Friday, 22 November 2019

“Nhớ em hạt bụi đời hư vô”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 34 thường niên năm C 24/11/2019

 “Nhớ em hạt bụi đời hư vô”
Còn tương tư hỏi sông núi cũ
Giữa mùa thu em nhớ gì
Giữa mùa thu em nhớ gì.”
(Thơ: Du Tử Lê/Nhạc: Đăng Khánh – Lệ Buồn Nhớ Mi )

(Lc 17: 5-6)

Nhớ gì không nhớ, sao giòng “lệ buồn” chỉ nhớ mỗi “mi” cong chứ không phải con “mắt”? Kể ra thì, người nghệ sĩ đôi lúc cũng chỉ nhớ những “cái” chứ nào nhớ những “con”, như: con mắt, con ngươi, hoặc con người. Thật cũng buồn!

Thôi thì, bạn và tôi đây có nhớ gì thì nhớ, nhiều lắm cũng chỉ mỗi câu hát trữ-tình ở dưới, những bảo rằng: 

“Cành xương tháng chín ký ức âm u
Mưa mù tháng Giêng hồn cây phong úa
Đâu nắng hôm xưa mưa buồn cuối trời
Dấu chân nghìn dặm vàng sau lưng
Vàng đôi môi mùa em thu tím
Giữa quạnh hiu tôi cúi chào
Giữa quạnh hiu tôi cúi chào
Trăm năm đã thẹn biển sông vực sâu
Bầy chim thương tích buồn khâu áo người
Trăm năm vẫn đợi môi nhơ' tàn phai
Bàn chân nhớ đất lệ buồn nhớ mi
Rừng mưa tháng chín môi tóc em đâu
Nỗi buồn sớm mai mùi hương đã chết
Dấu tích năm xưa môi lạnh tiếng cười
Nhớ em hạt bụi đời hư vô
Còn tương tư hỏi sông núi cũ
Giữa mùa thu em nhớ gì
Giữa mùa thu em nhớ gì”.
(Du Tử Lê/Đăng Khánh – bđd)

Thật ra thì, “Lệ buồn nhớ mi” và hoặc “Giữa mùa thu em nhớ gì”, là lời ca, câu hát cũng rất buồn. Mà khi đã buồn rồi, thì hát thế nào mà chẳng được. Nhà Đạo mình cũng thế, hễ đã buồn và mệt rồi ắt hẳn sẽ có tình-tự hoặc ý-nghĩ tương-tự những điều mà người mình vẫn “trần tình” câu hỏi/đáp ở bên dưới:

“Hỏi và đáp, rất như sau:
Thưa Cha,
Vừa qua, đọc bài cha viết trên Tuần Báo Sydney hôm trước đề cấp đến “Tính cách của Niềm Tin” con thấy rất hay, nên đã chuyển cho người bạn để đọc cho biết, anh bèn bảo con: Tòa thánh vừa đưa ra một tài-liệu cũng bàn về chuyện này, cách đây không lâu. Nếu điều anh nói là đúng, thì xin Cha viết thêm vài ba chi-tiết nữa để con có được ý-niệm tốt về Tòa thánh La Mã. Mong Cha hồi-âm.” (Vấn nạn từ một độc giả trung-thành của Tuần báo The Catholic Weekly không đề tên)

Có nhớ đề tên hay không, thì cha/cố nhà mình cũng cứ nhanh chóng phản-hồi, rồi còn thêm thắt những điều sau đây:

“Tài-liệu anh/chị vừa nói, có tựa đề là “Sensus fidei” vốn đề-cập đến đời sống Giáo-hội” được Ủy ban Tín-Lý Giáo-Điều đưa ra hồi năm 2014. Hôm nay, tôi sử-dụng văn-bản này để bàn về diễn-tiến lịch-sử vốn tác-thành văn-bản này; kỳ tới, tôi sẽ bàn kỹ hơn, cũng một đề-tài như thế.

Một trong các ý-tưởng làm nền cho đề-tài này, là rút từ Thư thứ Nhất của thánh Gioan trong đó có viết: “Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh, và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết”; và ở đoạn khác lại thấy viết:

“Phần anh em, dầu mà anh em lãnh nhận từ Đức Kitô ở lại trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa. Nhưng vì dầu của Ngài dạy dỗ anh em mọi sự -mà dầu ấy dạy sự thật chứ không phải sự dối trá-, thì theo như dầu ấy đã dạy anh em, anh em hãy ở lại trong Ngài.” (Thư thứ I thánh Gioan 2: 20, 27)

“Kết cuộc là, mọi tín-hữu đều có khả-năng tin vào sự thật được ghi ở Tin Mừng khiến họ hiểu biết và hỗ-trợ cho tín-điều và phần thực-hành giáo-lý của Đạo Chúa đồng thời loại bỏ những gì sai trái. Văn-bản đây còn viết thêm: “Khả-năng siêu-nhiên, nội-tại nối-kết với quà tặng niềm-tin được nhận qua việc thông phần với Giáo-hội gọi là “Sensus fidei” có năng-quyền giúp đỡ Kitô-hữu làm tròn ơn gọi trở thành tiên-tri.” (Sđd đoạn 2)

Ngay từ thế kỷ đầu đời, các Giáo phụ và thần-học-gia trong Hội thánh đã xem xét toàn-bộ niềm tin của Giáo-Hội, tức: tin-tưởng một cách phổ-quát về điều gì đó ở niềm tin, hầu nắm chắc đó là trọng-điểm phân-định nội-dung đích-thực của truyền-thống có từ các tông-đồ. Các Giáo-phụ đã bác bỏ những sai lạc của bè nhóm sai lạc bằng việc kêu gọi đi vào niềm tin và thực-hành của mọi Giáo-hội.            

Khởi từ Tertulliô đến Augustinô, rồi Vinh Sơn thành Lerins, vv. tất cả đều đề-nghị một qui-luật chắc nịch qua việc kỳ-vọng vào niềm tin được mọi người duy-trì ở khắp chốn. (X. Commonitorium đoạn II, câu 5).

Nhằm giải-quyết các tranh-cãi trong vấn-đề này, các Giáo-phụ kêu gọi không chỉ nhắm đến những gì được ta tin tưởng, mà cả đến những điều được mọi người thực-thi. Thế nên, thánh Giêrônimô đã biện-minh cho việc cung kính các dấu-tích để lại ngang qua việc qui về việc thực hành chung của các Giám-mục và giáo-dân. Thánh Êpiphanô lại cũng biện-hộ cho tính-cách đồng trinh của Mẹ Maria bằng cách hỏi xem xưa nay có ai từng kêu tên Mẹ mà không thêm chữ “Đức Nữ Trinh” ở trước không?...

Tựu trung, rõ ra có thể bảo rằng: “sensus fidei” là niềm tin của toàn thể Giáo-hội chứ không phải một dúm các kẻ tin mà thôi.” (X. Lm John Flader, The Faith of all, not a few The Catholic Weekly, ngày 10/11/2019 tr.23)

Nói nào ngay, các đấng bậc Đạo mình bao giờ cũng đặt vấn-đề thành chuyện trước/sau, trên/dưới đâu ra đó. Còn, với người thường ở ngoài đời, thì: mọi chuyện “trên trời/dưới biển” chỉ nên xem cho vui, rồi thôi. Đã mấy ai đem ra mà trấn-áp người đọc hoặc người nghe, cho ra nhẽ.

Với bạn đọc luôn theo dõi các trang “Phiếm” như ở đây, chuyện gì rồi thì cũng đâu vào đó, sẽ được giải-quyết tốt đẹp, để mọi người còn sống. Sống vui, sống mạnh sống oai hùng như con người ở mọi thời, mỗi thế thôi.

Con người ở đời, lại vẫn xét chuyện trong/ngoài nhà Đạo bằng các truyện kể để đời mà thôi. Truyện kể ở đây, là những truyện “đáng kể” như của Guy De Maupassant khiến ta phải lưu-tâm để ý một lần rồi thôi, cũng không sao.

“Truyện rằng,
“Ngày nọ ở Mônacô có một gã đàn ông, trong lúc nóng giận đã đánh chết vợ. Tội phạm bị kết án tử hình. Phải hành quyết ngay, nhưng ngặt vì xứ này lại không có đao phủ và máy chém. Làm sao bây giờ? Viên bộ trưởng Ngoại giao tâu lên Hoàng Thái Tử nên nhờ Pháp hay Ý giúp. Chính phủ Pháp trả lời: “Số tiền thuê đao phủ và máy chém là mười sáu ngàn quan”. Hoàng Thái Tử bảo tên tội phạm này không đáng phải tiêu đến số tiền lớn như vậy.

Họ bàn, chỉ cần một tên lính xoàng cũng có thể làm được việc này. Nhưng viên tướng lại trả lời rằng: “Ông chưa từng dạy lính của mình chặt đầu người khác bao giờ.”

Do vậy, ngài bộ trưởng đề-nghị chuyển từ án tử-hình xuống chung-thân. Khốn nỗi, ở Mônacô không có nhà tù, nên lập tức phải xây một phòng giam và bổ nhiệm một viên cai ngục.

Sáu tháng sau mọi việc đều xong. Tên tù ngủ vùi suốt ngày trong buồng, còn viên cai ngục bắc ghế ở cửa, ngồi ngắm khách bộ-hành.

Hoàng Thái Tử là người biết tính toán: ngài thấy tên tù và viên cai ngục ngốn một khoản không nhỏ trong ngân-sách quốc-gia. Ngài quyết định bãi-chức viên cai ngục, tạo điều-kiện cho tên tù tẩu-thoát.

Viên cai ngục đã bị thải, nên ngày hai bữa, anh đầu bếp trong cung đành phải đều đặn mang cơm đến cho tên tù.
           
Rồi một hôm, người ta quên mang đồ ăn, tên tù mò vào tận bếp và từ đó, hàng ngày hắn đến ăn chung với những người phục-dịch trong cung.

Cơm trưa xong, hắn làm cuộc dạo mát nho nhỏ rồi mới trở về phòng giam, tự khóa trái cửa lại, rồi nghỉ.

Một hôm, người ta bảo thẳng với hắn hãy rời khỏi Mônacô. Tên tù khước từ và nói:
-Tôi không có gia đình. Tôi không có tiền. Tôi là kẻ phạm tội. Tôi bị kết án tử hình. Các ông đã không xử tôi. Tôi chưa buồn nói. Hôm nay, các ông lại định đuổi tôi khỏi xứ này. A! Đừng hòng. Tôi là thằng tù. Thằng tù của các ông. Chính các ông đã xét xử và kết tội tôi. Tôi cứ ở đây.

Lúc ấy, người ta phải thương-lượng với tên tử tù, bằng cách trợ cấp cho hắn sáu trăm quan để ra sống ở nước ngoài.

Hắn chấp-nhận. Hiện nay hắn sống trong một căn nhà nhỏ, có vườn tược, cách Mônacô năm phút đi bộ, sinh-hoạt khá sung-túc trên mảnh đất do chính hắn canh-tác và khinh thường vua chúa.” (Trần Xuân dịch từ Nguyên bản tiếng Pháp: “Le prisonnier de Monaco” trong Belles pages de la littérature francaise.)

Đấy thấy không? Tên tử tù đã “sinh-hoạt sung-túc trên mảnh đất do chính hắn canh-tác và (nhất là) dám “khinh thường” vua chúa. Những tưởng rằng, “khinh thường vua chúa” mới là tội tày trời, đáng xử tử, cơ chứ! Cuối cùng, tất cả chỉ là chuyện vòng vo tam quốc, cứ quay tròn mãi chẳng làm giải quyết cho phải đạo.

Đấy thấy không? Cuộc đời người cũng có những điều oái oăm, trái khoáy khiến ta và người nghĩ mãi không ra một giải-pháp. Thành thử, cứ thế ta đi vào vùng trời truyện kể để thư-giãn cho những ngày tháng sắp tới, có thể còn “căng” hơn. Vào đây rồi, mới thấy nhiều truyện kể còn phức-tạp hơn, khiến ta, một lần nữa, lại suy-nghĩ cho lung đến độ cứ phải kể và kể những truyện như sau:

Ngày mai, tôi phải đi viện dưỡng lão…
Không phải bất đắc dĩ, thì tôi cũng không muốn đi viện dưỡng lão đâu. Nhưng mà từ khi sinh hoạt hàng ngày không còn có thể tự xoay xở, mà con gái vừa làm việc bận rộn vừa phải chăm sóc cháu trai, không rảnh để quan tâm mình, đây dường như là sự lựa chọn duy nhất đối với tôi.

Điều kiện sống ở viện dưỡng lão không tệ: Một mình một gian phòng sạch sẽ, được lắp các đồ điện đơn giản thực dụng, đầy đủ các loại phương tiện giải trí; đồ ăn cũng ngon miệng; phục vụ rất chu đáo, bày trí xung quanh cũng rất đẹp.

Tuy nhiên giá cả đắt đỏ, tiền hưu của tôi nhất định không đủ trả. Nhưng tôi còn có nhà riêng của mình, đem bán nó đi, tiền cũng không còn là vấn đề nữa. Nhưng tài sản còn lại, trong tương lai tôi muốn để dành cho con cái. Con cái lại rất hiểu chuyện, chúng nói: “Tài sản của mẹ thì mẹ tùy ý sử dụng, không cần lo cho bọn con”. Số tiền còn lại đúng là tôi muốn chuẩn bị để vào viện dưỡng lão.

Sống trong nhà, kim chỉ cái gì cũng không thiếu, rương hòm, ngăn tủ, ngăn kéo đều đầy ắp các loại đồ dùng. Quần áo bốn mùa, đồ dùng bốn mùa, chồng chất như núi; tôi thích sưu tầm, tem sưu tầm đã thành từng chồng lớn, ấm tử sa cũng đã hơn mười cái.

Còn có rất nhiều vật linh tinh cất giấu, nào là ngọc bích, hạt óc chó, vật trang sức. Đặc biệt là sách, cả một mặt tường là giá sách, chật kín đầy ắp; rượu ngon thì Mao Đài, Ngũ Lương, rượu Tây cũng phải mấy bình.

Còn có nguyên bộ đồ điện gia dụng, dụng cụ nấu nướng, nồi niêu xoong chảo, củi gạo dầu muối, đủ loại đồ gia vị, nhét chật đầy phòng bếp; còn hơn chục cuốn album ảnh, nhìn một phòng tràn đầy đồ vật, tôi cũng thấy phát rầu!

Viện dưỡng lão chỉ có một gian phòng, một cái tủ, một cái bàn, một giường, một ghế sô pha, một tủ lạnh, một máy giặt, một TV, một bếp điện từ, một lò vi ba, căn bản không có chỗ để lưu giữ của cải mà mình tích lũy.

Trong chớp mắt, tôi đột nhiên cảm giác được, những của cải này đều là dư thừa, chúng cũng không thuộc về mình…

Tôi chẳng qua là nhìn một cái, chơi một chút, dùng một lát, chúng trên thực tế chỉ thuộc về thế giới này, những sinh mệnh lần lượt lướt qua ta, cũng chỉ là quần chúng.

Cố Cung là của ai, hoàng đế cho rằng là của trẫm đấy, nhưng bây giờ nó là của nhân dân, của xã hội, chỉ có thể trở thành lịch sử.

Tôi bỗng nhiên hiểu ra: Tại sao Bill Gates muốn đem cho toàn bộ tài sản của mình; tại sao Jack Ma tuyên bố muốn tặng toàn bộ đồ cất giữ cho viện bảo tàng? Đó là bởi vì bọn họ hiểu rồi: Tất cả vốn dĩ không phải của họ!

Bọn họ chẳng qua là nhìn một cái, chơi một chút, dùng một lát, sinh không mang theo, chết không mang đi, chi bằng tích đức làm việc thiện lưu lại phúc cho con cháu. Đó mới thật là sáng suốt!

Một phòng đồ đạc của tôi, thật muốn đem hiến tặng, nhưng lại không nỡ. Phải xử lý chúng trở thành một vấn đề khó khăn, con cháu lại chẳng dùng được bao nhiêu.

Tôi có thể tưởng tượng, lúc cháu mình đối mặt với những bảo bối tôi khổ tâm tích lũy thì sẽ đối xử thế nào: Quần áo chăn đệm toàn bộ đều vứt đi; hơn chục cuốn album quý báu bị đốt bỏ; sách bị coi như phế phẩm bán đi; đồ cất giữ không có hứng thú sẽ bị dọn sạch; đồ gỗ lim trong nhà không dùng, cũng sẽ đem bán giá rẻ. Giống như phần cuối Hồng Lâu Mộng: “Chỉ còn lại trắng xóa một mảnh, thật sạch sẽ!”

Tôi quay lại nhìn đống quần áo như núi, chỉ lấy vài bộ thích mặc; đồ dùng phòng bếp chỉ chừa lại một bộ nồi niêu chén bát. Sách chọn lấy vài cuốn đáng đọc; ấm tử sa chọn lại một cái để uống trà. Mang theo chứng minh thư, giấy chứng nhận người già, thẻ y tế, hộ khẩu, đương nhiên còn có thẻ ngân hàng, vậy là đủ rồi!

Đây chính là toàn bộ gia sản của tôi! Tôi đi rồi, từ biệt hàng xóm, đem trả ngôi nhà này lại cho thế giới này!

Đúng vậy, đời người chỉ có thể ngủ một giường, ở một gian phòng, dù nhiều hơn nữa đều là để nhìn chơi. Nhân sinh trên đời, quả thật không cần quá nhiều, đừng quá coi trọng vật chất, bởi vì tất cả cuối cùng đều phải trả lại cho thế giới này! Chi bằng xem nhiều sách, ở bên cạnh người thân, yêu mến bạn bè bên cạnh, làm cho thế giới này bởi vì có tấm lòng yêu thương của bạn mà trở nên càng tốt đẹp. (Tuệ Tâm ­- theo tinhhoa. Net)

Nói cho cùng, tất cả chỉ như thế. “Lệ buồn nhớ mi” cũng chỉ như thế hoặc hơn thế, mà thôi. Bởi, trong cuộc đời, kẻ trước người sau, rồi cũng theo đường mòn của người đi trước, rặt thế thôi.

Rặt như thế, là những gì đấng thánh hiền nhà Đạo đã từng bảo ban thời buổi trước, mà rằng:

“Các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng:
"Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con."
Chúa đáp:
"Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải,
thì dù anh em có bảo cây dâu này:
"Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc",
nó cũng sẽ vâng lời anh em.”
(Lc 17: 5-6)

 

Trần Ngọc Mười Hai
Nay nhận thấy:
có quyết tâm sống Lời Chúa hay không
đều tùy mỗi người và mọi người ở đời.
mỗi thế thôi.
mà thôi.

  



 

Tuesday, 12 November 2019

“Một ngày tình bỗng khói sương”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 33 thường niên năm C 17/11/2019

“Một ngày tình bỗng khói sương”,
Tôi về gom chút tàn hương cuối trời
Hồn sầu mộng giấc chơi vơi
Tàn canh quạnh vắng trăng rời phố khuya.”
(Phạm Anh Dũng & Phạm Ngọc – Tình Bỗng Khói Sương)

(Lc 20 : 33-38)

Cứ như tình-tự của bài hát viết ở trên, thì có lẽ chẳng còn ai muốn có được thứ tình-tiết như thế. Thế nhưng, hãy để nghệ-sĩ nhà mình trải dài thêm vài ba tâm-tư cùng tình tự như bên dưới, vẫn hát rằng:

“Một ngày em đã xa tôi
Đường mây hướng gió xa xôi ngàn trùng
Quanh tôi là cõi thinh không
Tìm đâu lại áng mây hồng vụt bay
Một ngày em bỏ nơi này
Công viên ghế đá giăng đầy bụi mưa
Và Thu cũng sớm sang mùa
Hoang mang cành lá vàng úa trên đường.”
(Phạm Anh Dũng & Phạm Ngọc – bđd)


Ở ngoài đời, nghệ sĩ nhà mình thường hát thế. Vẫn cứ hát những điều nghe ra buồn rười rượi thế nhưng có người lại vẫn thích thú. Còn nhà Đạo mình thì sao? Có chăng bạn Đạo nào đó lại thích những chuyện ‘tréo cẳng ngỗng’, như thế không? Hỏi, thì hỏi thế chứ cũng nên xem nhà Đạo mình ở đây đó nói thế nào về tình hình người đi Đạo và giữ Đạo trên thế-giới với lời nhắn nhủ những bảo rằng:


Mới đây Đức Phanxicô từng bảo rằng: “Chuyện hàng giáo sĩ lạm dụng tình dục đang tẩy uế con người chúng ta; và nỗi đau buồn về những tai tiếng trên toàn thế-giới giúp Giáo hội khởi đầu cải tổ chính mình.


Trong buổi nói chuyện với các linh-mục thuộc giáo-phận Rôma ngày 07/3/2019, Đức Phanxicô lại cũng nói: “Chúng ta có thói quen hối hận một cách khiêm tốn các lầm lỡ của mình, qua động-tác lặng thinh rồi khóc lóc khi đặt mình ở hai tình-huống; một là, thấy rõ tầm mức lớn lao của lầm lỡ và sự cao cả khôn lường khi Chúa thứ tha mọi lỗi lầm của ta. Hối-hận một cách khiêm nhượng khiến ta bắt đầu trở nên thánh-thiện. 


Trong buổi gặp gỡ các linh mục vào ngày chay kiêng hôm 07/3/2019 Đức Phanxicô đã khởi sự buổi nguyện-cầu ăn-năn hối-cải và xưng thú cá-nhân diễn ra tại nguyện đường thánh Gioan Latêranô ở Rôma thuộc giáo-phận Rôma. Trong buổi nói chuyện khá dài về chức linh-mục và sự tha thứ, Đức Giáo Hoàng ghi nhận là đang có khủng hoảng lạm dụng tính-dục nơi hàng giáo sĩ và việc này tác-động lên các linh-mục một cách đặc biệt.


Ngài nói: “Tội làm ta biến dạng và bẽ mặt khi ta hoặc một người anh em linh-mục hoặc giám mục của ta, thì tội ác đưa ta xuống đáy vực đồi bại, rữa nát hoặc tệ hơn nữa, tàn phá sự sống của người khác tựa hồ chuyện lạm dụng tình dục con trẻ. 


Đức Giáo Hoàng còn tuyên bố ngài xác tín rằng các vụ lạm dụng tình dục cuối cùng ra, vẫn là công việc của ác thần. Ngài nói rõ: “Dù sao đi nữa, anh chị em cũng chớ nản lòng. Thiên-Chúa đang tẩy rửa hiền-thê của Ngài là Giáo-hội và Ngài cũng đang hoán-cải ta đưa tất cả mọi người về lại với Ngài. Thiên-Chúa đưa ta vào chốn thử-thách để ta hiểu ra rằng: không có Ngài, ta chỉ là cát bụi mà thôi.        


Đức Phanxicô lại cũng cho biết: Thiên-Chúa đang tái-tạo nét kiều diễm nơi hiền thê của Ngài đang ngỡ-ngàng trong cuộc tình đặc-biệt cách ngoại thường. Đức Giáo Hoàng tập trung buổi nói chuyện của ngài vào truyện Xuất Hành qua đó Thiên-Chúa đào luyện dân con của Ngài, giáo-dục họ, gọt giũa rồi đưa họ vào đất miền lành thánh Ngài hứa ban cho họ. Đức Giáo Hoàng lại cũng nhấn mạnh rằng Thiên Chúa buộc lòng phải dạy cho dân con của Ngài tính khiêm nhượng để họ biết Ngài là Thiên Chúa rồi từ đó hoàn toàn phó thác nơi Ngài.


Đức Phanxicô cũng nói: khi người Do-thái-giáo xưa đúc bò vàng để thờ, đã xảy ra tiến-trình hóa-giải khá bền-bỉ và dân con mọi người được dạy cho biết Thiên Chúa là Đấng vừa đe nẹt vừa ủi an hết mọi người để họ biết hậu quả của việc làm sai quấy và Ngài quyết định quên đi mọi lỗi tội của họ rồi còn xoa dịu các vết thương do Ngài giáng phạt.


Thiên Chúa dọa bỏ rơi dân con của Ngài và Ngài để họ trải nghiệm những cực hình họ có thể chịu để biết rằng không có Ngài giúp đỡ, thì mọi sự chẳng là gì cả. Đức Phanxicô còn nói rõ: “Mọi người chúng ta đều cảm-nghiệm điều này, cả những khoảnh khăc xấu xa, tồi tệ của tình-trạng âu sầu về tinh-thần nữa.”


Thế nhưng, Thiên Chúa luôn quay về ban phép cho dân con của Ngài học biết kính sợ tình trạng bất-lực của họ, tính tinh-quái của họ và cả đến cung-cách họ xử thế, tức nói một đằng làm một nẻo.


Việc xưng thú đối với hàng ngũ linh-mục cũng như bất cứ giáo-dân nào khác là khoảnh khắc quay về đối diện với sự yếu đuối của chính mình mà trở nên lương thiện và nói to cho mọi người biết con người đã lỗi phạm đến độ nào. Việc này tựa hồ cởi bỏ mặt nạ che khuất diện mạo của chính mình hoặc những gì người đời thường tô vẽ lên đó hoặc che kín nó để không ai thấy được sự xấu xa của mình.


Và cuối cùng, Đức Phanxicô còn quả quyết với các linh-mục có mặt ở Rôma hôm ấy rằng: các ngài đừng kỳ-vọng là mọi người hiểu mình, chấp nhận và cảm kích mình, nhưng  hãy tin tưởng vào sự dẫn dắt của Thiên Chúa là Đấng đang làm rất nhiều sự vào thời này. Ngài đang mở rộng tâm can của ta và đặt ta vào công cuộc phục vụ Lời nói mang tính giải hòa của Ngài.” (X. Cindy Wooden, Abuse purifying us, The Catholic Weekly 13-10-2019).

Để minh họa cho điều vừa định-vị, ta cũng nên thêm một truyện nữa cho “thấm” hơn, mà rằng:





“Có thanh niên nọ lúc nào cũng tự trách mình không gặp thời gặp thế, bởi vậy mặt mày cứ ủ rũ mãi thôi. Bỗng, có cụ già đi qua thấy vậy bèn hỏi nhỏ:
-Này bạn trẻ, sao bạn lại không thấy mình hạnh phúc chứ?
Người trẻ đáp:
-Cháu cũng không biết tại sao cháu cứ nghèo/hèn mãi như thế này.
Cụ già thành thật nói:
-Nghèo ư? Cháu rất giàu thì có!
Cụ lại hỏi:
-Nếu ta chặt một cánh tay của cháu và rồi trả 50 triệu tiền bồi thường cháu có chịu không?
Người thanh niên đáp:
-Không đâu, thưa cụ.
Cụ già lại hỏi:
-Nếu ta lấy đi hai con mắt của cháu và trả 500 triệu, cháu vẫn không chịu chứ?
-Không bao giờ thế đâu, thưa cụ.
Và rồi, cũ già lại hỏi tiếp:
-Nếu ta làm cho cháu trở-thành ông cụ già như ta và trả 50 tỷ đền bù, cháu chịu không?
-Thưa, cũng không luôn.
-Giả như ta làm cho cháu chết đi và trả cháu 50 tỷ đền bù, cháu có chấp nhận    
không?
-Không. Cậu thanh niên vẫn quả quyết.
Cụ già ôn tồn nói:
-Như thế là, cháu có cả khối tài sản hơn 50 tỷ rồi, sao cháu không vui chút nào hết vậy?

Người thanh niên bỗng lặng thinh, cậu hiểu ra được tất cả... Cậu là người hạnh phúc và giàu có không kém ai.

Nếu một mai thức dậy, bạn được phép hít thở tự do, đó là bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều người từng rời bỏ thế gian trong tuần này...

Giả như bạn chưa từng trải qua các mối hiểm nghèo của chiến tranh, nỗi thống khổ của đói kém, cả đến cô độc của tù đày, thì bạn đã hạnh phúc hơn 500 triệu người trên thế gian này!

Nếu bạn còn có đủ thức ăn, trên người lại có quần áo mặc có nhà để ở, thì bạn đã giàu có hơn 70% số người hiện-hữu trên thế giới này rồi còn gì nữa?

Nếu bạn được tự do, an toàn dự một lễ-hội mà không bị ai quấy rầy, bức bách thì bạn đã hạnh-phúc hơn 7 tỷ người sống trên trái đất...

Nếu bạn có thể mỉm cười, trong người lại tràn ngập đủ mọi tâm tư thì bạn đã thực sự là người hạnh phúc nhất rồi. Bởi lẽ, mọi người sống trên thế giới đều có thể làm thế, nhưng họ vẫn không làm.

Nếu bạn đọc được những giòng chữ viết nơi đây, thì bạn đã hạnh phúc hơn 2 tỷ người không biết chữ trên thế giới...

Vậy, hãy thử nghĩ xem, có điều gì khiến bạn không thấy hạnh phúc đây? (Nguồn: ST sưu tầm)


Thật ra thì, có những điều được ST và bạn bè ở đây đó sưu tầm cho mình đọc, thì đó cũng là một phúc hạnh không nhỏ, chứ chẳng chơi! Còn gì hạnh phúc bằng, luôn có ai đó quan-tâm chăm sóc mình bằng nhiều cách. Cả đến phương-cách lý-luận, kể lể những chuyện trong nhà ngoài ngõ suốt cuộc đời, hệt như câu chuyện về đấng bậc nọ cũng luôn quan-tâm không đến những chuyện của bạn và của tôi, sau đây:

“Nếu ta vẫn sống sót để đi đến Chúa, ở với Chúa và được Chúa chăm sóc cho mình sau khi chết, điều này có nghĩa: Chúa đang thiết-lập một thế giới mới và ban cho ta một hiện hữu theo kiểu mới nơi xác thể, ở thế giới này. Đây là thứ xác-thể có uy-lực của Thánh-Linh, chứ không chỉ là sự sống còn theo nghĩa tinh thần, đâu. Ta cũng không thể biết xác-thể mới này trông giống gì. Các câu hỏi như thế không thích-hợp. Câu hỏi thực sự không mang tính vũ trụ quan mà có tính cách chính-trị. Thế giới mới này sẽ khác hẳn và tốt đẹp hơn.

Thế giới mới ấy sẽ là thế giới của tự do, công bằng, bình yên và thương yêu. Thế giới đó, sẽ là thế giới trong đó người nghèo khó, thấp hèn không còn khó nghèo và hèn kém nữa. Mà là, thế giới trong đó con người có uy-lực hiện thời sẽ không còn và không thể hiện hữu để rồi có thể làm hại một ai nữa. Đám người như nhóm bè Xađuxê và người La Mã sẽ không còn loanh quanh luẩn quẩn ở cạnh nữa, mà đây lại là một cuộc xuất hành mới, theo đó, một lần nữa Chúa lại nghe tiếng vãn than của dân con Ngài đang đau khổ và Ngài đến tiếp cứu.

Đây là cuộc trở về mới từ nơi lưu lạc, theo đủ cách. Thiên Chúa là Chúa của tự do. Là, Đấng cứu độ và là Chúa của mọi cách mạng qua đó Ngài đối đầu sự chết với tin lành loan đi sẽ có thế giới mới trong đó sự chết không còn chỗ đứng. Thiên Chúa giáp mặt với mọi người có uy-lực để lãnh nhận sự sống tràn đầy từ người khác, cùng tin tức loan báo rằng mọi sự xấu sẽ được chỉnh sửa để nên tốt. Mọi đớn đau được lành lặn và dân con mọi người sẽ ở đó. Thiên Chúa không là Chúa của bè nhóm Xađuxê, cũng không là Chúa của đế quốc La Mã.

Chẳng thế mà, người Xađuxê và La Mã không thể ở vào địa vị của Chúa để nói về Phục sinh quang vinh. Họ vẫn muốn có uy quyền, để cai trị thế gian. Họ chẳng muốn mất đi thế lực mình vẫn có. Nên Chúa nói: họ sẽ mất tất cả, bởi loại hình thế giới của họ sẽ không bao giờ có nữa. Họ lại chọn loại hình sai trái về thế giới do mình tạo mà thực tế lại khác hẳn. Thế giới mà người nghèo khó lâu nay vẫn đợi chờ.

Phục sinh không có nghĩa như một miêu tả sự thể xảy đến cho mỗi người sau khi chết. Điều này không chỉ nói: Chúa đã sống lại, thế nên ta sẽ lên thiên đàng khi chết đi sẽ về với Chúa. Mà là Chúa mang đến thế giới mới này bằng việc lật ngược/thay đổi tận gốc rễ thế giới ta đang sống. Tin Mừng có ý nói: Chúa đã sống lại rồi, thế nên tạo vật mới đã bắt đầu. Ý Tin Mừng nói: Chúa đã sống lại thật, nên ta được ủy thác ra đi mà thiết lập thế giới mới đã khởi sự đến gần, ngay tại đây, bây giờ, và có trước cho mọi người. Ta có bổn phận để cho sự thật về “sự sống lại” biến ta trở thành những nhà cách mạng biết chối-từ nhượng-bộ những gì đã hiện-hữu.

Mọi người, cả nam lẫn nữ, đã ở vào “cuộc chơi” cũng đủ để nói rằng: những gì là sai quấy trong thế-giới của ta đã chết, và thế-giới mới của Chúa đã khởi-sự. Thế giới mới này, không chỉ mang tính linh-thiêng, nhưng còn có nghĩa chính trị. Không phải chỉ xảy ra trong tương lai/ mai ngày, nhưng đã xảy đến ngay lúc này rồi.” (X. Lm Kevin O’Shea, DCCT Suy tư Tin Mừng CN 32 thường niên năm C, Lời Chúa Sẻ San)

Tất cả, lại đã quay về với ý-nghĩa của phụng-vụ lời Chúa hôm nào đó vẫn cứ quay về với ý-nghĩa đích thực về “Sống lại” và về sự sống rất mới, ở trần gian hôm nay. Tất cả đã như lời nhắn nhủ của Đấng thánh hiền từng bảo ban trong thánh kinh, mà phán rằng:

“Những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham,Thiên Chúa của tổ phụ Isaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Mà Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống."  
 
“Tất cả đều đang sống”. Không những thế, họ và ta vẫn đang sống mạnh, sống vững chãi và hiên ngang như bao giờ. Đó là sự thật rõ như ban ngày, ai cũng thấy. Thế mới lạ!

Và điều lạ đây, cứ thấy xảy ra đều đều và mãi mãi trong đời mình, như câu truyện kể có đầu đề Xin hãy cho nhau nụ cười”  ở bên dưới vẫn chứng minh một điều hệt như thế:
            Truyện rằng:
“Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện, thế nhưng nụ cười lại tỏa sáng nhiều hơn hàng trǎm bóng đèn điện.

Không ai nghèo đến nỗi không thể mỉm một nụ cười, cũng không ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác.

Một nụ cười - vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng nó phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ.

Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười.
Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình.
Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái.
Nụ cười làm cho kẻ nhọc nhằn tìm được sự thoải mái dễ chịu.
Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí, hoang mang.
Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi vì không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười..

Có một câu chuyện kể rằng: Saint Exupery từng là phi công tham gia chống phát xít trong Đệ nhị Thế chiến. Chính từ những nǎm tháng này ông đã viết ra tác phẩm "Nụ cười".. Không biết đây là một tự truyện hay một truyện hư cấu, nhưng tôi tin rằng nó có thật. Trong truyện, Saint Exupery là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông biết nay mai có thể bị xử bắn như nhiều người khác.

Ông viết:
-Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù.

Tôi gọi:
-Xin lỗi, anh có lửa không?.

Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là viên cai ngục phát xít mà chỉ là một con người.

Anh ta hỏi tôi:
-Anh có con chứ?"
Tôi đáp:
-Có và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình.

Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhoà lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại được người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khoá và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười".

Từ khi đọc được câu chuyện này tôi nghiệm ra được nhiều điều. Tôi biết rằng bên dưới mọi thứ vỏ bọc chúng ta dùng để thủ thế, để bảo vệ phẩm giá và địa vị, vẫn còn đó một điều thật quý giá mà tôi gọi là tâm hồn.

Tôi tin rằng: nếu tâm hồn bạn và tâm hồn tôi nhận ra nhau thì chúng ta chẳng còn gì phải sợ hãi hay cǎm thù oán ghét nhau.

Nếu bạn từng có một khoảnh khắc gắn bó với đồng loại qua sức mạnh của nụ cười, thì tôi tin rằng bạn cũng đồng ý với tôi, đó là một phép lạ nho nhỏ, một món quà tuyệt vời mà chúng ta có thể dành cho nhau.

Một nữ tu ở Calcutta đã cảm nhận được điều này trong cuộc sống, và bà đưa ra lời khuyên chân thành: "Hãy mỉm cười với nhau, mỉm cười với vợ, với chồng, với con cái bạn và với mọi người dù đó là ai đi nữa, vì điều này sẽ giúp bạn lớn lên trong tình yêu của nhau..."
(ST sưu tầm)

Và, để minh họa cho câu chuyện nói ở đây, tưởng cũng nên trở về với ca-từ những hát rằng:

“Một ngày tình bỗng khói sương”,
Tôi về gom chút tàn hương cuối trời
Hồn sầu mộng giấc chơi vơi
Tàn canh quạnh vắng trăng rời phố khuya.
“Một ngày em đã xa tôi
Đường mây hướng gió xa xôi ngàn trùng
Quanh tôi là cõi thinh không
Tìm đâu lại áng mây hồng vụt bay
Một ngày em bỏ nơi này
Công viên ghế đá giăng đầy bụi mưa
Và Thu cũng sớm sang mùa
Hoang mang cành lá vàng úa trên đường.”
(Phạm Anh Dũng & Phạm Ngọc – bđd)

Và lời Kinh thánh làm bằng cho việc ấy, lại đã thấy ở Tin Mừng sau đây, những bảo rằng:

"Con cái đời này cưới vợ lấy chồng,
chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau
và sống lại từ cõi chết,
thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng.
Quả thật, họ không thể chết nữa,
vì được ngang hàng với các thiên thần.
Họ là con cái Thiên Chúa,
vì là con cái sự sống lại.
Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy,
thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai,
khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham,
Thiên Chúa của tổ phụ Isaác,
và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp.
Mà Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết,
nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống,
vì đối với Ngài,
tất cả đều đang sống."
(Lc 20 : 33-38)

Lời Chúa hôm ấy, thì như thế. Còn, lời của người đời hôm nay, sẽ như câu truyện sau đây:

“Hôm ấy, lễ xong có một nữ phụ đứng đón cha xứ ở cuối nhà thờ và thưa với ngài:
-Chắc cha không phiền khi thấy chồng con bước ra ngoài lúc cha đang giảng đấy chứ?
-Thật tình thì tôi cũng hơi bị phân-tâm khi thấy ông ấy bỏ ra như vậy.
Người phụ nữ cố-gắng biện-minh cho hành-động của chồng mình, rằng:
-Thưa cha, thật ra thì …không phải là chồng con chê cha giảng dở mà bước ra đâu. Số là chồng con có cái bệnh ‘mộng du’ bị từ nhỏ. Lần nào ngủ, ông cũng đều đi như thế!

Tiện thể, bà già đạo đức lại cất tiếng kể thêm câu truyện khác cũng về nhà thờ/nhà thánh như sau:

Đức Giám Mục địa phương thường có thói quen chào anh chị em giáo dân bằng câu “Peace be with you” (Bình an ở cùng anh chị em) trước khi bắt đầu giảng.

Hôm ấy, ngài đến dâng lễ cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam. Khi đến phần thuyết giảng, ngài tiến đến bục giảng và sửa cái microphone cho cao hơn để vừa với thân hình cao lớn của ngài.

Dùng hết sức uốn nắn cái “microphone” cho nó cao lên nhưng nó cứ nằm ì không chịu nhúc nhích, Đức Cha bèn nói: “Something wrong with the microphone” (= có cái gì đó không ổn với máy vi-âm này).

Cộng đoàn theo thói quen, đồng thanh đáp: “And also with you”. Đức Cha! (Và với ngài cũng thế.) 

Với ngài hay với ai, cũng vậy. Nhưng với giáo dân có “Chúa ở cùng” ngày hôm ấy, vẫn không vậy!

            Trần Ngọc Mười Hai
            Nhiều lúc cũng nghĩ vậy
Nên mới chết “một cửa tứ”
Đấy chứ.