Saturday, 14 January 2017

“Mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông.”



Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 3 mùa Thường niên năm A 22/01/2017

“Mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông.”
Không gian u ám sương mờ, mờ buông.
Xa trong đêm vắng chuông buồn, buồn ngân.
Mùa đông xưa rét mướt, bến sông, ngừng chân.”
(Nhạc: Lâm Tuyền/Thơ: Dạ Chung – Tiếng Thời Gian)

(Thánh vịnh 78: 72)

“Tiếng thời gian”, mà sao nghe cứ như “mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông”? Mùa đông đời người, nghe chừng như “rét mướt, bến sông, ngừng chân”. Ôi thôi. Cả thơ lẫn nhạc, làm người nghe đến ư là buồn, như câu chuyện buồn đời người con ngài nay trở thành,”cụ già ăn mày”, thời xưa cũ, rất như sau:

Bà ngồi co ro bên này đường, chờ cho cửa hàng phía đối diện tắt điện, đóng sập cánh cửa sắt nặng nề xuống mới chống tay vào gối đứng dậy, khó nhọc bước qua đường. Cánh cửa này có mái hiên rộng, chủ nhà dễ tính, lỡ bà có ngủ quên dậy muộn thì người ta cũng chỉ nhẹ nhàng gọi bà dậy, kêu bà đi chỗ khác để mở hàng chứ không quát mắng xối xả, đốt vía như những chỗ khác. Vậy nên, mấy tháng nay rồi, dù đi xin ở xa hay gần, bà đều trở về dưới mái hiên này để tá túc.

Ngồi xuống mái hiên bà bắt đầu thở dốc. Chẳng hiểu sao mấy hôm nay bà thấy cơ thể mệt mỏi, rệu rã quá. Cũng chẳng trách được. Bà đã ngoài tám mươi. Nhiều người ở tuổi này có khi đã nằm liệt một chỗ, con cái phải hầu hạ, phục dịch. Bà còn lê la khắp các phố để xin ăn được coi như trời còn thương mà cho sức khỏe. Đôi khi bà nằm nghĩ ngẩn ngơ, có khi trời thương bà, biết bà có ốm nằm liệt giường liệt chiếu thì cũng chẳng có ai ngó ngàng tới nên ban cho bà sức khỏe.

Nhưng mà bà cũng mệt lắm rồi. Cơn tức ngực kéo đến làm bà khó thở. Bà lôi trong mấy cái bao cũ mấy tờ báo cùng vài tấm bìa cát tông làm gối, quay mặt vào phía cánh cửa. Ác thay trời lại lất phất mưa. Bà khó nhọc ngồi dậy, lôi ra cái áo mưa cũ quấn quanh người. Mưa làm chân tay bà tê nhức. Bà không ngủ được. Bà lần tìm trong nải một tấm ảnh cũ, ngồi khom khom quay lưng lại phía đường để nước mưa không tạt được vào tấm ảnh. Bà nhìn tấm ảnh, lẩm bẩm như trò chuyện với một người bạn.

– May mà ông ốm một trận rồi đi luôn. Đi nhẹ nhàng thanh thản chứ không cũng lại phải lê lết ngoài đường giống tôi. Mà chân ông yếu thế, đi làm sao được.

Bà đưa bàn tay vuốt vuốt khuôn mặt trong tấm ảnh. Giọng đã bắt đầu nghẹn nước:
– Mà ông có thương tôi, sao không cho tôi đi cùng ông với ông ơi…
Mưa bắt đầu nặng hạt. Bà quấn tấm áo mưa chặt vào cơ thể, dí sát người vào cánh của mái hiên. Tiếng mưa tạt vào tấm áo mưa lộp… bộp… lộp… bộp nghe lạnh buốt và tê tái.

Bà cũng đã từng có một mái nhà. Một mái nhà bình dị đơn sơ nhưng ấm áp, hạnh phúc. Nghĩ đến căn nhà cũ bà nén tiếng thở dài tức nghẹt trong lồng ngực. Cất tấm ảnh vào sâu trong đáy, ôm vào lòng, khép chặt tấm áo mưa cho khỏi ướt, bà quay người lại đối diện với màn mưa. Đôi mắt già nua ướt nhoèn, mờ mịt những hồi ức cũ.

Ông bà cưới nhau được chục năm mới sinh được đứa con gái, nên yêu chiều nó lắm. Hôm bà sinh con ở trạm xá, ông mừng tới nỗi ôm con khóc tu tu như một đứa trẻ, trước bao cặp mắt lạ lùng của mọi người.

Ông chăm con từng li từng tí, theo dõi từng ngày lớn lên của con. Đi học, những hôm mưa gió. Ông cõng nó trên lưng. Nó lớn lên một chút, ông tằn tiện mua cho con cái xe đạp mi ni.Máy chục năm trời, ông không dám mua một cái áo mới, ai cho gì mặc nấy để khi nó vừa thành thiếu nữ, ông dành dụm đủ để xây một căn nhà ngói nhỏ ba gian. Ông bảo bà:
– Nó là con gái, ở nhà lụp sụp quá, bạn bè đến chơi, nó mặc cảm.

Mưa càng lúc càng nặng hạt hơn. Trong mưa, bà thấy khuôn mặt ông bừng sáng hạnh phúc. Bà không thể nhầm được. Đó là khuôn mặt ông trong đám cưới con gái. Nhà rể ở ngay xóm trên. Lúc lấy con gái bà, nó hãy còn là một chàng trai mới lớn, hiền lành, chân chất và khỏe mạnh. Đám cưới con gái, khuôn mặt ông rạng rỡ mà mắt lại rưng rưng. Ông nói, con gái đi lấy chồng, ông mừng lắm.

Nhưng ông cũng buồn vì phải xa con. Vẫn biết nó lớn thì phải rời xa vòng tay ông, phải lấy chồng mà sao ông vẫn thấy hụt hẫng. Bà cười bảo ông chưa già đã lẩn thẩn. Nó lấy chồng ngay xóm trên, cách có độ mươi phút đi bộ, mà ông cứ như thể gả con gái đi lấy chồng ở tận đẩu tận đâu. Ông cũng cười bảo, không biết tại sao ông lại yếu mềm hơn cả bà.

Cơn ho kéo đến như muốn xé toang lồng ngực. Bà chống tay vào cửa, ho rũ rượi rồi đưa tay đấm nhẹ vào ngực. Cơn ho dứt, bà thở dốc. Lúc bà ngước lên, bóng ông trong mưa đã biến mất. Bà lẩm bẩm:
– Cũng may là ông đi trước khi mở đường qua nhà. Chứ không thì…
Ông ốm một trận rồi đi. Nhẹ nhàng như không còn vương vấn điều gì trên cõi đời này nữa. Bà thui thủi một mình. Thấy thế, đứa con gái bàn với bà:
– Nhà chồng con tới ba anh em trai, chật chội lắm. Hay u cho bọn con về đây ở, cũng là để sớm hôm đỡ đần u…

Bà mừng rỡ đồng ý ngay. Ăn nhiều chứ ở hết bao nhiêu. Bà già rồi, thui thủi một mình cũng cô quạnh. Bà cũng muốn được quay quần với con cháu. Bà chỉ có mỗi đứa con gái, được sống cùng vợ chồng con cái nó thì còn gì bằng. Có gì, chúng nó chăm sóc bà, bà lại đỡ đần vợ chồng nó chuyện cơm nước, con cái. Chúng nó ở với bà, chắc nơi chin suối ông cũng mát mẻ, thanh thản.

Bà chỉ có mỗi một đứa con gái. Bà không bù trì, vun đắp cho nó thì để cho ai. Bà chết đi cũng có mang theo được đâu. Vậy mà đứa con gái bà mang nặng đẻ đau, lại bàn mưu cùng chồng đẩy bà ra đường.

Bà già rồi, chỉ quanh quẩn ở nhà cơm nước và chăm mấy đứa cháu, có biết gì đến chyện đất cát mà hàng xóm xì xào bàn tán đâu. Con gái và con rể thì thụt những gì, bà cũng chẳng biết. Chỉ thấy một buổi nhập nhoạng tối, đứa con gái chìa trước mặt bà tờ giấy:

U kí vào đây đi. Chỗ cuối tờ giấy này để xác nhận diện tích đất nhà mình. Ít nữa họ xây đường qua đây họ còn đến bù u ạ.

Bà nghe ờ ờ, cạc cạc. Mắt kém, lại tin tưởng con, cộng với việc bà ngại mấy thứ liên quan đến giấy tờ, nên ký luôn mà không đọc lại. Mãi đến khi người ta đến lấy nhà, chồng cho vợ chồng con gái bà một đống tiền, số tiền mà cả đời hai ông bà chưa cũng chưa từng nhìn thấy, thì bà mới biết chúng nó lừa bà ký giấy để bán nhà. Nhưng nước mắt chảy xuôi, bà nghĩ cái nhà đấy cuối cùng cũng để cho chúng nó, đất đang sốt, chúng nó bán cũng là hợp lý.

Hai vợ chồng đứa con gái mua một miếng đất ở trong xóm, xây một căn nhà hai tầng khang trang. Nhưng rồi từ lúc có tiền, tính tình thằng con rể bắt đầu thay đổi. Nó ham mê rượu chè, bồ bịch. Lúc đầu bà còn ngại “rể khách” nên nói nhẹ nhàng, bóng gió, sau dần những lời đồn thổi càng nhiều, vợ chồng nó suốt ngày đánh chửi nhau, bà góp ý thẳng thắn với con rể.

Nó không nghe, một lần uống rượu say còn đánh bà gãy tay, bị đưa lên xã phạt tiền. Sau vụ đó, nó càng hằm hè với bà hơn. Vợ nó- con gái bà cũng vào hùa với chồng, trách móc bà làm vợ chồng nó mất tiền, làm nhà nó xấu mặt với hàng xóm. Những lời bóng gió xa xôi về việc bà ở nhờ tăng dần. Những bữa cơm chúng nó cố tình ăn trước, không gọi bà ngày một nhiều. Tủi thân, bà quyết định gửi ông lên chùa, rồi bỏ làng đi lang thang trong một đêm mưa gió, bắt đầu những ngày vất vưởng xin ăn.

Bà xách theo một cái bị nhỏ, một tấm áo mưa và tấm ảnh của ông. Hàng ngày bà lê la khắp các phố xin ăn. Tối đến lại về cái mái hiên này ngủ nhờ. Bà cứ trông ngóng, mòn mỏi hi vọng sự ra đi của bà, sẽ khiến vợ chồng đứa con gái hối hận, mà nghĩ lại đi tìm bà. Nhưng một năm, hai năm rồi năm năm lê la khắp phố xá rồi, mà chưa một lần bà nghe phong thanh gì về tin tức chúng đi tìm bà. Cũng có lần, bà lén về làng, đứng trước cửa nhà vợ chồng nó, thấy hai đứa nó vẫn vui vẻ, không một chút áy náy, bà lại lặng lẽ ra đi.

Mưa như trút nước. Bà cảm thấy cơ thể rệu rã, không còn chút sức lực nào nữa. Bóng ông lại hiện ra trong mưa, mỉm cười hiền hòa nhìn bà. Ông đưa tay về phía bà. Bà biết thời khắc này cuối cùng cũng đến. Bà cố chút sức lực cuối cùng, lê người về phía khoảng giữa mái hiên bà trú với căn nhà bên cạnh. Nhà người ta là nhà làm ăn tử tế, bà không muốn chết trước cửa hàng, không muốn cái chết của mình phiền hà đến họ.

Ông bước đến gần bà, cúi xuống. Bà run run đưa cánh tay lên. Thanh thản, nhẹ nhàng, bà theo ông. Mọi oán hận, trách móc của cuộc đời bà bỏ lại phía sau, nơi kiếp người trên dương thế.

Sáng sớm, người ta phát hiện xác một cụ già nằm ở khoảng trống giữa hai căn nhà. Bà chết trong một tấm áo mưa trùm kín người. Nhưng trên môi còn phảng phất một nụ cười.” (trích truyện kể do bạn bè gửi qua email tháng 12/2016)

Chuyện buồn “hiu hắt” của cụ bà ăn xin ở ngoài đời, lại kéo theo những gợi nhớ về các “chuyện-buồn-nhưng-không-cười” ở nhà Đạo được Đức Giáo-Tông nhắn nhủ với bà con thiên-hạ, vào hôm ấy, như sau:

“Trong buổi hội tại Toà thánh, Đức Phanxicô có nói với các Hồng y, Giám mục và chuyên-gia ơn gọi rằng: “Anh em hãy nghĩ lại về công-tác mục-vụ Ơn gọi, để việc ấy không đơn-thuần là chương-trình mục-vụ rất quan-liêu.

Công-việc của anh em cần phải “ra bên ngoài” mà lắng tai nghe mọi người. Ơn gọi của bản thân tôi đây không là kết-quả của một triết-thuyết hay ho gì, mà là rút tư kinh-nghiệm về tầm nhìn của Lòng Chúa Xót Thương đối với tôi mà thôi.

Muốn được thế, Giáo hội ta phải chấm dứt không còn tinh-giản Đạo mình thành công-thức về luật-lệ, và hang giáo-sĩ chúng ta phải phá vỡ vòng đai khép kín của thế giới mình.

Thật đáng buồn, khi các linh-mục chỉ sống cho riêng mình, và khép kín trong ốc-đảo hoặc pháo-đài an-ninh của giáo-xứ, phòng thánh hoặc với những người trung-thành với mình, mà thôi. Ngược lại, chúng ta được kêu gọi làm mục-tử đối với dân chúng, là biết chăn-nuôi, chăm sóc và dành thời-gian mà đón tiếp và lắng tai nghe tất cả mọi người nói với mình, nhất là giới trẻ. Thế-giới hôm nay đang cần nhiều mục-tử trưởng-thành và quân-bình.

Với các Giám-mục, xin các vị thận-trọng khi cân-nhắc các ứng-viên hội đủ chức-năng trở-thành linh-mục tốt. Cần biết nhận-định sự thật, có tầm nhìn sắc bén và cẩn trọng và khôn-ngoan. Cần tập-trung vào chất-lượng của mục-tử hơn là số-lượng. Chủng-viện cần thiết-lập việc đào-tạco linh-mục cho nghiêm-ngặt….”

Còn nhớ, khi xưa đấng thánh-hiền nói về việc Đức Chúa tuyển chọn mục-tử làm việc cho Ngài, theo gương lành của Đavít, rất như sau:

Chúa chọn Đavít, người tôi trung,
cất nhắc ông, thuở còn là mục tử,
cho vời đến, lúc đang giữ bầy chiên,
để chăn dắt dân Ngài là Giacóp,
và Israel sản nghiệp của Ngài.
Ông chăn dắt họ với một lòng liêm chính,
tay dẫn đưa khéo léo tài tình.”
(Thánh vịnh 78: 72)

Với nhà Đạo, sự việc cũng đáng buồn như thế. Với âm nhạc và thơ văn ngoài đời, lời lẽ của các nghệ sĩ lại sẽ khác, những hát rằng:

Chờ ai trong tê tái, lắng nghe, chuông than.
Thời gian trôi tan tác, mang theo, ngày xuân
Mưa đêm nay khóc thầm,
Cuộc đời đầm ấm đã theo thời gian.

Ngoài kia gió sương mờ.
Lìa cây lá giang hồ.
Về đâu! Về đâu!
Ngày xuân thoát đi dần,
lòng ta tái tê sầụ
Người cười nhưng ta vẫn khóc thầm.
Đời chim bạt gió
Kìa ai thoáng mơ hồ
Ngừng chân dưới mưa dầm.
Nhìn lầu nguy nga ước mơ thầm.
Bao nhiêu xuân qua, lòng không tình yêu.”
(Lâm Tuyền/Dạ Chung – bđd)

Thơ hay nhạc, cũng chỉ là những vần-điệu để người nghe nhớ về tâm tình của nhạc bản là “Tiếng thời gian”, thôi. Tiếng đây, không là âm-thanh não-nề hoặc ê-chề về một nỗi. Mà, chỉ nói lên tiếng/giọng buồn về tình đời, có “Mưa rơi hiu hắt, ai sần mùa Đông” mà thôi.   

“Mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông.
Không gian u ám sương mờ, mờ buông.
Xa trong đêm vắng chuông buồn, buồn ngân.
Mùa đông mưa rét mướt, bến sông, ngừng chân.
Chờ ai trong tê tái, lắng nghe, chuông than,
Thời gian trôi tan tác, mang theo, ngày xuân.
Mưa đêm nay khóc thầm,
Cuộc đời đầm ấm đã theo thời gian.
(Lâm Tuyền/Dạ Chung – bđd)

Thật ra thì, nghệ-sĩ xưa nay có làm thơ hay viết nhạc, cũng chỉ để “phóng ngoại” tâm tình tư-riêng của chính mình cho người khác biết. Phóng ngoại hay nhận-định, còn là lập-trường sống với con người và môi-trường luôn có vấn-đề để giải-quyết. Vấn-đề của con người và môi-trường hôm nay, là chuyện cần giải-quyết ngay tức khắc, để còn sống vui với mọi người, trong cuộc đời.

Thật ra thì, sống như thế là sống có thời-gian, trong không-gian rộng/hẹp cùng mọi người cho ra sống. Sống cho ra sống, là sống hùng sống mạnh, sống hiên-ngang làm con cái Chúa theo lẽ phải như Ngài từng dạy dỗ, qua Kinh Sách.  

Sống hùng/sống mạnh là sống hiên-ngang không có gì phải sợ mất. Không sợ mất thứ gì, nên cũng chẳng cần lo. Sống hùng/sống mạnh như những người nghèo ở huyện nhà chứ không còn bon chen, giành giựt hoặc đấu tranh để được trội hơn người, về mọi thứ.

Sống hùng/sống mạnh ngày hôm nay, còn là sống sao cho lương-tâm của chính mình không chê-trách, “mắng vốn” chứ không phải để cha/cố doạ nạt, bắt đi “xưng tội” cho đúng phép. Sống hùng/sống mạnh, còn là sống đúng phép, không sợ tội, vì luôn biết rằng có Thiên-Chúa cùng sống với mình và trong mình, như mọi người.

Sống đúng phép, không là sống đúng luật-lệ của Giáo-hội có 6 điều “răn” cũ/mới như vẫn ê-a đọc hàng tuần ở nhà thờ. Sống đúng phép, là sống mà tin tưởng rằng: dù buồn chán như ai đó, vẫn tin-tưởng rằng: Đức Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi ta, trái lại vẫn ở đó, gần sát bên ta, cùng sống với ta như người nhà trong cùng thời-gian và không-gian tuy buồn bã, vô-nghĩa hoặc chóng qua.

Sống đúng phép, còn là sống mà tin tưởng có Chúa luôn ở với và ở cùng mình, cho dù gian-nan, chán nản bủa khắp chốn. Có sống như thế, mới nhớ ra rằng: ta luôn có Chúa đồng-hành và/hoặc tháp-tùng cả vào lúc ta nghi-ngờ Ngài bỏ rơi hoặc ruổi đuổi vì bê-tha, bệ rạc hay sau đó.
Sống đúng phép, sẽ không còn sợ gì những “Tiếng Thời Gian” mà nghệ sĩ hôm trước, vẫn cứ than bằng câu hát, rất buồn sau đây:

“Mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông.”
Không gian u ám sương mờ, mờ buông.
Xa trong đêm vắng chuông buồn, buồn ngân.
Mùa đông xưa rét mướt, bến sông, ngừng chân.”
(Lâm Tuyền/Dạ Chung – Bđd)

Hát thế để rồi, ta sẽ cùng người kể thêm câu truyện vui ở dưới cho vui đời, mỗi khi buồn như sau:

“Hai bà sồn sồn nọ quen nhau đã lâu, nhưng vẫn chưa “trút bầu tâm sự” để kể cho nhau nghe chuyện đời thực-tế trong ăn uống. Bởi, cứ sự thường, thì ăn và uống là một trong những duyên-do cớ sự làm cho con người buồn vui, suốt cuộc đời. Nghĩ thế rồi, bà nọ bèn nói với bà kia, một chân lý để đời rằng:
-Chị biết hôông? Mỗi lần muốn ăn ngon, chị biết em làm gì không?
-Làm gì để được thế, nói cho nghe coi nào?
-Đơn giản lắm, mỗi lần muốn ăn ngon là em nấu nồi riêu cua toàn tôm khô giã với trứng!
-Như vậy chị là tay đầu bếp số một rồi còn gì. Chả thế mà, chồng chị thích lắm đấy nhỉ?
-Không dám đâu! Khi thấy em sắp sửa dọn món ấy ra là ỗng biểu: “Em thay đồ đi! Hôm nay vợ chồng mình ra nhà hang đánh chén cho thoả thích…

Có thể là, câu truyện kể không hẳn là như thế. Nhưng, nhận định của người mới đáng kể ở chỗ khi nói rằng: “ăn và uống là một trong những duyên-do và cớ sự làm cho con người buồn/vui suốt cuộc đời!...” Vậy thì, mỗi khi thấy ai buồn buồn hay sao đó, bạn và tôi, ta hãy bắt chước chị nọ lại đem món riêu cua ra mà trình làng, để rồi, để rồi… sẽ thấy hết buồn. Không tin? Hãy cứ thử xem sao.

Trần Ngọc Mười Hai
Chưa bao giờ thử như thế
Nhưng vẫn muốn quên đi
Hết chuyện buồn
Trong đời.



   

Saturday, 7 January 2017

“Đêm mưa làm nhớ không gian,”



Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 2 mùa Thường niên năm A 15/01/2017

“Đêm mưa làm nhớ không gian,”
Lòng run thêm lạnh, nỗi hàn bao la.
Tai nương hướng giọt mái nhà,
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn.
Nghe đi rời rạc trong hồn,
Những chân xa vắng dậm mòn lẻ loi.
Rơi rơi ... Dịu dịu ... rơi rơi.
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ ...”
(Nhạc: Phạm Đình Chương/Thơ: Huy Cận – Buồn Đêm Mưa)

(2Corinthô 1:10-11)

Vâng. Có “Rơi rơi, dìu dịu, rơi rơi” nhiều cho lắm, cuối cùng cũng chỉ để “Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ ...” thôi. Chao ôi, là thi-ca, âm-nhạc và những gì nữa! Có nắng mưa chăng cũng khiến nghệ sĩ thấy mình như “Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn”. Có buồn nhiều, rồi thì cũng lạnh run trong lòng, “nỗi hàn bao la”.

Nhà Đạo hôm nay, chợt nghe mưa rơi hoặc thấy trời nắng ráo, vẫn không buồn. Chỉ buồn một nỗi nhớ nhung về các sự kiện xảy ra trong/ngoài nhà Đạo như tin …tức mình gửi đến khá khó hiểu dù được diện-tả bằng ngôn-ngữ thời thượng.

Vâng. Ngôn ngữ thượng thừa thời buổi hôm nay, vẫn là những tin tức “động trời” mới đây thôi, xuất hiện trên báo Tuổi Trẻ ngày 21/11/2016, thoáng chốc đã thấy hàng “tít” to đùng, viết như sau:

“Giáo hoàng cho phép “tha tội giáo dân phá thai”
Tuổi Trẻ Online
21/11/2016

Trong thư gửi cho ai đó ngày 21-11, Giáo hoàng Francis ban phép cho các linh mục Công giáo được quyền tha tội cho giáo dân nào lỡ phá thai. 

Trong lá thư này, Giáo hoàng Francis viết: “Tôi muốn một lần nữa nhấn mạnh rằng: phá thai là hành đông có tội rất nặng, vì nó chấm dứt sự sống vô tội của con người. Tuy nhiên, cùng lúc, tôi vẫn nói được rằng: không lỗi/tội nào mà Chúa lòng lành/nhân từ lại không thể tha thứ nếu như con tim của ta biết hối lỗi kiếm tìm sự tha tội từ mọi người. 

Xem như thế, các linh mục sẽ là những người dẫn dắt, ủng hộ và ủi an những ai biết sám hối đang trên đường tìm kiếm thứ-tha. Bởi thế nên, tôi trao quyền cho các linh mục, bằng bổn-phận đức hạnh, được phép giải tội cho những ai phạm tội phá thai”.

Trước đó, Giáo hoàng Francis cho phép các linh mục trên toàn thế giới được phép tha tội cho các giáo dân nào từng phá thai trong Năm thánh lòng Chúa thương xót theo lịch Công giáo, bắt đầu từ ngày 8-12-2015 đến 20-11-2016.

Năm thánh Lòng Chúa thương xót là thời-điểm giáo dân được tha-thứ cách đặc biệt về các tội lỗi mình phạm. Giáo hội Công-giáo cho biết quyết định của Đức Giáo hoàng là "mở rộng lòng nhân từ của Giáo-hội". 

Trong thời gian qua, một số nơi trên thế giới, như ở Hoa-Kỳ, nhiều linh mục cũng được đặc cách "tha tội cho giáo dân nào từng phá thai ". Phá thai từng là một trong những định hướng mà các linh mục dành cho giáo dân Mỹ trong cuộc bầu cử tổng thống 2016 vừa qua.

Hãng tin AP cho biết: nhiều linh mục đã nhắc nhở giáo dân của mình hãy nghĩ về "sự thiêng liêng của sự sống" – một từ-vựng ám chỉ hành-động phá thai - khi bầu tổng thống Mỹ.

Trong chiến dịch tranh cử năm 2016, tổng thống đắc cử Donald Trump đã chống lại việc phá thai, trong khi đó ứng cử viên Hillary Clinton lại ủng hộ việc phụ nữ có quyền được phá thai…” (Đ.K.L. tường-thuật)

Chuyện phá thai nhập với đề-tài tranh-cử tổng thống, vẫn là chuyện thường tình ở huyện, rất “nước ngoài”. Chuyện quốc nội xưa nay vẫn đậm nét thi-ca/âm-nhạc cho xôm tụ, như ý/lời bài hát “Buồn Đêm Mưa”, còn lên tiếng hát:   
 
“Đêm mưa làm nhớ không gian.
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.
Tương tư hướng lạc phương mờ.
Trở nghiêng gối mộng hửng hờ nằn nghe.
Gió về lồng lộng không che.
Hơi May hiu hắt bốn bề tâm tư.
Rơi rơi ... Dịu dịu ... Rơi rơi.
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ ...

Đêm mưa làm nhớ không gian ...
Đêm mưa làm nhớ không gian ...”
(Phạm Dình Chương/Huy Cận – bđd)

Quả là: đêm mưa có “rơi rơi, dìu dịu, rơi rơi”... vẫn khiến cho nghệ sĩ lặng nhớ cả không gian lẫn thời gian” mình đang sống, trong đó có “hơi may hiu hắt, bốn bề tâm-tư”.

Hôm nay đây, quả là: trong không-gian nhà Đạo, lại cũng thấy liu riu/hiu hắt một nỗi buồn khó tả về lập-trường sống có chính-kiến lẫn tâm-tư khá u-uẩn, và khúc mắc khiến người đi Đạo phải nghiên-cứu để cón sống. Sống trong đời, mà không có tâm-tư kỳ lạ cũng không tiện.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn/mời tôi, ta đi thẳng vào vấn-đề của nhà Đạo để suy-tư sống xứng-hợp mọi sự, cho thoải mái. Vậy thì, mời bạn/mời tôi, ta thử xem xét vấn-đề khúc-mắc, khó tả được nhà thần-học trổi-danh là Giáo sư Marcus J. Borg ở Hoa Kỳ từng bàn nhiều về đạo-giáo cùng niềm tin đích-thực, qua giòng chảy tư-tưởng, như sau:

“Ta nghĩ thế nào về Thiên-Chúa? Đó là những câu hỏi khá trừu-tượng như cốt để đặt thành vấn-đề đối với người thường ở huyện nhà Đạo khắp nơi, trên thế-giới. Tuy nhiên, câu hỏi mà người người đặt ra hôm nay, lại tạo nhiều hệ-luỵ khá nhiêu-khê, uẩn-khúc.

Nói khác đi, câu hỏi đây sẽ gọn nhẹ và dễ hiểu hơn, nếu bảo rằng: Bạn và tôi, ta có ý-niệm gì về Thiên-Chúa? Bằng vào từ-vựng “ý-niệm gì về Thiên-Chúa”, tôi đây chỉ muốn diễn-tả ý-nghĩa ta đang có trong đầu, khi sử-dụng tự-vựng “Thiên-Chúa”, tức: tất cả mọi người đều có vài ý-niệm về Thiên-Chúa, dù mơ-hồ hoặc rõ ràng, dù ta có là kẻ tin hoặc vô-thần đi nữa.

Điều, tôi muốn nói ở đây rất trực-tính, tức bảo rằng: ta có ý-niệm gì về Thiên-Chúa hay không, vẫn luôn trở-thành vấn-đề. Ý-niệm đây có thể khiến Thiên-Chúa là Đấng ta tin được hoặc chẳng thể nào tin bao giờ hết. Ngài cũng có thể có thực và cũng có thể là không thực. Và, điều đó có lẽ khiến Ngài trở nên xa cách hoặc gần gũi, vắng mặt hoặc luôn hiện-diện, cũng rất thường. Làm sao ta tưởng tượng ra được một Thiên-Chúa đã tác-động lên ý-thức những điều mà cuộc sống Kitô-hữu của ta mang nhiều ý-nghĩa, rất đáng sống.

Và các câu hỏi tương-tự như: phải chăng cuộc sống Kitô-hữu chỉ mỗi tập-trung vào chuyện tin-tưởng, mà thôi? Hoặc, chuyện đó chỉ để nhà Đạo có dịp lên tiếng về tương-quan nào đó mà thôi không? Phải chăng ta tin vào Thiên-Chúa là Đấng siêu-phàm sống ra rời vũ-trụ, hoặc tin là ta có mối tương-quan mật-thiết với Thần-Khí Chúa đang có mặt ở đây, chung quanh ta? Phải chăng tin vào Chúa là tin rằng Đấng Linh Thiêng đang “ở nơi nào đó” hoặc ta đang có tương-quan với Đức Chúa đang có mặt ở đây, lúc này?

Về Đức Chúa, lâu nay ta vẫn có hai ý-niệm cội-rễ tìm thấy ở Kinh Sách và ở truyền-thống trong Đạo.Hai ý-niệm này hoàn-toàn khác-biệt nhau. Ý-niệm thứ nhất quan-niệm Thiên-Chúa là hữu-thể siêu-nhiên “ở ngoài đó”, tách rời khỏi thế-giới, là Đấng Tạo-dựng trời đất rất xa xưa, và là Đấng đôi lúc cũng can-thiệp vào chuyện bên trong đó. Theo ý-nghĩa quan-trọng, thì Thiên-Chúa này không có “ở đây” và vì thế ta không thể biết và cảm-nghiệm được, mà chỉ có thể tin vào Ngài mà thôi. Tin, bằng luận-lý xuất từ ý-niệm này, và đó là ý-nghĩa của “niềm tin”.

Thông thường thì, suy-tư về Thiên-Chúa như thế vẫn được gọi là “Thuyết hữu-thần theo nghĩa siêu-nhiên”. Thuyết này lan-tràn và trải rộng ở Đạo Chúa. Điều đó, có lẽ cũng là những gì mà phần đông các kẻ tin hoặc những người không tin vào thần thánh đều có trong đầu khi nghĩ về Thiên-Chúa. Có người chấp-nhận Thiên-Chúa có thực, có người không. Thế nhưng ý-niệm về Thiên-Chúa như Hữu-thể siêu-phàm đang “ở đâu ngoài đó” là Đấng được mọi người chấp-nhận hoặc phản-bác.  

Ý-niệm cội rễ thứ hai về Thiên-Chúa theo truyền-thống Kitô-giáo, lại suy theo cách khác hẳn. Theo những người này, thì Thiên-Chúa là Đấng Thần Linh Thánh Ái mà tất cả chúng ta và mọi sự đều ở trong Ngài. Theo ý-niệm này, thì Thiên-Chúa không là Hữu-thể siêu-phàm tách-rời đến từ vũ-trụ; nhưng đúng hơn, Thiên-Chúa đây, tức: Đấng Thần Linh rất thánh là lớp bao phủ không mang tính thể-chất hoặc lãnh-vực hoặc tầm-kích thực-tại ở quanh ta. Thiên-Chúa, hiểu như thế, lại vĩ-đại hơn vũ-trụ, vẫn là thứ vũ-trụ ở trong Thiên-Chúa. Thế nên, hiểu theo nghĩa không-gian, thì Thiên-Chúa là Đấng không ở “nơi nào đó”, mà là “đang ở ngay đây, và nơi này.” Và, ta có thể gọi ý-niệm về Thiên-Chúa như thế là “Thuyết Phiếm Thần”. Cung-cách suy-tư về Thiên-Chúa như thế được nhiều người nói đến trong truyền-thống thần-học Kitô-giáo.

Cả hai cung-cách suy-tư này đều đã dưỡng-nuôi cuộc sống tín-hữu Đức Kitô suốt nhiều thế-kỷ. Bởi, hầu hết mọi thời, phần đông tín-hữu Đức Kitô đều nghĩ về Thiên-Chúa trong khuôn-khổ của thuyết hữu-thần siêu-phàm. Không có gì xấu-xa trong chuyện đó. Nghĩ về Thiên-Chúa là Hữu-thể siêu-nhiên “ở đâu đó” là những gì được mọi người hàm-ngụ cách tự-nhiên khi đọc văn-bản này khác của Kinh Sách, cũng như ngôn-ngữ phụng-thờ, đầy mộ đạo. Với các tín-hữu Đạo Chúa mãi đến lúc gần đây, không có vần-đề gì nghiêm-trọng cả. Nhưng thời buổi ta đang sống, hôm nay, suy về Chúa là Hữu-thể Siêu-phàm “ở đâu đó” đã trở-thành một trở-ngại khá lớn, với nhiều người.

Nghĩ như thế, có thể khiến nhiều người nghi-ngại về việc Thiêm-Chúa không có thật, và càng làm cho Ngài xa rời mọi người. Và vì thế, nhiều người lại vẫn không biết rằng: ngay trong truyền-thống Kitô-giáo đã có ý-niệm cội rễ về Thiên-Chúa, theo thuyết phiếm thần rồi.” (X. Marcus J.Borg, The GOD We Never Knew: Beyond Dogmatic Religion to a More Authentic Contemporary Faith, HarperOne 1997 tr.11)   

Xem thế thì, có những điều được nói đến ở trong đời hoặc ở nhà Đạo rất “xưa như trái đất”, nhưng bị phủ-trùm bằng lớp ẩm mốc cả một đời người. Nay, giỡ tấm bạt phủ trùm ấy lên, ắt người tháo/giỡ sẽ thấy đôi điều khá thích thú.

Trong cuộc đời, lại cũng có những truyện kể xưa như vũ trụ, nhưng lại cũng mới mẻ đối với những ai ít “sưu tầm” truyện kể thuộc tầm cỡ “Nguyễn Hiến Lê” tức loại hình “Quẳng Gánh Lo Đi” mà vui sống. Như thể, truyện kể nhè nhẹ ở bên dưới:

“Truyện rằng:

“Tại một quầy hàng truyền thống trong chợ, có một người bán hàng rong bày biện 2 chiếc giỏ tre. Trong hai chiếc giỏ này, một cái có nắp đậy, một cái thì không, đằng sau sự khác biệt này là một câu chuyện rất thú vị…

Trong 2 chiếc giỏ tre, có một cái đựng toàn là cua nhưng không có nắp đậy, nhìn vào chỉ thấy những con cua đang tranh nhau bò ra khỏi giỏ, nhưng kết quả là không con nào bò ra ngoài được, bởi vì sẽ bị một con khác kéo xuống.

Còn chiếc giỏ kia thì có nắp đậy. Người bán hàng rong mở nắp ra để những khách hàng hiếu kỳ xem một chút. Bên trong là thứ gì? Nguyên tất cả đều là loại rùa đen với đủ kích cỡ lớn/nhỏ.

Người bán hàng rong nói rõ với mọi người vì sao ông lại phải đậy nắp chiếc giỏ tre này: “Bởi vì con rùa đen lớn nhất sẽ kê ở phía dưới cùng, kế đến là con rùa nhỏ hơn sẽ bò lên trên mình con thứ nhất, tiếp nữa là con rùa nhỏ hơn nữa, và trên tầng cao nhất là con rùa đen nhỏ nhất.

Chúng dùng cách thức xếp chồng lên nhau như vậy, đồng tâm hiệp lực, giúp con rùa đen nhỏ nhất có thể ra khỏi giỏ tre, sau đó, những con rùa phía dưới cũng sẽ bò ra được, còn con rùa lớn nhất sẽ dựa vào sức của mình để chui cái đầu ra ngoài”.

Người bán hàng rong đậy kín nắp giỏ lại, sau đó nói tiếp: “Cho nên ta phải đậy nắp lại cho nhanh, bằng không đám rùa đen sẽ bò ra hết. Về phần con rùa đen lớn nhất kia, mặc dù không bò ra ngoài được, nhưng nó cũng không oán hận hay tiếc nuối”.

Trong chiếc giỏ tre này, không gian chật hẹp như vậy, thế mà những con cua lại không ai nhường ai, còn tranh chấp tương tàn, trèo đầu cưỡi cổ nhau, tranh quyền đoạt lợi… Cuối cùng chỉ có thể rơi vào kết cục “kiếm củi ba năm đốt một giờ”, nhận cái kết bi thảm, cùng nhau đi đến chỗ chết.

Trái lại, những con rùa đen thì không như thế, với trí tuệ của mình, con rùa đen lớn nhất sẵn sàng kê lót phía dưới cùng của chiếc giỏ tre, để cho những con rùa khác có thể leo ra khỏi giỏ, dù phải hy sinh thân mình vẫn thản nhiên đối mặt – Đây quả thực là một loại tình cảm thương yêu, một tinh thần cao thượng.

“Giúp đỡ người khác sẽ làm nên thành tựu, cũng là thành tựu chính mình”, chúng ta lẽ nào lại không sánh bằng những con rùa đen bé nhỏ kia đây?” (Sưu Tầm trên Internet)

Đọc truyện ngoài như thế rồi, tưởng cũng nên đi vào vườn thượng uyển của bậc thánh-hiền vẫn có những lời lẽ rất khích-lệ về mọi thứ, như sau:

Chính Thiên Chúa đã cứu
và sẽ còn cứu chúng tôi khỏi chết như thế.
Ngài là Đấng chúng tôi trông cậy,
Ngài sẽ còn cứu chúng tôi nữa.11
Còn anh em, hãy lấy lời cầu nguyện mà giúp đỡ chúng tôi.
Như vậy, Thiên Chúa sẽ ban ơn cho chúng tôi
nhờ lời cầu thay nguyện giúp của nhiều người;
và do đó, nhiều người sẽ cảm tạ Thiên Chúa
vì Ngài yêu-thương chúng ta.” (2Corinthô 1:10-11)

Tựu trung thì, toàn-bộ Tin Mừng của Chúa là như thế. Toàn-bộ Tin Mừng chỗ nào cũng nói đến tình thương-yêu, giúp giùm đùm bọc lẫn nhau. Giúp giùm hết mọi người. Tất cả những người ấy đã hoặc sẽ còn giữ Đạo nữa hay không.

Cuối cùng thì, cốt cách lập-trường của thi-ca/âm nhạc cùng văn thơ ngoài đời cũng chỉ để nói lên những điều rất tương tự. Tương-tự như ý/lời của nhạc-bản được trích ở trên. Ý và lời từng trích, lại được lồng vào với giai-điệu nhẹ-nhàng dìu dịu vào “đêm mưa” với những lời lẽ khá “lưa thưa”, như sau:

““Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tương tư hướng lạc phương mờ
Trở nghiêng gối mộng hửng hờ nằn nghe
Gió về lồng lộng không che
Hơi May hiu hắt bốn bề tâm tư
Rơi rơi ... Dịu dịu ... Rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ ...

Đêm mưa làm nhớ không gian ...
Đêm mưa làm nhớ không gian ...”
(Phạm Dình Chương/Huy Cận – bđd)

Nhẹ nhàng/dìu dịu, còn là bản-chất của những điều được kể trong câu truyện ngắn gọn dùng làm kết-đoạn cho “chuyện-phiếm-nhưng-không-phiếm” vẫn cứ kể:

“Rằng: Hôm ấy, Ađam về nhà rất muộn. Eva giận dữ, bèn tra hỏi:
-Tại sao hôm nay anh về muộn như vậy? Anh đi gặp con phải gió nào phải không?
-Đừng có mà ngu ngốc như vậy! Em phải ghi-tạc trong đầu là: Em là người đàn bà “duy-nhất” trên trái đất này, được anh yêu thôi.

Chẳng mấy chốc cả hai nằm dài ra ngủ. Nửa đêm, Ađam thấy buồn buồn ở trên ngực bèn tỉnh giấc. Thấy tay của Eva đang rờ rẫm trên ngực mình, miệng thì lẩm bẩm câu gì đó, thật khó hiểu, bèn hỏi:
-Ơ kìa! Em đang làm cái quái quỉ gì thế?
-Tôi đang đếm xem anh còn đủ bấy nhiều xương sườn không?

Số là, Eva ghen tức, nghi-ngờ chồng mình “tòm tem” với ai đó, nên đã có cách kiểm tra rất hay là đếm các đoạn xương sườn của chồng mình. Giả như có thiếu đi một chiếc xương sườn cụt nào đó, thì chứng tỏ là Ađam đã tạo thêm một người nữ khác để tuỳ thân, cho chắc ăn.” (truyện trích dẫn ở trên mạng)

Truyện kể, có dài giòng lê-thê hay dìu dịu, gọn nhẹ cũng chỉ để nói lên ý-tứ và ý-từ mà người kể hôm ấy muốn dùng làm bài học để khuyên răn ai đó, trong cuộc sống. Hôm nay, kể lể lê thê đôi ba phút về “chuyện-phiếm-nhưng không-phiếm” trong đời, cũng chỉ để “mua vui cũng được một vài trống canh”, mà thôi.

Quyết thế rồi, lời cuối hôm nay, vẫn là lời chúc bạn và tôi, hoặc các vị đang đọc giòng chữ này cứ thế mà vui lên để rồi tiếp tục phiếm nhanh, phiếm mạnh, phiếm dài dài, luôn mãi suốt đời mình.

Trần Ngọc Mười Hai
Có những ngày viết phiếm
Chỉ để phiếm cho vui
Mà thôi.