhưng chỉ là những người vẫn “đeo thánh giá huy hoàng”, rất “sám hối”, dù “vô tội” hay vô số tội, vẫn cứ hát:

“Đưa em về dưới mưa,

nói năng chi cũng thừa.

Như mưa đời phất phơ,

chắc ta gần nhau chưa?”

(Phạm Duy/Nguyễn Tất Nhiên – bđd)

Đưa nhau về dưới mưa”, dù mưa đó có lưa thưa, phất phơ như cuộc đời của ai đó, hẳn người người sẽ nhắn nhau chỉ đôi câu, rất “không thừa”, nhưng tràn đầy ý nghĩa, đó là: “chắc ta gần nhau chưa”.

Đúng thế, trong cuộc đời của người và của nhà Đạo, vấn đề quan trọng cần lưu tâm /lưu ý hết mọi vị, vẫn luôn là “chắc ta gần nhau chưa”. “Gần” ở đây, chưa hẳn là gần gũi theo diện họ hàng/hang hốc, rất bà con. Mà, chữ “Gần” ở đây, vẫn có thể là sự “cận kề” rất thân quen, mật thiết. Như lời Thầy Chí Ái từng nhắc nhở, ở thánh kinh, rằng:

“Có kẻ thưa Người rằng:

"Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia,

tìm cách nói chuyện với Thầy."

Người bảo kẻ ấy rằng:

"Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?"

Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói:

"Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi.

Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi,

Đấng ngự trên trời,

người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi."

(Mt 12: 47-48)

Và hôm nay, qua luận phiếm về tính cách bà con/họ hàng của Chúa, “những người thi hành ý muốn của Cha”, vẫn còn đó câu hát của thi nhân ngoài Đạo cũng rất buồn: “Chắc ta gần nhau chưa?” Nói nôm na, thì sẽ bảo: nếu ta vẫn tự hào là người Công giáo, mà sao chưa xác tín lời dặn của Chúa, trích ở trên. Hay, ta cũng đã xác tín, nhưng vẫn hỏi một câu để đời, rằng: “Chắc ta gần nhau chưa?” Tức, chắc gì ta đã là “anh em của Đức Chúa”? Hỏi ở đây, hôm nay phải chăng là đã trả lời rồi, hỡi bạn và hỡi tôi, những người anh/người chị cũng “hiền như ma soeur”, hay rất “lành như mon frère”, của chúng mình!

Bần đạo nay không tin rằng: hỏi tức đã trả lời rồi. Bởi, nếu quả có thế, thì sao nhiều vị vẫn thích nghe nhạc bản có lời cứ ê a, mà rằng:

“Em hiền như ma soeur,

vết thương ta bốn mùa,

Trái tim ta bệnh hoạn,

ma soeur này ma soeur”…

(Phạm Duy/Nguyễn Tất Nhiên – bđd)

Hát thì hát thế, nhưng vẫn cứ mong sự thật không phải thế hỡi bạn hiền, những “mes soeurs” hoặc “mes frères”, của tôi và của bạn, ở ngoài đời. Hoặc trong Đạo.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng ít hát câu

“em hiền như ma soeur”

vì rất sợ và không tin

em hiền như thế.

Friday, 6 May 2011

“Nghe tiếng thời gian âm thầm đưa,

ngẩn ngơ thương nhớ đến cung đàn xưa…”

(Hoàng Trọng – Một Thuở Yêu Đàn)

(2 Th 3: 13-14/2Th 2: 13-17)

Ở đời thường, người nghệ sĩ luôn hát thế. Cũng không lạ. Chỉ hơi lạ, là ở nơi Hội thánh, giáo dân mình rày xử khác. Khác, trong nghĩ suy, tư duy. Hành xử. Khác nữa là, cũng tin và yêu, không chỉ mỗi cung đàn, dù “ngẩn ngơ”, “thương nhớ” chiên bầy lớn/nhỏ, của Hội thánh.

Tin, yêu và nhớ cũng rất nhiều. Nhớ, đến người bạn viết mang tên Flannery O’Connor ở đâu đó, vẫn từng nói: “Chúng ta khổ sở không ít vì Hội thánh hôm nay tràn ngập những thắc mắc/ưu tư từ bạn bè/người thân vẫn cứ bảo: sao bạn lại vẫn tin vào Hội thánh, đến như thế?”

Hôm nay, ngồi ở đây bên này, bần đạo hèn là tôi, chứ không phải bạn, những bạn đạo thân quen trong Hội thánh, suy nghĩ rất “lung” về phản ứng với phản hồi cũng không nhỏ khi tưởng nhớ vị cha già giáo chủ nay được phong làm Chân Phước, rất Gioan Phaolô II.

Gọi là phản ứng với phản hồi rất hăng say, khác nào nghệ sĩ khi xưa vẫn cứ hát:

“Ai biết thương nhớ không bao giờ nguôi,

lạnh lùng trong cánh lá khô nhẹ rơi,

tìm dư âm cũ nhớ nhau mà thôi

đêm đêm dõi bóng một ngưới

Tôi đi tìm thuở xa xôi.”

(Hoàng Trọng – bđd)

Hát theo đuôi người nghệ sĩ, mà lại bảo “đêm đêm dõi bóng một người, tôi đi tìm thuở xa xôi”, thì các vị thân cận với thánh nhân nhà Đạo mới làm thế, chứ bần đạo bọn tôi nay chẳng dám múa bút cùng viết mực, mà nhi nhô những điều rất “sáo ngữ” hầu ca tụng tình thương của nhà Đạo tỏ bày với Đức Chúa, mới gần đây.

Nói gần nói xa chẳng qua nói thật, rằng: mới gần đây, truyền thông/báo đài lại đã ca tụng đấng bậc rất vị vọng nhà Đạo vừa trở thành Đấng Chân Phước cũng rất thánh ở cõi trên, bần đạo đây dám xin ngả mũ chào, rồi nhào vô a dua, nói leo và nói trèo bằng đôi câu hát, rất lạc giọng. Lạc cả cung đàn, để theo đóm ăn tàn, bằng câu kết được nghệ sĩ viết:

“Tiếng xưa còn đó,

Gió trăng còn đó,

Thấy đâu người xưa.”

(Hoàng Trọng – bđd

Cũng chẳng biết “người xưa” của nghệ sĩ họ Hoàng, tìm đâu thấy. Chứ, người xưa và cũng là người nay rất nổi cộm của thế kỷ, nay đã thành thánh nhân thời đại, được người người đề cao, bằng lời lẽ rất tốt đẹp không để đâu cho hết.

Và hôm nay, trong vui say tản mạn với ý/lời quyết nâng cao niềm đạo hạnh, bần đạo có ý định tìm đến lời “thơ” hôm trước của thánh Phaolô từng nhắc bảo người anh em đồng Đạo rằng:

“Thật vậy,

tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt,

và không có gì phải loại bỏ,

nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ,

vì lời Thiên Chúa và lời cầu nguyện thánh hoá những thứ đó.”

(1Tm 4: 4-6)

Hôm nay, bần đạo là tay khờ khạo chẳng dám múa hót điều gì cao siêu nhiệm mầu, mà chỉ dám xin trích dẫn đôi lời rất “thơ” của Hội thánh ở Úc, chung quanh vụ án phong chân phước cho đấng bậc vị vọng của Giáo hội. Trước nhất, là lời của Đức đương kim Giáo Tông:

“Anh Chị Em thân mến,

Cách đây sáu năm, chúng ta tập trung tại Quảng trường này để cử hành thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Niềm đau của chúng ta vì mất ngài thật sâu sắc, và càng lớn hơn nữa, đó là tâm tình tri ơn vô bờ của chúng ta bao trùm cả thành Rôma và toàn thế giới: niềm tri ơn ấy, cách nào đó, chính là hoa quả từ toàn thể cuộc đời vị tiền nhiệm của tôi, cách riêng từ chứng tá đau khổ của ngài, và bằng nhiều cách Dân Chúa đã bày tỏ niềm tôn kính ngài. Vì vậy, với tất cả sự tôn trọng các chuẩn mực về phong thánh của Giáo Hội, tôi đã mong muốn tiến trình phong Chân Phước cho ngài được xúc tiến nhanh chóng một cách hợp tình, hợp lý. Và hôm nay, ngày mong đợi đã đến; ngày này đến nhanh bởi vì đây là điều đẹp lòng Chúa: Gioan Phaolô II đuợc chúc phúc!” (x. Bài Giảng của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trong thánh lễ phong chân phước Đức Gioan Phaolô II, Thiên Phong dịch từ trang www.vatican.va, đăng trên www.conggiaovietnam.net ngày 2.5.2011)

