Saturday, 3 December 2016

“Anh vuốt tóc em, anh vuốt tóc em,”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 3 mùa Vọng Năm A 11/12/2016

“Anh vuốt tóc em, anh vuốt tóc em,”
một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi....
Anh hốt trăng thanh, trên áo em xanh,
một lần cuối, như những lần đó xa xôi....
Anh nắm tay em,
anh nắm tay em,
một lần cuối, một lần cuối,
một lần cuối cùng,
để còn thấy đời êm lần cuối.
Một lần cuối cùng, thôi em ơi!”
(Hoàng Thi Thơ – Một Lần Cuối!)

(1Cor 14: 14-16)

Vuốt tóc em, chỉ một hay nhiều lần, thì đã sao! Hà cớ gì, anh lại cứ phải bảo đấy “lần cuối, lần cuối cùng thôi em ơi” để làm gì? Thôi thì, anh muốn bảo: lần đó là lần thứ mấy cũng được, miễn là anh đừng hù doạ như các “ông thần/bà thánh” ở nhà Đạo cứ giở Tin Vui/Tin Mừng ngày của Chúa ra mà doạ đám “trẻ người non dạ”, nay không còn hợp thời nữa.

Không tin ư? Thì đây, mời bạn nghe tiếp lời bàn của đấng bậc Đức Thày “lờ mờ” ở Sydney hẳn sẽ rõ. Nhưng, trước khi nghe lời “đức ngài” phán, ta hãy nghe thêm câu ca rất “héo hắt” như sau:

“Thế là héo hắt cho nhau!
Thế là nước mắt đêm thâu!
Thế là mãi mãi, và mãi mãi tình sầu
Thế là tiếng khóc thiên thâu!
Thế là mãi mãi thương đau!
Thế là mãi mãi, và mãi mãi xa nhau

Anh hát cho em nghe, anh hát cho em nghe,
một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi.
Anh chết trong mắt em!
Anh chết trong mắt em, một lần cuối! như những lần đó ... xa xôi.
Anh khóc trên vai em, anh khóc trên vai em, một lần cuối,
một lần cuối, một lần cuối cùng, để còn thấy lòng run lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

Anh khóc trên vai em, anh khóc trên vai em,
một lần cuối, một lần cuối, một lần cuối cùng,
để nhìn thấy tình yêu lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
(Hoàng Thi Thơ ­- bđd)

Đấy thấy chưa, hỡi bạn và tôi là các cụ thân thương, trìu mến! Người ngoài đời có hát gì thì cứ việc hát, nhưng sao lại ỷ ôi, mềm ngọt như đấng bậc nhà Đạo cứ rao-truyền những câu hỏi/đáp rất “phán bảo” ở bên dưới:

“Thưa Cha. Con đây vẫn luôn thắc mắc chuyện của Giáo-hội thời tiên-khởi lần đầu tiên thiết-lập luật Đạo buộc con dân phải đến nhà thờ dự thánh-lễ mỗi ngày Chúa Nhật. Câu hỏi của con hôm nay, là: có chuyện ấy vào năm tháng ngày giờ ở thế-kỷ đầu-tiên không?”

Lại một câu hỏi về giáo-luật và giáo-sử, được chuyển đến Tuần Báo Công giáo Sydney, đã có lời đáp như sau:

“Đây là câu hỏi rất hay khiến tôi phải trả lời ngay rằng: Không! Hội thánh Chúa khi xưa chưa có luật buộc đi lễ nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật, ở các thế kỷ đầu có bao giờ cần như thế hết. Kitô-hữu thời đầu từng coi Thánh lễ ngày Chúa Nhật là việc hệ-trọng, nên họ vẫn quyết-tâm tham-dự dù đôi lúc cũng kéo theo nhiều hiểm-nguy, hệ-luỵ.

Tưởng cũng nên nhớ rằng: vào các thế-kỷ đầu đời, ngày Chúa Nhật ở đế quốc La Mã không hề là ngày nghỉ ngơi bao giờ, thế nên các Kitô-hữu vào thế kỷ đầu đã phải dậy thật rất sớm, để đi Lễ.

Ta biết được điều này là nhờ bức thư của Pliny Người Trẻ Tuổi là viên thống-đốc người La Mã đã trị vì vùng Pontus-Bithynia, viết vào năm 112 cho hoàng đế Trajan xin ý-kiến về việc bách-hại người theo Đạo Chúa. Ông viết thư bảo rằng: người đi Đạo thường gặp nhau vào một ngày nhất-định trước khi mặt trời mọc…”

Ông còn nói: sau khi tụ tập gặp nhau vào sáng sớm, những người đi Đạo nói ở đây đã tản mác ngay lập tức, sau đó mới quay trở lại cùng san sẻ hưởng thụ phần thức ăn bình thường trong ngày”, có lẽ ông đề-cập đến Tiệc Lòng Mến Agapè, là bữa ăn thân-thiện được mọi tín-hữu thời đó san-sẻ cho nhau vào thế kỷ đầu.

Dù có bị theo dõi, bách-hại đến thế nào đi nữa, các Kitô-hữu lúc ấy vẫn gia-tăng lòng đạo và con số các vị này cũng tăng đều. Thống-đốc Pliny Người Trẻ Tuổi còn viết thêm, rằng: “dân-chúng thuộc đủ mọi thành-phần, mọi lứa tuổi, trai hoặc gái đều đã và sẽ can dự vào cuộc lùng bắt rất cần-thiết. Bởi lẽ, lối dị-đoan mê tín này rất lây lan không chỉ tại các thành-phố lớn mà thôi, nhưng còn lan rộng sang các làng mạc và quận huyện ở vùng quê nữa…”

Lời chứng về lòng tin và việc hiến-tế hy-sinh của các tín-hữu quyết tham-dự thánh lễ Ngày Chúa Nhật xảy đến trong cuộc bách-hại do hoàng-đế Diocletian lập vào năm 303. Tại Abitene thuộc Tunisia khi ấy có một nhóm tín-hữu gồm 49 người đã tụ tập tại nhà riêng của người trong nhóm vào mỗi Chúa Nhật để dự thánh-lễ cho đến một ngày kia họ bị bắt giữ và giải cho vị Phó Lãnh Sự là người La Mã.

Khi một trong các vị này hỏi các vị này rằng: tại sao họ để cho tín-hữu Đạo Chúa đến nhà mình để dự thánh-lễ, thì ông trả lời: “Chúng tôi không thể sống, mà không có thánh-lễ.” Sách Công vụ Các Thánh Tử Đạo có viết:

“Ôi khùng điên, ôi khờ dại là những câu hỏi của quan án! Cứ như thể tín-hữu Đức Kitô lại có thể sống mà không có Thánh-lễ ngày Chúa Nhật được sao? Hoặc, thánh lễ Chúa Nhật mà lại không có giáo-dân tham-dự sao có thể cử-hành được. Kìa Satan loài quỷ dữ, người không biết rằng: chính thánh-lễ Ngày Chúa Nhật làm nên Kitô-hữu và Kitô-hữu là những người làm nên thánh-lễ sao? Bởi thế nên, người ta không thể sống được mà lại không có thánh-lễ ngày của Chúa, được.”

Hội thánh không ra luật lệ bắt buộc mọi người phải tham-dự thánh-lễ vào thời đó. Đó là thành-phần cuộc sống của tín-hữu Đức Kitô mặc dù họ bị nguy-cơ sống chết gì cũng không sợ.

Trong Tông-thư Dies Domini (Ngày của Chúa), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có bình-luận: “Hội-thánh ta, dù thời-gian đầu không coi việc này là cần-thiết đi nữa, Hội-thánh vẫn không ngừng xác-nhận rằng đây là sự bó buộc của lương-tâm dấy lên từ nhu-cầu nội-tâm của các tín-hữu vào các thế-kỷ đầu tiên, là như thế.

Mãi sau này, khi thấy tín-hữu của ta bắt đầu lơ-là hoặc ít hăng-say như trước, Hội-thánh mới nói rõ bổn phận phải tham-dự thánh lễ Chúa Nhật. Thường thì, đây là sự khích-lệ hơn là bắt buộc; nhưng, vào những lúc khiến Hội-thánh phải tiến đến các lý-lẽ mang tính cách giáo-luật đặc-biệt.

Đây là trường-hợp của các công-hội địa phương có từ thế kỷ thứ tư  trở về sau. Đặc biệt là Công-hội Elvira vào năm 300 khi đó có nói đến luật buộc dự lễ nhưng không đề-cập đến việc đền tội sau khi bỏ lễ những ba lần.

Đặc biệt hơn cả, là từ thế-kỷ thứ 6 trở đi (như ở Công-hội Agde vào năm 506) quyết-định của các Công-hội như thế đã dẫn đến việc thực-hành trên toàn thế-giới, và tính bó buộc đã trở-thành chuyện bình thường mà thôi.” (X. Dies Domini đoạn 47)

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã giải-thích rằng: trong Điều luật trong Giáo-luật năm 1917 có nói là Hội-thánh lần đầu tiên ban hành việc bó buộc dự lễ ngày Chúa Nhật theo hình-thức một điều luật. Và Giáo luật hiện-hành đã ban hành từ năm 1983 lặp lại cũng một luật buộc như thế vẫn bảo rằng: Vào ngày Chúa Nhật và và các ngày lễ khác, mọi tín-hữu đều được yêu-cầu đến dự thánh-lễ như một luật buộc.” (Giáo luật số 1247 và Tông Thư Dies Domini đoạn 47)

Hỏi rằng mọi tín-hữu ngày nay có được lòng tin như các Kitô-hữu thời tiên-khởi và có tham-dự thánh-lễ ngày Chúa Nhật do động-lực của tình thương-yêu thúc đẩy hay không, đôi khi còn kèm theo một vài sự hy-sinh nữa không đấy? Đó là câu hỏi đặt ra cho mỗi người và mọi người chúng ta.” (X. Lm John Flader, Did the early Church have a law about Mass on Sunday? The Catholic Weekley 08/5/2016 tr. 22)

Thật ra, “Đức ngài” có phán và có bảo cũng vẫn là những lời bảo ban và chuyện phán bảo “xưa rồi Diễm” ở giáo-triều nhiều triết-học, triết-lý rất nhân duyên.

Quả thật, anh cứ “vuốt tóc em” rồi em lại “vuốt tóc anh” như thế mãi rồi lại hỏi những câu/những điều như thế về thánh-lễ rất “Misa”, nghe cũng hơi lạ. Lạ hơn nữa, là khi đức thày còn bảo rằng: chuyện lễ lạy nhà thờ vẫn có luật và lệ đấy chứ!

Thật ra thì, luật và lệ là những điều/những chuyện làm nức lòng người nghe và chịu đi lễ để khỏi thắc mắc những tháng ngày còn lại trong đời, rất rối bời chuyện đạo đức.

Thật ra thì, suy tư đến thế nào đi nữa, giờ đây vẫn xin mời bạn/mời tôi, ta tiến lên thêm bước nữa vào chốn dân-gian Lời Vàng có những điều vẫn được đấng thánh-hiền nhắc nhở rằng:

“Thật vậy, nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ
thì lòng tôi cầu nguyện,
nhưng trí tôi chẳng thu được kết quả gì.
Vậy, phải làm sao?
Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng,
nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa.
Tôi sẽ ca hát với tấm lòng,
nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa.
Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi,
thì làm sao hạng người ngoài cuộc có thể thưa "A-men"
lúc bạn dâng lời tạ ơn,
vì người đó không biết bạn nói gì?”
(1Cor 14: 14-16) 

Thật sự, thì nếu suy tư/tụng niệm nhiều hơn nữa về thánh-lễ Misa hay Tiệc Lòng Mến  ở nhà Đạo, ta cũng thấy nảy ra nhiều ý-tưởng từng nghe biết từ các đấng bậc khác, rất như sau:

“Những ai cho rằng mình là kẻ bước theo chân Chúa, vẫn tham dự đều Tiệc Thánh, một cách năng động hay thụ động, mà lại không tha thiết làm thành viên cộng đoàn tình thương của Chúa, ắt chỉ hưởng lợi ích của Bí tích Thánh Thể, rất ít.

Tham dự Tiệc Thánh, còn là hành vi cảm tạ. Bởi, nếu tầm nguyên ngôn ngữ, ta sẽ thấy cụm từ “Thánh Thể” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, mang ý nghĩa của một cảm tạ. Nên nhớ là, trong mọi việc, Thiên Chúa thể hiện tình thương cho ta qua sự sống của Đức Giê-su, và Lời Ngài dạy. Qua nỗi đau, cái chết và sự sống lại của Ngài, mà thôi.

Bởi thế nên, khi tham dự Tiệc Thánh, ta nhớ đến Đức Chúa của Tình Yêu. Nhớ, để cảm tạ. Nhớ, để yêu thương. Cảm tạ, vì ta đã được Tình yêu Chúa đánh động, và đi vào cuộc sống của ta. Đánh động, qua kinh nghiệm bản thân, của mỗi người. Dự Tiệc Thánh, là đi vào với chiêm ngắm và cảm tạ mọi phúc lành, Ngài ban cho sự sống.

Dự Tiệc Thánh, còn là cử hành sự kiện mình trở nên thành viên đích thực của cộng đoàn. Vì thế, ta sẽ cử hành trong vui tươi, đậm nét thân thương tình bằng hữu. Vui tươi, vì Tiệc Thánh Thể, tự bản chất, không tạo ra cộng đoàn.

Nhưng, khi dự Tiệc Thánh, ta biết rõ ràng cộng đoàn có mặt ở đó, đang quây quần tề tựu, rất tươi và rất vui. Tham dự Tiệc Thánh, không chỉ có nghĩa là “xem lễ”, bước đến nhà thờ để “đi lễ”, rất cá thể. Dự Tiệc Thánh, cũng chẳng cốt để giữ điều răn Hội thánh, là: “Hãy giữ ngày Chúa Nhật”.  Dự Tiệc Thánh, hay giữ ngày Chúa Nhật, không thể là như đi xem hát/diễn kịch, để giải trí. Không phải để ta lãnh nhận điều gì có lợi, dù vật chất hay tinh thần. Nhưng tham dự Tiệc, là cho đi. Cho rất nhiều. Cho toàn bộ con người mình, hầu liên kết hiệp thông.

Tiệc Thánh là một Bí tích, điều này có ý nghĩa còn lớn hơn cả ý nghĩa đến dự chỉ để dâng lên đồ cúng kiến, tế thần. Tiệc Thánh, là thước đo chất lượng của tình bằng hữu, nơi cộng đoàn. Đo, là đo cả bản chất và tình trạng của cộng đoàn, nữa. Cộng đoàn nào sinh động, ắt không thể cử hành Tiệc Thánh theo cách lê thê, đáng chán. Nơi nào, không có tinh thần cộng đoàn theo đúng cách thì nơi ấy không thể có Tiệc theo đúng nghĩa. Dù nguyện đường có hoành tráng. Phẩm phục có uy nghi. Ban hợp xướng có tiếng hát thanh trong thiên thần đi nữa, thì Tiệc Thánh ta dự vẫn không mang ý nghĩa đích thực được.

Có giáo-dân nọ đến dự Tiệc Thánh rất thường nhưng vẫn tự hỏi: sao ta cứ phải “đi lễ”, mà không thể cầu-nguyện ở nhà được nhỉ? Đúng thế. Ai cũng có thể ở tại nhà, mà nguyện cầu. Nhiều khi, nhà là chốn ấm nguyện cầu, rất tốt.

Nhưng, Tiệc Thánh đâu chỉ là thời gian để nguyện cầu. Thánh lễ chính là Bữa Tiệc. Là, mảng thời gian để ta vui mừng với cộng đoàn thân thương, ta lui tới. Và tiệc vui thánh, không thể thực hiện một cách riêng lẻ, ở tại nhà. Mà, chỉ có thể thực hiện trong chung vui, với nhau. Chung cộng đoàn. Cùng cộng đoàn…” (X. Lm Frank Doyle, Suy Niệm Lời Ngài Chúa Nhật Lễ Mình Máu Chúa, nxb Tôn Giáo 2013 tr. 107-108)

Thật ra thì, nhiều người-đi-Đạo sống trong đời, đôi lúc vẫn lẫn lộn sự Đạo với chuyện đời đến độ họ-và-tôi không nắm bắt được cốt cách cùng ý chính việc tham-dự Tiệc Lòng Mến/Thánh Thể còn mang nặng ý-nghĩa chính-yếu của những tương-quan mật thiết giữa người với người, như đấng bậc ở trên còn nói tiếp:

“Bởi thế, những gì ta cử hành khi tham dự Tiệc Thánh, vẫn nói lên kinh nghiệm sẻ san, cùng đem cho nhau tư cách vui tươi, của cộng đoàn. Và khi bắt đầu phần rước Chúa vào lòng, cộng đoàn ta cùng nhau dâng lên lời nguyện cầu mà Đức Giê-su đã chỉ dạy. Đó chính là lúc, ta ngỏ lời với vị Cha Chung của ta ở trên cao, chứ không phải với người cha riêng của một ai. Qua ngỏ lời, ta cầu Chúa ban cho mọi người có đủ cơm bánh hằng ngày.

Cầu mong cho nhau, được ơn tha thứ, biết làm hoà. Làm hoà, bằng cử chỉ tay trong tay nắm thành vòng. Và làm hoà, bằng lời chúc bình an cho nhau. Tức, cử chỉ của sự thân thương tình bằng hữu. Của tình an hoà biết thứ tha hết mọi người, trước khi bước lên bàn thánh đón Chúa vào ngự trong cung lòng của chúng ta.     

Thực hiện động tác an bình hài hoà, tất cả chúng ta sẽ nhớ lại Lời Ngài ở Núi thánh: “Vậy, khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ người anh em đang có chuyện bất bình với anh, hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh/em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. (Mt 5: 23-24).

Nói cho cùng, nếu không chuẩn bị, ta không thể có được tình an hoà bằng hữu, khi đến với cộng đoàn, ở nhà thờ. Đến dự Tiệc, là ta đã sẵn sàng mang niềm vui tặng trao mọi người. Giáo xứ nào, nếu chỉ lo tổ chức thánh lễ rềnh rang cho có mà chẳng thiết tha gì chuyện buồn/vui xảy đến, với người xứ mình.

Thì nơi ấy, sẽ trở thành giáo xứ khô cằn, rẫy chết. Tiệc Thánh lúc đó, chỉ là thói quen nhàm chán, đáng từ bỏ. Tiệc Thánh, phải là Tiệc sinh động của cộng đoàn. Cho cộng đoàn. Và do cộng đoàn thực hiện.

Giáo xứ năng động, không chỉ là toà kiến trúc, nguy nga có thánh lễ, có bài giảng và có đàn hát, rất hăng say. Nhưng, là cộng đoàn tươi vui, biết dựng xây tình yêu thương con cái Chúa, trong hiệp nhất.

Và, Tiệc Thánh, là dấu chỉ của cộng đoàn vui tươi sinh động, ở giáo xứ . Ở nơi đây, Đức Kitô đang hiện diện sống động trong mọi người. Qua mọi người. Ngài hiện diện, như một tổng thể có Thân Mình rất Thánh, hiệp thông. Liên kết. Hiểu được ý nghĩa đích thực của Tiệc, ta sẽ nhận ra Lời Ngài vẫn chờ và vẫn đợi mọi người. Cả vào lễ Mình Máu Chúa, rất hôm nay.” (X. Lm Frank Doyle, sj sđd tr. 109)

Thế mới biết, nhiều lúc bầy tôi đây hay bạn bè đó vẫn hay quên sót hoặc hiều lầm ý-nghĩa của Bữa Tiệc Lòng Mến của nhà Đạo, đến độ cứ “đi và làm” như cỗ máy. Chứ, chẳng hiểu rõ mục đích của “đi-và-làm” theo hiệu-lệnh của Đức-Chúa-Tình-Yêu của tôi và của bạn, muôn đời là thế.

Thế mới hiểu, rằng: nhà thơ nọ bị tiếng là “ngớ-ngẩn” hoặc “lẩn-thẩn” sao đó, nhưng vẫn có những nhận-định rất ư là “trải-nghiệm đời” về nhiều thứ như bài thơ “Đừng Tưởng” sau đây:

Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù,
Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền,
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong,
Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.
Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây
Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần.
Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to
Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua
Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng
Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo
Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…
Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.
Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay
Đừng tưởng vua là anh minh.. Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.
Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.
Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.
Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người
Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao
Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay
Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần
Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng
Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người
Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm
Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu
Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng
Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng
Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

Đời người lúc thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!”
(Thơ Đừng Tưởng của Bùi Giáng nhận được từ điện-thư vi-tính, mới vừa đây)

Đừng tưởng” hay “cứ tưởng rằng ” cuộc đời có tương-quan giữa người người, là như thế. Đừng tưởng rằng: đời người đi Đạo đôi khi cũng như thế. Như thế, tức mãi mãi tưởng lầm chuyện nhà thờ/nhà thánh chỉ là chuyên-chăm kinh-kệ, mới đáng sống.

Đời người có đáng sống hay không, đâu chỉ vì chuyện “Đừng tưởng” của nhà thơ mà làm mục-tiêu ta của sự sống đi tới. Mục tiêu sự sống hay mục đích của cuộc-đời-người, vẫn là kiếm tìm một hạnh-phúc cũng rất cần nhưng hay tưởng lầm, như nhận định của ai đó đã phóng đi được bầy tôi đây dùng làm kết-đoạn cho câu chuyện phiếm sau đây:

Đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Cha mẹ nó lớn tuổi mới cưới nhau. Hồi đó, gia đình nghèo khó. Mẹ mất sớm, cha tần tảo nuôi 3 anh em nó nên người. Nhà gần sông, nhưng cha đau yếu, ít khi có được con cá mà ăn, mà có được bữa cá đã là thịnh soạn lắm với anh em nó rồi. Nó còn nhớ, mỗi lúc ăn cá, cha thường bảo: -Để tao ăn đầu và xương.
Nó nhanh nhẩu hỏi:
-Tại sao thế hả cha?
Cha nó nói vẻ mặt nghiêm nghị, kiểu răn dạy:
-Vì cha già rồi, hay đau đầu, nên ăn đầu thì nó sẽ bớt đau - cái này gọi là ăn óc bổ óc, hiểu không? Xương yếu, ăn xương thì sẽ cứng cáp hơn. Có vậy mà cũng không hiểu hả?"

Tâm hồn trẻ con, nó và hai đứa em đinh ninh là cha nói thật. Mỗi lúc đến bữa ăn, nó còn nhanh nhẩu sẻ ra từng phần. Bỏ đầu và xương qua cho cha nó. Ba anh em tranh nhau phần thịt. Có những lúc nó cũng phân vân, những khi như thế, cha nó lại bảo: "Hồi nhỏ, ông bà nội cho tao ăn thịt suốt, giờ nhìn thịt là cha thấy ớn quá, sau này lớn các con cũng như cha thôi."

Thấm thoắt thoi đưa, anh em nó lớn lên, và cha nó già đi. Sau này, khi nó đủ hiểu biết mới nhận ra những lời cha nó nói trước đây là nói dối, thì cũng là lúc đời sống của gia đình nó khấm khá hơn. Anh em nó có thể thay cha đi đò, đi sông, mò cua, thả cá.

Vì thế mà cha nó cũng thỉnh thoảng ăn thịt, hay ăn thường xuyên nó cũng chẳng nhớ. Vì tuổi trẻ bồng bột, không dám - không ngẫm nghĩ nhiều về yêu thương, hay vì cha nó cố tìm cách cho "lời nói dối" được anh em nó chấp nhận hơn, nó cũng chẳng còn nhớ.

Để đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 10 của cha nó. Nhìn di ảnh ba gầy còm, nhưng nở một nụ cười tươi sáng. Nhìn con cá chiên to đùng, lấp lánh mỡ mà vợ đặt lên bàn thờ, nó chợt bất giác rơi lệ. Một cơn đau từ đâu hiện về nhói lòng vô tận. Nó phải quay mặt đi để lau hàng lệ, để giấu vợ con. Nhưng nó không thể xóa đi được hình dáng cha già còm cõi, xiêu vẹo bước đi bên sông, "cha đi thả cá mùa nước nổi".

Rồi sau đó là những trận thương hàn triền miên hành hạ ông. Nó không thể xóa đi được cái ý nghĩ "nếu cha ăn nhiều thịt hơn, thì đã không già yếu như thế". Vừa khấn vái, nó lại bất giác kêu lên những tiếng "cha" từ trong cổ họng.

Đến lúc ra bàn ăn. Nhìn vợ đang xẻ thịt con cá, để bỏ đi phần đầu và xương. Nó giữ tay vợ lại: -Em, để anh ăn đầu, đừng bỏ đi".
Vợ hiểu. Vợ nó bỏ đầu cá qua cho chồng. Chỉ có cô con gái nhỏ là thắc mắc:
-Sao hôm nay ba lại ăn đầu, nó lắm xương, nó sẽ làm đau ba đấy?

Nó xoa đầu con gái, nuốt tiếng nấc đang chầu chực nơi cổ họng vào trong, rồi bảo:
-Dạo này ba hay đau đầu, nên ăn đầu sẽ hết đau con gái à, cái này gọi là ăn đầu bổ đầu đấy con yêu".

Nó vừa ăn vừa cố cho những giọt nước mắt không tràn xuống bát cơm.” (truyện ngắn do Cù Lú kể)

Nghe kể rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ hãnh tiến hước về phía trước mà ra đi miệng ngâm nga những lời hát “vuốt tóc em” tuy buồn bã nhưng vẫn cứ hát “một lần cuối”, rằng:

Anh hát cho em nghe,
anh hát cho em nghe,
một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi.
Anh chết trong mắt em!
Anh chết trong mắt em,
một lần cuối! như những lần đó ... xa xôi.

Anh khóc trên vai em,
anh khóc trên vai em, một lần cuối,
một lần cuối, một lần cuối cùng,
để còn thấy lòng run lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

Anh khóc trên vai em,
anh khóc trên vai em,
một lần cuối, một lần cuối,
một lần cuối cùng,
để nhìn thấy tình yêu lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
(Hoàng Thi Thơ ­- bđd)

Cứ hát và cứ khóc “trên vai em” một lần cuối đến như thế, anh và em rồi sẽ “nhìn thấy tình-yêu lần cuối”, dù Tình-yêu ấy, dù người đời ở đây, hôm nay vẫn cảm-nghiệm một cuộc đời cũng rất “người”, nơi mọi người. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai
Cũng là người
như mọi người
Nên không thể không có
những cảm xúc
đến như thế.    
 

   

Saturday, 26 November 2016

“Đêm về trên bánh xe lăn"



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 mùa Vọng Năm A 04/12/2016

“Đêm về trên bánh xe lăn"
Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây
Ngỡ hồn tu xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa.”
(Thơ: Du Tử Lê/Nhạc: Phạm Đình Chương – Đêm Nhớ Trăng Sàigòn)
  

(2Cor 7: 10)

Chao ôi! Rõ thật là âm nhạc rất “về đêm” và đêm về! Về đâu không về, sao cứ về “trên bánh xe lăn” lại rất đêm? Về thế rồi, bạn lại hát: “tìm tôi đèn thắp hai hàng”, “Lạc nhau cuối phố”, “mỗi ngày mỗi xa”. Ối chà! là nhạc buồn. Buồn thấm-thía biết chừng nào! Khiến bạn và bầy tôi đây vẫn hát những câu tiếp sau đây:      

“Đời tan, tan nát chiêm bao.
Tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào.

Đêm về trên chiếc xe qua.
Nhớ tôi xa lộ, nhớ nhà Hàng Xanh.
Nhớ em, kim chỉ khứu tình.
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre.
Nhớ mưa, ôi nhớ mưa !

Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè.
Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do.
Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè.
Nhớ pho tượng lính, buồn se bụi đường.”
(Du Tử Lê/Phạm Đình Chương – bđd)

Lại một nhạc bản đến là buồn nghe được ở buổi “Hát Cho Nhau Nghe” vào đêm ấy, tối mồng 5 tháng 11 năm 2016 ở Sydney một ngày cũng khá nóng. Cái nóng về đêm cộng thêm bài hát cũng khá sầu/buồn phổ trên thơ Du Tử Lê, ôi thôi là da diết. Vâng. Dù không muốn thế, cũng vẫn có thêm một thứ tình buồn rất “về đêm”.

Buồn hơn nữa, là khi bạn bè truyền cho nhau đọc một đoạn ngắn cuốn sách được tờ New York Times đánh giá là sách bán chạy nhất trong năm 2005 có đầu đề là: “Misquoting Jesus, the Story Behind Who Changed the Bible and Why?” của Bart D. Ehrman.

Và, chuyện Thánh Kinh được tóm gọn ở phần dẫn nhập vào cuốn sách, có lời buồn sau đây:

“Sách thánh xuất hiện trước mắt tôi như một cuốn sách rất ư từ con người. Chỉ như là do các vị kinh-sư/thông luật người phàm từng ghi chép và biến-đổi rất nhiều điều từ Kinh Sách, nên cũng thế: các tác-giả là phàm-nhân, tự ban đầu, cũng viết lên những điều như thế. Đây là cuốn sách hoàn-toàn mang tính nhân-loại từ đấu chữ đến cuối giòng. Sách này được các tác-giả là con người từng ghi chép vào thời khắc và nơi chốn khác nhau đề-cập đến những nhu-cầu khác nhau.

Dĩ nhiên, nhiều tác-giả trong đó đã được Thiên-Chúa tạo hứng-khởi để nói những gì các ngài làm, nhưng họ vẫn có tầm nhìn tư riêng, niềm tin riêng rẽ, lập-trường riêng, nhu-cầu riêng, ao-ước riêng, hiểu biết cũng rất riêng về nền thần-học của riêng họ. Và những tầm nhìn, cũng như niềm tin, quan-điểm, nhu-cầu, ước-ao, hiểu-biết và nền thần-học này đã cho họ biết những gì họ nói ra. Khi viết những điều này, các tác-giả đều khác nhau rõ rệt.

Điều đáng buồn là: ngày nay, vẫn còn rất nhiều tín-hữu đến triệu triệu người cứ nghĩ rằng ta có thể hiểu Kinh thánh từng chữ, nghĩa đen theo kiểu tác-giả được thần-hứng viết lên những lời tiên-đoán sẽ xảy đến rất mau chóng hệt như lịch-sử từng diễn-tiến giống hệt thế…” (X. Bart D. Ehrman, Misquoting Jesus, the Story Behind Who Changed the Bible and Why, HarperOne 2005, tr. 11-13)

Thế đó, là nỗi buồn của một số người nhà Đạo, không chỉ “về đêm” hay “đêm về”, mà thôi. Nhưng, đây còn là nỗi buồn nhiều thuở của người đọc, khi khám-phá ra nhiều thứ khá “lộn xộn” ở chốn miền êm-ấm, rất Thánh Kinh.

Hệt như giai-điệu trầm/buồn ở trên mang nhiều từ-vựng không vui, như: “Nhớ pho tượng lính, buồn xe bụi đường”, hôm nay, nhân lục tìm đống sách/báo lấm bụi, trong đó có bức thư của nhà mô-phạm nọ ở Melbourne, có thư cho Nữ Hoàng Êlizabeth, như sau:

“Trong kính Nữ Hoàng của thần dân tôi,

Viết thư này, thần dân đây muốn dâng lên ngài đôi lời chúc mừng nhiệt-nồng không phải về chuyện ngài đã trị-vì triều-đại dài lâu nhất nước Anh, nhưng vì một lý-do riêng-tư, thâm trầm hơn. Bởi, năm tới đây 2017, ngài sẽ được chúng-dân long-trọng tổ-chức buổi kỷ-niệm 70 năm ngài thành-lập gia-thất với Quận Công Phillip, tức Đức lang-quân yêu-dấu của ngài.  

Dĩ nhiên là, thần dân đây cũng đính kèm các lời chúc tốt lành cho những ngày sắp tới của ngài. Trong bảy thập-niên vừa qua, ngài đã an-táng Hoàng-thái-hậu và Thái-thượng-hoàng của ngài và cũng đã mục-kích ba trong số bốn người con của ngài phải trải qua cơn chấn-động và buồn đau đi đến quyết-định phải ly-dị người bạn đời. Thần dân chúng tôi, vốn dĩ tưởng-tượng rằng các cháu của ngài, giống như hàng triệu người khác, đã học được bài học về cuộc sống gia-đình luôn vô cùng phức-tạp.

Người xưa có câu ngạn-ngữ bảo rằng: cuộc sống con người càng phô-trương ra ngoài công-chúng bao nhiêu thì người sống cuộc sống ấy càng phải trở-thành tư-riêng, kín-đáo bấy nhiêu. Điều này chắc chắn áp-dụng cho ngài. Thần dân chúng tôi không thể nhìn vào đồng tiền kẽm mà không thấy hình-ảnh của ngài.

Thế nhưng, bất kỳ một ai từng lập gia-đình đều biết rằng hình-ảnh bên ngoài ít giống thực sự thật bên trong. Hôn-nhân là bí-tích của một thực-tại. Tất cả mọi hôn-nhân đều là chuyện bí-nhiệm đối với người đứng ở ngoài và đôi lúc còn bí-hiểm cả với chính vợ chồng nữa. Hôn-nhân không được thiết-lập để sống ở trên trời, nhưng được làm thành từ hạnh-phúc vô-vàn không kể xiết, ở dưới đất.

Cách đây vài năm, thần dân tôi có gặp một mục-sư thuộc Giáo hội Tô-Cách-Lan được yêu cầu hướng-dẫn nghi-lễ ngày Chúa Nhật mà hôm ấy đáng lý ngài đến dự, ở Balmoral. Điều này có nghĩa là ông ta đã được mời lưu lại tại căn-hộ của ngài vào tối Thứ Bẩy và san sẻ dạ yến với ngài và Quận công Phillíp. Mục-sư Gioan đã ngần-ngại trong đôi chốc vì thấy không thoải-mái với các bộ lễ-phục của hoàng-gia. Ông không tin vào các vương-triều của người phàm dưới thế này. Nhưng cuối cùng, rồi thì ông cũng đã chấp-nhận một phần vì tò-mò, phần kia vì ông cũng đoán trước được là dạ-tiệc ấy sẽ rất ngon.

Mục-sư Gioan đã sững-sờ khi khám-phá ra rằng căn-hộ riêng-tư của ngài ở Balmoral thật ra là thứ gì đó giống hệt như căn phòng dành riêng ở sau nhà gồm đầy đủ phòng khách trải nhựa dẻo đã hết thời. Khi giờ tiệc đã tới, Quận công Phillíp đã bồn-chồn bước vào nhà bếp nhỏ, lấy nước cho vào nồi rồi mở gói mì ống kiểu Ý “spaghetti” bỏ vào nấu. Khi món mì lục bục sôi, ngài quận công đã phải lúng túng mở nắp lọ nước chấm ăn mì, là loại gia-vị ta có thể mua tại bất cứ siêu-thị nào khác. Đó là bữa ăn tối khá giản-dị

Thần dân đây tin rằng ngài và quận công Phillíp đã tự rửa chén/dĩa và hỏi mục-sư Gioan xem ông ta có muốn xem truyền-hình, thì ông này bảo: ông đang phải soạn bài chia sẻ, nên thật sự ông thấy cũng nên đưa chuyện này vào bài giảng. Mặt ngoài thì ngài và quận công Phillíp hôm ấy cũng đã cằn nhằn nhau về tình-trạng muỗng/nĩa ở nơi đó.

Thần dân bề tôi đây cảm thấy thích-thú được nghe chuyện này vì nó cho thấy ngài và quận-công đã có mối tương-quan thực-thụ. Những người được ta thương mến nhiều nhất lại là những người thường hay làm phiền ta không ít. Tình thương luôn năng-động, lúc nào cũng di-động và tiến-triển giữa việc giữ lại để ghi tỷ-số và để cho đi, giữa việc giữ lại cho mình mọi điều tốt đẹp và cho đi. Quyền lực cứ hỏi: “Có gì trong đó để cho tôi không?’ Tình thương, là hỏi rằng: “Có ai ở đó với tôi không?” Hôn-nhân nào cũng thế, vẫn luôn có lúc hai vợ chồng đều xào-xáo nhau.

Trong thông-điệp Giáng sinh mới đây nhất của mình, ngài có nói đến thông-điệp Đức Giêsu nói về tình-yêu và lòng xót thương, khi bảo rằng:

“Dù cứ di-chuyển và bị bách-hại suốt cuộc đời ngắn-ngủi của Ngài, thông-điệp Đức Giêsu vẫn không thay-đổi là ta không được phép trả-đũa hoặc gây bạo-lực cho ai hết, mà Ngài chỉ khuyên ta có mỗi điều là hãy yêu thương lẫn nhau. Dù đây không là thông-điệp dễ thực-thi, chúng ta cũng không nên tỏ ra chán-nản; đúng hơn, điều Ngài nói tạo hứng để ta cố-gắng nhiều hơn. Sống biết cảm-kích những người đem tình-yêu và hạnh-phúc đến với cuộc sống của chính chúng ta, và tìm cách phổ-biến tình-yêu ấy đến với mọi người, bất cứ khi nào và ở bất cứ chỗ nào ta làm được.

Tôi nắm chắc rằng việc ta đáp trả mọi vấn-đề lớn của thế-giới đều chịu ảnh-hưởng thật sâu đậm từ tình-yêu ta trải-nghiệm trong tương-quan mật thiết nhất của ta với người khác. Thần dân đây cảm-kích thật đậm sâu về tình thương-yêu trìu mến của những người thương yêu chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng tầm nhìn của ngài về niềm tin-yêu và sự công-chính cũng sẽ được thể-hiện bằng tình-yêu, giống hệt thế.

Trọng kính ngài,
Michael McGirr                                   
(X. Michael McGirr, A Letter to the Queen, The Australian Catholics số Phục Sinh 2016, tr. 12)

Ôi chao! Là thư-từ viết rất hay và cũng thực-tế. Thực-tế/hấp-dẫn hơn cả bài giảng-thuyết ở nhà thờ nhà thánh của các đấng “lờ mờ” không kết-đoạn, cũng khá buồn!

Vậy thì, chuyện sầu/buồn ở đời, đôi lúc cũng chỉ là chuyện cỏn con/chóng vánh, rất mau qua. Bởi, theo quan-niệm của nhà Phật thì “tứ diệu-đế” vẫn là thứ “cơ-duyên tạo buồn/vui nơi đời người. Có vùng-vẫy cho lắm con người càng lún sâu trong “Vũng Lầy Của Chúng Ta” như ca nhạc sĩ Lê Uyên và Phương từng nghĩ đến.

Muốn sống vui, sống mạnh sống vững chãi trong chốn ngày buồn là cuộc đời người, chi bằng ta cứ đi vào vùng trời truyện kể để quên đi những nét chấm phá sầu buồn, mà vui sống. Vậy thì, mời bạn/mời tôi, ta cứ kể cho nhau truyện vui/buồn lẫn lộn ở đời, dù đã hơn một lần được kể, như sau:

Có một chàng trai bị bệnh ung thư. Chàng mới 19 tuổi, nhưng có thể chết bất kỳ lúc nào vì căn bệnh quái ác này. Suốt ngày, chàng trai phải nằm trong nhà, được sự chăm sóc cẩn thận đến nghiêm ngặt của bố mẹ. Do đó, chàng trai luôn mong ước được ra ngoài chơi, dù chỉ một lúc cũng được.

Sau rất nhiều lần năn nỉ, bố mẹ cậu cũng đồng ý. Chàng trai đi dọc theo con phố- con phố nhà mình mà vô cùng mới mẻ- từ cửa hàng này sang cửa hàng khác. Khi đi qua một cưả hàng bán CD nhạc, chàng trai nhìn qua cửa kính và thấy một cô gái. Cô gái rất xinh đẹp với một nụ cười hiền lành - và chàng trai biết đó là "tình yêu từ ánh mắt đầu tiên". Chàng trai vào cửa hàng và lại gần bàn cô gái đang ngồi. Cô gái ngẩng lên hỏi:
-Tôi có thể giúp gì được cho anh?
Cô gái mỉm cười, và đó là nụ cười đẹp nhất mà chàng trai từng thấy.
-Ơ...chàng trai lúng túng.
-Tôi muốn mua một CD...
Chàng chỉ bừa một cái CD trên giá rồi trả tiền.
-Anh có cần tôi gói lại không ? Cô gái hỏi, và lại mỉm cười.
Khi chàng gật đầu, cô gái đem chiếc CD vào trong.
Khi cô gái quay lại với chiếc CD đã được gói cẩn thận, chàng trai tần ngần cầm lấy và đi về.
Từ hôm đó, ngày nào chàng trai cũng tới cửa hàng, mua một chiếc CD và cô gái bán hàng lại gói cho anh.

Các dĩa CD đó, cháng đem về nhà và cất ngay vào tủ.

Anh rất ngại, không dám hỏi tên hay làm quen với cô gái.

Nhưng cuối cùng, mẹ anh cũng phát hiện ra việc này và khuyên anh cứ nên làm quen với cô gái xinh đẹp kia.

Ngày hôm sau, lấy hết can đảm, chàng trai lại đến cửa hàng bán CD, rồi khi cô gái đem chiếc CD vào trong để gói, anh đã để một mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của mình lên bàn. Rồi anh cầm chiếc CD đã được gói- như tất cả mọi ngày- đem về.
Vài ngày sau...
Reeeeeeeeeeeeeeng !!!.
Mẹ chàng trai nhấc điện thoại:
-Allô?
Đầu dây bên kia là cô gái ở cưả hàng bán CD. Cô xin gặp chàng trai nhưng bà mẹ òa lên khóc:
-Cháu không biết sao? Nó đã mất rồi...hôm qua...

Im lặng một lúc. Cô gái xin lỗi, chia buồn rồi đặt máy. Chiều hôm ấy, bà mẹ vào phòng cậu con trai. Bà muốn sắp xếp lại quần áo cuả cậu, nên đã mở cửa tủ. Bà sững người khi nhìn thấy hàng chồng, hàng chồng CD được gói bọc cẩn thận, chưa hề được mở. Bà mẹ rất ngạc nhiên, cầm một cái lên, mở ra xem. Bên trong lớp giấy bọc là một chiếc CD cùng với một mảnh giấy ghi: "chào anh, anh dễ thương lắm.
Jacelyn"

Bà mẹ mở thêm một cái nữa. Lại thêm một mảnh giấy ghi: "Chào anh, anh khoẻ không? Mình làm bạn với nhau nhé?
Jacelyn"

Một cái nữa, thêm nữa... trong mỗi cái CD là một mảnh giấy.....” (Câu truyện kể đi kể lại cũng nhiều lần)

Và, một truyện khác vui/buồn tuỳ người đọc đánh giá và nhận-định, như sau:

“Người ta thường nói “có mà không giữ, mất đừng tìm”, vậy nên đừng bao giờ làm những điều khiến chúng ta phải hối hận. Hãy nhớ rằng hạnh phúc luôn dành cho những người biết nâng niu và hiểu được giá trị của tình yêu!

Có một chàng trai chia tay bạn gái đã lâu, mặc dù đã thử quen người mới nhưng vì tính cách không hợp nên sau cùng anh vẫn cô đơn. Một ngày nọ, trong lúc sửa soạn đồ đạc để chuyển nhà, anh tìm thấy lọ sao giấy - món quà kỷ niệm 1000 ngày yêu của người bạn gái cũ. Chàng trai bỗng nhớ lại lời nhắn của cô gái trước khi chia tay:

"Nếu có một ngày chúng mình không còn bên nhau nữa, anh hãy tháo những ngôi sao giấy mà em gấp tặng anh ra nhé!"

Khi ấy, chàng trai cho rằng đó chỉ là lời nói vu vơ của cô người yêu hay giận dỗi nên chẳng mấy để tâm. Vả lại, "ai mà đủ kiên nhẫn để tháo 1000 ngôi sao ra cơ chứ!" - chàng trai tự nhủ. Thế nên hôm đó anh cất lọ sao giấy vào một góc và không bận tâm về nó nữa.

Chàng trai suy nghĩ một lúc rồi lấy một ngôi sao giấy trong lọ và tháo nó ra. Một ngôi sao, hai ngôi sao, ba ngôi sao… Anh tháo đến ngôi sao thứ hai mươi rồi mà chẳng thấy có gì bên trong. Anh không còn đủ kiên nhẫn nữa. "Sao mình lại làm điều ngớ ngẩn này chứ!", anh nghĩ và quyết định sẽ chỉ tháo thêm một ngôi sao nữa thôi.

Anh tháo từng nếp gấp của ngôi sao và lần này anh thấy trên mảnh giấy dùng để gấp sao hiện lên dòng chữ nắn nót:

"Anh thương yêu! Em hy vọng anh chẳng bao giờ đọc được những dòng này, vì như thế nghĩa là mình vẫn còn yêu nhau".

Chàng trai lặng người, rồi anh tiếp tục tháo những ngôi sao còn lại. Anh nhận thấy quá nửa trong số chúng chẳng được viết gì. Mỗi lần thấy ngôi sao có chữ là anh lại hồi hộp như trẻ con mở quà.

Chàng trai rất kiên trì mới tháo được hết 1000 ngôi sao, nhưng anh cũng biết khi cô gái viết lời nhắn rồi gấp sao thì còn phải kiên trì gấp nhiều lần hơn thế. Chàng trai hết sức cảm động, những dòng chữ trên giấy gấp sao khiến tim anh đau nhói, anh ngỡ mình có thể khóc ngay được nhưng vẫn cố kìm nén, không để nước mắt rơi.

Cô gái viết rất nhiều. Tất cả giống như một cuốn nhật-ký-tình-yêu thu nhỏ. Trong đó có những lời nhắn nhủ yêu thương, những câu nói hỏi han quan tâm, đôi khi chỉ là vài câu kể lể hay nhắc nhớ về ngày kỷ niệm tình yêu, cũng có những câu hờn giận vu vơ...

"Anh thương yêu! Em ước gì mình được ở bên anh lâu hơn một chút. Xa anh buồn lắm!"
"Anh ơi! Mình đã yêu nhau được 821 ngày rồi đó. Có anh em hạnh phúc biết bao!"

"Anh của em hãy kiên cường lên nhé, vì có em luôn ở bên ủng hộ anh mà!"
"Anh đừng buồn nha anh, mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi mà. Anh sẽ vượt qua tất cả, hãy tin em!"

"Em bỏ trống những ngày mình giận nhau vì những điều không vui tốt nhất nên quên đi, em sẽ không nhắc lại".

"Hôm nay là sinh nhật em, điều em mong nhất là nhận được lời chúc của anh, nhưng chắc anh bận mất rồi…"

"Hôm nay anh lại làm em khóc, nhưng em đã hứa rồi nên sẽ không giận anh đâu".
"Anh này, dạo này anh có vẻ lạnh nhạt với em quá… Em thì nhớ anh lắm lắm, anh biết không!".

Cứ thế cứ thế, những hồi ức ngày yêu ùa về khiến chàng trai không khỏi bồi hồi, nhớ tiếc. Chàng trai nghĩ lại, quả thực trong thời gian yêu nhau anh đã rất vô tâm, nhiều lần khiến người yêubuồn và khóc. Anh thậm chí còn chẳng an ủi dỗ dành, vì anh biết cô bạn gái của mình sẽ chẳng giận được lâu. Và thế là anh để mất cô từ lúc nào chẳng hay. Giờ đây anh vô cùng hối hận, anh tháo từng ngôi sao mà tay cứ run run.

Ngôi sao cuối cùng to hơn hẳn các ngôi sao khác, chàng trai đoán ngôi sao này được gấp sau cùng, bởi loại giấy hoàn toàn khác những ngôi sao còn lại. Trong đó, cô gái viết:

"Anh thương yêu! Em chỉ có thể chờ anh ba năm thôi, nên nếu còn thương em thì hãy sớm tìm em anh nhé. Yêu anh!"

Chàng trai xem lịch, đã ba năm hai tháng kể từ ngày hai người chia tay. Anh vội vàng tìm đến nhà người yêu cũ vì anh hiểu ra rằng mình vẫn còn thương cô ấy rất nhiều, chỉ là anh không dám thừa nhận mà thôi.

Nhưng cô gái vừa chuyển đến một nơi rất xa, bên người chồng mà cha mẹ mối mai. Cô kết hôn để làm vui lòng cha mẹ, cũng bởi chờ đợi quá lâu khiến cô mệt mỏi và cô đã thôi hy vọng. Chàng trai lặng lẽ ra về, âm thầm trách móc bản thân nhưng mọi thứ giờ đây đã quá muộn, chẳng thể thay đổi được nữa.

Bạn thấy đấy, trong cuộc sống, đôi khi chúng ta cứ mải mê kiếm tìm điều gì đó xa xôi, mà chẳng mấy để tâm hay trân trọng những điều mình đang có. Chỉ đến khi mất đi rồi, chúng ta mới hiểu được những điều ấy có ý nghĩa và quan trọng với chúng ta đến nhường nào.

Có những khi hạnh phúc ở thật gần nhưng chúng ta không tự mình nắm giữ mà cứ theo đuổi mãi những giấc mộng viển vông. Có khi hạnh phúc ở ngay trước mắt mà chúng ta không mảy may trân trọng, để rồi khi hạnh phúc ra đi mới ngậm ngùi nuối tiếc, tự trách móc và dằn vặt bản thân. Nhưng khi ta nhận ra thì mọi thứ đã quá muộn màng bởi hạnh phúc không còn bên ta nữa.

Hạnh phúc thật ra chẳng quá đỗi xa xôi như người ta vẫn nghĩ, chỉ bởi vì chúng ta không biết cách trân trọng mà thôi. Người ta thường nói "có không giữ, mất đừng tìm", vậy nên đừng bao giờ làm những điều khiến chúng ta phải hối hận về sau. Hãy nhớ rằng hạnh phúc luôn dành cho những người biết nâng niu và hiểu được giá trị của tình yêu! (Theo TTT)

Có âu sầu/buồn bã mấy đi nữa, bạn và tôi, ta cũng hãy trở về với khu vườn gồm lời khuyên-răn từ các bậc thánh-hiền, những bảo rằng:

“Quả vậy,
nỗi ưu phiền theo ý Thiên Chúa
làm cho chúng ta hối cải để được cứu độ:
đó là điều không bao giờ phải hối tiếc;
còn nỗi ưu phiền theo kiểu thế gian thì gây ra sự chết.
Hãy xem nỗi ưu phiền theo ý Thiên Chúa
đã đem lại cho anh em những gì:
bao nồng nhiệt,
và hơn thế nữa, bao lời xin lỗi, ân hận, sợ hãi,
bao ước mong, nhiệt tình, hình phạt…”
(2Côrinthô 7: 10)

Trong mối tương-quan với mọi người, ở đời, rất nhiều nơi toàn thấy những người hang say độ-lượng, từng cho đi chính con người của họ. Rộng-lượng, cả vào tư-thế biết thứ-tha những người từng làm cho họ sầu/buồn nữa.

Tương-quan với mọi người ở trong đời, còn dạy ta những kinh-nghiệm quí-giá lại cũng là quà tặng ta dành sẵn cho người khác. Gửi đến người khác. Bởi lẽ, bao lâu bạn và tôi quên mất mục-đích chính của cuộc sống là “cho đi” chứ không phải “thu thập” vào mình tấ cả mọi thứ. Thì, khi đó ắt hẳn ta sẽ vui lên mà sống những tháng ngày còn lại trong đời mình.

Trong nhận-thức như thế, vẫn mời bạn và tôi, ta cứ hát lên những ca-từ “tưởng-rằng-buồn” nhưng lại vui hơn bao giờ hết, như sau:

“Đêm về trên chiếc xe qua
Nhớ tôi xa lộ, nhớ nhà Hàng Xanh
Nhớ em, kim chỉ khứu tình
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
Nhớ mưa, ôi nhớ mưa !

Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè
Nhớ pho tượng lính, buồn se bụi đường.”
(Du Tử Lê/Phạm Đình Chương – bđd)

Vâng. Đúng thế. Có nhớ gì thì nhớ, dù “pho tượng lính” , “Mưa buồn khắp Thị Nghè” hoặc “Nắng Trương Minh Giảng” hay “Lá hè Tự Do” đi chăng nữa, vẫn cứ thế mà sống cho vui, cho mạnh, cho phấn-chấn mãi không thôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Chẳng dám nói hay hơn người
Vẫn cứ cảm-nghiệm nhiều ngày buồn,
rất khôn nguôi.