Saturday, 10 October 2009

“Phút đầu gặp em, tinh tú quay cuồng”

Lòng đang giá băng,

bỗng ngập tràn muôn tia nắng;”

(Tùng Giang – biết đến thuở nào)

(Lc 10: 33-37)

Lời nghệ sĩ, khi xưa viết. Nghe phát khiếp. Mới lần đầu gặp nhau, sao đã thấy cuồng quay nhiều tinh tú. Quay và cuồng, đâu có là chuyện của tinh tú. Cuồng rồi quay, cũng chẳng là chuyện của anh. Của em. Của nhiều người. Chí ít, là truyện kể, như bên dưới.

“Truyện rằng:

Ông nội lâu nay vẫn cố dạy cho bé hiểu đôi chút về giáo lý ông thuộc nằm lòng, từ thời bé. Những chuyện, như: Chúa là Đấng dựng nên bé theo hình ảnh Ngài. Thiên Chúa là Cha sống ở trên trời. Bé là đứa con ngoan, được Chúa yêu hết mình… Nói tới đó, bỗng cháu của ông nội bèn lấy tay bịt miệng ông, rồi bảo:

-Không phải đâu, ông ơi.

-Sao lại không, hả cháu? Cái này ông thuộc lòng như cháo, ấy mà.

-Không đâu. Ở trường, thày cô bao giờ cũng đọc sách cho cháu biết. Các người ấy cứ bảo: con người khi xưa biến hoá từ loài khỉ, hoặc đười ươi, đó ông. Không có Thần linh Thượng Đế nào dựng ra con người đâu. Chỉ là vạn vật biến hoá đó thôi.

-Thế thì, ông nội phải lôi mấy ông thày bà cô này ra toà mới được. Nói sai bét mà cứ còn nhồi sọ cho ba đứa trẻ làm cháu của ông nay tin vào những chuyện nhảm nhí như thế!”

Sự thật, thì: nhảm nhí đâu do truyện thày cô kể, về biến hoá. Nhảm nhí, là ta dạy cho bày trẻ điều gì thì không dạy, lại cứ tìm ba cái sách khoa học, ra mà đọc cho con trẻ nghe. Đầu óc chúng còn bé, nghe riết rồi sẽ quay cuồng, như tinh tú trên trời. Như, sao Hoả sao Kim, xẹt qua xẹt lại, nhiều xót xa, như câu ca ta nghe tiếp:

“Nghe bao xót xa, vụt bay theo cánh chim ngàn,

Dừng bước nơi này, chỉ còn em với ta…” (Tùng Giang – bđd)

Quả là, xót xa và quay cuồng, đâu như tinh tú. Trên trời. Mà, chỉ như tình em với ta. Tình ta với người. Những là, người thân, rất cận thân hay cận lân. Láng giềng. Chòm xóm. Có lẽ, cũng chỉ vì cứ coi chòm xóm, láng giềng như người dưng khách lạ nên mới có giòng chảy xót xa đau , như sau:

“Ngỡ ngàng nhìn em, như đã quen rồi

Hỏi em biết chăng, những bàng hoàng giăng vây kín

Như muôn tóc mây quyện vương đôi mắt nhung huyền

Mộng ước đây rồi… sao ngại ngùng vương trong ta.” (Tùng Giang –bđd)

Nói cho cùng, thì: ngại ngùng, xót xa, quay cuồng, chỉ là tình tự trong đời, mình hay gặp. Gặp nhiều nhất, là cảm xúc xa lạ, thiếu tôn kính. Những tôn trọng. Và, tôn phục. Tôn và phục, là một trong các vấn đề thời đại, hôm nay. Ở xã hội văn mình hôm nay, đời thường người nghe thấy: một trong các vấn đề khá gai góc. Hơi khó phiếm. Và đụng chạm.

Thôi thì, để tránh cho khỏi đụng và chạm, bất cứ ai, xin mời bạn - mời tôi, ta thử mạn rồi đàm bâng quơ, như chua giờ biết phiếm. Cũng hay. Nên làm. Vậy, ta cứ thử. Thử đàn, thử hát đôi giòng nhạc, người nghệ sĩ hát:

“Bao đêm cô đơn, miên man với niềm thương nhớ

Suy tư âu lo, men thuốc đắng trên môi

Đã xót xa nhiều mà sao không nói nên lời

Đành thôi ôm trọn, mối u hoài trong tâm tư..”(Tùng Giang – bđd)

Vậy thì, để tránh cơn “u hoài, ôm trọn trong tâm tư”, nay ta phiếm:

Thoạt nhìn, ra như ta thấy: tôn kính lỉnh kỉnh chuyện tôn trọng, chỉ là một việc hời hợt. Lịch sự bề ngoài. Ít nghe quen. Thực tế, ngay từ nhỏ, ta đã được dạy: hãy biết thảo kính cha mẹ. Tôn kính, các bậc tiền nhân. Tiền bối. Rất đáng tôn phục. Các bậc ấy, nay đếm trên đầu ngón tay, như: mẹ cha. Cô thày. Thẩm phán. Linh mục, vv.

Thoạt đầu, nhiều người cứ tưởng tôn kính hay tôn phục, chỉ là điều giả tưởng. Hoặc, do con người tạo ra. Tạo thành cả những điều được gọi là điều răn, giới lệnh được Hội thánh cổ võ, suốt nhiều thế kỷ. Tôn kính và khâm phục, thường trực chỉ các đấng vị vọng. Tôn và kính đến độ, còn khuyên kẻ ở dưới hãy bái gối hôn tay hôn nhẫn các vị có chức, có quyền ở bên trên. Trong nhà Đạo. Nhưng, lâu dần, rồi cũng quên. Hoặc, cũng thấy kỳ.

Ngày nay, muốn giữ những điều khoản ấy, chắc phải tìm hiểu cho sâu cho sát với thực tại.

Thực tại, thực tế nghĩa là: cử chỉ tôn kính phải nằm trong con tim, của bất cứ một tương quan/quan hệ giữa người với người. Sâu sát hơn, không chỉ là dáng điệu của nề nếp, lịch sự. Mà thôi. Như thế, có nghĩa là: khi tôn và kính ai đó, phải hiểu là mình nhìn người ấy hoặc người khác, như chính mình. Người ấy, hoặc đấng ấy phải là đấng, là vị có mặt ở vào trọng tâm cuộc đời của chính ta.

Người ấy, vị ấy có tư tưởng và cảm tính, cũng như hy vọng hoặc hãi sợ, hệt như ta. Các đấng bậc ấy, cũng có tự do trong yêu đương. Cũng lạnh như tiền, giống với ta, ở vào giây phút lạnh cẳng, lạnh tanh, mọi lãnh vực. Nhưng, các vị ấy/đấng ấy không bao giờ là vật/phẩm ta có thể sở hữu. Cũng chẳng là chiếc máy vô tâm, ta khống chế. Kiểm soát. Cũng chẳng là đồ chơi, ta vui đùa.

Nói cách khác, tôn kính/tôn phục khởi từ việc ta nhìn các vị, bằng mắt thịt. Chứ không phải như đồ dùng, ta vẫn mua. Vẫn bán. Nên, khi nhìn vào mắt của các vị ấy, ta mới thấy là các cụ cũng có những chuyện riêng tư, của chính mình. Nhưng, thành công hơn ta. Vượt thắng, hơn ta. Chính đó, mới là lý do ta tán phục. Để rồi sẽ tìm hiểu thêm chi tiết cuộc đời, của các đấng.

Và khi đã phục lăn, hay phục thiệt người nào đó, ta lại sẽ theo đuôi người nghệ sĩ mà ca hát:

“Bao đêm cô đơn, miên man với niềm thương nhớ

Suy tư âu lo, men thuốc đắng trên môi

đã xót xa nhiều mà sao không nói nên lời

Đành xin ôm trọn mối u hoài trong tâm tư..” (Tùng Giang – bđd)

U hoài ở đây, hôm nay, chẳng phải là niềm u sầu, buồn giận, gì đâu đâu. U hoài, chỉ là nỗi niềm thương nhớ. Nhớ những gì, mình cũng được dạy bảo mà thi hành, từ Thánh Kinh. Nhưng, lại không làm được như các thánh.

Các thánh khi xưa, cũng biết kính và biết phục. Kính và phục, trong tương quan với mọi người. Tương quan chỉ chú trọng đến tâm can, của niềm tin. Nỗi niềm để ta tin, đều thấy nói ngay từ đầu. Ở cả Cựu Ước, lẫn Tân Ước.

Ở Cựu Ước, giới lệnh trước nhất và lớn nhất là kính trọng và thương mến Thiên Chúa là Đức Chúa Trời của ta, sau đến là thương yêu mọi người như chính ta, vậy.

Ở Tân Ước, Đức Giêsu chứng minh để ta thấy giới lệnh dạy cho mọi người, được Chúa thực hiện, trên thực tế. Bằng chính cuộc sống của Ngài. Khi Chúa được người nào đó hỏi về giới răn quan trọng, cần giữ là gì. Thì, Chúa lấy ví dụ về câu chuyện người Samaritanô tốt lành. Người này hơn hẳn người Do Thái, vẫn tự hào chỉ mình là số một. Hơn hẳn, người khác. Dân tộc khác. Chí ít, là ngoại bang. Lân cận.

Kinh Sách Đạo Chúa, còn kể nhiều về các trường hợp Đức Giêsu vẫn dạy con dân/đồ đệ biết yêu thương kính trọng, hết mọi người. Chí ít, là những kẻ thấp bé, những hối nhân. Cả đến nữ phụ lăng loàn như Maria Magđala, hoặc các tay ‘trời đánh thánh vật’, đủ cỡ, như: giới thu thuế, tội phạm hình sự, các tay trộm cướp bị người đời sỉ vả, treo trên thập giá, như tên trộm lành, thật đáng đánh…

Chúa không cứng ngắc trong cung cách, những kính và trọng, mọi người. Ngài đối đáp trực diện. Lôi cuốn hết mọi người. Ngài ứng xử, hội nhập với họ. Cho họ, toàn bộ thời gian và ưu tư Ngài có sẵn. Ngài không thích ứng xử bề ngoài. Những hành vi, mang cung cách giả đạo giả đức, chỉ phô trương. Ngài chú trọng tôn và kính, có tác dụng đi sâu vào lòng người nhận biết. Để rồi, họ sẽ lại thuyết phục mọi người, theo Ngài. Sống như Ngài. Sống yêu thương, tôn trọng. Coi người khác như mình. Như, người cần được yêu. Tôn kính.

Sống như Ngài, và theo Ngài, là sẽ sống mà không quên điều Ngài vẫn nói. Sống và hát, như người nghệ sĩ ở trên, nay đã viết:

“Biết thuở nào quên, quên hết ưu phiền

để thôi xót xa, để bàng hoàng không vây kín

Bao nhiêu ước mơ rồi đây sẽ kết nên lời

mộng ước một ngày, thôi đợi chờ… ta có nhau.” (Tùng Giang – bđd)

Biết thuở nào quên, là bởi bản tính con người mình, rất dễ quên. Quên, bởi vì tôn và kính là chuyện, làm được nhưng không dễ. Không dễ, là vì: tỉ như, ta vẫn mắc nợ những tôn và kính, nhiều người. Nhiều đấng bậc, dù không cao. Nhưng dù có nợ, ta vẫn chẳng muốn tí nào, dù là những người ấy coi ta như bạn. Thậm chí, đôi khi ta còn muốn quên cả những việc tốt, người ấy/đấng ấy đã và đang làm cho ta.

Biết thuở nào quên, là quên đi việc người khác từng làm, cho người. Cho mình. Quên việc tốt, mà các chính trị gia tranh đấu cho ta, với tư cách dân thường ở huyện. Quên cả, việc lành mà thày cô từng dạy dỗ. Quên hết những hành vi thiện nguyện mà ai đó, dù là bạn hay thù vẫn nhất quyết đấu tranh để ta có được tương lai tốt đẹp. Thật dài lâu.

Biết thuở nào quên, là quên cả những phiền ưu trong cung cách của tôn và kính, thay đổi theo từng thời điểm. Từng tập tục văn hoá, của sắc tộc. Của địa phương. Mỗi vùng. Ví dụ dễ thấy nhất ở chuyện “quên hết ưu phiền”, là như: trong lối xưng hô. Thưa/gửi. Trong cả cung cách ta tỏ lộ, như cúi đầu, chào hỏi. Mỉm cười, tỏ bày sự vui tươi. Thích thú.

Biết thuở nào quên, còn là quên bẵng đi mất, cả những tập tục tỏ bày sự tôn kính. Tỉ như: chọc quê người nào cần được mọi người tôn trọng. Hoặc, trong cách xưng hô, gọi tên tục. Hoặc nói ra, tâm tánh của người mình không thích. Rồi cười phá lên. Đôi lúc, việc thiếu tôn và kính này, còn gây nên thảm trạng, mà trời Tây hay gặp phải, như khiến người bị chọc phải lùi vào bóng tối. Có khi, còn tự kết liễu cuộc đời, như thường thấy ở giới trẻ, một đôi nơi.

Bao nhiêu ước mơ, rồi đây sẽ kết nên lời, là như mơ ước có lại ở đâu đó, chốn nhà trường. Ở nơi đó, các bậc trên sẽ lại dạy dỗ nhóm học trò, những điều cần thiết trong cư xử. Những bài học “công dân”. Những câu chuyện đạo đức ở “giáo khoa thư”, vui nhiều hơn buồn. Những “hạnh các thánh” chủ trương khuyến khích người đọc, một tình huống nên sống. Nên bắt chước.

Tóm lại, những mong rằng: ước mơ về chuyện tốt lành, trong Đạo/ngoài đời, sẽ thành hiện thực. Ở muôn nơi. Cả ở trong nước, lẫn hải ngoại. Để rồi, sẽ không còn xảy ra, những chuyện cười ra nước, tréo cẳng ngỗng, như bên dưới. Để minh hoạ:

“Đấng cao niên nọ, đã và đang có vấn đề về lãng tai. Suốt nhiều năm. Cụ đi bác sĩ, và bác sĩ bảo: ông sẽ giúp cụ lắp đặt bộ phận “trợ thính” rất tối tân, sẽ giúp cụ nghe được mọi chuyện tới 99%, khả năng của người bình thường.

Một tháng sau, Cụ trở lại gặp bác sĩ. Lại được thông báo tin vui, rất an bình: Này thưa cụ, thính giác của cụ bây giờ kể như tuyệt vời. Không chỗ chê. Gia đình cụ chắc sẽ hài lòng vì nay cụ lại tìm thấy niềm vui, rất nghe ngóng, rồi đây…

Quả y như rằng, tài nghệ nghe và ngóng của cụ cao niên lịch lãm, nay trở về thời kỳ vàng son, như khi trước. Nghe bác sĩ bảo, cụ bèn kính cẩn thưa với gửi, dù vị chuyên gia làng thuốc kia, tuổi chỉ đáng con:

-Dạ thưa ngài bác sĩ rất yêu quý, tôi cũng chưa cho gia đình hay biết gì sốt cả. Mới chỉ ngồi nghe con cháu trong nhà bàn bạc chuyện di chúc riêng tư gia đình, thế thôi. Nhưng tôi cũng đã quyết định rồi. Xem ra, bọn chúng chẳng biết kính trọng gì bậc “già lão” chi hết. Thế cho nên, tôi đã lẳng lặng thay đổi di chúc, đến 3 lần…”

Đặt vấn đề tôn kính, và tôn phục, chỉ để nhớ lại nhiều điều tốt lành, ta được dạy, vào khi trước. Những điều đã được ghi, ở Kinh Sách, như sau:

“Hãy tôn trọng mọi người

và yêu mến người anh em

hãy kính trọng Thiên Chúa

hãy tôn trọng nhà vua.”

(1Pê 2: 17)

Lời cuối, biết thuở nào quên, còn nhắn nhủ: đừng nên quên rằng, ta vẫn là một Kitô hữu và mỗi Kitô hữu đều mang tính tư tế, vua quan, và Kitô khác (Alter Christus) nữa đấy.

Trần Ngọc Mười Hai

không quên rằng

mình là kẻ hèn mọn, bé nhỏ

vẫn kính trọng mọi đấng bậc

ở bên trên.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )

Sunday, 4 October 2009

“Gió bay từ muôn phía”

tới đây ngập hồn anh, rồi tình lên chơi vơi.”

(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – Tà Áo Xanh)

(Ga 6: 61)

Tình nghệ sĩ, có là tình chơi vơi, lên như gió. Rất ngập hồn. Hay vẫn là, tà áo xanh. Bay muôn phía. Kín như mây trời. Ngồi chờ sáng?...

Ngồi tản mạn, bần đạo thường tự hỏi: “tình mình bây giờ”, có là tình của nhà Đạo vẫn được bảo, từ lời kinh chăng? Lời kinh Đạo Chúa rất Phúc Âm, vẫn là tình của Kinh Sách. Không tranh chấp. Chẳng kỳ thị. Rất dễ nhận. Bởi lời kinh Chúa phán, chứ không như ca từ người nghệ sĩ vẫn cứ hỏi:

“Sao mùa xuân, lá vẫn rơi?

Sao mùa xuân, lá vẫn bay?

Em ơi, có hoa nào không tàn?

Có trời nào, không mây?

Có tình nào, không phai? (Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

Tình đời là như thế. Còn, tình người đi Đạo chắc sẽ “không nhạt phai”. Bao giờ. Duy, có tình tự mà người tin vào Đạo Chúa, và Đấng Allah, lại thấy có điều khá lạ . Rất nghịch lý. Nghịch thường. Nghịch lý với nghịch thường ở hai Đạo? Nghịch lý là gì? Nghịch thường là sao? Có gì giống nhau giữa hai đạo, về nghịch lý?

Để hồi đáp, có lẽ cũng nên có một thoáng mạn đàm/định nghĩa về cụm từ này. Theo định nghĩa của tác giả Nguyễn Văn Khôn, trong “Hán Việt từ điển” thì: “nghịch lý” là những gì trái lý lẽ, thường tình.

Với nhà Đạo, nghịch lý là những gì khác với lý sự bình thường. Với, những chuyện rất nghịch nhĩ, khi mới nghe. Suy cho kỹ, vẫn là sự thật thường tình, trong đời. Một đời rất Đạo. Một sự thật về yêu thương và tha thứ trong đạo, như Lời Chúa nói ở Tin Mừng thánh Máccô, như:

Quả thật,

nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót,

còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu"

(Mc 10: 31),

hoặc Tin Mừng thánh Mátthêu:

“Vì kẻ được gọi thì nhiều,

mà người được chọn thì ít.”

(Mt 22: 14)

Mới đây, một tác giả ở Úc, là Lm Herman Roborgh sj có nghiên cứu về những nghịch lý/nghịch thường nơi Đạo Chúa và Hồi giáo, đã tìm ra 5 nghịch lý/nghịch thường “hơi giống nhau” được liệt kê và mạn bàn, ở bên dưới:

Nghịch thường thứ nhất:

Người Đạo Chúa và Hồi giáo, đều coi mình là tôi tớ và bạn của Chúa.

Thánh Kinh nói: Đức Kitô đến, để phục vụ. Chứ, không phải để được phục vụ. Thế nên, người nhà Đạo vẫn coi mình là kẻ tôi đòi. Tức, bày tôi chỉ đòi phục vụ lẫn nhau. Mà thôi. Mặt khác, Đức Giêsu cũng nói: Ngài có quan hệ thân thương/mật thiết với Chúa Cha. Vì thế Ngài gọi:“Abba! Cha ơi!” là như thế. Ngài còn khích lệ những kẻ dấn bước theo Ngài rằng: họ không còn là tôi tớ, nhưng là bạn của Ngài. Ngài muốn dân con/đồ đệ biết đường mà sẻ san tương quan mật thiết với Chúa.

Cũng thế, Kinh Koran gọi các kẻ tin nơi đạo Hồi là tôi tớ của Thiên Chúa. Tức, những người biết từ bỏ chính mình để thần phục và tuân giữ lệnh truyền của Thiên Chúa. Vì, Ngài là Đấng Quyền năng sáng láng biết rõ tâm can bí ẩn, của con người. Kinh Koran, cũng nói: Thiên Chúa quan hệ với con người qua cung cách hiền từ, xót thương:“Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu. Ngài tỏ lòng thương xót, hết mọi người.” Tôi tớ nào vững tin sẽ được gọi mời về với tương quan có Chúa, qua Đấng Quyền năng vẫn gần gũi họ. Gần hơn cả tĩnh mạch đưa vào trong tim.

Xem như thế, ca từ người nghệ sĩ ở trên, nên nghe thêm:

“Em còn nhớ anh nói rằng:

khi nào em đến với anh,

xin đừng quên chiếc áo xanh.” (Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

Đến với anh. Với Chúa. Trong tương quan mật thiết, thân thương, cũng đừng nên quên tấm áo của lòng thanh thanh, trong sạch. Chiếc áo xanh hay lời kinh đêm, là chỉ dẫn về một nghịch lý hoặc nghịch thường khác, ở

bước thứ hai:

Nơi Đạo Chúa và đạo người Hồi, cả hai đều coi niềm tin của con dân mình, là con đường đích thực. Cả hai đều khẳng định về đường lối nhỏ, khác. Nhà Đạo tin Đức Kitô là Con Đường, dẫn đến Chúa. Bởi, chính Chúa đã mặc khải:

Tôi nói cho các ông hay:

từ phương đông đến phương tây,

nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng tổ phụ Áp-Ra-Ham

(Mt 8: 11).

Xem thế, có thể nói: Hội thánh Công giáo, công nhận người ở ngoài cũng có được ơn cứu độ. Hội thánh, công nhận giá trị của đường nhỏ khác, dẫn đến Chúa.

Tợ như thế, kinh Koran nói: Thiên Chúa chọn đạo Hồi làm tôn giáo rất thực:“Hôm nay, Ta hoàn thiện đạo cho các ngươi. Ta hoàn tất mọi chúc lành để gửi đến với các ngươi. Và, Ta chọn tôn giáo cho các người là đạo Hồi.” Đồng thời, kinh Koran thừa nhận niềm tin của người ở ngoài, như sau: ‘người đạo Hồi, đạo Do Thái, Thiên Chúa giáo hay Sa-bian, đều tin vào Chúa. Tin vào ngày Cánh chung. Mọi đạo đều làm điều tốt lành. Đều được Thiên Chúa thưởng công bội hậu.”

Rõ ràng là thế, mà sao nghệ sĩ xưa, vẫn coi đó như nghịch thường, nên mới viết:

“Lúc anh ra đi, lạnh giá tâm hồn

hoa mai rơi, từng cánh trên đường

lạnh lùng mà đi, tiếc nhớ thêm cho

hoa tàn, nhạc bay theo không gian.” (Đoàn Chuẩn/Từ Linh- bđd)

Thật ra, hoa có tàn/nhạc có “bay theo không gian”, thời gian đi nữa, thì niềm tin người Đạo Chúa, nào phai nhạt? Chắc chắn là thế, như lời kể về

nghịch thường thứ ba, ở hai Đạo:

Điểm thứ ba, mà người Đạo Chúa lẫn đạo Hồi đều công bố sự thật niềm tin của mình, là: vẫn quyết tâm đạt đến đối thoại.

Cụ thể hơn, Tân Ước nói: Đức Giêsu sai phái con dân/đồ đệ Ngài ra đi mà giảng dạy và làm phép rửa nhân danh Cha, Con và Thánh Thần. Và, vào lúc Chúa sinh, Thần thánh trên thiên cung, đã đồng thanh loan tin vui mà hát rằng:”Bình an cho người đuợc hưởng ân huệ của Chúa’. Công Đồng Vatican II đã khích lệ kẻ tin Chúa hãy sống hài hoà, bình an với đạo Hồi. Có nhiều văn kiện, cũng hỗ trợ cuộc đối thoại giữa các kẻ tin vào cùng một Chúa. Dù khác giáo phái.

Cũng thế, truyền thống đạo đức từng đặt nền tảng trên Kinh Koran và luật Sunna của tiên tri Mohammad cũng khuyến khích người đạo Hồi mời gọi mọi người theo đạo của họ, và dặn rằng: “Không nên cưỡng bức người khác theo tôn giáo mình.” Kinh của đạo Hồi, còn khuyến khích người theo đạo này nên kiếm tìm mẫu số chung giữa họ và các đạo khác. Nên, mới bảo:“Đức Chúa của chúng ta và Thiên Chúa của anh em, cũng là Một. Cùng giống nhau.”

Dựa vào các điểm trên, ta tự hỏi: phải chăng nghệ sĩ xưa đã “ngộ”, nên mới hát:

Biết nhau để mà nhớ

nhớ nhau để sầu dâng

tình trần ôi mong manh…” (Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

Mong manh. Tình sầu dâng. Là bởi, người đời chưa nhận ra nghịch thường/nghịch lý,

bước thứ tư:

Nghịch thường bước thứ tư, là: tín hữu hai đạo đều nhận ra phương cách thành kẻ tin: cách bình thường và cách hoàn thiện hơn. Hẳn, kẻ tin chúng ta đều biết: Đức Kitô đến, không phải để phá huỷ lề luật hoặc dẹp bỏ tiên tri. Nhưng, là dạy mọi người biết thực thi phương án tốt nhất. Tức, tuân thủ lề luật, thật đúng cách.

Ngài vẫn dẫn dụ: ‘đó là cửa hẹp. Là, con đường gồ ghề dẫn đến sự sống’. Ngài đã chẳng khuyên răn người thanh niên giàu có, trong Tin Mừng, là:

Nếu anh muốn trở nên hoàn thiện,

hãy bán tài sản của anh đi

mà đem cho người nghèo,

anh sẽ được một kho tàng trên trời.

Rồi đến theo tôi."

(Mt 19: 21)

Tựa như thế, kinh Koran cũng chuyển đến người người đi theo đạo Hồi, cũng một thông điệp có lời dạy về niềm tin được các ngôn sứ phổ biến từ thời Abraham:

“Người dẫn dắt tôi vào nơi thẳng tắp, chính trực,

vào với niềm tin của Abraham, đấng công chính,

với niềm tin trinh trong,

không phải là đa thần.”

Kinh Koran công nhận mức độ khác nhau để giúp người theo đạo mình, biết đường mà gần gũi đấng Allah. Biết, nói về ‘con đường thẳng tắp’ tạo nhiều thứ; hơn là đòi hỏi qui cách bình thường, nơi kẻ tin. Người đi đạo Sufi, tức đạo có mặt ở trần gian, trước đạo Hồi, cũng đã triển khai ‘con đường’ và ‘trạm dừng chân’, tương tự. Nơi, qua đó kẻ theo đạo Hồi có những bước tiến dài, trong sống đạo.

Có thể là, vì nhớ những chuyện tương tự, nên nghệ sĩ xưa vẫn hát:

“Em còn nhớ anh nói rằng

tâm hồn anh dễ chóng quên

tâm tình anh dễ chóng phai.

Em ơi, có đâu ngờ đến rằng

có tình nào không phai

như tình anh với em.” (Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

Nghịch lý/nghịch thường, là ở chỗ: tuy được dạy rằng “tâm hồn anh/tâm em dễ chóng quên”. Tâm hồn anh và mối tình cũng em, cũng dễ phai. Phai hay nhạt, còn tuỳ thuộc cố gắng của kẻ tin. Vẫn cố gắng chống lại sự dữ/ác thần. Để rồi, cầu Chúa ban ơn thứ tha cho riêng mình.

Bước thứ năm:

Thứ tha/hoà giải, là những nghịch lý/nghịch thường bước thứ năm. Ở hai đạo.

Nghịch thường ở đây rất dễ thấy. Nhất là khi, ta nghe Chúa nói:

“Thầy đến

không phải để đem bình an,

nhưng để đem gươm giáo.”

(Mt 10: 34).

Ngài nói thế, để chỉ trích các nhà lĩnh đạo tôn giáo, chỉ biết sống như người giả hình. Và, Ngài từng đuổi đám người buôn thần bán thánh ra khỏi đền thờ, là vì thế. Ngược lại, Ngài còn dạy con dân/đồ đệ biết thứ tha cho kẻ địch thù. Bởi, chính Ngài đã tha cho những kẻ đóng đinh Ngài vào thập giá. Hạ nhục Ngài.

Kinh Koran cũng cho phép người theo đạo Hồi, ‘tranh đấu tuân theo đường lối của Thiên Chúa’, và tuyệt đối ngăn cấm họ gây hấn. Trái lại, Kinh này còn khuyên họ biết hối lỗi và thứ tha. Coi đó, như chọn lựa phải lẽ. Đấu tranh, bao giờ cũng phải được cân bằng với tha thứ. Hối tội.

Nói cách khác, dân con Đạo Chúa lẫn người đi theo đạo Hồi đều thấy chuyện nghịch lý/nghịch thường ở quá trình truyền thống, của đạo mình. Chối bỏ, hoặc tránh né các thực tại nghịch thường/nghịch lý, cũng chẳng lợi ích gì. Trái lại, tất cả những nghịch ngạo ấy đều đi vào cuộc sống của kẻ tin. Nhờ đó, cho ta biết đến sự cao cả của Thiên Chúa. Vẫn luôn hiện diện. Trong trần thế. Nơi ta. (x. Herman Roborgh, Eureka Street 25/6/2009)

Cảm nghiệm điều này, hẳn nghệ sĩ nhà mình đi dần vào kết luận, rất thực tiễn?

“Rồi chiều nào băng giá

tâm hồn tìm đến nhau

Em mơ trong tiếng hát

Anh mơ trong nét bút, đa tình sao.” (Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

Đa tình sao? Là bởi, “nhạc đời còn ghi những nét thương yêu”, nên người người vẫn mãi ghi đậm các nghịch lý/nghịch thường ở lời dạy, nơi nhà Đạo. Nghịch thường trong cách diễn tả. Nhưng, không nghịch ngạo, trong cuộc sống. Bởi, sống Đạo là sống chung cùng với những nghịch lý/nghịch thường. Của nhiều thứ. Các thứ và những sự, cứ diễn ra hằng ngày, chốn nhân gian. Trần thế. Suy cho cùng, dù gặp nhiều nghịch thường trong cuộc sống, ta vẫn nhớ lời nhắn nhủ từ Đức Chúa, ở Tin Mừng:

“Thần Khí mới làm cho sống,

chứ xác thịt chẳng có ích gì.

Lời Thầy nói với anh em

chính là Thần Khí và là Sự Sống.”

(Ga 6: 61)

Nhờ Thần Khí là Lời, ta hiểu được thế nào là nghịch thường/nghịch lý, trong cuộc sống. Những chuyện rất nghịch và rất thường, vẫn xảy đến. Với ta. Ở đời thường.

Để minh hoạ ccho chuyện phiếm hôm nay, mời bạn mời tôi, ta nghe thêm một truyện kể, khá nghịch nhĩ, mà người thường ở huyện vẫn cứ gặp. Trong cuộc đời. Như sau:

“Hai vị cao niên sống ở viện, cứ nhìn trời nhìn đất rồi nhìn nhau, thấy hoài cũng chán. Các cụ rủ nhau ra ghế đá công viên ngồi một chốc, xem trời đất thiên hạ có còn xoay vần theo kiểu nghịch ngạo như trước không. Trong khoảng thời gian rất phút chốc, hai cụ hỏi nhau:

-Này ông bạn, tôi nay 83 cái xuân tròn. Cũng biết khá nhiều chuyện. Chuyện không xuôi rót, trót lọt hoặc chuyện rất bình thường. Nhưng sao dạo này, bọn trẻ cứ làm nhiều chuyện ngược đời, rất khó coi? Còn cụ, cụ có nhận xét gì về những lý lẽ rất nghịch ngạo ấy không? Có khác xưa, không? Tôi thấy nhiều cái ngược đời, nữa đấy cụ.

-Chẳng giấu gì cụ, tuổi tôi đây không bằng tuổi cụ, nhưng cũng thấy mình bây giờ như con nít.

-Con nít nghĩa là làm sao, tôi chẳng hiểu?

-Thưa cụ, tôi có cái cố tật, là: xưa kia, cái gì cũng chơi, cũng thử hết. Vì thế, giờ này mới ra nông nỗi này. Nghĩa là, già đầu mà như con nít. Người thì to lớn. Mà, ăn với uống chỉ tí chút, như trẻ con. Xử sự thì không còn giống như người lớn, vẫn hệt như con trẻ. Muốn ăn là ăn. Muốn ngủ là ngủ. Chẳng giờ giấc. Chẳng nghe ai. Bởi thế nên, các cụ ta hồi xưa nói có lý, chứ đâu nào nghịch ngạo: “một già một trẻ, ngang nhau.”

Già trẻ ngang nhau, có thể là nghịch lý, ở đời thường. Bởi vậy, nên người thường hễ gặp người già hay bọn trẻ, đều “kính nhi viễn chi”. Vẫn đưa các cụ vào viện, như đưa con trẻ vào chốn ‘ký nhi’, để khỏi gặp nghịch cảnh, trong đời mình.

Sống đời nghịch cảnh, có những chuyện nghịch ý, vẫn là chuyện thường rất ngỗ, mà không nghịch. Bởi, có nghịch ngạo hay nghịch biện, nhưng không nghịch luân nghịch đức, là tốt rồi.

Thế nên, lời cuối gửi đến tôi/đến bạn, là ta cứ thế mà sống. Cứ thế, nghe lời giảng dạy của đấng bậc rất cao, nhưng không nghịch. Dù, nghịch biện, nghịch giải. Dù, nghịch liệu, nghịch thuyết. Rất thường tình. Ở trần thế.

Trần Ngọc Mười hai

mong quen dần

với các nghịch biến

của đời thường.

Ở huyện.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com