Wednesday, 16 May 2018

“Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Hiện Xuống 20-5-2018

“Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.”
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm ngàn ưu sầu
 (Lê Minh Bằng – Đêm Nguyện Cầu)


(Tv 141: 2/Kh 8: 3-4/Lc 1: 9) 

Hễ cứ là nguyện cầu, thì đêm nào chả là đêm. Dù đêm ấy, hay đêm nay vẫn rất lặng như tờ, thờ ơ ít rộn tiếng. Vâng. Thế đó, là nguyện cầu. Ở đây đó, Nước Trời và cũng ôi thôi bần đạo bầy tôi  xưa nay cứ nghĩ đã là nguyện cầu, phải có tiếng nức nở với Thượng Đế, Ông Trời, Đức Chúa hoặc thần linh nào đó, mới phải.

Thế nhưng, bần đạo đây đã sai lầm, hết chỗ nói. Bèn đi vào tìm hiểu với đấng bậc thày dạy để tỏ con ngươi.Nhưng, trước khi đi vào chính điểm, xin mời bạn và tôi ta nghe thêm lời ca tiếp:

“Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm ngàn ưu sầu

Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?.”
(Lê Minh Bằng – bđd)

Và hôm nay, bàn về nguyện cầu có lời van có hương khói với tiếng nhạc, lại thấy những hỏi han và đối đáp như sau:

“Thưa Cha,
Lâu nay, con vẫn thích các lễ trọng có khói hương nghi-ngút quanh bàn thờ, nhưng con vẫn tự hỏi không biết ý-nghĩa đích-thực của nghi-thức này ra sao. Xin cha giải thích cho con biết để còn tin. Cám đội ơn cha.”

Vâng. Nghi-thức phụng-vụ Đạo Chúa bao giờ cũng mang nhiều ý-nghĩa rút từ sinh-hoạt phụng-tự vào thời trước. Có khi còn trước cả thời lập Đạo nữa. Thế nên, hôm nay ta cứ thử theo dõi những lời đối-đáp của đấng bậc vị vọng ở trong Đạo, để xem sao. Đối và đáp, từ đấng bậc rày như sau:

“Việc sử-dụng “hương trầm nghi ngút” có nguồn gốc rất xưa, ngay vào thời Cựu-Ước. Chẳng hạn như, ta đọc ở sách Xuất Hành trong đó có câu nói: “Ông Môsê được lệnh dựng lều để hội họp, như đã bảo: “Ngươi sẽ làm một bàn thờ để đốt hương; ngươi sẽ làm bằng gỗ keoTrên đó, Aharon sẽ đốt hương thơm: sáng nào, ông ấy cũng đốt hương thơm khi chuẩn bị dầu đèn, và lúc Aharon thắp đèn lên vào chập tối, ông ấy cũng sẽ đốt hương thơm: đó là hương vĩnh viễn dâng trước nhan Đức Chúa qua mọi thế hệ của các ngươi…” (Xh 30: 1, 7-8)     

Hương trầm tỏa mùi thơm phức như còn dạy: “Đức Chúa phán với ông Môsê: "Ngươi hãy lấy các thứ hương chất: tô hợp hương, hương loa, phong tử hương, các hương chất và nhũ hương nguyên chất; số lượng mỗi thứ sẽ đồng đều. Ngươi sẽ lấy các thứ hương chất đó chế thành hương để đốt: hợp chất các hương này sẽ là sản phẩm của thợ làm hương; hương đó sẽ là hương pha muối, nguyên chất, và là hương thánh. Ngươi sẽ lấy một phần tán thành bột, và sẽ đặt trước Chứng Ước, trong Lều Hội Ngộ, nơi Ta sẽ gặp gỡ ngươi. Đối với các ngươi, đó sẽ là một vật rất thánh. Các ngươi sẽ không được chế hương theo kiểu ấy mà dùng: đối với ngươi, đó sẽ là một vật thánh, dành riêng cho Đức Chúa.” (Xh 30: 7-8)

Ngay ở đây, ta thấy là hương trầm dâng lên Chúa  là để thờ kính Ngài, chứ không phải cho người phàm. Thời xưa đã có lời dạy phải đốt hương khói mỗi ngày hai lần vào lúc tế-tự tượng-trưng cho lời cầu bay cao lên Đức Chúa. Chính vua Đavít cũng có nói ở Thánh vịnh:

“Ước chi lời con nguyện
như hương trầm bay toả trước Thánh Nhan,
và tay con giơ lên được chấp nhận như của lễ ban chiều.”
(Tv 141: 2)

Ta còn biết, việc sử-dụng hương trầm nghi-ngút lại cũng có chung một biểu tượng cả trong sách Khải Huyền khi tác-giả nói đến việc phụng-thờ Chiên Con khi bảo rằng:

“Một thiên thần khác đến đứng trước bàn thờ, tay cầm bình hương vàng. Thiên thần lãnh nhận nhiều hương thơm, để dâng trên bàn thờ bằng vàng trước ngai Thiên Chúa, cùng với những lời cầu nguyện của toàn thể dân thánh.”
(Kh 8: 3-4)  

Thời Tân Ước, người theo Do-thái-giáo lại vẫn sử-dụng trầm hương ở nghi-thức phụng thờ, như thánh-sử Luca mô-tả ông Zacaria chồng bà Êlizabét thực-thi vài trò thượng-tế ở đền thờ Giêrusalem đã bảo:

“Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế,
ông đã trúng thăm được vào dâng hương
trong Đền Thờ của Đức Chúa.”
(Lc 1: 9)

Dù có sử-dụng trầm hương trong nghi-thức phụng thờ ở Cựu Ước, nhưng việc này đã trở thành thói quen thông-thường được Giáo-hội tiên-khởi áp-dụng thôi. Một trong các nghi-thức thấy rõ còn được ghi chép để lại là vào các buổi tang lễ, đã được các sử-gia thuật lại, trong đó có chứng-cớ do Tertulian ghi vào niên-biểu 160-220 sau Công nguyên.

Về sau, nghi thức này được quảng bá đưa vào di-tích và lăng mộ các thánh tử-đạo và vào buổi thánh-hiến nguyện-đường, vào thời trước. Di-tích lịch-sử được ghi chép lâu đời nhất, là vào thế-kỷ thứ tư tại một nhà thờ ở La Mã; và mục-đích các vị làm thế là để tạo hương thơm dễ chịu tại các nhà được dùng làm nơi tế tự.

Phụng vụ thánh Giacôbê và thánh Máccô cũng đã xảy ra hồi thế kỷ thứ 5 khi đó đã có sử-gia viết về mục-đích sử-dụng hương trầm trong các nghi-lễ thờ kính Chúa và Sách Lễ Rôma hồi thế-kỷ thứ 7 cũng đề-cập đến sự việc đoàn tùy-tùng Giám mục bước lên bàn thờ vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Đến thế-kỷ thứ 7 và 8, nhiều hồ-sơ ghi chép có nói đến việc sử-dụng hương trần nghi-ngút ở các nghi-thức phụng-vụ tại Rôma để vinh-danh Đức Giáo-hoàng và tôn kính Sách Phúc Âm. Việc này, có thể là do thói quen dân dã đã sử dụng hương khói để vinh-danh các vị thẩm-phán và các sách Luật.

Còn việc xông hương bàn thờ, giáo sĩ cùng bánh và rượu như quà lễ cũng được đưa vào hiện-thực từ thế kỷ thứ 9 có lẽ do thói quen phụng-vụ thực-hiện tại các nước như Pháp và Đức, vào thời đó.

Mãi đến năm 1350, luật “Chữ Đỏ” ở Phụng vụ, cũng đã coi việc xông hương trong các lễ phải được thực-hiện cho đúng cách. Dù xông hương là để vinh-danh một người nào hoặc vật dụng nào đó, trước hết vẫn là hành-xử để thờ kính Chúa, vì hương thơm nghi ngút bốc cao tượng trưng cho lời nguyện cầu của Hội thánh.

Ngày nay, trầm hương được sử-dụng vào nhiều lễ, chí ít là các thánh-lễ trọng-thể như xông hương bàn thờ, thánh giá xông cả linh-mục chủ tế lẫn giáo dân, cả Sách Phúc Âm cũng như của lễ trên bàn thờ và các đồ vật được thánh-hiến vào lúc dâng tiến.

Vào các lễ mồ, qui lăng Giáo hội còn cho phép xông hương cả quan-tài, xông hương Mình Thánh Chúa vào các buổi Chầu Thánh Thể, Phép Lành cũng như lễ cung-hiến đền thánh hoặc bàn thờ trong các lễ trọng, nữa.