Rõ ràng là, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã nêu lý do tại sao Hội thánh lại nhanh chóng thực hiện tiến trình phong chân phước cho Đức Gioan Phaolô II, là điều rất phải. Nên, dân con nhà Đạo nói chung cũng chẳng có gì, để thắc mắc. Thắc mắc, mà làm gì khi Đức Thánh Cha đã nói thật và nói rõ: “Ngày này đến nhanh, bởi vì đây là điều đẹp lòng Chúa”. Xem thế thì, đa số dân con và đấng bậc trong Hội thánh Công giáo, đều đồng lòng và cảm thông với “điều làm đẹp lòng Chúa”, như thế.

Cảm thông nhiều hơn, còn thấy rõ nơi một số vị như đấng bậc, rất thân quen với độc giả của tuần báo The Catholic Weekly Sydney đã có ý kiến, rất an bình như sau:

“Hẳn là nhiều người trong chúng ta còn nhớ: trong các biểu ngữ được dương cao ở Quảng trường thánh Phêrô vào ngày Đức Gioan Phaolô II nằm xuống, đã thấy xuất hiện nhiều giòng chữ ghi rõ: “Santo subito”, tức: ”Hãy mau mau phong thánh cho ngài!” Biểu ngữ ấy, cho thấy tâm tình của nhiều người thương mến ngài đến như thế. Nhưng, Hội thánh không phong chân phước hoặc hiển thánh cho vị nào đó chỉ vì quần chúng đòi hỏi mạnh mẽ đến vậy.

Quả rất đúng, án phong thánh cho Đức Gioan Phaolô II được xúc tiến nhanh hơn các trường hợp bình thường, điều đó là do niềm tin của các giới chức, ở khắp nơi. Tin, vào sự thánh thiện của Đấng Chân Phước. Chính vì mình tin, nên Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã châm chước cho qui định đòi phải kéo dài tiến trình phong chân phước ít là 5 năm, sau khi đấng ấy qua đời, mới khởi sự. Do đó, có điều đặc biệt là: Đức Gioan Phaolô II đã được phong Chân phước chỉ mới sáu năm trời sau khi ngài mất, thôi…

Cũng nên biết, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không chỉ là vị Giáo hoàng trổi trang, có uy thế, nhưng ngài còn là đấng thánh. Chính vì lý do này, Hội thánh mới phong chân phước cho ngài, sớm sủa hơn. Chứng cứ hiển nhiên của sự thánh thiện nơi ngài, là lòng quảng đại đặc biệt ngài luôn cho đi những gì mình đang có, để giúp đỡ người nghèo. Cáo Thỉnh Viên Slawomir Oder, người chuyên trách vụ án phong chân phước cho Đức Gioan Phaolô II, có ghi trong sách “Sao ngài lại là vị thánh?” đã từng viết: “Có một lần, khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II còn làm linh mục ở Ba Lan, ngài đến nhà thờ dâng lễ trễ hơn mọi khi. Tìm hiểu nguyên nhân, ông từ nhà thờ ấy bèn tìm đến nơi ngài trú ngụ để xem chuyện gì khiến ngài trễ đến thế, sau đó mới biết là ngài đã cho đi đôi giày độc nhất ngài vẫn đi vào những ngày trước, nên phải đi chân không. Ông từ, mới tặng ngài đôi khác để ngài có giày mà dâng lễ cho chỉnh tề.

Một lần khác, khi thấy linh mục Karol không có áo ấm để mặc vào mùa đông, các chị nữ tu mới đan cho ngài tấm áo len để mặc, thì ít ngày sau đã thấy ngài lại cho người khác, mất tuột. Cáo thỉnh viên Oder còn cho biết: cả đến quần áo cụt mặc ở trong, ngài cũng mặc suốt cho kỳ rách chứ không mua mới.

Một bằng chứng khác về sự thánh thiện của ngài là việc luôn quan hệ mật thiết với Đức Kitô. Và, Cáo Thỉnh Viên Oder còn cho biết thêm, là: khi điều tra về cuộc sống thực tế của ngài, ông thấy: “có điều xuất hiện ngay trước mắt rất chắc chắn: ngài là nhà chiêm niệm luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa. Điều đó có nghĩa: ngài luôn là người được Chúa hiện diện, ở cạnh bên. Và, ngài được Chúa Thánh Thần dẫn dắt, suốt ngày chỉ chuyện vãn với Chúa. Bằng chứng là những ai cùng làm việc hoặc gần gũi ngài, đều nhận thấy nơi ngài động thái mê say chuyện trò sâu lắng với Chúa đến độ mọi người phải đứng phía sau chờ ngài sống giờ phút linh thiêng ấy xong mới tiếp xúc…” (x. Lm John Flader, Question time, The Catholic Weekly, 1/5/2011, tr. 18)

Do vụ án phong cho ngài làm chân phước được xúc tiến nhanh hơn các trường hợp đặc biệt nào khác, nên nhiều bạn Đạo ở Úc, thấy chưa được thuyết phục cho lắm, mới tỏ bày:

“Qua trao đổi với một số bạn bè về việc phong Chân Phước cho Đức Gioan Phaolô II chúng tôi thấy có vài quan ngại nơi một số người Công giáo, sống ở đây. Họ tỏ ý cho biết: Giáo Hội mình có lẽ hơi hấp tấp khi đẩy nhanh tiến trình điều tra phong thánh cho Đức Gioan Phaolô II. Giáo hội làm thế phải chăng do áp lực của quần chúng, vốn quá yêu thương Đức Gioan Phaolô II nên mới vậy? Trước sự việc như thế, chúng tôi chẳng biết nên đối đáp sao cho phải.” (x. The Catholic Weekly ngày 1/5/2011, bđd)

“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” với các phản ứng khác biệt này, còn thấy ở đâu đó, nơi đất miền ởm bán cầu cũng rất Úc, lại cũng có vài ý kiến phản bác như sau:

“Chúng tôi là linh mục thuộc thế hệ “Vui Mừng và Hy Vọng” theo Vatican II. Khi gia nhập chủng viện, chúng tôi đạt sĩ số cao nhất từ trước tới nay. Nội hai thập niên từ 1955 đến 1975 thôi, giáo phận chúng tôi đã có số tân chức gia tăng gấp hai yêu cầu của giáo xứ. Là, thế hệ thầm lặng so với thế hệ nổ bùng cùng sinh đẻ, chủ trương của chúng tôi khi ấy là đưa vào tâm can mọi người, tinh thần cốt tủy của Công đồng Vatican II, còn nóng sốt. Cùng lúc ấy, tinh thần đại kết đã trở thành cung cách suy nghĩ rất thường tình, của chúng tôi. Nói nôm na, thì: đời sống thừa sai linh mục luôn là cội nguồn cho mọi trải nghiệm bất thường, là niềm vui chung của chúng tôi.

Nhưng, mọi sự không phải không có cái giá của nó. Nghĩa là, chúng tôi cũng trải nghiệm đủ mọi hình thức: từ những thức tỉnh vào thập niên 60, tới những thích thú đến kích động vào những năm ’70, rồi đến thập niên 80 gồm đầy những nghi nan, để rồi với thập niên 90 là hiện tượng trầm cảm, nổ bùng vào mười năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Suốt những năm tháng kéo dài hồi thập niên 80, chúng tôi nhận ra được một số sự việc đang trở nên tồi tệ. Số linh mục chịu chức đột nhiên giảm sút, chúng tôi thấy nhiều giáo dân lúc đầu đã rời xa bỏ đi lễ, sau đó bỏ luôn cả hội thánh. Cả hai hiện tượng này đều bắt nguồn từ nguyên nhân từ xã hội mà ra.

Tệ hơn nữa, là các quyết định gây tranh cãi phát xuất từ các vị Giáo hoàng. Bắt đầu bằng Đức Phaolô đệ Lục với chuyện khiết trinh linh mục, dù gặp bất đồng rất cao độ, nhưng Đức Phaolô Đệ Lục vẫn cương quyết áp đặt, không bàn cãi. Kế đến là thông điệp “Đời Sống Con Người” làm mọi con dân trong Đạo nản lòng nản chí đến phẫn nộ. Đa số chúng tôi đều không chấp nhận chuyện ấy. Nhưng, Đức Phaolô đệ Lục còn tiến xa hơn bằng cách bổ nhiệm các giám mục nào vốn dĩ chống đối hay phản lại đặc trưng của Công đồng.

Tiếp đến, là Đức Gioan Phaolô II, một nhân vật có biệt tài thường xuất hiện trước ống kính truyền hình. Ngài lại tỏ ra xuất chúng về ngôn ngữ, nhưng ngài là đấng bậc ít tiếp cận với Thánh kinh, lại rất hạn chế về thần học, ít chịu lắng nghe ai. Đã thế, ngài lại cứ tin tưởng rất vững chắc rằng mình là người được Chúa chọn để giải quyết định mệnh của Giáo hội. Toàn bộ cuộc đời ngài trải dài nhiều năm tháng với Giáo hội ở đất nước Ba Lan chịu nhiều bách hại, nên đã tạo nên não trạng giáo hội của thành trì kiên cố đến độ đông cứng.

Tiếp đến là hiện tượng nhũng lạm quyền bính. Ngay sau ngày nhậm chức Giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II để lộ cho thấy ngài có tham vọng quyến bính đến mức lạ thường. Không tin tưởng một ai, nên ngài không chấp nhân quan điểm của bất cứ người nào ngoài mình ra và loại trừ các vị có chánh kiến đối lập, chống giáo huấn và lập trường của ngài. Ngài dùng Thánh bộ Truyền Giáo Đức Tin do Đức Hồng Y Ratzinger cầm đầu, làm hậu thuẫn để áp đặt tư tưởng của mình lên mọi người. Và, đó là lúc giáo triều Rôma nhảy vào nhập cuộc, để tiếp sức…

Đức Gioan Phaolô II cũng đã áp đặt lối sùng kính sốt sắng theo kiểu riêng tư của ngài lên toàn bộ Hội thánh. Bất chấp tinh thần và đường lối của Công đồng Vatican II đã áp dụng rộng khắp, ngài đã ngăn chặn một cách hữu hiệu nghi thức thứ ba về sám hối hoà giải, bẻ quặt ngược nền thần học về Tiệc Thánh rất năng động đang nở rộ bằng vào tập trung nhấn mạnh việc sùng kính Thánh Thể coi như Đức Chúa đang hiện diện thực thụ của Đức Chúa, buộc giáo dân sùng kính một cách méo mó Đức Maria dựa trên thần học theo thuyết triệt để và nhất là đưa thêm nhiều lối sùng kính kiểu dân gian như Tôn Sùng Lòng Chúa Xót Thương của nữ tu Faustina rồi đưa vào thánh lễ cho toàn thể giáo dân, cắt bỏ đi ý nghĩa Phục Sinh vốn là cao điểm của Phụng vụ.

Cung cách lạm dụng quyền bính của Đức Gioan Phaolô II còn tệ hại hơn nữa, là cung cách bổ nhiệm giám mục nào dễ bảo. Các vị được bổ nhiệm phải hoàn toàn rập theo khuôn khổ hoàn toàn đồng ý với lập trường của ngài. Điều này làm giảm suy khả năng lãnh đạo của các vị cầm cân nảy mực trong Hội thánh. Hàng ngũ các giám mục nay có tầm mức rất thấp về tính sáng tạo, khả năng lãnh đạo, về học vấn và cả trí thông minh nữa. Phần đông các vị này xuất từ tổ chức Opus Dei, tức hàng ngũ phản động, độc đoán và dứt khoát không có sáng kiến nào mới mẻ.

Hàng ngũ giáo dân có đầu óc mới mẻ đã đưa ra các thắc mắc về đường lối/chính sách của Hội thánh, nhưng chẳng nhận được hồi đáp nào hết. Tại sao phụ nữ lại không thể trở thành lãnh đạo trong Hội thánh? Tại sao linh mục lại phải sống đời độc thân? Có gì xấu xa trong chuyện ngừa thai? Tại sao các tiến bộ về khoa học luôn bị nghi ngờ là có ác ý của sự dữ? Sao ta không nhận thức được thực tại của khuynh hướng đồng tính luyến ái và các hệ lụy về xã hội do khuynh hướng ấy đem lại? Ta không học được bài học về trường hợp Galilêo và cung cách xử sự với Lm Teilhard de Chardin, nhà cổ sinh vật học nổi tiếng của Pháp? Liệu ta có thể ra khỏi não trạng Giáo trình đầy Sai sót ấy?

Như Năm Thánh Dành Cho Linh mục ấn định cho năm 2009. Làm sao Rôma có thể kêu gọi các linh mục hãy biết sám hối, trong khi chính mình lại vẫn cố chấp. Vẫn tỏ ra chậm chạp trong việc chấp nhận rằng mình đã thất bại trong các sự việc có liên quan đến chính mình? Làm sao các ngài lại tỏ ra nghiêm túc đủ để có thể nhấn mạnh được tầm quan trọng của vai trò linh mục với tư cách là các nhà giải tội, trong khi rõ ràng là chuyện xưng tội nay đã biến mất trong cuộc sống của Hội thánh? Làm sao ta cứ ép buộc phải lập Giờ Thánh để sùng kính Thánh Thể trong khi các linh mục đã chuyển nền thần học khô cứng về Mình Thánh Chúa sang nền thần học năng động có ánh sáng Công Đồng Vatican II soi lối dẫn đường? Làm sao Giáo hội lại cứ thúc giục các linh mục cầu nguyện cho liên lỉ trong khi các ngài chẳng mảy may tỏ dấu hiệu đã đổi thay tâm can hoặc thái độ để chứng minh rằng việc cầu nguyện có tác dụng và cần thiết?

Nói tóm lại, dù tình hình của Hội thánh hồi thập niên 60 nay đổi ngược. Nhưng với tinh thần Công đồng Vatican II, chúng ta đã có khí cụ trong tay khả dĩ đương đầu với tình hình mới. Phần lớn các linh mục hôm nay vẫn sẵn sàng giáp mặt với thách thức ấy. Nhưng, các ngài không có cơ hội để làm thế. Vì lệnh trên đã ban hành là phải rút khỏi tháp ngà phòng ngự và hát lại bài hát cũ xưa. Thay vì mặc vào mình khí thế mới, các ngài lại để mất đi nhiều cơ hội ngàn vàng đến độ ra khô cứng, rất nản lòng.

Ở trời Tây, các linh mục vẫn đạt chỉ số cao qua các cuộc khảo sát về sự hài lòng với công việc mình làm. Nói chung, các linh mục vẫn vui thích với công việc của mình và thực thi công tác rất tốt đẹp. Điều đó là do các ngài hài lòng với thân phận đặt để cho mình. Nhưng hầu hết đã cảm thấy là Giáo hoàng và các giám mục đã phản bội họ. Nếu có ai hỏi linh mục các ngài nghĩ sao về quyền bính ở trên cao và mọi sự đi về đâu, thì hẳn là mọi người sẽ nhận được câu trả lời rất khác biệt.” (x.Eric Hodgens, Melbourne Reflections on an Ordination Golden Anniversay, nguồn: www.theswag.org.au 2.5.2011)

Nói gì thì nói, vẫn là như “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”. Bàn gì thì bàn, bần đạo lúc này ít chịu nói cho bằng cứ thích nghe. Và, một khi đã lắng nghe, thì thế nào cũng “bị” đưa vào tai những âm thanh có tần só “khá nhức nhối”. Từ đó, bắt buộc bần đạo phải quay về với trạng thái “thằng bé ầm thầm đi vào ngõ nhỏ”, có Kinh thánh làm nguồn trợ lực. May thay, bần đạo bắt gặp được lời lẽ của thánh nhân tông đồ từng kinh qua nhiều đợt tranh và cãi rất nóng bỏng về thần học, đã từng có những lời đanh thép, như sau:

“Hỡi anh em là những kẻ được Chúa yêu mến,

chúng tôi phải luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa về anh em,

vì Thiên Chúa đã chọn anh em ngay từ lúc khởi đầu,

để cứu độ anh em nhờ Thần Khí thánh hoá và nhờ lòng tin vào chân lý.

Chính vì thế mà Người đã dùng Tin Mừng chúng tôi loan báo

mà kêu gọi anh em,

để anh em được hưởng vinh quang của Chúa chúng ta

là Đức Giêsu Kitô.

Vậy, thưa anh em, anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống

chúng tôi đã dạy cho anh em,

bằng lời nói hay bằng thư từ.

Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô,

và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta,

Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng

mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp,

xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh,

để làm và nói tất cả những gì tốt lành.”

(2Th 2: 13-17)

Nói và làm những điều tốt lành ư, thưa thánh nhân? Phải chăng đó còn là lời dạy mà Thầy Chí Ái từng ban bố: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy thương yêu anh em…” Để cho tâm hồn bạn và tôi được thả lòng đôi chút, nay bần đạo xin đề nghị bạn và tôi, ta đi vào truyện kể nhỏ mà vui, rằng:

“Có cụ bà đạo đức nọ, thấy bạn bè/người thân, dân mình thiếu thông tin xác đáng về lời răn và cung cách xử sự với cộng đoàn nhà Đạo lại quá tệ, bèn nảy ý định ra bưu điện gửi ít Sách thánh về quê miền dân dã, gặp ngay quan chức nhà nước thấy lạ và hỏi:

-Thưa cụ, ở trong này có đồ gì là quốc cấm, dễ bể hoặc làm phiền chúng nhân không?

Phần vì lãng tai, lại hay nói chữ, cụ bà liền phán:

-Ông yên tâm. Ngàn năm nay, bọn tôi vẫn cứ thế mà sống, chẳng chết thằng Tây nào cả. Phiền hay không, chỉ những người cứ là hay kiếm chuyện này nọ mới làm phiền thôi…”

Thật ra thì, trong sống đời đi Đạo hoặc sống Đạo ở đời, vẫn có ngày tháng dài dân con bạn hiền mình cứ phải đối đầu với tình trạng không mấy nhẹ nhàng, gọn gàng và thông suốt. Thông, chuyện Đạo. Thông, cả việc đời. Chẳng thế mà, bà con văn nghệ sĩ cứ lặng lẽ hát “lời buồn thánh” rất ê a, thế này:

Tôi vẫn tha thiết yêu ngày xưa

Ngày nao say đắm với cung đàn mơ

Ngày nao hai đứa dưới trăng mùa thu

Hôm nao hát khúc tạ từ

Hôm nay sầu lắng tâm tư.”

(Hoàng Trọng – bđd)

“Ngày xưa” đây, với tôi và với bạn, phải chăng là tình người thời xưa? Thời, của thế hệ “nổ bùng cùng sinh đẻ”, hay thế hệ người trẻ chỉ biết những chữ “thương yêu”, “tha thứ”, và “quên đi”! Thương nhớ và quên đi, tất cả những gì làm mình bận tâm, giận dữ. Thương nhớ và quên đi, như người nghệ sĩ hôm nào từng hát::

Hãy để trôi qua đi bao nhiêu tháng năm,

đừng bận tâm dẫu đắng cay ngọt bùi.

Cuộc đời như cơn mê ru ta ngất ngây,

hãy cùng nhau sống hết bao hôm nay.

Cuộc đời không chen đua không mua tước danh,

để còn say với gió thơm ruộng đồng.

Một ngày sao cho xong cho qua hết đi,

buồn làm chi ước với mơ làm gì?

(Lê Hựu Hà – Phiên Khúc Mùa Đông)

Mùa Đông, có những phiên khúc, rất thúc giục. Thúc và giục, rồi bảo: hãy cứ quên! Quên đi, những gì làm mình bận tâm. Oán ghét. Và nhớ thật nhiều những gì cần nhớ. Rất thương. Mà thôi.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn xin được nhớ và thương

những con đường

của đời người luôn cần nhớ

và cũng thương.