Sunday, 9 August 2009

“Nếu có điều gì vĩnh cửu được”

thì em ơi, đó là tình yêu của chúng ta.”

(Từ Công Phụng – Mãi mãi bên em)

(Mt 10: 28)

Phải nói thật, ngay đây rằng: bần đạo không rõ và cũng chẳng tỏ chút nào về thân phận người nghệ sĩ họ Từ tên Phụng, dẫn ở trên. Nhưng, giòng chảy những thơ và nhạc, cùng ca từ do anh viết, sao nó gần gũi với tư tưởng nhà Đạo mình, đến như thế. Này nhé, là người thường ở huyện, nào đã mấy ai bận tâm đến những là: “vĩnh cửu”, “cửa hồn em”, “tận cuộc đời”, “giữ mãi lời nguyền”, vv và vv.

Trong khi đó, có Kitô hữu người Úc nọ là Eric Geoffreys, cứ lập đi lập lại với bần đạo, thoạt khi thăm viếng các đền đài, ở Giêrusalem, mãi một câu: “lại một ABC nữa, mấy mùa ABC rồi…” Cụm từ “ABC” mà anh tóm gọn, gồm toàn những chữ rất nghe quen, như: “another bloody church”, mà nếu dịch cho sâu/cho sát, có lẽ bạn và tôi, rồi sẽ bảo: “lại một đền đài chết tiệt nữa, cứ mà xem!

Thế đấy, ngôn từ của một con dân nhà Đạo. Thôi thì, cũng nên quên đi chuyện dịch và thuật, trong chốc lát. Để rồi, tôi mời bạn, ta đặt chân thăm viếng chốn “hồn thơ” của tác giả. Ở ngoài Đạo:

“Nếu, có điều gì vĩnh cửu được,

thì em ơi, đó là tình yêu chúng ta.

Rồi mai đây, anh sẽ đón em về,

Mở cửa hồn em vào đó, rong chơi.” (Từ Công Phụng – bđd)

Quả có thế. Rong chơi miền “vĩnh cửu”, đâu là ý tưởng của riêng nhà Đạo mình. Hay ai đó. Cũng chỉ là ngôn từ, mà nhà thơ/người viết nhạc họ Từ đã “mơ màng”, nhiều ý tứ:

“Bờ môi ngoan, hương tóc rũ vai mềm

từng ngày dài, hồn anh mãi tương tư…” (Từ Công Phụng – bđd)

Thôi thì thôi nhé, cũng ngần ấy thôi. Thôi, này tôi và bạn, ta cứ tìm hiểu đôi điều về Đạo, xem có gì mà bạn đạo người Úc nọ cứ gọi đó là “đền đài chết tiệt”, đến là thế. Đạo mình, là Đạo nắm vững chân lý rõ như ban ngày. Chân và lý, cả sự chết lẫn sự sống. Cả những nỗi buồn lẫn niềm vui sống. Niềm vui đi Đạo. Trong Đạo. Và, vui đời hành Đạo, như truyện kể, thật lễ mễ. Ở dưới đây:

“Chuyến bay nọ, người phụ nữ trẻ vừa hành trình chung một chuyến với cố đạo vị vọng kia, vẻ bề ngoài tuy không còn trẻ nữa, nhưng tâm hồn lại trẻ hết chỗ chê. Biết rõ rằng: bậc vị vọng/cha cố chỉ làm việc lòng lành phước đức, chẳng từ một ai. Và, câu chuyện trao đổi giữa một già và một trẻ, đã như sau:

-Thưa cha, con là người có Đạo. Hôm nay gặp cha, con mừng quá. Nếu có thể được, xin cha giúp con một tay, có được không thưa cha?

-Được quá đi chứ. Nhưng, đừng bắt cha làm điều gì trái giới răn của Chúa Trời, nhé con.

-Không đâu, thưa cha. Số là, chuyến này, con mua được cái máy xấy tóc rất tối tân, để làm quà sinh nhật thứ 60, cho bà mẹ. Máy này, còn “dzin” chưa xài. Khổ một nỗi, nó lại vượt quá qui định, của hải quan. Nên con sợ. Sợ rằng, hải quan ở đây họ sẽ làm khó rồi tịch thu, e rằng mẹ con sẽ không có đồ xài, ngày lễ lớn. Vậy, có thể nào cha cầm giùm con món đồ nhỏ ấy, miễn sao che mắt thế gian, là được, phải không cha? Con nghĩ, cha cứ để nó ở phía dưới kia, bên trong chiếc áo chùng mầu đen đen, sẽ chả có ma nào dám rớ vào khu vực “cấm địa” ấy đâu mà cha sợ!

-Tôi cũng chẳng ngại gì chuyện giúp đỡ. Nhưng, xin báo trước đừng bắt tôi nói dối đấy.

-Không đâu, cha. Cứ nhìn khuôn mặt hiền từ của cha, ma nào dám nghi ngờ điều gì xấu.

Cả hai người, một già/một trẻ đi ngang qua khu vực kiểm soát, người nữ phụ trẻ bèn nhường chỗ cho cha già bước lên trước, để kiểm soát. Viên chức hải quan thấy vậy, hỏi:

-Thưa linh mục. Hôm nay linh mục có đeo mang thứ gì cần khai báo không?

-Thú thật là: từ đầu đến thắt lưng, giống mọi người, tôi chẳng có gì để khai báo, hết.

-Lạ nhỉ. Thế thì, từ thắt lưng xuống chân trần, ngài có đeo mang thứ gì khả nghi không?

-Có đấy, anh ạ. Chỉ là món quà tuyệt vời dành cho nữ giới. Cốt tạo niềm vui, thế thôi. Có điều là, mãi đến hôm nay, cái đó vẫn chưa có ai xài thử, dù một lần.

-Thôi đi cha. Cha cứ tự nhiên tiến về phía trước, mà đi cho…

Tiến về phía trước mà đi cho, không chỉ là khẩu lệnh của chàng hải quan có chức, có quyền, đà quyết định. Rất nhiều khi, ta cũng vẫn đi; nhưng chẳng bao giờ tiến về phía trước. Cứ như người “dậm chân tại chỗ”, hoặc dừng lại, ở nhiều nơi. Những nơi, những chỗ, mang tính rất quyết định. Cho cuộc đời. Và, người đời. Hệt như quyết định gây thắc mắc/cãi tranh. Ở nhân gian, trần thế.

Chốn nhân nhiều chuyện, có những việc hệ trọng, không chỉ liên can đến người trong Đạo. Nhưng, cả người ở ngoài nữa, khiến hãi sợ. Vốn hãi sợ, nên người trong Đạo và kẻ ở ngoài, vẫn có những tình tự ngại ngần. Cứ mãi lo xa. Lo, không chỉ những chuyện khó dễ, về thể xác. Lo, chuyện linh hồn. Đạo đức. Chức năng. Tương phản.

Có lo hoặc sợ, thì bạn và tôi, ta cứ trở về nguồn thương yêu sử sách, có thánh kinh. Nghe thêm một lần, Lời Chúa nói:

"Anh em đừng sợ

những kẻ giết thân xác

mà không giết được linh hồn.

Đúng hơn, anh em hãy sợ

Đấng có thể tiêu diệt

cả hồn lẫn xác, trong hoả ngục.”

(Mt 10: 28)

Thật sự, thì Lời Chúa trích dẫn hôm nay không là nhắc nhở gửi đến với người còn sống, thời hiện tại. Mà, những gì có liên can/dính dự vào điều đã xảy ra, chốn bất ưng. Hoả ngục. Đầy hãi sợ.

Về hãi sợ, nhiều người không chỉ những hãi cho cuộc đời này, mà thôi. Nhưng, cả những gì xảy đến, thời buổi trước. Hãi và sợ, đến độ bạn đạo của tôi dám đúc kết thành một han hỏi, rất thắc mắc như sau:

“Mới đây, con có dịp được xem cuốn phim mang tựa đề “Valkyrie”, trong phim này tài tử gạo cội Tom Cruise đã thủ vai Đại tá Claus von Stauffenberg, diễn tả những cá tính nổi bật của viên sĩ quan người Đức vốn dính líu vào âm mưu ám hại Hitler. Rồi còn rắp ranh ý định lật đổ bộ máy cường quyền của Đức Quốc Xã, nữa. Thật ra, xưa nay nhiều người vẫn coi Claus Von Stauffenberg là người Công giáo, rất mộ đạo. Phần con lại khác. Con vẫn tự hỏi, một khi mình tra tay dính dự vào những chuyện đổ máu, giết chóc, hoặc gian dối, thì làm sao lại có thể và xứng đáng gọi họ là những người Công giáo mộ đạo, được nữa chứ? Xin cha ban lời chỉ giáo, để con được yên tâm.”

Chỉ giáo hay chỉ đạo, vẫn là bổn phận của đấng bậc “cha thiên hạ” xưa rày vẫn cứ thưa và thốt. Thưa, về chuyện phải Đạo. Thốt, về ngón nghề tay mặt/tay trái của đấng bậc vị vọng, ở Sydney. Ly kỳ. Nhiều học thức. Thôi thì, cứ mời bạn và mời tôi, ta nghe thử ý kiến của đấng bậc vị vọng. Ở đây. Xem sao:

“Anh/bạn hỏi về hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt, mà theo tôi thật khó mà trả lời, cho đúng. Khó, là bởi: làm như thế, rất dễ tạo thành tiền-đề cho hiểu biết xuyên suốt, ngang qua dữ kiện đặc biệt, có liên quan. Nhưng, anh/bạn cũng như tôi, ta có thể bảo rằng: ở một số hoàn cảnh nào đó, ta vẫn có đủ tư cách, đạo đức/chức năng để tra tay lật đổ những kẻ nắm quyền sinh sát trong chính phủ, xử không đúng.

Một giáo sư người Mỹ là ông Germain Grisez, một thần học gia luân lý nổi tiếng, đồng thời là tác giả cuốn tiểu luận dầy 3 tập, có tựa đề “Con Đường Chúa đi”, từng đề cập đến vấn đề này, ở tập 2.

Dưới tiêu đề “Ít khi, ta dùng bạo lực để thay thế chế độ tồi tệ” ở trang 885, tác giả có viết: “Chế độ nào cương quyết ngăn chặn hoạt động chính đáng, hầu dấy lên cuộc cải tổ bất bạo động; hoặc, dám sử dụng bạo lực hợp pháp, để duy trì cơ cấu bất công, thì chính họ và những người hỗ trợ họ, đều phải chịu trách nhiệm về cách mạng bùng nổ khi dân chúng đã tuyệt vọng, không còn sức đeo đuổi sự công minh chính trực. Thêm vào đó, khi có giới cầm quyền nào đó cương quyết theo đuổi mục tiêu mình đặt ra, gây xung đột về lợi ích chung của đất nước, lại không có thẩm quyền để quyết định, thì tình trạng ấy chẳng khác gì hoàn cảnh của người có chính nghĩa, luôn chống đối giới cầm quyền, đã xử sự rất không phải.” (Tôma Akinô, Thần Học Tổng Hợp, 2-2, q.42,a.2, ad 3)

Chính vì thế, giáo huấn Hội thánh vẫn dạy rằng: ta có thể biện minh tính cách luân lý/đạo đức cho việc cậy nhờ sức đối kháng có vũ trang, như phương cách tối hậu nhằm “ngăn chận tình trạng chuyên quyền/bạo ngược thấy rõ, vẫn kéo dài, khiến tai hại cho quyền căn bản của mọi cá nhân cũng như làm tổn hại lợi ích chung, của mọi người.” (x. Giáo huấn về Tự Do và Giải Thoát với tín hữu Đức Kitô, 1986, t. 79)

Giáo sư Germain Grisez cũng nhắc nhở việc ta phải có sự dè dặt cần thiết, trước khi quyết định tham gia kháng chiến bằng vũ lực, mà theo ông, ta chỉ nên sử dụng nó như biện pháp tối hậu, mà thôi. Việc này phản ánh điều mà Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, từng đề cập.”

Nói theo cung cách của nghệ sĩ ngoài đời về chết chóc, vĩnh cửu, có lẽ sẽ phải nói như thế này:

“dù mai đây, trăng có úa bên thềm

và ngày buồn, thu tàn kéo qua đây

rồi mùa đông vội vã, đến bên ta.

Anh giữ mãi, lời nguyền cùng bên em.” (Từ Công Phụng – bđd)

Lời nguyền mùa đông, hay lời dạy của Hội thánh, ta phải giữ. Giữ, như Hội thánh vẫn làm qua bao mùa biến động, nổi trôi. Trong Giáo hội. Ở mọi nơi. Chính vì thế, mà đấng bậc vị vọng nhà ta tiếp tục triển khai thêm:

“Giáo lý Hội thánh còn dạy ta rằng: “Việc gia nhập lực lượng đối kháng có vũ trang hầu phản kháng, chống lại giới cầm quyền chủ trương độc đoán, sẽ không là chuyện hợp pháp, trừ phi các điều kiện sau đây phải được áp dụng: 1/ Khi, rõ ràng là: có sự vi phạm trầm trọng và kéo dài, quyền căn bản của con người; 2/ Khi, mọi phương tiện để khôi phục/đền bù đều thất bại; 3/ Nhưng, những việc phản kháng/chống đối như thế, sẽ không kéo theo sau những xáo trộn nào, còn tệ hơn; 4/ Khi, không còn hy vọng nào cho một thành quả vững chắc, có cơ sở; 5/ Khi, rõ ràng là, không thấy có giải pháp nào tốt đẹp hơn, thực hiện được.” (GLHTCG#2243)

Những điều kiện kể trên ghi rất rõ. Cho nên, thông thường thì: ít có khi nào ta có thể thực hiện được, những điều kể ra như thế. Vấn đề là, ta cần xem xét/phán đoán cho cẩn thận, để xem các điều kiện nói ở trên có áp dụng được hay không, với chế độ ức hiếp/chuyên quyền lộng hành, vào thời đó. Tức, thời Hitler làm mưa làm gió. Nói như thế, tức bảo rằng: bản thân tôi, không thấy mình có khả năng thích hợp để phân tích các điều ấy, cho thật kỹ. Ở đây. Trong bài này.

Dầu sao đi nữa, ra như có điều ta có thể quả quyết được, là: chế độ chuyên quyền/ức hiếp của Hitler là trường hợp đặc biệt để ta có thể đặt thành vấn đề. Bởi, các điều kiện kể trên đều thấy có thể áp dụng rất đúng cho trường hợp đó. Vì thế nên, chuyện tham gia phong trào kháng chiến có vũ trang, ở đây, là việc chẳng đặng đừng. Hợp tình. Hợp cả lý.

Cuốn phim mà anh/bạn vừa viện dẫn, có đoạn nói đến “Chiến Dịch Valkyrie”, trong đó có đến 15 âm mưu tìm cách ám hại nhà độc tài Hitler. Điều này cho thấy: rất nhiều người nhận ra rằng: chế độ phát xít ông tạo ra, thật là quái ác, đầy những tội, đủ để thúc giục nhiều người tham gia lực lượng kháng chiến có vũ trang, mà dứt điểm chế độ tội lỗi đó.

Trong số những người hoạt động chống Đức Quốc Xã của nhà độc tài Hitler lúc bấy giờ, có Hải sư Đô đốc Wilhelm Canaris, là người đứng đầu hoạt động phản gián. Nên, khi nghe nói Hitler có ý định bắt cóc hoặc ám hại Đức Giáo Hoàng Piô XII năm 1943, thì chính ông đã thông báo cho phía đối tác người Ý biết, nên âm mưu trên đã không thành. Tháng Hai năm 1944, Canaris đã bị cách chức, không còn thủ vai đầu não cơ quan phản gián Đức nữa. Sau đó, ông bị cầm cố tại gia và bị hành quyết, năm 1945.

Rõ ràng, Giáo sư Germain Grisez có đưa ra tiêu chuẩn để xem xét, nếu có điều gì không chắc chắn về tính luân lý/đạo đức trong quá trình diễn biến sự việc. Lấy ví dụ trường hợp Đức Quốc Xã: “Nếu không biết chắc luân lý có cho phép ta ám hại nhà độc tài chuyên chế Hitler không, thì chỉ khi nào ta xác tín việc ấy được phép làm, thì khi ấy ta mới bị ràng buộc phải tham gia âm mưu sát hại, nhà độc tài Hitler.”(sđd, tr. 287).

Cuối cùng, Giáo sư Grisez kết luận rằng: những người như thế, dù ở tình trạng nghi hoặc, vẫn nghĩ rằng nhiều khả năng đích thật là việc ám hại nhà độc tài quái ác Hitler là việc cho phép, thì khi ấy ta mới được phép tiến hành. Nhìn chung, chừng như với chế độ quỉ quái của Hitler, ta có chính nghĩa để thành lập một đạo binh kháng chiến chống sư chuyên quyền, độc đoán.” (Lm JohnFlader, The Catholic Weekly 28/6/2009, tr. 10)

Để một bên, những biện luận/phân tách thật khúc chiết, thiết tưởng cũng nên bàn và phiếm chút gì nhè nhẹ. Thư giãn. Cho thoải mái. Rất dễ tiêu. Dễ tiêu hoá, bằng một truyện kể ngăn ngắn. Gọn nhẹ. Rất như sau:

“Vào giờ học tâm lý, vị giáo sư bất chợt khám phá ra rằng đám học viên khá cao niên của mình có vẻ hơi bị động. Ông bèn quyết định cho mọi người làm một bài thực tập, với đề tài, chỉ thế này: “Trong một tuần, bạn phải cố làm sao đến với người mình thương và nói với người ấy, rằng: bạn yêu họ. Bởi, trong cuộc sống, tuy ta rất gần người thân, nhưng ít khi nào nói rõ những lời âu yếm, với người mình thương.” Đề tài xem ra không khó. Chỉ khó, có mỗi điều: học viên ở trường ai cũng trên dưới 30. Tức, ít nhiều cũng đều có kinh nghiệm về yêu thương, nhưng hiếm khi tỏ bày tình thương, mình đang có.

Tuần sau lại, vị giáo sư tâm lý đi thẳng ngay vào câu hỏi, xem có học viên nào tình nguyện kể chuyện đời mình, hay không. Ông đinh ninh: người bước lên bục trước nhất, phải là học viên nữ, mới đúng. Ai ngờ, cánh tay hôm ấy giơ lên, là của nam nhân. Trông anh thật tình. Chân phương. Đầy cảm xúc. Cảm xúc anh nêu, là lời lẽ tóm gọn như sau:

-Cách đây 5 năm, cha tôi và tôi có sự bất bình thấy rõ, xem ra không thể nào hàn gắn. Thấy mặt nhau, cả tôi lẫn ông đều tìm cách ngoảnh mặt về phía khác, cố tránh né tình huống khó xử, ngoại trừ vào các buổi hội họp bất đắc dĩ trong gia đình, thôi. Ngay lúc đó, chúng tôi cũng không phát biểu một lời nào. Vừa rồi, tôi quyết định là khi về nhà, sẽ tự kỷ ám thị nhất định phải nói với cha mình, là: con thương cha lắm. Chỉ với quyết định ấy thôi, tôi đã thấy tim gan mình nhẹ hẳn lên. Đêm hôm đó, tôi không tài nào chợp mắt. Hôm sau, tôi đánh xe đến nha cha mẹ, rung chuông , rồi thầm nguyện cầu Chúa cho người mở cửa đón mừng phải là cha tôi, mới được. Bởi, nếu là Mẹ ra mở cửa, thì lời nói yêu thương, đối với tôi, thật quá dễ. May thay, người mở cửa chính là Cha. Không chậm trễ, tôi bèn bước vào cửa và nói trước:

-Ba à, hôm nay con đến chỉ để xin cha tha thứ cho con và nói rằng con thương ba lắm.

Lúc ấy, như có luồng gió đổi mới hoàn toàn con người của cha tôi. Trước mắt tôi, rõ ràng là khuôn mặt của ông hiền dịu lại. Các nếp nhăn nơi khoé mắt, dường như tan biến hết. Và, ông bắt đầu khóc. Ông chạy đến. Ôm chầm lấy tôi, rồi nói:

-Ba cũng thương con lắm. Nhưng ba không biết làm thế nào để nói được câu nói đó.

Chưa hết. Hai ngày sau bữa đó, cha tôi tự dưng lên cơn đột quỵ, và mãi đến ngày hôm nay, ông vẫn còn nằm nhà thương. Tôi trộm nghĩ, nếu tôi lưỡng lự, vẫn không chịu đến trước với cha, chắc chẳng bao giờ tôi có được cơ hội đó.

Cũng chưa hết. Từ lúc thấy lòng mình nhẹ nhõm vì cởi bỏ được những dồn nén, trong tâm can, tôi lại khám phá ra nhiều điều. Nhiều câu nói của các học giả nổi tiếng, khắp nơi. Trong đó có câu nói của ông tổ ngành triết lý thần học, thời Trung Cổ, là thánh Tôma Akinô, từng có những lời quả quyết rằng: Chẳng ai có được niềm vui thực sự, trừ phi người ấy được sống trong tình yêu thương”. Cũng từ đó, tôi thấy mình đã nắm bắt được niềm vui thực sự. Hạnh phúc đích thật, mà không biết.

Chuyện triết lý thần học về cuộc sống, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng, người kể vẫn không quên một lời bàn. Lời bàn từ người kể, bao giờ cũng quanh quẩn những thương yêu và ganh ghét. Yêu người thân cận. Ghét kẻ địch thù, quỷ quái. Ác tính. Là, chuyện thường tình. Và, lời bàn hôm nay, cũng na ná tựa như ca từ người nghệ sĩ, về vĩnh cửu.

Cuối cùng thì, lời bàn hôm nay và mai ngày vẫn là lời thân thương, của mọi thời:

“Nếu có gì vĩnh cửu được,

thì em ơi, đó là tình yêu chúng ta

dù mai đây trăng có úa bên thềm

Về với chủ đề ta mạn bàn, có lẽ sẽ phải nói: “dù mai đây, chính nghĩa có thắng hay bại”, hãy cứ một lòng yêu thương nhau. Bởi, điều “vĩnh cửu”, không là gì khác ngoài “tình yêu của chúng ta”. Và chính nghĩa, đâu có là gì, nếu không vì: tình thương yêu, ta vẫn có. Nồng nàn. Vĩnh cửu. Nồng nàn trong tương quan với Chúa. Vĩnh cửu, là tình thương yêu, người với người. Bất kể, người đó có là nhà độc tài. Chuyên chế. Ác độc.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn luôn tin vào

sự vĩnh cửu,

của Tình yêu.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com

Monday, 3 August 2009

“Nhớ tới năm xưa bên nhau”

bước trong chiều mưa phím ru nhẹ đưa Bến cũ đam mê say sưa lá thu còn rơi người xa vắng người.”

(Ngô Thuỵ Miên – Mắt biếc)

(Xh 32: 19)

Nhớ chuyện xưa, bần đạo nào đâu nhớ “chiều mưa trên phím ru, nhẹ đưa”, hoặc “bến cũ đam mê say sưa”. Đành chịu. Chuyện mà bần đạo nhớ nhất, là câu nói của các cụ. Khi xưa. Thường vẫn bảo. Các cụ nói: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn!”

Vào đầu niên biểu hai nghìn lẻ chín, bần đạo cũng đã đi xa, nhiều ngày đàng. Dù, chưa học được sàng khôn nào cả. Nhưng, bần đạo cũng ghi tạc, một nỗi nhớ. Nhớ, không gian vắng lặng, nhiều sỏi đá. Nhớ, cả thời gian có khung trời kỷ niệm. Có mắt biếc. Mưa tuôn. Thời gian, ghi khắc chuỗi không gian dài, đầy nhung nhớ. Nhớ là: ngày xa xưa hôm ấy có đấng bậc tiên tổ Môsê, nơi đây từng hiện diện. Hiện diện miền xưa, sa mạc/sỏi đá, ngài uất hận. Hiện diện thời xa xưa, có kinh nghiệm 40 năm lưu đày, ngài giận dữ.

Nhớ năm xưa, là nhớ cung cách của đấng bậc tiên tổ, tuy rất hiền những vẫn giận. Giận nhất, là khi dân con nhà Do Thái dám từ bỏ Giavê Thiên Chúa, để đúc bò vàng mà thờ lạy, như sử sách rày ghi chép:

“Khi đến gần trại,

ông thấy con bê

và những bọn người đang nhảy múa.

Ông Mô-sê nổi cơn thịnh nộ:

Ông ném các tấm bia đang cầm trong tay

và đập vỡ dưới chân núi.”

(Xh 32: 19)

Nhớ tới năm xưa, là nhớ cả những ca từ mà người nghệ sĩ lâu nay vẫn cứ hát:

“Dĩ vãng như bao cung tơ

lướt theo chiều mơ, kết muôn bài thơ.

Nuối tiếc yêu đương xa xưa,

Tháng năm nào trôi để nhớ nhung người.” (Ngô Thuỵ Miên – bđd)

Nhớ chuyện xưa, ta không chỉ nhớ có “một sàng khôn” em học được. Như là, nhớ đến cả những việc lỉnh kỉnh xảy ra ở “miệt dưới”, bấy hôm nay. Chuyện xảy đến, ở đất miền tận cùng, có chuyện dài kể lể để mà nhớ. Chuyện lỉnh kỉnh. Hỏi han. Ởở xứ miền triền miên câu hỏi/đáp. Hỏi rằng:

“Tuy vẫn biết, giận hờn/ghét ghen, là một trong bẩy mối tội đầu, gây khó khăn. Nhưng, nại cớ sao đây, khi ta thấy Đức Giêsu cũng nổi giận, ở Đền Thờ, khi Ngài gặp bọn người mua bán/đổi chác tiền bạc, ra mặt. Ngài là Chúa, Đấng chẳng thể nào sơ hở/phạm lỗi, thế mà sao Ngài vẫn tức giận? Xin linh mục giải thích cho thấu đáo về giận dữ.

Đã hỏi, là có đáp. Đáp trả hay đáp ứng, cũng cứ xin chuyển đến đấng bậc vị vọng, ở Sydney. Và đáp giải hôm nay, là lời vàng. Tách bạch. Mạch lạc. Như bao giờ:

“Câu bạn hỏi, là một trong những thắc mắc khá rắc rối và khó hiểu, người thường gặp. Bởi thế nên, đây cũng là dịp để ta có một cái nhìn thông thoáng. Cho đúng. Về vấn đề này. Ngõ hầu lương tâm bớt áy náy. Bớt cắn rứt. .

Vấn đề chỉ nảy ra, khi ta không có thói quen tách bạch chuyện giận hờn, coi đó như một cảm xúc. Say sưa. Mê mệt. Đó là nói theo ngôn từ của thời trước. Thời, mà mọi người vẫn coi hờn giận như hành vi có ý chí. Quyết tâm.

Thông thường, thì cảm xúc hoặc say mê, đôi khi còn gọi là tình tự, đáp ứng tự nhiên đối với tình huống, rất khác biệt. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo định nghĩa các tình tự mê say ấy là những “cảm tính/xúc động, một khao khát bén nhạy, thôi thúc ta có những hành vi tuy không ra tay hành động gì cả, mà chỉ nói những gì mình có cảm giác/nhận thấy điều ấy là tốt/là đẹp, hoặc rất xấu.(GLHTCG#1763)

Thành thử, đối đầu với những điều tốt đẹp, ta sẽ có kinh nghiệm cảm xúc yêu thương, thèm khát, hy vọng, vui mừng, vv. Còn, với những gì xấu xa/quỷ quái, ta sẽ có tình tự ghét bỏ. Giận hờn. Hãi sợ hoặc tránh xa, bực bội, vv.

Tự thân, đam mê chẳng là điều tốt. Cũng không là điều xấu, cần tránh xa. Việc này, đơn thuần là thành phần của tâm lý con người, mà Thiên Chúa ban cho ta. Cũng là chuyện tự nhiên, khi ta sống yêu thương/vui mừng trước những gì là tốt, là đẹp. Cũng là chuyện tự nhiên, nếu như ta phải trải qua những giai đoạn sống rất hãi sợ hoặc giận dữ trước điều xấu xa. Tồi tệ.

Lấy ví dụ, nếu ta chẳng lo lắng gì chuyện hiểm nguy, cứ xông pha trận địa, đối ứng với chuyện lạ, thì chưa chắc ta đã sống dai. Sống an toàn! Còn, nếu ta chẳng hề phản kháng hoặc nổi giận khi thấy có ai đó hành động dã man/tàn bạo chuyên đánh đập trẻ thơ vô tội, khi đó ta sẽ không còn là người, có tính nhân hiền. Dễ chịu.

Các cảm xúc nói ở trên, chẳng nên đề cao, tán thưởng, tương tự trường hợp có cảm xúc tích cực, như: yêu thương. Hy vọng. Vui mừng. Nhưng, cũng chẳng phạm tệ gì, khi đó lại là những tình tự tiêu cực, như: giận dữ. Hãi sợ. Buồn bực. Tất cả, chỉ là phản ứng tự nhiên trước tình huống “chẳng đặng đừng”, thôi.

Chỉ vào khi ta thuận theo cảm tính nhất quyết hành động có khuôn thức, khiến cho hành vi ấy trở thành một việc đáng khích lệ hoặc tồi tệ ấy, mới thành chuyện. Nói theo ngôn từ của Giáo Lý Hội Thánh, thì: ”Cảm xúc mạnh như say mê/giận dữ, tự nó, không là điều tốt/xấu. Theo luân lý/đạo đức, cảm xúc mạnh như say sưa/ mê mệt, chỉ được đề cao/tuyên dương khi nó kéo theo hành động có ý chí và quyết tâm, mà thôi.” (GLHTCG #1767)

Một lần nữa, nếu sử dụng ngôn từ của nghệ sĩ ngoài Đạo, người người sẽ hát tiếp:

“Tình yêu như mây khói

thoảng theo gió buồn, mơ hồ.

Tình yêu như giông tố, qua phố đìu hiu.

Nhớ dáng xưa, yêu kiều

Trong chiều chợt nắng, cung đàn gợi ý

Chờ nhau, trong tê tái…” (Ngô Thuỵ Miên – bđd)

Cung đàn gợi ý. Say như mây khói. Buồn mơ hồ. Nhất nhất, đều là những cảm xúc tự nhiên. Không xấu. Chẳng tốt. Tốt/xấu chăng, là khi đấng bậc vị vọng, có nhận định xác đáng, như sau:

“Nhiều trường hợp, tuy ta có cảm xúc giận hờn, hung dữ, nhưng vẫn có thể biện minh được. Tỉ như, khi cha mẹ bực tức/nóng giận. với các con. Vì, chúng chẳng chịu nghe lời dạy dỗ, của bậc trên. Thầy cô, cũng có lúc nổi nóng với học trò cá biệt không tùng phục. Chủ nhân ông, đôi lúc vẫn tỏ ra ấm ức, hậm hực khi thấy công nhân do mình bỏ tiền ra thuê mướn, lại chẳng chịu làm việc, cứ ngồi chơi. Lại còn đòi hỏi nhiều quyền lợi, không chính đáng. Bực tức/nóng giận như thế, chẳng có gì là xấu, hết.

Phản ứng trước những cảm giác nóng nảy, nhiều người có những thái độ rất khác biệt. Phản ứng đó, có thể là một hành động do tự ý, hoặc xuất phát từ ý chí, khiến mình xử sự như thế. Dù đó có là hành xử, đáng khen thưởng hay là lỗi lầm, không phải phép.

Tỉ như ai đó, có thể tỏ ra giận dữ theo cách có kềm hãm, chế ngự. So với những điều xấu mình làm, thật ra cũng chẳng là gì. Thêm nữa, hành động giận dữ/tức bực có khi do tính bác ái tạo xúc tác đưa đẩy mình làm thế, không cưỡng được. Có trường hợp, cử chỉ bực tức nóng giận, lại nhằm mục đích tốt, cũng nên.

Nhiều lúc, bậc phụ huynh nóng nảy, tỏ bày tinh thần tôn trọng kỷ cương đối với con cái, khi con mình nổi chướng, bất phục tòng. Thầy cô ở trường, cũng có lúc xử sự như thế với học trò cá biệt. Ngỗ nghịch. Miễn là, các vị xử như thế theo cung cách kềm hãm, chế ngự. Vẫn là việc phải lẽ, đáng đề cao.

Việc Đức Giêsu nổi nóng với giới chức đổi tiền ở Đền Thờ, là một trong các trường hợp nói trên. Việc Chúa làm, hoàn toàn chính đáng. Chúa tỏ ra giận dữ, nhưng Ngài rất kềm chế. Việc Ngài làm, là do tình yêu thương với nhà của Cha, dù có người coi đó là việc quá tay. Chẳng nên.

Đổi lại, nhiều vị mất tự chủ, có lúc hung hăng, mạnh bạo quá đáng. Có khi còn lạm dụng, nữa. Trường hợp này, dù họ có biện minh cho cơn giận của họ cách nào đi nữa, cũng không thể minh xác được cung cách tỏ cơn giận và dữ, như thế. Giận như thế, là giận căm/hờn dỗi. Rất lỗi phạm. Thiếu cân nhắc. Thiếu tự chủ.

Tưởng, mọi người chúng ta cũng nên tập cho có thói quen ăn hiền ở lành, dễ dãi; ngõ hầu chế ngự được tính nóng, dễ nổi giận. Biết thuận theo lý trí mà cân nhắc từng trường hợp, ngõ hầu tránh bỏ tính bẳn gắt, dễ nổi giận. Cũng nên cầu Chúa gia tăng cho mình tính khí nhẹ nhàng. Hiền hoà. Hầu có phương cách tự kềm chế cơn tức bực, mỗi khi cần.

Hiểu như thế, sẽ khiến cho lương tâm ta nên trong sang. Không vướng bận thắc mắc/nghi ngờ gì. Dù, cơn tức giận ấythuộc loại nào đi nữa. Chẳng hạn, khi xưng thú lỗi lầm với cha giải tội, ta chẳng cần kê xưng các lỗi lầm, khi tức bực. Bởi, tự thân, bực tức/nóng giận không là lỗi phạm, để xưng thú. Và, cũng chẳng cần xưng thú những trạng huống mình cảm thấy nóng nảy/bực tức trong lúc hoạt động bác ái/thiện nguyện mà lại gặp chuyện bất ưng, cưỡng chế.

Chỉ nên xưng thú, lỗi lầm nóng giận quá mức độ, không xứng với tình huống khi xảy nên chuyện, hoặc gây tác hại lên người khác. Nhất là, những nóng giận bộc phát, không do lòng yêu thương, dạy dỗ người mình thương. (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 29/06/2009 tr. 10)

Cuối cùng ra, ta cũng nên trở về với tình huống thi ca/âm nhạc có những giờ phút khiến lòng mình trùng xuống, với cơn say. Say nóng. Chóng hờn. Mê say và ngâm nga câu hát có những ca từ/lời lẽ nên thơ. Mơ màng. Nhẹ nhàng, như câu nhạc ở dưới:

“Thuở ấy, tôi như con chim lạc đàn

Xoải cánh cô đơn, bay trong chiều vàng

Và ước mơ sao, trời đừng bão tố

Để yêu thương, càng nhiều gắn bó

Tháng ngày là men say nguồn thơ.” (Trần Trịnh – Lệ Đá)

Mơ, là mơ cho trời đừng nổi cơn bão tố. Mơ, là mơ cho lòng mình đừng gắn bó, với bão lòng. Để rồi, mọi chuyện sẽ nhè nhẹ. Êm êm. Như truyện kể dưới đây, để minh hoạ:

“Vào buổi hội thảo hôm ấy, giảng nghiệm viên cầm ly nước lạnh trên tay, rồi hỏi:

-Các bạn có thể cho biết ly nước này nặng nhẹ ra sao, không?

Học viên thay nhau trả lời, người nói nặng chừng 200 gram, kẻ bảo 500.

Thày nói tiếp:

-Nặng nhẹ là bao, đâu nào quan trọng. Quan trọng, là khi các bạn chịu đựng sức nặng ấy được bao lâu, thôi. Nhất là, cân lường/sức nặng của những khó khăn. Chịu đựng, những bực tức. Này nhé, rất đơn giản. Để kềm chế cơn nóng nảy/bực tức, cũng tựa như bạn chịu đựng sức nặng khi cầm ly nước này, chừng một ít phút. Cũng sẽ là điều, nếu ta cứ phải ngăn chặn/kềm chế nó đến cả tiếng đồng hồ. Cầm như thế, ắt tay mình sẽ mỏi. Sẽ cứng. Ráng chịu như thế suốt cả ngày, sẽ khó hơn. Có lẽ, bạn sẽ phải gọi xe cứu thương, cũng không chừng. Cũng thế, nâng nhấc hoặc cầm nắm/chịu đựng sức nặng của những khó chịu hoặc bất ưng, có khi còn tuỳ vào thời gian, và hoàn cảnh. Tuỳ thuộc tình hình diễn tiến vào lúc ấy, mà thôi. Và, đó là lý do để ta cân nhắc và định liệu, những bực tức. Khó chịu. Nếu cứ phải chịu mãi cái cảnh đem lại nhiều bực tức, khó chịu, ngày này qua ngày khác, thì những việc như thế thật khó lòng mà giải quyết. Nó cứ thế, trở nên nặng nề. Khó thở. Chẳng hề lui.

Cơn bực tức/nóng giận sẽ nặng nhẹ trong phút chốc như chịu đựng sức nặng của ly nước này, thì các bạn có thể kềm hãm cơn bực bội đó bằng cách, để lòng trùng xuống một lúc, cho lắng đọng. Sau đó, ta lại tiếp tục chịu đựng them. Chắc chắn, khi ấy ta sẽ thấy khác hẳn. Khác là bởi, khi đã thong thả, thư giãn, ta lại có thể chịu đựng, nâng ly nước thêm một chốc nữa, cũng đâu có sao.

Thành thử, chiều nay khi về nhà, các bạn cứ thử đối đầu với những bất ưng hoặc khó chịu xảy đến với mình. Bất kể nặng nhẹ, hãy từ từ mà kềm chế. Để cho lắng xuống, tất cả mọi tồn đọng. Cả những bức bách. Giận dữ. Hờn căm. Có như thế, mọi việc mới nên tốt đẹp, ngay sau đó.

Lời thày dạy, chỉ có thế. Không dài. Chẳng cường điệu. Nhiêu khê. Khô cứng. Nhưng, chí lý. Ý nhị. Vị tha. Làm vì tha nhân. Cho tha nhân, như lời bàn được ghi tiếp ở bên dưới:

*Trong cuộc sống thường nhật, có những ngày bạn sẽ thấy mình hiền lành như bồ câu. Chim ngói. Lại có những tháng, mình gặp toàn chuyện bực bõ, dễ gây gổ.

*Hãy cố lựa lời êm êm/nhè nhẹ, mà hứa hẹn. Bởi, sẽ có lúc mình nuốt lời. Dễ như chơi.

*Nếu bạn cứ chầm chậm trong xử thế, và lựa lời mà kềm chế. Cơn bực tức sẽ qua mau.

*Đời người, sẽ có lúc mình những muốn đối xử tử tế với mọi người, thì đây chính là cơ hội tốt.

*Nên nhớ, đừng xía vào chuyện mình, chuyện người, vì điều ấy dễ khiến mình nổi giận.

*Hãy tổ chức tiệc sinh nhật cho thật nhiều. Đó, là điều tốt. Càng tổ chức nhiều, càng thấy vui.

*Ta học được nhiều điều, ở bút chì. Có bút rất nhọn/sắc, có bút cùn/lụt. Có cái, có tên thật đẹp. Có cái, tên tuổi chẳng giống ai. Nhưng, chúng vẫn phải chịu cảnh nằm cạnh nhau chung một hộp. Dù bất ưng. Khó chịu.

*Hạnh phúc, là biết sống vui, sống khoẻ. Chấp nhận mọi cảnh, dù cảnh trí ấy dễ gây bực tức. Nóng giận. Hờn căm. Không ai thích.

Lời cuối cho bạn, và cho tôi, là câu hát của người nghệ sĩ hôm trưóc, cứ ca rằng:

“Hãy vui lên bạn ơi!

Ngày mai lắm khi không còn gì để cười

Tương lai biết đâu chỉ là thương nhớ thôi

Dù sao hãy cười bạn ơi! (Lê Hựu Hà – Hãy vui lên bạn ơi!)

Nếu nghệ sĩ ấy hôm nay vẫn còn sống, hẳn bạn và tôi, ta sẽ đề nghị đổi lời ca, thành:

“Hãy vui lên bạn ơi,

Ngày mai lắm khi không còn gì để …nổi nóng!

Bởi, có nổi nóng hay hờn căm, giận dỗi cũng chẳng để làm gì. Chẳng làm được gì. Được chăng, chỉ là đổ vỡ. Cách chia. Buồn bực. Buồn và bực, như cuộc sống của quỷ ma. Sống đấy. Nhưng, là sống như chết. Vẫn cử động đấy. Nhưng, là những động tác không mang tính yêu thương. Êm ái. Tình người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn thừa biết

khó mà nguôi cơn giận,

nên vẫn cố.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )