Saturday, 9 October 2010

“Hôm qua đến tìm em”

Anh thấy hoa xuân rơi đầy, trước thềm Bâng khuâng bước nhẹ êm Sợ làm tan bao giấc mơ hoa, triền miên.”

(Hoàng Trọng – Đẹp Giấc Mơ Hoa)

(2Tm 3: 2-4)

Tôi có người yêu, giống hệt như tôi. Tôi có người yêu, rộn rã như tôi. Suốt một cuộc đời. Vẫn yêu nhiều. Yêu nhiều thứ. Chứ không chỉ, mỗi cái “tôi” của người-yêu-tôi. Hay, của chính tôi. Tính chất đẹp mà tôi nhận thấy, nơi người yêu tôi, là: “người” cũng yêu thơ. Yêu nhạc. Và yêu Chúa. Yêu cả Đức Chúa hiện diện ở thi ca/âm nhạc. Như tôi. Yêu rất nhiều. Nhưng thực hiện chẳng được bao nhiêu. Dù, thơ hay nhạc. Dù, chỉ yêu những người-thích-nhạc. Và thơ. Rất lơ mơ.

Yêu thơ và nhạc, là điều mà người-yêu-tôi, và tôi, vẫn cứ thích/cứ yêu các nhạc bản có nhịp Tango, tựa hồ như “Tango cho Em”. Cho anh. Tức, cũng trích thơ và nhạc có Tango xanh/đỏ, rất “Việt” mình, như câu “Hôm qua đến tìm em”, của Hoàng Trọng.

“Đến tìm em”, không chỉ tìm có mỗi em, người mà tôi yêu. Tìm, là tìm rất nhiều thứ. Nhiều, cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Như chuyện đời. Nhiều, cả những chuyện có dáng dấp, rất Đạo. Cứ lạo xạo, như thấy “Hoa Xuân”, “ở trước thềm”. Hoa Xuân, nay còn đó vẫn chờ. Và đợi. Chờ đợi, cả người-tôi-yêu lẫn người-yêu-tôi. Ấy thế mà, tôi và người-yêu-tôi vẫn chưa tìm, đã thấy. Bởi thế nên, hoa xuân những rơi đầy, rày lại hát: “Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên”. Rất nhẹ êm. Bãng lãng.

Xuân triền miên, nay còn là tâm tình của người em ở đời, rồi sẽ hát:

“Anh yêu nét hồn nhiên

Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm

Đôi tay nhấp đường kim

Làn môi hé cười thần tiên.”

(Hoàng Trọng – bđd)

Nét hồn nhiên, mà bạn và tôi, ta vẫn yêu, phải chăng là như thế? Hay, vẫn như lời thánh Phaolô tông đồ lại đã diễn giải cho bạn thân mình, là đồ đệ Timôtê rất thân và rất mến, như sau:

“Quả thế,

người ta sẽ ra ích kỷ,

ham tiền bạc, khoác lác,

kiêu ngạo, nói lộng ngôn,

không vâng lời cha mẹ,

vô ân bạc nghĩa, phạm thượng,

vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu,

thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc,

nông nổi, lên mặt kiêu căng,

yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa;

hình thức của đạo thánh thì họ còn giữ,

nhưng chính cái chính yếu thì lại chối bỏ.

Anh hãy xa lánh cả những người ấy.”

(2Tm 3: 2-4)

Nên chăng, ta hãy lánh xa cả người ta yêu, lẫn điều ta mến? Có phải, điều ta yêu và người mà ta mến, là “tình tự” được diễn tả, rất như sau:

“Lòng bồi hồi mơ ước

Đường hoa thắm đôi ta cùng chung bước

Đời chẳng còn thương nhớ

Vì duyên ta đẹp tình thơ”.

(Hoàng trọng – bđd)

À thì ra, Những gì ta yêu mến, dù người hay vật. Chim khuyên, hay muông thú, vẫn là những tâm tình, rất tự sự, được “vua Tango” diễn bày bằng lời thơ rất âm vang thi tứ như lời ca, ta hát tiếp:

“Hương thơm ngát đồng xanh

Ta sống yên vui trên mảnh đất lành

Đêm đêm ngắm trời xa

Tình quê thấy lòng nở hoa.”

(Hoàng Trọng – bđd)

À thì ra, là như thế. Tình yêu, với lòng người. Và, lòng người đối với tình yêu, vẫn là tình tự rất “hương thơm ngát đồng xanh”. Rất, “sống yên vui trên mảnh đất lành”, của quê nhà. Ta yêu dấu. Là, Nước Trời dấu yêu, ở trần gian. Lan man, một trìu mến

Yêu như thế, phải chăng là yêu rất nhiều?