Những việc như thế, đều để tăng thêm tính trọng-thể và thánh thiêng cho việc cử-hành nghi-thức phụng vụ đồng thời đưa hồn mình lên cùng Chúa.” (X. Lm John Flader, Like the smoke of incense, prayer rises to God”, The Catholic Weekly 29/4/2018 tr. 21)

Đấng bậc vị vọng trong Đạo một khi đã bảo như thế thì mọi người đều cũng sẽ hiểu như thế. Chứ đâu nào có ai dám cãi. Bởi, mỗi khi vị linh-mục đại-diện Đức Chúa đã hành-xử hoặc cử-hành lễ lạy đều có ý tốt lành, hạnh-đạo. Nếu không, sao gọi được là buổi lễ rất thánh hoặc “thánh lễ”!

Thế nhưng, sáng-chế ra càng nhiều nghi-thức này nọ cũng chỉ khiến cho đấng bậc chủ-sự hoặc người tham-dự lâu rồi sẽ xa dần ý-nghĩa và mục đích của mỗi sự và mỗi việc, thôi. Nói cách khác, nếu ta chỉ chú-tâm vào các hành-vi/hành-xử bên ngoài mà thôi, thì có lẽ rồi ra, ta cũng sẽ gần cận với thứ “Đạo bề ngoài”, thấy rất rõ.

Tóm lại, cũng nên để tâm đến các nhận-định của người ngoài Đạo vẫn cứ cho rằng: Đạo của ta, có là Đạo “nặng về hình thức” không?            

Để trả lời, có lẽ cũng nên về với “một chút sử-tính” của việc sử-dụng trầm hương/hương trầm trong quá-khứ, ở đâu đó xứ sở rất Rôma không xa Babylon của thời trước, qua các bài viết dài/ngắn cũng khác nhau, như sau:

“Với đạo đa-thần của La Mã, thì việc sử-dụng “hương trầm nghi ngút bay” trong nghi-thức dâng tiến lễ mang tính-cách cực đoan rất sâu đậm. Người dân Êtruria nước Ý đã cắm sâu tục lệ Đạo-giáo của La Mã bằng các nghi-thức thắp hương và xông hương từ thế-kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Trong khi ở Hy-Lạp gần đó, triết-gia Homer (năm 850 trước Công nguyên) có đề cập việc dâng hương cho nữ-thần Tình Ái  tại đền thờ của bà trên đảo Síp.

“Ngõ hầu duy-trì truyền-thống do Vua La Mã là Numa thiết-lập việc sùng kính có rất lâu là dâng tiến “bột mì, thức uống và các quà tặng ít tốn kém khác”; thành thử,bột spenta, bánh mì đặc biệt là các bánh bông lan có pha mật ong, rượu, sữa, hoa và dược thảo trong vùng. Từ các thứ như thế, người địa phương mới sáng-chế ra loại hương/nhang đặt cạnh than hồng đang cháy như một thói quen đốt hương vẫn có ở thế-giới cổ sử.

“Thời đế quốc La Mã, nhiều người cũng thực-hiện giao-thương rộng rãi các sản-phẩm sinh-thái từ các nước phương Đông đem đến, cộng thêm vào với danh sách của lễ dân-dã trong đó nổi-bật nhất là nhang đèn tiến lễ.

“Khi người dân thường dâng lời nguyện cầu của họ lên Thượng Đế, thì họ có thói-quen từ thời xưa cổ là kèm theo đó nhiều của lễ thông thường thì nhang đèn bao giờ cũng là của lễ đẹp lòng thần thánh hơn cả.

“Truyền-thống tôn-giáo của người La Mã có nền-tảng đặt nặng lên hương thơm làm say lòng các thánh thần chỉ qua làn khói có hương thơm ngào ngạt bốc lên không trung đạt chốn thiên đường, thế nên lời cầu của ta cũng tương-tự như thế, suốt nhiều thời.

“Tác-giả Carmelo Cannarella là tín-đồ đa thần đã diễn-tả sự việc này một cách thành-thạo như sau: “Khói của hương/nhang bốc lên bầu trời trước nhất là sự dâng tiến chốn trên cao, một hành-động tỏ bày sự siêu-nghiệm, tức khoảnh-khắc nối-kết giữa con người phàm và các đấng thần thiêng trên cao vút: một hội-ngộ trùng phùng giữa Trái Đất và Trời Cao chốn ấy…

“Hình xoắn ốc nơi làn khói bốc từ nhang/đèn lan tỏa chốn không-gian bay bổng lên cao lên cao mãi “chốn mù xa tận trên trời. Làn khói bốc cao đây, tượng-trưng cho sự hòa-hợp với tầm cỡ Thánh Thiêng dành cho các hữu-thể sống-động và cả trong buổi lễ đầy tang chế nữa.

“Chính sự “bốc cao bốc cao mãi” này vẫn tượng-trưng cho “sự tự-do hoạt-động, cho việc giải-phóng vũ-trụ vật-chất, cho sự siêu-nghiệm của thế-giới gian-trần nữa…” (X. M. Sentia Figula, Neo Polytheist, http://romanpagan.blogspot.com.au)

Đi vào cuộc sống có truyện kể đầy những khói và lửa, để mua vui hết mọi người, có lẽ ta cũng nên kể lại câu chuyện sống chung hoà bình giữa đôi vợ chồng tình tứ tuy có khác biệt về tư-thế giao-dịch hoặc “giao-diện”, những kể rằng:

“Một nam nhân-viên đang tập trung tình-thần để làm việc ở sở, bèn nhận được cú điện-thoại từ người vợ cứ từ loan tin. Anh bèn hối thúc cô trẻ hãy nói nhanh cho được việc hỏi rằng:  

-Có chuyện gì thì cứ nói nhanh lên, anh đang bận lắm, công việc cứ bù đâu không thể chờ được!
-Em có một tin tốt và một tin xấu cần bào cho anh ngay lập tức.
-Được rồi, em chỉ nói tin tốt thôi, còn các chuyện khác thì để về nhà hãy nói sau.
Cô vợ im lặng trong giây lát, rồi từ từ nói:
-Tin tốt là: xe chữa lửa kịp thời đến nhà mình, cũng rất nhanh, anh ạ!
-Thế mà gọi là tin tốt à? Thôi được, 30 giây thôi anh sẽ có mặt tại nhà.”(Truyện kể ê hề trên mạng)

Truyện kể rút từ đâu chăng nữa, vẫn ê hề đầy ắp khắp nơi, rất nhiều nghĩa. Có truyện, kể ra nghe thấy cũng rất hay, lại thích hợp với sự sống của con người ở trong đời; như truyện kể về cuộc đời người đang cần phút thinh lặng/ngơi nghỉ trong sự sống đầy hình thức như được bàn ở truyện kể nghe được, bấy lâu nay, ở bên dưới:

Chúng ta thường nghĩ rằng một người thành công, hay là một người có ích cho đời là một người rất bận rộn. Người ta thường nói thì giờ là vàng bạc, vì vậy lúc nào ta cũng phải biết tận dụng thi giờ của mình, không được hoang phí.  Nhưng có một nhà văn Trung Hoa, ông Lâm Ngữ Đường, nói rằng, "Thì giờ có ích lợi nhất khi nó không bị bắt dùng vào một việc gì hết. Thì giờ cũng được ví như khoảng trống trong một căn phòng."  Khoảng trống ấy đâu có sử dụng cho việc gì đâu, nhưng nó rất là cần thiết.

Cũng như trong nghệ thuật cắm hoa. Một yếu tố quan trọng trong sự cắm hoa là khoảng không gian chung quanh những nhánh hoa, những cành lá. Chứ không phải hễ càng cắm cho nhiều hoa, chen chúc với nhau, là đẹp. Nhìn vào ta phải thấy nhẹ mát, phải cảm nhận được nơi ấy một không gian rộng.

Ta có thể ví dụ cuộc sống như là một bài nhạc. Trong một bài nhạc bao giờ cũng có những dấu lặng, và những khoảng cách giữa hai nốt nhạc với nhau. Thiếu những khoảng trống ấy, thì bản nhạc không thể là một bản nhạc, nó chỉ là một âm thanh kéo dài vô nghĩa mà thôi.

Một nhạc sĩ dương cầm tài danh, Artur Schnabel, chia sẻ về nghệ thuật chơi đàn của ông như sau, "Tôi không nghĩ là mình chơi đàn hay hơn bất cứ một nhạc sĩ nào khác, những nốt nhạc trong một bài nhạc đều giống y như nhau, chúng cũng chỉ có vậy thôi. Nhưng tôi biết cách sử dụng những khoảng cách giữa hai nốt nhạc. Mà nghệ thuật nằm ở những nốt nghỉ đó. Chúng làm cho bản nhạc hay hơn."

Bạn biết không, mọi vật trên vũ trụ đều có một nhịp điệu riêng, từ sự chuyển động của một hạt nguyên tử nhỏ bé, cho đến trái đất, mặt trăng, và các dãy ngân hà xa xôi.  Tất cả đều có một nhịp riêng của nó.  Chung quanh ta, trời có mưa nắng, thiên nhiên cây lá có bốn mùa, thủy triều có lên xuống...

Sự sống của ta cũng vậy, cũng có những sự mất còn, đến đi, cần thiết của nó. Có những lúc ta bước tới, nhưng cũng có những lúc ta cần sự dừng lại. Nếu như ta chỉ biết đi tới mà không còn dừng nghỉ, thì sự sống này chỉ còn có một chiều duy nhất mà thôi, nó sẽ lạc mất nhịp điệu.

Bạn hãy làm cho cuộc sống mình được tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, trong sáng hơn, bằng cách chú ý và trân quý đến những khoảng trống, những dấu lặng trong đời mình.  Và bạn biết không, nghệ thuật sống đẹp của chúng ta nằm ở nơi những khoảng trống đó.”
(Nguyễn Duy Nhiên kể lại)

Kể truyện xong, nay mời bạn và tôi, ta lại sẽ hát những ca-từ ở trên để kết-luận mà rằng:

“Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm ngàn ưu sầu
Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.
Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?.”
(Lê Minh Bằng – bđd)


Trần Ngọc Mười Hai
Cũng đã trải-nghiệm
Những lúc và những lần
rất như thế.

“Em nghe chăng từng đêm"


Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Thăng Thiên 13-5-2018

“Em nghe chăng từng đêm"
bao cung tơ dịu êm
bao câu ca gọi ai về bên nắng mai
Trong không gian lặng im anh rung lên nhịp tim…”
(Nguyễn Trung Cang – Về với Yêu Thương)
(2Ti 2: 3-10)

“Về với yêu thương”
mà lại hỏi: “Em nghe chăng từng đêm…?” phải chăng đây là lời gọi/hỏi gửi đến với mọi người? Thời hôm nay, ít có ai chịu nghe lời ới/gọi rất như thế. Ít chịu nghe, không phải chỉ vì “trong không gian lặng im anh rung lên nhịp tim…” cho bằng anh cứ gọi và hát những lời dịu êm sau đây:

“Em ơi phương trời nao về mau hỡi em!
Quay về mau!
Vượt những giông tố u ám bao phủ đêm đen tình vẫn sáng
Vượt những đau đớn tan nát trăn trối chia xa tình vẫn sống
Hãy lướt qua giữa đêm tôi,
Mưa gió em ơi! Tìm lại nhau
Hình bóng em vẫn rực rỡ mãi mãi không gian và thời gian.”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Thật ra thì, lời “ới gọi” của em hay của ai hôm nay, còn là lời trần tình được kể lể nhiều ở các câu truyện nhè nhẹ dung làm dẫn-nhập như sau:

“Anh Tám mới xin được chân thư-ký cho một công-ty xuất-nhập-cảng ở Sàigòn. Bữa đó, có ông đại-diện bên Mỹ sang thăm. Vì bận nhiều việc, nên ông chủ sai anh Tám dẫn ông khách Mỹ đi tham quan thành phố. Vì vốn liếng tiếng Anh còn nghèo nàn, nên anh Tám phải vận-dụng trí khôn tối-đa. Khi đi qua đài chiến sĩ trận vong, anh nói: America and Vietnam “pằng pằng”, people die here. Khi đi qua Bệnh viện Từ Dũ, anh vừa cười vừa nói: man and woman in love also “pằng pằng” here, and baby was born…

Câu truyện đầy “hư cấu” ở trên, kể ra đây chỉ cốt để tạo niềm vui cho nhau trong vài ba phút phù du, hoặc làm lời giới thiệu cho một chủ đề thần-học khô-cứng được bàn mãi không dứt. Tuy nhiên, có bàn nhiều và dài giòng không ít cũng đâu bằng một đề-nghị ta đi vào nhận-định không dài để rồi, ta cứ thế mà thực-hiện những điều mình quyết-tâm. Nhận-định hôm này, tựa hồ lời căn-dặn của người đi trước từng nhắn nhủ, như sau:  

Cuộc đời quá ngắn ngủi.
Đừng phí thì giờ ghét bỏ ai làm gì.
Hãy chôn quá khứ để hiện tại không bị xáo trộn.
Đừng đem đời mình so với ai đó;
đời mỗi người mỗi khác
Mọi chuyện ở đời có thể thay đổi trong chớp mắt.
Bạn không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận.
Hãy chấp nhận bất đồng.
Khóc cũng tốt, nhất thứ là khi cùng khóc với bạn bè.
Hãy hít thở cho sâu hầu giúp tinh thần mình được ổn-định.
Hãy gạt bỏ những gì vô ích, xấu xa, buồn bã.
Điều gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh mẽ hơn.
Ngày hôm nay là ngày đặc biệt, ta phải tận hưởng.
Đừng tin rằng mình lúc nào cũng đúng.
Phải có đầu óc cỏ̉i mỏ̉, mới được.
Hãy tha thứ tất cả cho mọi người.
Đừng bận tâm về nhận xét của ai đó nói về mình.
Nhường nhịn một chút cũng không sao.
Tuy nhiên, tình thế dù tốt xấu, rồi cũng đổi thay thôi.
Đừng quá nghiêm khắc với bản thân.
Không ai làm vậy hết.
Hãy buông con cái khi chúng trưởng thành.
Chúng đã có cuộc sống riêng.
Thời gian hàn gắn mọi sự.
Hãy để cho thời gian có thì giờ mà hàn gắn bạn.” (Lời nhắn bắt gặp ở trên mạng)
     
Gặp đâu mà chẳng là gặp, dù ta có gặp ở chốn “nợ đời” rất mới nay có đủ mọi thứ. Những thứ như chuyện lân la, bàn ra/tán vào cho hết thì giờ, rồi đến những chuyện nghiêm túc, vẫn không thiếu. Ngay đến chuyện lạ đời của nhiều người ở nhà Đạo hay ngoài đời, nghe không hết.

Chuyện nhà Đạo lâu rày thấy lạ, nhưng nếu cứ nghe đi/nghe lại, nghe hoài/nghe mãi rồi cũng thành chuyện nghe quen quen, chẳng còn gì là lạ cả; bởi lẽ, mọi sự/mọi việc đều được bàn rất kỹ như câu chuyện phấn-đấu chống mọi thứ xấu xa, từ một bà mẹ trẻ ở báo đạo sau đây:

“Khi cháu bé của tôi bắt đầu chập-hững biết đi, tôi có được cái may là bỏ lại đằng sau những đêm dài thao-thức, rất mất ngủ. Tuy nhiên, có một đêm, chừng như vào tối thứ ba thì phải, đêm ấy tôi lại cảm thấy tuyệt vời, không chê vào đâu được. Tôi thức giấc đến cả tiếng đồng hồ rồi, nhưng vẫn nằm đó nghe đủ mọi tiếng động, từ tiếng xe chạy ngoài đường cho đến tiếng thở đều đặn của mấy cháu bé nằm sát ngay bên.

Thật không ngờ, sao con trẻ lại om sòm/ầm ỹ cả khi ngủ nghỉ đến như thế! Trong giấc ngủ cũng thế, bọn trẻ cứ lầm rầm nói mãi không dứt. Hết nói, chúng lại còn quăng-quật mình mẩy đạp chân/đập tay vào bức tường mỏng hoặc vào cạnh giường đến độ tôi phải chảy nước mắt, tội-nghiệp chúng.        

Ban đầu, tôi không tài nào ngủ được vì bị phấn-kích đến độ cứ muốn ghi lại trong đầu những gì mình nghe thấy và đầu óc tôi cứ rì rầm đủ mọi ý. Lúc đó, tôi lại bắt đầu ngờ-vực chính mình. Tôi những tưởng rằng các ý-tưởng tôi mang trong đầu không có gì là cao đẹp, bởi phần lớn trước đó, chúng đều được người khác thực-hiện cả rồi; và chuyện này chỉ làm tôi mất thì giờ vô ích khi tôi còn nhiều quá chuyện quan-trọng hơn để thực-hiện.

Ví dụ thử xem đó là những gì ư? Tôi cũng đã tự hỏi lòng mình như thế. Thế rồi, một làn sóng toàn những điều tiêu-cực đập mạnh vào đầu tôi. Và cứ thế, tiếp tục rất nhiều thứ. Chẳng hạn như, cả một loạt kinh cầu gồm toàn những việc mà tôi quên lãng bấu lâu nay; hoặc sai sót và đại loại giống như âm vang của một số sự/việc mà tôi đã làm hư hoặc đạt kết quả xấu hoặc chẳng làm được gì trong quãng đường dài cả một đời người.

Dường như với tôi, như là tôi cứ nằm dài ra đó trong khi gia đình nhỏ của tôi đang có rất nhiều vấn-đề nghiêm-trọng mà không nghĩ được xem nên bắt đầu từ đâu để giải quyết chúng. Nói tóm, có những việc hoàn toàn vượt quá đầu người và biến đi đâu không biết.

Tôi biết rằng chống cự lại những lời kết tội như thế cũng chẳng giúp tôi trở về với giấc ngủ. Tôi chỉ muốn tập trung hít thở và xa rời các tư-tưởng ấy, không để cho chúng ảnh hưởng trên cảm xúc của tôi, nên chỉ muốn nằm im và rơi vào giấc ngủ và cuối cùng tôi cũng lơ mơ chỉ vài tiếng đồng hồ rất ngắn trước khi mặt trời mọc.

Khi thức giấc trở dậy, đã là Thứ Tư Lễ Tro. Tôi thấy mệt mỏi bực bõ vì mất ngủ nhưng các bóng ma lờ mờ khủng khiếp kia cũng đã hoàn toàn biến mất. Tôi cảm thấy hài lòng bắt đầu đi vào mùa Chay tịnh và chuẩn bị cho lễ Phục Sinh. Đây là thời gian tôi thích nhất trong cả năm phụng vụ.

Với ánh sáng ban ngày tôi có lại được các suy-nghĩ quân-bình như mọi lúc. Đúng là như thế. Tôi từng có một số vấn-đề và gia đình tôi cũng có nhiều vấn-đề mà nhà nào chẳng có như thế chứ? Bởi, chúng là một phần của cuộc sống và cũng là phương tiện để sống và tăng-trưởng. Và với ân huệ Chúa ban, có sự trợ giúp của gia đình, bạn bè thân-thiết và cả đến cộng-đồn mà tôi tham-gia dự phần, chúng tôi biết rằng mình đã được chúc phúc rất nhiều.

Cuộc phấn-đấu diễn tiến vào ban đêm lại đã trở-thành mãnh-liệt. Có lúc nó trở-thành một thứ cơn kích bốc về tinh-thần có liên quan đến những ngày khởi đầu mùa Chay kiêng. Phải chăng tôi rơi vào chốn ngủ vùi hoặc từng có cơn ác mộng nào đó? Có phải là tôi đang bị suy nhược tận bên trong dù tôi vẫn thấy là mình khỏe mạnh và hài lòng với cuộc sống?

Tôi thật cũng chẳng rõ. Nhưng sáng hôm sau trong lúc tôi cảm thấy quá mệt nên quơ vội vài thứ vặt vãnh rồi lái xe chạy thẳng đến nhà thờ cho kịp lễ. Tôi nhập bọn vào thánh lễ dành cho học sinh lớp lớn, xem ra các em rất lấy làm thích thú khi bỏ tiền vào đợt đầu mà tôi quên bẵng đi mất:

“Ôi lạy Chúa! Xin ban thêm ơn để chúng con bắt đầu việc chay kiêng như Luật định và nhờ đó chúng con có thể ra tay chống trả thần-linh ma quái và được trang-bị bằng thứ vũ-khí biết tự-chế. Chúng con cầu cùng Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con Đấng đang sống và ngự trị bên Chúa cùng với Chúa Thánh Thần làm Một Đức Chúa mãi đến trọn đời.”

Thần-linh ma quái có thật. Dĩ nhiên là thế. Quả là sai lầm nếu ta bảo rằng thần-linh/ma quái chẳng quấy phá gì ta vì ta chỉ là người phàm bé nhỏ, chẳng ra gì. Chắc chắn là, tất cả những ai từng được thanh-tẩy đều là đối-tượng đầu của chúng, đặc biệt là trong mùa Chay kiêng lành thánh trong lúc mọi người chúng ta tập-trung nhiều vào Thiên-Chúa chứ không vào chính con người chúng ta.                    

Thành ra, cuộc chiến-đấu suốt 40 ngày trong Mùa này, chống trả lại mọi xu-hướng của riêng mình nghiêng về tội lỗi và chống lại sự hiện-hữu của đám ma-quái ấy

Thế nhưng, cuộc chiến này chỉ thành-đạt không vì mình quyết tham-gia chiến-đấu chống lại ba thù cùng những mánh lới quỷ quyệt của chúng mà phải hướng nhiều hơn nữa vào tình thương hết mọi người như thánh Phaolô từng nói một cách rất quả quyết rằng: “Giả như có Chúa ở với ta thì ai dám chống lại ta đây.” (X. Marilyn Rodrigues, Battling against sin, evil, The Catholic Weekly 16/4/2014, tr. 9)

Chống trả mọi hình-thức ma mãnh/quái quỉ lại có sự trợ giúp của Đức Chúa, đúng là sự thật hiển-nhiên ai cũng trải-nghiệm. Chắc chắn, đó là trải-nghiệm lớn mà mỗi người trong ta từng biết đến trong chuỗi ngày dài cuộc đời. Chí ít là những trải-nghiệm riêng-tư cứ lặp lại nhiều lúc. Bởi, cuộc đời người không chỉ gồm chuỗi ngày dịu êm, nhưng vẫn có cơn sóng triền miên vỗ cạnh thuyền.       

Đó là điều được đấng thánh-hiền từng quả quyết, rất như sau:

“Vì Tin Mừng, tôi chịu khổ,
tôi còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi.
Nhưng lời Thiên Chúa đâu bị xiềng xích!
Bởi vậy, tôi cam chịu mọi sự,
để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn,
để họ cũng đạt tới ơn cứu độ trong Đức Kitô Giêsu,
và được hưởng vinh quang muôn đời.”
(2Ti 2: 3-10)

Có chịu đựng mọi khổ đau trong cuộc sống, mới cảm-nhận được mối phúc-hạnh mà đấng thánh từng nói đến. Cũng thế, trong cuộc đời người, lại cũng có tình-huống khiến người người cảm nghiệm được ý-nghĩa của cuộc sống phúc hạnh một đời người.

Nói theo lý-thuyết cũng đâu bằng nói bằng kinh-nghiệm chiến-đấu với những cơn nóng giận để rồi hối-hận, ray rứt mãi. Như nhiều người đã kể những truyện như sau:

“Truyện rằng:
Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:
-Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.

Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay đằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
-Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
-Thầy cho sáu xu.
-Không, bốn xu là đúng giá rồi.

Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: "Bốn đồng xu từ đây về nhà bò". Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
-Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
-Lại đây đi mà.

Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
-Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lai còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
-Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
-Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.

Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.

Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu "con lợn" cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
-Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
-Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!

Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
-Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.

Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
-Ê! Đứng lại!

Người kéo xe dừng chân... Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
-Lạy thầy... thầy nói giúp con... thầy làm ơn...

Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:

-Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
-Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
-Tôi đi từ phố hàng Bún.
-Vậy phiền ông xuống xe.

Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:

-Allez! Đi về bót!

Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?

Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.

Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
-Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

-Bác Dư có nhà không?
-Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.

Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
-Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.

Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

-Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
-Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.

Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:
-Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.
-Thế bây giờ bác ta đâu?

Bà cụ trả lời:
-Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì. Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
-Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.

- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.

Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhíc lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.

Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.
Đứa bé con đã chết.

Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:
- Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.” (Trích câu truyện “Một cơn giận” của nhà văn Thạch Lam)

Trải nghiệm cơn giận dữ hoặc cuộc đời đầy khổ ải, cũng đều là kinh-nghiệm từng-trải của một người hoặc nhiều người, trong đời. Kinh nghiệm nào cũng đáng quí. Trải-nghiệm nào cũng khác biệt. Chí khác nhau ở hình thức, chứ cường-độ và nội-dung, chắc hẳn cũng tương-tự như bài thơ hoặc câu nhạc để đời, ở bên dưới:

“Em ơi phương trời nao về mau hỡi em!
Quay về mau!
Vượt những giông tố u ám bao phủ đêm đen tình vẫn sáng
Vượt những đau đớn tan nát trăn trối chia xa tình vẫn sống
Hãy lướt qua giữa đêm tối,
Mưa gió em ơi! Tìm lại nhau
Hình bóng em vẫn rực rỡ mãi mãi không gian và thời gian.”
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Hát như thế, tức có nghĩa: hãy cứ bảo nhau “vượt giông tố u ám bao phủ đêm đen”, “lướt qua giữa đêm tối” cuộc đời mà tìm lại nhau, sống bên nhau mãi mãi trong đời.

Thế đó là, tình-tự thân thương xin được gửi đến người đọc hôm nay và mai rày. Ở đây đó.


Trần Ngọc Mười Hai
Và những ngày đầy sóng gió   
Vẫn xứ xảy đến với tôi và mọi người
trong đời