Hy sinh như thế, phải chăng là mất đi tình yêu? Thứ tình rất hy sinh, mà nhiều người đã tìm thấy nơi truyện kể, rất ngắn gọn. Ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Người đọc báo bất chợt nhận ra mẩu quảng cáo nhỏ, có giòng chữ gọn nhẹ, đại để cùng mang một ý nghĩa gẫy gọn sau đây:

-“Em đây vẫn muốn chồng, bạn nào giới thiệu có được không?”

Tức tốc hôm sau, người rao vặt nhận được cả trăm thư trả lời. Rất rối bời. Như sau:

-Em đến mà nhận chồng chị đi! Đừng lo lắng chuyện tiền bạc. Hoàn toàn miễn phí.”

Truyện kể ở trên, thoạt nghe tưởng chừng như “hư cấu”. Đời này, làm gì có chuyện tặng-không/biếu-không, những ông chồng. Nói thế há bảo rằng: yêu, vẫn chỉ là miễn phí? Và, kiếm tìm người yêu lại là chuyện dễ làm? Nếu thế, kiếm tìm “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu”, thì sao? Hỏi ở đây, phải chăng: đã trả lời?

Có thể lắm. Nhưng, trả lời của ai đó, vẫn mang tính đa dạng. Chuyển biến. Rất không thuần. Thuần sao được, khi ý kiến của phần đông các người trẻ, vẫn đa dạng. Như người trẻ ở Úc có tên là Eng Chan, đã tự thuật về quãng ngày dài thiếu tình yêu. Thiếu những điều, như sau:

“Tất cả bắt đầu từ cái ngày mà mọi người ở quê tôi gọi là Đầu Năm niên lịch Kampuchia. Tôi sống 4 năm liền, dưới chế độ của người Khmer Cộng sản. Bấy giờ, không ai kiếm đâu được của ăn. Thức uống. Mọi người đều nhận lệnh: phải rời nhà chỉ vài ngày thôi, sẽ về lại. Chẳng có gì đáng ta ưu tư/thắc mắc, hết. Thế nhưng, sự thật thì khác. Bốn năm trời ròng rã, bọn tôi đã thiếu rất nhiều. Thiếu cả tình yêu. Điều đó, hiện rõ nơi tâm tư bé nhỏ của chúng tôi. Làm sao quên được cảnh người dân hiền lành ở Căm Bốt, cứ bị dắt ra nơi đồng không mông quạnh, mà bắn bỏ. Giữa ban ngày ban mặt. Khi ấy, mọi sự đều bị hủy hoại. Tất cả, đều nghèo đói. Thiếu tình người. Vì quá đói, bé em nào cũng phải lò mò đến từng nhà, mà xin ăn. Mỗi ngày, bọn tôi mỗi người chỉ được phép nhận chừng lưng bát cơm. Và một chút sữa đặc có đường. Thế thôi. Chẳng ai lý gì đến bọn trẻ chúng tôi. Và, cũng chẳng còn ai biết thương ai. Còn lại, chỉ là giết chóc. Bạo tàn. Bất nhân, vẫn diễn ra hằng ngày. Ở quê tôi” (x. Sophie Seuk, Australian Catholics, Spring 2010, tr. 23)

Tâm tư người Khờ-me trẻ, là như thế? Còn, tâm tư của nghệ sĩ mình, lại như sau:

“Một mái tranh nghèo, lo gì nắng mai hay mưa chiều

Mộng ngát đôi lòng trăng, hạnh phúc ta cùng soi bóng

Đồng lúa thơm lành, ta cầy cấy chung lo gia đinh

Cuộc sống thanh bình

Ôi bài hát muôn đời thắm tình.”

(Hoàng trọng – bđd)

Lúa thơm lành. Thanh bình. Là thế đó. Có là chốn ấm êm nhà Đạo, ở Nước Trời? Ở nơi ấy, người đời vẫn tha thiết với giá trị của tình thương yêu, không? Yêu đằm thắm. Lắm tình người. Nơi gia đình. Nơi mọi người vẫn cứ ăn và cứ uống. Vẫn thương yêu. Nguyện cầu. Như mọi lúc. Đó, là tâm tình được người viết mang tên Elizabeth Gilbert đưa vào phim có tựa đề, là: “Ăn uống. Nguyện cầu. Và, thương yêu”, lấy bối cảnh Ấn Độ làm nền cho truyện kể để nêu lên.

Cũng trong chiều hướng tìm hiểu về đời thường, của mọi người, vừa qua cơ quan nghiên cứu có tên là The National Marriage Report bản doanh đặt tại Đại Học Đường Virginia, Hoa Kỳ đã thực hiện một khảo sát mang tên “Hôn Nhân Cùng Nhau Nguyện Cầu: Giòng Giống, Sắc Tộc, Tôn Giáo và Phẩm Chất Tương Quan Giữa Những Người Trưởng Thành” xuất hiện trên tờ Journal of Marriage and Family số tháng 8/2010 cùng với hai nhà xã hội học mang tên Christopher G. Ellison và W Bradford Wilcox, đã bày tỏ ý kiến đúc kết về thương yêu/hạnh phúc của các cặp phối ngẫu trong đời, như sau:

“Các cặp phối ngẫu da mầu nào không cùng nhau nguyện cầu, thường dễ thực hiện nhiều điều tồi tệ hơn các cặp hôn nhân da trắng. Khảo sát, nay cho thấy tôn giáo vẫn là yếu tố làm dịu bớt sự rẽ chia mang tính sắc tộc. Đó là nói về phẩm chất của các tương quan giữa người với người. Tại Mỹ. Sức sống ở đời người Mỹ gốc Phi Châu đem đến cho họ một lợi thế hơn hẳn các người Mỹ khác, đó là nói về quan hệ bình thường. Lợi thế, mà họ thấy mình hơn hẳn các cặp phỗi ngẫu khác nói chung, ở nơi này.

Thông thường, nhiều người vẫn có thói quen bảo rằng: tôn giáo chẳng đem lại lợi lộc gì cho hôn nhân, hết. Nhưng, cặp phối ngẫu nào thấy xung khắc trong niềm tin tôn giáo; và nhất là các cặp trong đó chỉ một bên chịu đến nhà thờ sinh hoạt đều đặn, thì khảo sát cho biết: các cặp ít đi sinh hoạt, sẽ thấy hạnh phúc của mình kém cỏi hơn. Với các cặp phối ngẫu da mầu/sắc tộc, thì: khác biệt trong sinh hoạt tôn giáo là nguồn gốc dẫn đến mọi căng thẳng. Điều này chứng minh được, là: do họ ít bỏ giờ ra mà ở với nhau, để cùng nhau làm một việc gì đó có tính tập thể, như nguyện cầu. Hoặc, do họ có khác biệt trong cung cách nuôi dạy con cái, hoặc qua việc sử dụng quá nhiều rượu bia, nhiều thứ khác nữa.” (x. Carolyn Moynihan, Mercator Net 24/8/2010)

Nói như thế, là nói về tình thương yêu có khác biệt. Về sắc tộc. Khác niềm tin, giáo dục và gì gì nữa, vẫn rất nhiều. Nhưng, có khác chăng về bản chất đạo đức? Một lần nữa, hỏi ở đây tức: đã trả lời rồi. Trả lời, theo góc độ/nhân sinh quan mình nhận xét. Theo tâm trạng mình đang có, lúc nhận định. Dù sao đi nữa, cũng nên nghe thêm nhận định khác của nghệ sĩ trích ở trên, từng vui hát:

“Hôm qua đến tìm em

Anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm

Bâng khuâng bước nhẹ êm

Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên.”

(Hoàng trọng – bđd)

Nói và hát những lời như thế, tức: vẫn bảo với người-tôi-yêu, hoặc người-yêu-tôi, rằng:

“Anh yêu nét hồn nhiên,

Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm,

Đôi tay nhấp đường kim,

Làn môi hé cười thần tiên.”

(Hoàng trọng – bđd)

Nếu bảo rằng, với nghệ sĩ ở đời, một khi họ những đề cao/tuyên dương “tình yêu” đến như thế, thì chắc hẳn chàng và nàng là thánh nhân? Gọi họ là thánh nhân, là bởi: nếu ta chịu khó làm một thứ tam-đoạn-luận bỏ túi, bảo rằng: Thiên Chúa là Tình Yêu. Hễ ai ngợi khen/tuyên dương Tình Yêu, chắc chắn người ấy/vị ấy đã tuyên dương/ngợi khen Thiên Chúa, rồi. Và trên đời, chỉ có thánh nhân mới hiểu biết hoặc đề cao/tuyên dương Thiên Chúa đến thế, mà thôi. Có là thánh nhân, mới cảm nhận ý/từ rất Tango, mỗi khi hát câu “Làn môi hé cười thần tiên.” Và, hạnh phúc cuộc đời có là gì, nếu không biết “hé cười thần tiên” ở mọi nơi, trong mọi lúc?

Để minh hoạ cho những gì mà tôi và bạn, ta vừa đặt dấu chấm hỏi cho tam-đoạn-luận ở trên, tưởng cũng nên đưa thêm dăm ba truyện kể nhè nhẹ. Ý nhị. Nhưng không dị. Như sau:

“Ngày nọ, có nhà tỷ phú dắt người con cưng về chốn dân dã xem thiên hạ sống thế nào mà sao họ không thấy họ bị căng thẳng thần kinh, rất linh tinh, như người thị thành. Hai cha con về sống vài ngày tại nơi mà người dân thị thành cho rằng đời sống rất khó khăn. Hôm trở về, người cha bèn gọi con lại hỏi anh xem có nhận xét gì về chuyến đi ấy:

-Con thấy thế nào? Chuyến đi vừa rồi có đem đến cho con điều gì khác lạ không?

-Dạ, con thích lắm, ba.

-Thế hả? Con thấy cuộc sống của người miền quê, cũng hạnh phúc đấy chứ? Có khác dân thành thị mình hay không, thế?

-Dạ khác lắm, ba.

-Đâu khác chỗ nào, con nói cho ba nghe coi!

-Theo con thấy, thì như: ở thành thị, ta chỉ nuôi nổi một hai chó con thôi. Còn ở nơi dân dã, họ nuôi tới ba bốn con, cũng không lấy làm nhiều. Ở thành phố, ta chỉ lo nổi mỗi hồ bơi nhỏ, ở giữa vườn. Còn họ, họ có rất nhiều khúc sông, quanh năm nước chảy mút mùa lệ thủy. Ở đây, ta vẫn cứ phải nhập cảng bóng đèn điện để gắn nơi vườn, cho nó sáng. Còn họ, họ đâu cần gì đến đèn với đóm, đã có ngàn sao lấp lánh chiếu sáng ban đêm, rồi. Ngồi trước nhà, ở đây ta ta chỉ thấy những là cổng trời nho nhỏ, mà thôi. Còn họ, ngồi trong nhà, mà đã thấy đủ mọi thứ kéo đến từ chân trời rộng lớn. Ta có mỗi vuông đất rất chật bao quanh căn nhà rất nhỏ bé. Còn họ, lại có gần như cả một thửa ruộng cò bay thẳng cánh, chẳng ai ham. Ở chốn thị thành, ta luôn cần đến mấy chị “Ô-shin” để sai vặt. Còn họ, họ cứ tự lo lấy cho nhau, chẳng nhờ vả chi ai. Ta bỏ ra biết bao nhiêu là tiền của để mua sắm đồ ăn cùng thức uống, mà nuôi thân. Còn họ, họ vẫn tự túc nuôi trồng, tự lo sống. Nhà cửa ở chốn thị thành, ta vẫn phải dành cho có tường rào bao quanh, sợ mất mát thứ này thứ khác. Còn họ, họ chẳng cần gác dan hay bảo vệ mà lúc nào cũng có bạn bè tốt luôn giúp đỡ, yêu thương như người nhà…”

Yêu thương như người nhà. Chung sống an hoà, như bà con. Phải chăng, là hạnh phúc? Phải chăng ý kiến của người con là nhận định rất chính xác về hạnh phúc sống ở đời? Và một phải chăng nữa, cũng nên hỏi, là: có nên thêm đây lời của khảo-sát-gia W. Bradford Wilcox nói trên, để có một nhận định khá vững về những hiện thực trong cuộc sống rất Đạo của nhiều người? Như sau:

“Về với cơ ngơi/mái ấm tình người của nhà mình, kết quả cho ta thấy: nếu tích lũy tình thương yêu thật rõ nét, nhiều ý nghĩa, ta sẽ nhận ra rằng: nghĩ suy và thực hiện niềm tin yêu nguyện cầu, rồi ra ta sẽ đạt thành công, thôi. Trong quá khứ, có nhiều nghiên cứu/khảo sát cho thấy: tha thứ, vẫn có ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ vợ chồng. Đến, cả tương quan giữa người với người. Đến cuộc sống gia đình và cả những sinh hoạt lao động nơi sở làm của mình, nữa.” (x. Carolyn Moynihan, bđd).

Bởi thế nên, hỡi bạn và tôi, ta cứ vui lên mà nguyện cầu. Vui mãi, mà thương yêu trong mọi tình huống hoặc thời khắc của cuộc đời. Cứ vui đi, rồi ra ta sẽ thấy rất khá. Khá, về Đạo. Khá, cả về đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn kêu gọi bầu bạn

và cả tôi nữa,

hãy cứ thế nhận thức.

Và hiện thực

cho đời mình.

(xem thêm các bài khác xin vào www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc, www.suyniemloingai.blogspot.com;

hoặc, www.giadinhanphong.blogspot.com)

Saturday, 2 October 2010

“Từ khi yêu anh, anh bắt xa màu tím”

Sầu thương cho em, mơ ước chưa kịp đến

Trời đã, rét mướt cùng gió mưa

Khóc anh chiều tiễn đưa

Thế thôi, tàn giấc mơ.”

(Hoàng Trọng – Ngàn Thu Áo Tím)

(Ga 16: 20-22)

Sống ở Úc, bần đạo thấy nhiều người sao cứ thích mầu tím, nhiều đến thế. Nhiều đến độ, cả Tây lẫn Ta, đều mặc áo mầu tím ngắt, suốt mọi mùa. Bất kể, mầu tím đó có là “tím Huế”, tím than, hay “tím cả chiều hôm biền biệt” đi chăng nữa, vẫn cứ tím...

Hồi còn ở quê nhà, mỗi lần nhắc đến tím mầu dìu dịu, người người đều nghĩ đến các nhạc bản, giống như trên. Thu ngàn rất tím. Chân trời cũng tím. Hoặc tệ hơn, tím cả đời người. Thật hết biết.

Mới đây thôi, ở đêm “Hát cho nhau” vào mùa Thu Sydney 2010, với đề tài “Lắng tiếng chiều rơi”, người dàn dựng sân khấu/nghệ thuật những ca và hát, cũng đã trưng sắc mầu rất tím. Tím đây, không là tím cả chiều hôm, nhàn nhạt. Mà là, tím ngắt tim ngơ. Người hát hôm ấy, cứ đong đưa thân mình đèm đẹp mầu tím nhạt. Rất hay hay. Thêm vào đó, là câu hát:

“Ngày xưa xa xôi, em rất yêu màu tím

Ngày xưa vô tư, em sống trong trìu mến

Chiều xuống, áo tím thường thướt tha

Bước trên đường gấm hoa

Ngắm mây chiều lướt xa.”

(Hoàng Trọng-bđd)

Thật ra, khi nói chữ “tím”, người viết nhạc thường hay diễn tả sắc mầu hiu hắt, một đời thơ. Rất nhiều. Nghệ sĩ nói nhiều/viết nhiều về tím mầu thời gian hơn ai hết, phải kể là nhạc sĩ Hoàng Trọng. Ông viết những 3 bài. Bài nào cũng đầy những sắc mầu tim tím, như: “Buồn xa, một chiều mây hoen mầu tím…” (Người Đi Chưa Về), “”Anh có mơ mầu tím chiều nay” (Cánh Hoa Yêu), “Ngày xưa xa xôi, em rất ưa mầu tím…” (Ngàn Thu Áo Tím).

Ngoài ông ra, còn có cả nhạc sĩ lão thành Phạm Duy với “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, “Như Là Lòng Tôi”. Tiếp đến, là: Nguyễn Hiền với Ngàn Năm Mây Bay. Phạm Anh Dũng, với “Thật Hay Mơ”. Võ Tá Hân, với “Bài Thơ Cho Ai”. Nguyễn Duy An, với “Mùa Đông Đã Quay Về”. Văn Sơn Trường, với “Trái Mồng Tơi Mầu Tím”, vv…

Không cần biết, ai từng hát hoặc từng đặt những nhạc bản tim tím, cứ mỗi lần nhắc đến tím mầu nhè nhẹ, người nghe lại thấy lòng mình như trùng lại. Lại có cảm giác, như: trời nghiêng ngả, đã và đang dồn về mặt đất. Quyện vào nhau. Làm thành vũ trụ của hồn thơ. Của âm nhạc. Chẳng thế mà, để diễn tả mạnh hơn, cái khung trời “tím ngắt” ấy, người thưởng lãm nay lại được nghe:

“Anh xa xôi, bóng mưa giăng mờ lối,

Anh xa xôi, áo bay trong chiều rơi.

Anh xa xôi, áo ôm tim lẻ loi,

Tím lên khung trời nhớ nhung, đầy với”.

(Hoàng Trọng – bđd)

À thì ra, “tím ngắt” hay “tím lên khung trời” đầy nhung nhớ, hoặc “chiều mây hoen mầu tím”, đều như thế. Về với nhà Đạo, vốn có nhạc và có thơ rất Đạo. Của sắc mầu rất ư là Thương Khó/Thống Khổ, của Mùa Chay. Thì hỏi rằng, có chăng sắc mầu tím ngắt của người thờ Chúa? Có chăng, mầu của nhung nhớ, và rất thương. Nhớ và thương, khi thấy Chúa ngục đầu trên thập tự. Rất đắng cay? Bần đạo không có tư cách để trả lời câu hỏi trên. Chỉ dám mượn lời bậc thầy cựu linh mục, từng đả động đến vấn đế ấy, như sau:

“…Nếu “trong Mùa Chay không được chưng bông trên bàn thờ và chỉ được dùng nhạc cụ để đệm hát mà thôi” (Sách nghi thức Giám Mục), thì chẳng qua là để đêm Phục Sinh hoa nở rộ thắm đẹp hơn bao giờ hết trong năm phụng vụ. Lễ phục Mùa Chay có là mầu tím thì ngay giữa Mùa Chay (hay Mùa Vọng) vẫn có một Chủ Nhật …Hồng.” (x. Gs Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ Sở Hy Vọng 2002, tr. 157)

Để thêm vào giòng chảy về mầu sắc rất-tím-nhưng-không-than, là mầu của nhung nhớ, nay mời bạn mời tôi, ta nghe thử câu truyện kể rất nhẹ, về mầu sắc. Nghe khá quen. Truyện, có thể do ai đó chứ không phải do bạn/do tôi, mà do người mang tên và họ rất Trần, chết mãi cái tên gọi “Sơn Hoài”, tức sơn mãi mầu tím, rất như sau:

“Có chị nọ, một hôm mời người thợ sơn về sơn mấy bức tường nhà của chị, để đón xuân. Người thợ vừa bước vào cổng, thấy chồng chị bị mù loà, cả hai mắt. Bèn đem lòng xót thương.

Người chồng mù, lại luôn lạc quan yêu đời. Khiến, anh thợ sơn làm việc mấy ngày trời ở nơi đó, rất ăn ý. Anh không bao giờ nhắc nhở về những điều đáng thương đáng tiếc, của người mù.

Công việc hoàn tất. Người thợ sơn đưa cho chủ nhà biên lai tính tiền. Chủ nhà phát hiện ra rằng: số tiền lẽ đáng phải thanh toán, sao rẻ hơn mức thuận thảo, lúc ban đầu. Bèn, hỏi anh thợ:

-Bác tính toán cách nào mà sao bớt giá, quá nhiều vậy?

-Mấy ngày nay, tôi làm việc gần cận chồng của chị. Nay, thấy lòng mình rất vui. Thái độ của anh, trong cuộc sống giao tiếp với đời, khiến tôi cứ nghĩ mãi về cảnh tình của đời tôi, chưa đến nỗi tệ. Nên, tôi bớt cho anh chị một phần, khác với giá đã định hôm trước. Coi như đây, là để bày tỏ chút tình cảm, đối với anh. Làm việc ở đây, anh chị đã khiến tôi thấy rằng: đời mình không đến nỗi thiếu thốn. Khổ sở. Chỉ mỗi thế.

Nhìn hai người, một chồng một thợ, chị thấy cả hai cùng ở vào hoàn cảnh chẳng khá hơn gì người khác. Vì anh thợ sơn, chỉ mỗi cánh tay. Thế mà, anh chẳng thấy đời mình mang sắc mầu tím ngắt, những nỗi buồn.

Về với đời thường, chị vợ bèn nghĩ thêm: Thái độ nguời đời, có nhận định xấu/tốt vui/buồn sao đi nữa, cũng chẳng thay đổi được nhân sinh quan ta vẫn sống. Cùng lắm, chỉ đổi được quan niệm về cuộc đời ngắn ngủi, của mình thôi. Tuyệt nhiên, chẳng làm sao đổi thay toàn bộ cuộc sống, của người khác. Ta không thể chỉnh đốn cảnh đời sao cho phù hợp với cuộc sống mình đã chọn. Thật ra, ta chỉ có thể điều chỉnh thái độ của mình trong giao tế với người khác, thôi.

Trong cuộc sống, bất ai có cái nhìn lạc quan hơn, thì khi đối diện sự thật, sẽ thấy mình sống vui tươi. Hoà hợp. Vui, để chấp nhận. Vui, để cùng sống với người khác. Bởi, người người nếu biết cách điều chỉnh thái độ mình giao tiếp, sẽ nhìn sự vật theo con mắt lạc quan. Yêu đời. Sẽ thấy đời là chuỗi ngày vui. Đáng sống. Trái lại, ai muốn người đời thuần phục ý mình, thì khi việc không may xảy đến, sẽ thấy khổ đau. Tuyệt vọng. Thậm chí, dễ chán chường. Tự vẫn.

Xét cho cùng, đời người dù mang dáng mầu tím ngắt/tím đanh hay lanh chanh mầu hy vọng, cũng đều tuỳ tâm. Tuỳ tính. Tùy thái độ của mình khi nhìn sự việc. Chỉ mỗi thế.”

Nhìn sự việc, mà định mầu rất-tươi-vui của mùa Tím, ta thấy thánh sử viềt về sắc mầu phụng tự, cũng trích dẫn Lời Chúa trong Kinh Sách, như sau:

“Anh em cũng vậy,

bây giờ anh em lo buồn,

nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em,

lòng anh em sẽ vui mừng;

và niềm vui của anh em,

không ai lấy mất được.”

(Ga 16: 22)

Còn người viết nhạc ở trên lại diễn tả cõi lòng người em yêu, bằng câu hát:

“Từ khi xa anh, em vẫn yêu và nhớ

Mà sao anh đi, đi mãi không về nữa.

Một bóng, áo tím buồn ngẩn ngơ,

Khóc trong chiều gió mưa

Khóc thương hình bóng xưa.”

(Hoàng Trọng-bđd)

“Áo tím buồn ngẩn ngơ”, “khóc trong chiều gió mưa”, “khóc thương hình bóng xưa”, là ngôn từ nói lên một điều mà vị giáo sư triết, hồi đó cũng viết:

“Cuộc sống người tín hữu có là Mùa Tím triền miên thế nào đi nữa, thì ngày ngày –tuy vậy- vẫn phải là Chủ Nhật Hồng. Trong bất cứ cảnh ngộ nào. Niềm Vui cũng phải phản ánh Lòng Tin. Niềm Vui thuộc về căn cước. Cốt cách của Kitô hữu. Niềm Vui còn thuộc về sứ vụ của Hội Thánh. Hẳn không phải tình cờ mà hiến chế mục vụ của Công Đồng Vatican II bắt đầu và được gọi bằng hai chữ Gaudium et Spes. Vui mừng và Hy vọng. Loan báo Tin Mừng, Hội thánh cũng trực giữ Niềm Vui cho thế gian năm chìm bẩy nổi mà vẫn được Thiên Chúa yêu thương. Cho tới khi Chúa lại đến.” (Gs Nguyễn Ngọc Lan, sđd tr.180)

Nhưng vấn đề là, tím tím/xanh xanh hoặc xanh xanh/tím tím vẫn chẳng là gì, nếu ta còn nghĩ và giao tiếp rất thân thương những người/những bạn trong đời, chẳng thích gì sắc mầu tím ngắt của cuộc đời. Tức, những người cảm thấy nay đang “bị” hoặc “được” nhà Đạo bỏ bê. Chê bai. Không tiếp xúc. Thậm chí, còn không cho tiếp cận Mình Máu Chúa vào giờ lễ, nữa.

Nói như thế, là bởi: hôm trước, có bạn đạo ở Sydney đã mở lời kính hỏi đấng bậc linh mục chuyên giải đáp thắc-mắc, rất Flader, như sau:

“Mới đây, tôi đọc được một bài viết của ai đó ở trên mạng. Trong bài, có trích dẫn câu nói, bảo rằng: Giáo huấn Hội thánh chẳng nói gì đến chuyện cấm đoán những người đồng tính luyến ái không được phép rước Mình Thánh Chúa. Điều này, làm tôi rất ngạc nhiên. Xin hỏi: nói như thế có đúng luật Đạo, không?”

Cứ sự thường, đấng bậc thuộc giòng họ rất “đức thầy” ở Sydney, chẳng ngại ngần chuyện trả lời khi có người hỏi. Và, câu trả lời như sau:

“Có lẽ việc trước nhất nên làm, là nói rõ: riêng tôi và rất nhiều người, không thích sử dụng cụm từ “đồng dục” nam hay nữ. Con người, bất kể mình có chiều hướng tình dục đến thế nào đi nữa, tự thân, vẫn mang phẩm cách có sẵn, được Chúa coi như con cái của Ngài, chứ không thể định nghĩa bằng tên gọi/danh xưng khiến họ bị tách rời khỏi cộng đoàn, chỉ vì khuynh hướng tình dục của họ. Và, giá trị của con người không do chiều hướng dục tình của mình, mà mất đi.

Tốt hơn và hay hơn hết, ta nên nói về họ như người thường lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính hoặc cùng khuynh hướng tình dục giống nhau trong một giới. Làm thế, sẽ giúp ta hiểu rằng: nhiều nguời như thế, sau này sẽ có chiều hướng tình dục nghiêng về phái tính khác biệt. Minh định rồi, nay ta hỏi: người lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính, nghĩa là gì?

Nói về người có sự lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính một cách lâu dài và trổi bật, tức bảo rằng: những người có khả năng cũng lôi cuốn người khác phái, nhưng sự lôi cuốn dễ thấy nhất, vẫn là với người cùng phái tính. Lôi cuốn như thế, chẳng có gì là tội, hết. Có chăng, chỉ là những việc như thế đã dấy lên một số cung cách rất khác nhau.

Quả thật, nhiều người từng có kinh nghiệm như thế vẫn sống tốt đẹp. Họ chẳng cần kiếm tìm người khác để cùng sống theo cách lôi cuốn dục tình, rất lạ kỳ. Có thể, họ bị liệt vào với người lôi cuốn/hấp dẫn người cùng phái tính, nhưng không đi đến chuyện thực hiện lối sống rất dục tình như thế.

Bởi vậy nên, nếu ta chỉ để ý đến yếu tố cho thấy là người nào đó có kinh nghiệm sống lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái, rồi loại trừ họ. Không cho họ hiệp thông rước Chúa. Việc này không nghiêm trọng bằng trường hợp người đã có gia đình rồi mà lại sống lôi cuốn/hấp dẫn người nào khác không là vợ hoặc chồng mình, thế mới tệ.

Những người như thế nếu biết tránh biểu lộ mình lôi cuốn/hấp dẫn tình dục, thì họ sẽ được phép hiệp thông rước lễ, thôi.

Nếu những người đang có vấn đề về chuyện lôi cuốn/hấp dẫn sống đời tình dục lạ kỳ mà phấn đấu để tránh các dịp phạm lỗi, dù đôi lúc thất bại vẫn tìm ơn tha thứ qua bí tích Hoà giải, thì họ vẫn được rước Chúa như thường. Những người như thế, ta vẫn nên giúp họ tiếp tục phấn đấu có sự hỗ trợ của các nhóm như nhóm mang tên “Lòng Quả Cảm”.

Thật ra, Hội thánh cũng có rất nhiều người hiện đang phấn đấu để tránh các dịp phạm lỗi, bằng đủ cách. Bao lâu họ giải hoà được với Chúa và ở vào tình trạng được ôn lành Chúa ban, thì họ vẫn có thể rước lễ, được như thường.

Tuy là thế, nếu người sống lôi cuốn/hấp dẫn tình dục với người cùng phái tính, mà lại vênh vang tự đắc về chiều hướng đồng tính luyến ái. Hoặc, chẳng mảy may cố gắng tránh xa dịp tội về dục tình, thì họ không thể lĩnh nhận Mình Thánh Chúa được. Trong số những người này, phải kể đến người có lối sống dị kỳ, không tuân thủ luân lý của Hội thánh Chúa nào hết.

Hội thánh lâu nay nói rõ về sự thể là chỉ những ai trong trạng thái có ân sủng (tức không mắc tội trọng) mới được phép rước Chúa, mà thôi.

Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo từng khẳng định: Để đáp ứng lời kêu gọi của Đức Kitô mời ta ăn Thịt và uống Máu Ngài “ta phải sửa soạn chính mình cho thời khắc cao cả thánh thiêng ấy. Thánh Phaolô thôi thúc ta kiểm điểm lương tâm, như đã viết: Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình.” (1 Cr 11: 27-29) Những ai đang trong tình trạng phạm lỗi nặng, hãy nên đến toà cáo giải để nhận lãnh bí tích Giao Hoà đã, rồi hẵng buớc lên rước Chúa.” (GLHTCG #1385)

Xem như thế, ai phạm lỗi dục tình giữa những người cùng phái tính, cũng giống như giữa người khác phái mà không có cưới hỏi, đều đang phạm lỗi nghiêm trọng. (X. GLHTCG #2353, 2357, 2380)

Cứ sự thường, người lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính nhưng cố gắng phấn đấu tránh xa dịp tội, nên được mời đến dự thánh lễ. Như thuờng.” (x. John Flader, The Catholic Weekly, 21/3/2010 tr. 11)

Giải đáp những uẩn khuất/thắc mắc nơi lẽ Đạo, cách chính xác. Mạch lạc. Vẫn là nghề của đức ngài. Của chàng trai uyên bác, chuyên chăm luân lý/Giáo luật thuộc Đại học Havard, thời buổi trước.

Hỡi bạn và hỡi tôi, ta cũng nên ngả nón chào đức ngài, đi chứ. Ngả nón chào, không có nghĩa: hết rồi, từ đó những ấm ức. Thắc mắc! Giải quyết rồi mà vẫn thấy chưa ổn, thì ta cứ thế mà thư từ/hỏi han đấng bậc nào khác. Bần đạo tài hèn sức yếu về nhiều chuyện, nên chỉ dám xin thêm một điều, rất nhỏ. Rằng: mới đây, được bầu bạn từ quê người chuyển cho bức “tâm” thư trong đó có nói về chữ “Tâm” . Xin dùng nó, làm đoạn kết cho giòng chảy luận phiếm, rất hôm nay:

“Tâm, là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng. Nên người ta mới gọi là: tâm điểm.

Tâm của con người càng quan trọng hơn, vì nói lên nhân cách của mình.

Tâm lệch lạc, thì cuộc sống nghiêng ngả. Đảo điên.

Tâm gian dối, thì cuộc sống bất an.

Tâm ghen ghét, thì cuộc sống chứa đầy hận thù.

Tâm đố kỵ, thì cuộc sống mất vui.

Tâm tham lam, thì cuộc sống điêu ngoa. Dối trá.

Bởi thế nên, ta không những đem “Tâm” của mình đặt ngay trên ngực, để yêu, mà:

-đặt trên tay, để giúp đỡ người khác.

-đặt trên mắt, để nhìn thấy nỗi khổ. Của tha nhân.

-đặt trên chân, để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.

-đặt trên miệng, để nói lời an ủi. Với người bất hạnh.

-đặt trên tai, để nghe lời than trách. Góp ý, của người khác.

-đặt trên vai, để biết trách nhiệm. Và, chia sẻ trách nhiệm với vợ chồng. Anh em. Chị em.

Thân xác mà không tim thì thân xác chết.

Làm người không có “Tâm’ thì cuộc sống chỉ có hận thù,

và là mối nguy hiểm cho mọi người…”

Lời cuối, và cũng kết cuộc, là câu hỏi: nếu kết hợp mầu “tím (rất) hoa sim” vào trong tim. Hoặc, vào với “tâm” trạng của người người, thì: cuộc sống có còn con “tim” mầu tím hay trắng mướt mầu trinh trong, không? Câu trả lời, xin cứ dành cho bạn. Và cho tôi. Bất kể tôi và bạn, là người có sức lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính, hay không. Cũng chẳng thành vấn đề. Gì hết.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn yêu hết mọi mầu

và mọi người.

Và, cũng kính trọng

những người có sở thích

và chiều hướng rất khác biệt, về tình dục.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )